BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam đến 2020 xác định chăn nuôi sẽ chiếm khoảng 42% trong toàn ngành nông nghiệp, an toàn dịch bệnh và
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
ĐỀ ÁN
“THÍ ĐIỂM XÂY DỰNG VÙNG, CƠ SỞ AN TOÀN DỊCH BỆNH ĐỐI VỚI GIA SÚC VÀ GIA CẦM, GIAI ĐOẠN 2014-2018”
HÀ NỘI 8/2014
Trang 22
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
I BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 4
II CƠ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 5
2.1 Chủ trương của Đảng 5
2.2 Pháp luật của Nhà nước 5
2.3 Chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 6
2.4 Quy định quốc tế và cam kết của Việt Nam 6
III PHẠM VI ĐỀ ÁN 6
PHẦN I: TỔNG QUAN 8
I TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI 8
1.1 Chăn nuôi của cả nước 8
1.2 Chăn nuôi tại 07 tỉnh 8
II TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH 11
2.1 Tình hình dịch bệnh ở lợn 11
2.2 Tình hình dịch bệnh gia cầm 12
III CÔNG TÁC XÂY DỰNG CƠ SỞ AN TOÀN DỊCH BỆNH 13
3.1 Thực trạng về xây dựng cơ sở ATDB 13
3.2 Tồn tại, bất cập hiện nay ảnh hưởng đến việc xây dựng vùng, cơ sở ATDB 15
IV CÔNG TÁC THÚ Y 15
4.1 Hệ thống thú y 15
4.2 Công tác phòng chống dịch bệnh động vật 17
4.3 Công tác kiểm dịch động vật 20
4.4 Công giết mổ tác kiểm soát giết mổ 22
PHẦN II: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP 24
I QUAN ĐIỂM 24
II MỤC TIÊU 25
2.1 Mục tiêu chung 25
2.2 Mục tiêu cụ thể 25
Trang 33
III GIẢI PHÁP 26
3.1 Giải pháp chung 26
3.2 Giải pháp cụ thể 28
PHẦN III KINH PHÍ THỰC HIỆN 32
I CƠ CHẾ TÀI CHÍNH 32
II DỰ TOÁN KINH PHÍ 33
2.1 Ngân sách địa phương (tính cho 1 năm): 70 tỷ đồng 33
2.2 Ngân sách Trung ương (tính cho 1 năm): 3,5 tỷ đồng 34
PHẦN IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN 35
I Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 35
II Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh 35
III Trách nhiệm của chủ các cơ sở chăn nuôi tập trung tham gia xây dựng cơ sở ATDB 35
IV Trách nhiệm của người chăn nuôi nhỏ lẻ 36
V Trách nhiệm của người hành nghề thú y 36
VI Trách nhiệm của người buôn bán, vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm 36 PHỤ LỤC 37
I Yêu cầu của OIE về xây dựng vùng, cơ sở ATDB 37
II Bản đồ khu vực xây dựng vùng, cơ sở ATDB 55
Trang 44
PHẦN MỞ ĐẦU
I BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam đến 2020 xác định chăn nuôi sẽ chiếm khoảng 42% trong toàn ngành nông nghiệp, an toàn dịch bệnh và
vệ sinh an toàn thực phẩm được bảo đảm, các loại bệnh nguy hiểm đến động vật được kiểm soát Nhu cầu về các sản phẩm động vật sẽ tăng gấp đôi trong vòng
20 năm tới bởi thịt, trứng và các sản phẩm sữa trở thành nguồn cung cấp prôtêin ngày càng quan trọng đối với con người Trong khu vực, phần lớn sự gia tăng nhu cầu prôtêin động vật ở các nước đang phát triển mới nổi như Trung Quốc (dân số dự kiến đạt 1,4 tỷ năm 2015) và Ấn Độ (dân số dự kiến đạt 1,35 tỷ năm 2015) Đây là cơ hội lớn của các nước láng giềng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, xuất khẩu sản phẩm động vật sang các thị trường này Hơn nữa, năm 2015 cộng đồng ASEAN chính thức được thành lập, mở ra cơ hội xuất khẩu hàng hóa cho các nước thành viên ASEAN Theo thông lệ quốc tế, các nước có dịch Lở mồm long móng (LMLM) và cúm gia cầm thường gặp nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu sản phẩm thịt gia súc và gia cầm Tuy nhiên, Thái Lan đã thành công trong việc áp dụng mô hình cơ sở an toàn dịch bệnh (ATDB) đối với cúm gia cầm và đang xây dựng vùng ATDB đối với bệnh LMLM để phục vụ xuất khẩu Giá trị xuất khẩu sản phẩm thịt gà, thịt lợn trong năm 2013 của Thái Lan đạt giá trị trên 4 tỷ USD
Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, theo đó Chính phủ định hướng chung về chăn nuôi theo hướng: Khuyến khích áp dụng công nghệ cao, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị từ sản xuất giống, thức ăn, đến chế biến để nâng cao năng xuất, cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng; Hỗ trợ chăn nuôi nông hộ theo hình thức công nghiệp, áp dụng kỹ thuật và công nghệ phù hợp để vừa tạo cơ hội sinh kế cho hộ nông dân vừa hạn chế dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, vừa bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và tăng khả năng cạnh tranh của ngành chăn nuôi; Giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả; tăng cường dịch vụ thú y; áp dụng tiêu chuẩn an toàn dịch bệnh theo chuỗi giá trị Do vậy, việc xây dựng vùng, cơ sở ATDB là giải pháp phù hợp, theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và theo xu hướng chung của thế giới
Đối với các cơ sở chăn nuôi động vật tập trung, việc áp dụng các biện pháp an ninh sinh học để đảm bảo an toàn dịch bệnh là chìa khóa giúp cho cơ sở phát triển chăn nuôi bền vững, tạo ra những sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao trên thị trường, đồng thời mang lại cơ hội xuất khẩu động vật và sản phẩm động vật sang các nước, tăng thu nhập cho doanh nghiệp Đối với nhiều hộ gia đình nông thôn, chăn nuôi là một trong những nguồn thu nhập chính của gia đình Ngoài nguồn lợi chính là những sản phẩm thịt, trứng thì chăn nuôi còn đem lại những nguồn phụ phẩm nông nghiệp khác như phân bón, sức kéo và là phương tiện vận chuyển, Có thể nói chăn nuôi là nguồn sinh kế của người nông dân
Trang 5Đề án "Thí điểm xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh đối với gia súc
và gia cầm, giai đoạn 2014-2018” được xây dựng nhằm phát triển bền vững ngành chăn nuôi có tính chất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, đời sống xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Đề án này sẽ là căn cứ để ngành thú y triển khai các chương trình, dự án, các hoạt động hàng năm, cũng như thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước cho sự phát triển hiệu quả, bền vững của toàn ngành nông nghiệp trong giai đoạn tới; đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với thực tiễn và chỉ đạo, điều hành có hiệu quả hơn trong công tác thú y
II CƠ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Thông tư 20/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/4/2011 về việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực thú y theo Nghị quyết 57/NQ-CP ngày 15/10/2010;
- Quyết định số 38/2006/QĐ-BNN ngày 16/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Ban hành quy định phòng chống bệnh Lở mồm long móng gia súc;
- Thông tư 69/2005/TT-BNN ngày 07/11/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số biện pháp cấp bách phòng, chống dịch cúm (H5N1) ở gia cầm;
Trang 66
2.3 Chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 về việc ban hành
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Quyết định 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020
- Quyết định 2194/QĐ-TTg ngày 25/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thuỷ sản đến năm 2020
- Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng cao giá trị gia tăng
- Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về lập
kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020
- Quyết định số 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/6/2013 ban hành chương trình hành động thực hiện đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ
2.4 Quy định quốc tế và cam kết của Việt Nam
- Cam kết của Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Việt Nam cam kết thực hiện các nghĩa vụ của Hiệp định về Áp dụng các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật (SPS) ngay khi gia nhập WTO
- Quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) về thú y động vật trên cạn phục vụ giao thương quốc tế
III PHẠM VI ĐỀ ÁN
3.1 Đề án “Thí điểm xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh đối với gia súc và
gia cầm, giai đoạn 2014-2018”, trước mắt tập trung xây dựng:
- Cơ sở chăn nuôi lợn tập trung ATDB đối với 03 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở lợn (LMLM, Tai xanh, Dịch tả lợn); cơ sở chăn nuôi gà, vịt tập trung ATDB đối với 03 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (Cúm gia cầm, Niu-cát-xơn,
Trang 77
Gumboro) tại 07 tỉnh chăn nuôi trọng điểm thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng (Nam Định và Thái Bình), Đông Nam bộ (Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Dương và Tây Ninh)
- Vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh LMLM tại 02 tỉnh chăn nuôi lợn trọng điểm để xuất khẩu thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng (Nam Định và Thái Bình) và đối với bệnh Cúm gia cầm tại 05 tỉnh chăn nuôi gia cầm trọng điểm thuộc vùng Đông Nam bộ (Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Dương và Tây Ninh)
3.2 Thời gian thực hiện: Từ năm 2014 đến năm 2018
3.3 Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3.4 Chủ trì đề án: Cục Thú y
Trang 88
PHẦN I: TỔNG QUAN
I TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI
1.1 Chăn nuôi của cả nước
Theo số liệu thống kê, năm 2012 cả nước có khoảng 360,7 triệu con gia súc, gia cầm (gồm có: 325 triệu con gia cầm; 26,5 triệu con lợn; 5,2 triệu con bò; 2,6 triệu con trâu; 1,4 triệu con dê cừu) Số lượng trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm là gần 8.200 trang trại, tập trung chủ yếu ở khu vực Đồng bằng sông Hồng (gần 3200 trang trại), Đông Nam bộ (hơn 1900 trang trại) và Đồng bằng sông Cửu Long (hơn 1000 trang trại) Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2012 đạt gần 145 ngàn tỷ đồng, trong đó chăn nuôi gia súc đạt trên 101 ngàn tỷ đồng, chăn nuôi gia cầm đạt gần 30 ngàn tỷ đồng, sản phẩm chăn nuôi không qua giết thịt đạt trên 14 ngàn tỷ đồng
1.2 Chăn nuôi tại 07 tỉnh
1.2.1 Nam Định
Nam Định là tỉnh đồng bằng thuộc phía Nam Đồng bằng sông Hồng, diện tích 1.643,97 km2, có 10 đơn vị huyện, thành phố với 229 xã, phường, thị trấn, dân số gần 2 triệu người Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Hà Nam, Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông Nam giáp biển Đông với bờ biển dài 72
km Tình hình chăn nuôi của tỉnh như sau:
a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 6,4 triệu con, trong đó có 4,9 triệu con
gà và 1,2 triệu con vịt và 0,3 triệu con gia cầm khác (chim cút, ngan, ngỗng, chim bồ câu)
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 761.180 con (trong đó có 140.000 lợn nái) và có hơn 2 triệu lợn sữa
c) Trâu bò: Tổng đàn trâu bò là 38.217 con
1.2.2 Thái Bình
Thái Bình là tỉnh nằm ở phía Đông nam Đồng bằng sông Hồng, diện tích
tự nhiên 1.546 km², có 8 đơn vị huyện, thành phố với 286 đơn vị xã, phường, thị trấn Thái Bình tiếp giáp với tỉnh Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phía Tây bắc, Hải Phòng ở phía Đông bắc, Hà Nam ở phía Tây, Nam Định ở phía Tây và Tây nam, phía đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ) Tình hình chăn nuôi của tỉnh như sau:
a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 10.832.000 con, trong đó có: 8.025.000 con gà, 206.000 con vịt, ngan và 2.601.000 con gia cầm khác (chim cút, bồ câu)
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 1.014.645 con; trong đó: Lợn nái: 196.258 con, lợn đực giống: 1.330 con, lợn thịt: 817.057 con
c) Trâu bò: Tổng đàn trâu bò là 49.947con, trong đó: trâu: 5.572 con, bò:
44.375 con
Trang 99
1.2.3 Đồng Nai
Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, ở phía bắc vùng Đông Nam bộ, với diện tích tự nhiên là 5.907,2 km² Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Dương Đồng Nai có 01 thành phố và 10 huyện, thị xã với 173 xã, phường, thị trấn Tình hình chăn nuôi của tỉnh như sau:
a) Gia cầm: Tổng đàn gà hiện nay là 12.417.000 con, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 86,31% tổng đàn, với 432 trang trại; tổng đàn vịt, ngan, ngỗng 555.000 con; tổng đàn chim cút: 5.886.000 con
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 1.397.034 con, trong đó chăn nuôi trang trại chiếm hơn 60% tổng đàn, với 2.061 trang trại, chăn nuôi lợn nhỏ lẻ chiếm dưới 40% tổng đàn Số lượng lợn đực giống 3.764 con; lợn nái sinh sản 187.842 con
c) Trâu bò: Tổng đàn trâu bò là 69.814 con, trong đó trang trại chiếm khoảng 1,9% tổng đàn với 5 trang trại
1.2.4 Bà Rịa – Vũng Tàu
Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam bộ với diện tích 1.989,5 km2 Phía bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía đông giáp, tỉnh Bình Thuận và phía nam giáp Biển Đông Bà Rịa
- Vũng Tàu có 08 đơn vị hành chính cấp huyện (trong đó có 01 đơn vị hành chính hải đảo) với 83 xã, phường, thị trấn
a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 3.800.000 con gia cầm Bao gồm 2.782.000 con gà, 1.018.000 con vịt Hiện trên địa bàn toàn tỉnh có 39.455 hộ, trại chăn nuôi gia cầm, thủy cầm (vịt, ngan, ngỗng)
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 376.909 con, bao gồm 47.630 lợn nái, 657 lợn đực giống, 246.467 lợn thịt và 82.155 lợn con theo mẹ Hiện trên địa bàn tỉnh có 8.762 hộ, trại chăn nuôi lợn
c) Trâu bò: Tổng đàn trâu bò là 25.500 con, giảm 14,8% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó có 320 con bò sữa nuôi tại xã Châu Pha (huyện Tân Thành)
và xã Hòa Long (thành phố Bà Rịa)
d) Dê cừu: Tổng số dê cừu là 31.000 con, tương đương so với năm 2013 đ) Chim Yến: Toàn tỉnh hiện có 131 cơ sở dẫn dụ nuôi chim yến, trong đó
có 113 cơ sở nằm trong khu dân cư, 18 cơ sở xây dựng chuyên biệt ngoài khu dân cư
1.2.5 Bình Phước
Bình Phước là tỉnh miền núi ở phía tây của vùng Đông Nam bộ, với diện tích 6.871,5 km2 Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Căm-pu-chia, phía Nam giáp tỉnh Bình Dương, phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông và Campuchia Bình Phước có 03 thị xã và 07 huyện với 111 xã, phường, thị trấn Tình hình chăn nuôi của tỉnh như sau:
Trang 1010
a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 3.514.000 con (đàn gà: 3.352.200 con, chiếm 95,39%; đàn vịt, ngan, ngỗng: 161.800 con, chiếm 4,60% so với tổng đàn gia cầm), trong đó tổng đàn gà chăn nuôi theo quy mô trang trại là 2.723.700 con (với 61 trang trại), chiếm 81,25 % so với tổng đàn gà Chủ yếu nuôi gia công cho các công ty nước ngoài
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 249.221 con, trong đó tổng đàn lợn chăn nuôi theo quy mô trang trại là 216.983 con (với 155 trang trại), chiếm 87,06% so với tổng đàn Chủ yếu nuôi gia công cho các công ty nước ngoài
c) Trâu, bò: Tổng đàn trâu, bò là 43.766 con, trong đó tổng đàn trâu, bò chăn nuôi theo quy mô trang trại là 1.252 con (với 9 trang trại), chiếm 2,86% tổng đàn
1.2.6 Bình Dương
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với diện tích 2.694,4 km2 Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh Bình Dương có 02 thành phố và 07 huyện, thị xã với 91 xã, phường, thị trấn Tình hình chăn nuôi của tỉnh như sau:
a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 5.486.913 con, trong đó quy mô trang trại là 4.335.040 con (chiếm tỷ lệ gần 80%)
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 489.487 con, trong đó quy mô trang trại là 400.407 con (chiếm tỷ lệ gần 82%)
c) Trâu bò: Tổng đàn trâu bò là 27.338 con
1.2.7 Tây Ninh
Tây Ninh Là một tỉnh vùng biên giới thuộc miền Đông Nam bộ, có diện tích 4.028,12 km2, phía Nam giáp với thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An với đường biên 36 km, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước với đường biên 123 km, phía Bắc và phía Tây giáp Căm-pu-chia với đường biên giới dài 240 km Tây Ninh có 08 huyện và 01 Thành phố với 95 xã, phường và thị trấn (trong đó có 20 xã giáp biên giới thuộc 5 huyện) Tình hình chăn nuôi của tỉnh như sau:
a) Gia cầm: Tổng đàn gia cầm là 4.915.094 con gia cầm, bao gồm: 3.971.682 con gà, 650.241 con vịt, 21.000 con ngan và 218.171 con cút Hiện trên địa bàn toàn tỉnh có 46.158 hộ, trại chăn nuôi gia cầm, thủy cầm (vịt, ngan, ngỗng)
b) Lợn: Tổng đàn lợn là 212.670 con, bao gồm: 10.798 lợn nái, 183 lợn đực giống, 179.729 lợn thịt và 21.960 lợn con theo mẹ Hiện trên địa bàn tỉnh có 10.438 hộ, trại chăn nuôi lợn
c) Trâu bò: Tổng đàn trâu bò là 124.043 con, trong đó có 2.664 con bò sữa nuôi tại huyện Trảng Bàng
Trang 1111
d) Dê cừu: Tổng số dê cừu là 1.250 con
đ) Chim Yến: Tỉnh hiện có 02 cơ sở dẫn dụ nuôi chim yến, trong đó có 01 nằm trong khu dân cư, 01 cơ sở xây dựng chuyên biệt ngoài khu dân cư
II TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH
2.1 Tình hình dịch bệnh ở lợn
- Đối với dịch LMLM: Năm 2013, dịch bệnh xảy ra tại 145 xã của 44 huyện thuộc 9 tỉnh là Bắc Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Trị, Sơn La, Thanh Hóa, Long An, Nghệ An và Phú Yên Số gia súc mắc bệnh là 5.648 con (trâu chiếm 12,09%, bò 49,93%, lợn 37,98%) Số gia súc tiêu hủy là 1.193 con (42 con trâu, 180 con bò, 971 con lợn) Ngoài ra, một số địa phương khác có xuất hiện ổ dịch LMLM dưới dạng nhỏ lẻ nhưng đã được chính quyền địa phương và cơ quan chuyên xử lý kịp thời không để dịch lây lan So với năm
2012, số tỉnh có dịch LMLM giảm 3 tỉnh, tuy nhiên số huyện và số xã tăng, nguyên nhân do dịch xảy ra trên diện rộng tại tỉnh Hà Tĩnh (9 huyện, 64 xã có dịch) và một số tỉnh Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ khác trong thời gian vừa qua Năm 2012 dịch chủ yếu trên lợn, năm 2013 dịch xảy ra nhiều trên trâu bò
và dịch xẩy ra chủ yếu ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ
Trong 7 tháng đầu năm 2014, cả nước đã xuất hiện 54 ổ dịch tại 54 xã thuộc 22 huyện, thị xã của 10 tỉnh gồm Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phú Yên, Kon Tum và Yên Bái làm 2.421 con gia súc mắc bệnh (gồm 1.393 con trâu, 952 con bò, 102 con lợn và 24 con dê);
số gia súc chết và tiêu hủy là 71 con (gồm 14 con trâu, 10 con bò, 47 con lợn) Ô dịch LMLM gần đây nhất xảy ra vào ngày 23/7/2014 tại 25 bản thuộc 6 xã Lục
Dạ, Yên Khê, Cam Lâm, Đôn Phục, Mậu Đức và Thạch Ngàn thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Tổng số gia súc mắc bệnh là 121 con trâu bò (gồm 7 con trâu và 114 con bò) Hiện nay, không có gia súc mắc bệnh phát sinh
Số g/s mắc bệnh
- Đối với dịch bệnh Tai xanh: Trong năm 2013, dịch tai xanh ở lợn đã xảy
ra tại 168 xã, phường của 46 huyện, quận thuộc 13 tỉnh (gồm có: Bắc Ninh, Hà Tĩnh, Long An, Nam Định, Nghệ An, Ninh Thuận, Quảng Nam, Quảng Ninh, Quảng Trị, Thái Bình, Thanh Hóa, Đắk Lắk và Cao Bằng) làm 38.532 con lợn
Trang 12- Đối với bệnh Dịch tả lợn: Năm 2013, dịch xảy ra tại 15 tỉnh làm 3.091 con mắc bệnh, chết tiêu hủy 1.088 con và cũng chỉ xẩy ra ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ So với năm 2012, số ổ dịch và số tỉnh có dịch đã giảm rõ rệt Kinh nghiệm cho thấy, nếu các địa phương nào tiêm phòng tốt đạt tỷ lệ trên 85% tổng đàn, thì không có dịch xảy ra Thực tế, khi tiêm phòng vắc xin dịch tả lợn đạt tỷ
lệ cao, nếu như có dịch tai xanh xảy ra, thì dịch sớm được khống chế
- Đối với bệnh Tụ huyết trùng lợn: Bệnh Tụ huyết trùng xuất hiện ở 32 tỉnh, thành phố làm gần 65.445 con mắc bệnh, số chết xử lý là hơn 6.235 con
- Đối với bệnh Phó thương hàn: Năm 2013, bệnh Phó thương hàn xảy ra tại 26 tỉnh, thành phố làm hơn 70 ngàn con mắc bệnh, số chết xử lý là hơn 7.531 con
Ngoài ra, năm 2013 còn xuất hiện một số bệnh thông thường khác (Đóng dấu lợn, Xoắn khuẩn, Suyễn, E Coli, ), xẩy ra rải rác tại một số địa phương, làm chết, tiêu hủy hơn 7.000 con
Trong 6 tháng đầu năm 2014, bệnh Dịch tả lợn xảy ra tại 12 tỉnh làm trên
1 ngàn con mắc bệnh, số chết tiêu hủy là 548 con Bệnh Tụ huyết trùng xuất hiện ở 26 tỉnh, thành làm gần 25 ngàn con mắc bệnh, số chết xử lý là gần 4 ngàn con Bệnh Phó thương hàn lợn xảy ra tại 27 tỉnh, thành phố làm hơn 25 ngàn con mắc bệnh, số chết xử lý là hơn 5 ngàn con Ngoài ra một số bệnh thông thường khác như: Đóng dấu lợn, Xoắn khuẩn, Suyễn, E Coli cũng vẫn rải rác xảy ra làm chết, tiêu hủy hơn 6 ngàn con
2.2 Tình hình dịch bệnh gia cầm
- Đối với bệnh Cúm gia cầm: Năm 2013, dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy
ra tại 50 xã, phường của 23 huyện, quận thuộc 7 tỉnh gồm Điện Biên, Hòa Bình, Kiên Giang, Khánh Hòa, Tây Ninh, Tiền Giang và Vĩnh Long làm 59.829 con gia cầm mắc bệnh (gà chiếm 16,25%, vịt là 83,43%, ngan 0,32%); tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 79.522 con (trong đó gà chiếm 18,12%, vịt 81,64%, ngan là 0,26%) Ngoài ra, một số địa phương khác có xuất hiện ổ dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn tổ chức tiêu hủy ngay và xử lý kịp thời không để dịch lây lan
Trong 3 tháng đầu năm 2014, dịch cúm gia cầm đã xảy ra tại 155 xã, phường của 90 huyện, thị xã thuộc 33 tỉnh, thành phố (Lào Cai, Nam Định, Phú Thọ, Hà Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Đắk Lắk, Kon Tum, Gia Lai, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa- Vũng Tàu, Tây
Trang 1313
Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Bến Tre, Long An, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau) Số gia cầm mắc bệnh và tiêu hủy là
211.573 con (gà chiếm 36% và vịt chiếm 64%) Ngoài ra, một số địa phương
xuất hiện các điểm dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được phát hiện, xử lý kịp thời, không để dịch lây lan Từ cuối tháng 3/2014 đến nay, không phát sinh các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 trong cả nước
Tình hình dịch cúm gia cầm trong 2 năm 2012-2013
Năm Số tỉnh có dịch Số huyện có dịch Số xã có dịch bệnh và tiêu hủy Số gia cầm mắc
Về đặc điểm dịch tễ của bệnh: Dịch xẩy ra rải rác tại các hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ
- Bên cạnh bệnh cúm gia cầm, phổ biến vẫn là bệnh Tụ huyết trùng xảy
ra tại 21 tỉnh làm hơn 80 ngàn con gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy trên 20 ngàn con Bệnh Gum-bô-rô xảy ra tại 13 tỉnh làm hơn 45 ngàn con mắc bệnh, tiêu hủy hơn 11 ngàn con Bệnh Dịch tả vịt xảy ra tại 12 tỉnh làm trên 45 ngàn con mắc bệnh, hơn 17 ngàn con chết và tiêu hủy Các bệnh Niu-cát-xơn, CRD, Viêm gan vịt làm trên 100 ngàn con gia cầm mắc bệnh, số chết và xử lý khoảng
40 ngàn con
Trong 6 tháng đầu năm 2014, bệnh Tụ huyết trùng gia cầm xảy ra tại 16 tỉnh làm hơn 76 ngàn con mắc bệnh, chết và tiêu hủy gần 18 ngàn con Bệnh Gum-bô-rô xảy ra tại 8 tỉnh làm gần 24 ngàn con gà mắc bệnh, tiêu hủy hơn 6 ngàn con Bệnh Dịch tả vịt xảy ra tại 5 tỉnh làm 12 ngàn con mắc bệnh, số vịt chết tiêu hủy là gần 4 ngàn con Bệnh Niu-cát-xơn xảy ra tại 20 tỉnh làm gần 53 ngàn con mắc bệnh, số gia cầm chết tiêu hủy trên 23 ngàn con Một số bệnh khác như CRD, Viêm gan vịt cũng xảy ra rải rác làm trên 13 ngàn con gia cầm mắc bệnh, số chết và xử lý hơn 4 ngàn con
III CÔNG TÁC XÂY DỰNG CƠ SỞ AN TOÀN DỊCH BỆNH
3.1 Thực trạng về xây dựng cơ sở ATDB
3.1.1 Nam Định
Hiện tại, tỉnh Nam Định có 138 trang trại và khoảng 10.000 gia trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, trong đó có 02 cơ sở đạt tiêu chuẩn chăn nuôi VietGAHP (01 cơ sở chăn nuôi lợn, 01 cơ sở chăn nuôi gia cầm) và 02 cơ sở chăn nuôi lợn được công nhận cơ sở ATDB đối với bệnh LMLM
3.1.2 Thái Bình
Trang 1414
Toàn tỉnh Thái Bình có 67 trang trại quy mô lớn và nhiều gia trại:
- Chăn nuôi lợn: Quy mô từ 50 – 200 con có 2.583 hộ; quy mô từ 200 –
500 con có 94 hộ; quy mô từ 500 – 1.000 con có 11 hộ; quy mô trên 1.000 con có
Trong 06 tháng đầu năm 2014 đã công nhận mới 18 cơ sở ATDB (gồm 13
cơ sở chăn nuôi lợn và 05 cơ sở chăn nuôi gà); tái thẩm định và công nhận 55 cơ
sở ATDB (gồm có: 03 cơ sở chăn nuôi lợn, 52 cơ sở chăn nuôi gà)
3.1.4 Bà Rịa – Vũng Tàu
Đến nay, đã có 50 cơ sở chăn nuôi lợn ATDB đối với bệnh LMLM và Dịch tả lợn, 11 cơ sở chăn nuôi gà ATDB đối với cúm gia cầm
Ngày 06/9/2010 của UBND tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu ban hành Quyết định
số 2193/QĐ-UBND phê duyệt Dự án "Xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật giai đoạn 2010 - 2015 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu" Địa phương đang triển khai xây dựng vùng ATDB đối với bệnh Dại huyện Côn Đảo và vùng ATDB đối với bệnh LMLM và Dịch tả lợn tại các huyện Long Điền, Đất Đỏ
Trang 153.2.1 Quy định về điều kiện công nhận
- Nhiều chỉ tiêu vệ sinh thú y không cần thiết như chỉ tiêu hóa, lý đối với nước sử dụng cho chăn nuôi
- Tần suất giám sát và lượng mẫu phải lấy nhiều dẫn đến chi phí xét nghiệm cao
- Thời gian công nhận ATDB ngắn (cúm gia cầm chỉ có 6 tháng, dịch tả lợn là 1 năm)
- Thủ tục đăng ký còn phức tạp, chưa áp dụng đăng ký qua mạng Internet
- Tiêm phòng đối với gia cầm thịt chưa hợp lý, do gia cầm thịt có chu kỳ nuôi ngắn (từ 43 - 45 ngày)
3.2.2 Chưa có quyền lợi
Quyền lợi cho cơ sở ATDB chưa nhiều, chưa tạo sự khác biệt giữa cơ sở ATDB với cơ sở không ATDB nên nhiều cơ sở không tham gia xây dựng ATDB hoặc được công nhận rồi nhưng không làm thủ tục tái công nhận, cụ thể:
- Khi có công bố dịch bệnh trên địa bàn, cơ sở ATDB không được phép vận chuyển động vật đi tiêu thụ
- Chưa được ưu đãi lựa chọn con giống cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển chăn nuôi
- Chưa được hỗ trợ xúc tiến thương mại và tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
Kế hoạch, Quản lý thuốc thú y, Thanh tra - Pháp chế Nhân lực thuộc Cục Thú y
có 582 người, trong đó 419 trong biên chế, 163 người là hợp đồng; trong đó có
19 người có trình độ tiến sỹ, 93 thạc sỹ, 320 trình độ đại học, còn lại là cao đẳng, trung cấp Các đơn vị trực thuộc Cục Thú y gồm có:
+ 07 Cơ quan Thú y vùng, có 03 phòng chức năng (gồm có: Kiểm dịch động vật và kiểm soát giết mổ, vệ sinh thú y; Dịch tễ và Trạm chẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật) đảm bảo được việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn trong lĩnh vực phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ và
Trang 1616
kiểm tra vệ sinh thú y Trong đó có Cơ quan Thú y vùng VI được trang bị nhiều thiết bị hiện đại để tổ chức chẩn đoán, xét nghiệm bệnh động vật cho các tỉnh phía Nam
+ 03 Chi cục Kiểm dịch động vật vùng đóng tại các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn và Quảng Ninh: Chịu trách nhiệm kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất nhập khẩu
+ 05 trung tâm kỹ thuật chuyên ngành trong lĩnh vực Chẩn đoán bệnh động vật, Kiểm nghiệm thuốc thú y và Kiểm tra vệ sinh thú y Trong đó Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương là phòng thí nghiệm chẩn đoán đầu ngành, được trang bị đầy đủ trang thiết bị để đáp ứng được nhiệm vụ trong chẩn đoán, giám sát các bệnh động vật phổ biến như LMLM, cúm gia cầm, dịch tả lợn, tai xanh
- Viện Thú y Quốc gia, phân viện thú y miền Trung có chức năng nghiên cứu chuyên sâu về dịch bệnh động vật và vắc xin, nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật thú y trong chăn nuôi
- Viện Chăn nuôi Quốc gia có chức năng nghiên cứu chuyên sâu về giống vật nuôi
- Khoa Thú y của Học viện Nông nghiệp Nông nghiệp Việt Nam tham gia đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thú y
- Trong lĩnh vực chẩn đoán bệnh gia súc, gia cầm hiện nay, đã có 7 phòng
xét nghiệm của Trung ương (5 Cơ quan Thú y vùng, Trung tâm Chẩn đoán thú y
nghiệm của địa phương (tp Hồ Chí Minh: 83 phép thử; Đồng Tháp: 02 phép thử) được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và chỉ định
4.1.2 Cấp địa phương
- Ở cấp tỉnh có 63 Chi cục Thú y (riêng tỉnh Bình Phước là Chi cục Chăn nuôi - Thú y) và có các phòng chuyên môn kỹ thuật để thực hiện các nhiệm vụ (tổng hợp, báo cáo và dự báo dịch bệnh, chẩn đoán, xét nghiệm bệnh động vật, kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y, thanh tra) Hiện nay, đã có 20 Chi cục Thú y thành lập trạm chẩn đoán, xét nghiệm bệnh động vật Ở cấp huyện có các Trạm Thú y trực thuộc Chi cục Thú y, tuy nhiên một số tỉnh đã chuyển Trạm Thú y về Ủy ban nhân dân huyện quản lý (Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Hậu Giang)
- Hiện nay, có tổng số 5.382 cán bộ tại Chi cục Thú y và các Trạm Thú y cấp huyện, trong đó: Tiến sỹ thú y (12), Thạc sỹ Thú y (136), Thạc sỹ khác (15), Bác sỹ thú y (2.841), Đại học khác (441), Cao đẳng thú y (146), Cao đẳng khác
(127), Trung cấp thú y (1.459), Trung cấp khác (205), (các trình độ khác bao
- Hiện tại, các tỉnh, thành phố đều đã có mạng lưới thú y cấp xã được triển khai theo văn bản số 1569/TTg-NN của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số
Trang 1717
92/2009/NĐ-CP, nhiều nơi xây dựng được mạng lưới thú y đến tận thôn, bản
Đến nay cả nước có 6.878/10.087 xã, phường có nhân viên thú y với tổng số 24.796 người (tính trung bình, mỗi xã nông nghiệp có 3 nhân viên thú y) Thực tiễn hoạt động cho thấy, lực lượng này có vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống dịch bệnh động vật trên địa bàn xã
4.1.3 Hệ thống thú y của 07 tỉnh
8 hợp đồng ngắn hạn) Văn phòng Chi cục: 22 người, Trạm Thú y: 48 người,
229 Trưởng Thú y xã và mỗi xã có từ 3-5 nhân viên thú y
Nghìn với 73 người (Văn phòng Chi cục: 27 người, Trạm Thú y: 46 người) Các
xã có 286 trưởng ban thú y và 276 xã có thêm 3 thú y viên thôn, bản
đầu mối giao thông (Ông Đồn) Tổng số cán bộ của Chi cục Thú y năm 2013 là
320 người (Văn phòng Chi cục: 60 người, Trạm Thú y: 111 người và ban thú y xã: 149 người)
dịch đầu mối giao thông (Tân Thành, Xuyên Mộc và Châu Đức) Tổng số cán bộ của Chi cục Thú y năm 2013 là 251 người (Văn phòng Chi cục: 98 người, Trạm Thú y: 35 người và ban thú y xã: 118 người)
đ) Bình Phước: Chi cục Chăn nuôi - Thú y có 10 Trạm Thú y và 01 Trạm
Kiểm dịch cửa khẩu Hoa Lư giáp với biên giới Căm-pu-chia, 02 Trạm Kiểm dịch đầu mối giao thông (Tân Lập và Chơn Thành) Tổng số cán bộ của Chi cục Thú y năm 2013 là 176 người (Văn phòng Chi cục: 20 người, Trạm Thú y: 45 người và ban thú y xã: 111 người)
cục Thú y năm 2013 là 259 người (Văn phòng Chi cục: 42 người, Trạm Thú y:
129 người và ban thú y xã: 88 người)
Chi cục Thú y đã bố trí 48 cán bộ làm nhiệm vụ tại các Trạm, chốt kiểm dịch: Vĩnh Phú, Bình Hòa, Phú Long (huyện Thuận An), Tân Bình (huyện Dĩ An), Cầu Ông Tiếp, Cầu Thủ Biên (huyện Tân Uyên), Cầu Phước Hòa (huyện Phú Giáo), Cầu Tàu, Cầu Bến Xúc (huyện Dầu Tiếng), Cầu Phú Cường (tp Thủ Dầu Một) và Cầu Tham Rớt (huyện Bến Cát)
khẩu (Xa Mát và Phước Tân), 01 Trạm Kiểm dịch đầu mối giao thông Suối Sâu (huyện Trảng Bàng) Tổng số cán bộ của Chi cục Thú y năm 2013 là 444 người (Văn phòng Chi cục: 23 người, Trạm Thú y: 33 người và ban thú y xã: 388 người)
4.2 Công tác phòng chống dịch bệnh động vật
4.2.1 Công tác chỉ đạo điều hành
Trang 1818
- Có Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống cúm gia cầm (BCĐQG) để chỉ đạo chung BCĐQG thường xuyên họp giao ban định kỳ hoặc đột xuất tùy theo tình hình dịch bệnh
- Thường xuyên tổ chức đi kiểm tra, giám sát công tác phòng chống dịch bệnh tại các địa phương, chủ động phát hiện những tồn tại, bất cập để chấn chỉnh, khắc phục kịp thời nên công tác phòng chống dịch chủ động hơn, hiệu quả hơn
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành các văn bản chỉ đạo kịp thời
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch quốc gia: Kế hoạch quốc gia phòng chống cúm gia cầm giai đoạn 2014-2018; Chương trình Quốc gia phòng chống bệnh LMLM giai đoạn 2011-2015; Kế hoạch hành động ứng phó khẩn cấp đối với các chủng vi rút cúm gia cầm nguy hiểm có khả năng lây sang người
- Phối hợp với ngành y tế tổ chức điều tra dịch tễ các ổ dịch cúm trên người và trên gia cầm
- Dự phòng vắc xin cúm gia cầm H5N1 và tai xanh, dự trữ quốc gia vắc xin LMLM để hỗ trợ các địa phương tiêm phòng bao vây khẩn cấp ổ dịch
Thường xuyên đánh giá hiệu lực vắc xin và xây dựng bản đồ dịch tễ, công khai
khu vực lưu hành các chủng vi rút cúm, hiệu lực các loại vắc xin sử dụng để tiêm phòng để các địa phương tổ chức phòng chống dịch có hiệu quả
- Kiểm soát buôn bán, vận chuyển, kinh doanh gia súc, gia cầm và sản phẩm gia súc, gia cầm trái phép qua biên giới
- Tăng cường xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh gia súc, gia cầm; khuyến khích áp dụng chăn nuôi an toàn dịch bệnh
- Hợp tác với các tổ chức quốc tế (FAO, OIE, WHO, ) triển khai các chương trình giám sát chủ động sự lưu hành và biến đổi của vi rút cúm gia cầm (A/H5N1, H7N9) tại chợ buôn bán gia cầm sống, gia cầm nhập lậu, trên lợn,
- Hợp tác song phương với Trung Quốc, Lào và Căm-pu-chia để chủ động phòng ngừa dịch bệnh lây lan vào trong nước, kiểm soát động vật và sản phẩm động vật buôn bán qua biên giới
* Thực hiện giám sát chủ động dịch bệnh động vật trong phạm vi cả nước, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, cúm lợn, LMLM
- Đối với vi rút cúm H5N1: Triển khai chương trình giám sát vi rút cúm
H5N1 do FAO tài trợ từ tháng 4-9/2014: Tổ chức giám sát cúm H5N1 tại chợ từ tháng 11/2013 - 02/2014 tại 41 tỉnh, thành phố; phát hiện 5,89% mẫu (trong tổng
số 13.660 mẫu thu thập) dương tính với vi rút cúm H5N1
Trang 1919
- Đối với vi rút cúm H7N9: Triển khai chương trình giám sát vi rút cúm
H7N9 do USAID/FAO và CDC của Hoa Kỳ tài trợ theo 3 đợt từ tháng 6/2013 đến tháng 4/2014 và tăng cường năng lực xét nghiệm H7N9 cho tất cả các Cơ quan Thú y vùng Tổng số mẫu lấy và xét nghiệm là 73.282 mẫu các loại (mẫu swab hầu họng, mẫu môi trường và mẫu nước) tại trên 100 chợ, điểm buôn bán gia cầm của 11 tỉnh, thành phố Tổng số mẫu dương tính với cúm A là gần 10.000 (chiếm trên 15% tổng số mẫu xét nghiệm), nhưng không có mẫu nào dương tính với cúm H7N9
- Đối với vi rút cúm lợn
+ Năm 2013, Cục Thú y phối hợp với Tổ chức FAO triển khai giám sát vi rút cúm trên lợn tại các trang trại chăn nuôi lợn giống, lợn thịt ở 12 tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Nam Định, Hà Nam, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng, Đồng Nai, Bình Dương Kết quả đã triển khai lấy 7.200 mẫu dịch swab và 1.440 mẫu huyết thanh lợn, đã phát hiện được một số mẫu vi rút cúm H3N2, H1N2 và chưa phát hiện trại lợn có vi rút cúm gia cầm H5 và H7
+ Năm 2014, Cục Thú y sẽ tiếp tục phối hợp với Tổ chức FAO triển khai giám sát vi rút cúm trên lợn tại 19 tỉnh, thành phố, dự kiến bắt đầu triển khai từ tháng 6/2014; tiếp tục phối hợp với Viện Thú y Nhật Bản thống nhất các nội dung nghiên cứu vi rút cúm lợn năm 2014-2015
+ Từ tháng 9/2013 đến nay, Cục Thú y phối hợp với Tổ chức CDC của Hoa Kỳ và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung tương (Bộ Y tế) tiến hành nghiên cứu lưu hành vi rút cúm trên lợn và người tại các lò mổ Tổng số đã lấy 5.668 mẫu dịch ngoáy mũi của lợn từ 189 lò, điểm giết mổ lợn tại 09 tỉnh, thành phố (Bắc Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Bình Dương, Tiền Giang và Vĩnh Long) Kết quả xét nghiệm phát hiện 55 mẫu (0.97%) dương tính với cúm A tại 6 tỉnh (Bắc Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Nam, Bình Dương, Tiền Giang)
- Đối với bệnh LMLM: Chủ động lập kế hoạch và triển khai lấy mẫu
giám sát chủ động vi rút LMLM
4.2.3 Chẩn đoán, xét nghiệm
- Hệ thống các phòng chẩn đoán, xét nghiệm thú y bao gồm: Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, 07 phòng xét nghiệm thuộc các Cơ quan Thú y vùng, Viện Thú y Quốc gia, Phân viện Thú y miền Trung, Học viện Nông nghiệp Việt Nam và một số Chi cục Thú y Năng lực của các phòng chẩn đoán, xét nghiệm đáp ứng được các yêu cầu chẩn đoán, xét nghiệm các dịch bệnh động vật đang lưu hành tại Việt Nam và một số bệnh ngoại lai
- Cục Thú y phối hợp chặt chẽ với các phòng thí nghiệm tham chiếu quốc
tế tại Hoa Kỳ, Úc, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, để phân tích chuyên sâu tác nhân gây bệnh
4.2.4 Công tác tiêm phòng vắc xin
Trang 202011 – 2015 và Chương trình 30a của Chính phủ
- Các địa phương khi có dịch bệnh động vật nguy hiểm sẽ được hỗ trợ vắc xin, thuốc sát trùng từ nguồn Dự trữ quốc gia và vắc xin dự phòng để chống dịch
4.2.5 Công tác báo cáo tình hình dịch bệnh động vật
- Ngày 12/12/2013, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 53/2013/TT-BNNPTNT quy định về báo cáo dịch bệnh động vật trên cạn, theo đó quy trình báo cáo từ cơ sở lên đến cấp tỉnh, cấp Trung ương được thống nhất trong cả nước
- Hiện nay có 02 hình thức báo cáo dịch bệnh động vật đang được áp dụng là báo cáo định kỳ theo tháng, quý, 6 tháng, tổng kết năm và báo cáo đột xuất khi xảy ra dịch (cập nhật hàng ngày)
4.2.6 Công tác điều tra, xử lý ổ dịch: Phần lớn các ổ dịch bệnh nguy
hiểm ở gia súc, gia cầm như bệnh cúm gia cầm, LMLM, tai xanh ở lợn, dại ở động vật, đều được điều tra, xử lý theo quy định
4.2.7 Triển khai xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh động vật
4.2.8 Tổ chức hội nghị triển khai công tác phòng chống dịch dưới sự chủ
trì, chỉ đạo của các đồng chí Lãnh đạo Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, Lãnh đạo Bộ Y tế
4.2.9 Phối hợp với các tổ chức quốc tế, ban quản lý các dự án tổ chức
nhiều cuộc hội thảo, tập huấn về phòng, chống dịch bệnh cho cán bộ thú y, y tế các địa phương
Hệ thống trạm, chốt kiểm dịch động vật tại các đầu mối giao thông ở nhiều địa phương tổ chức hoạt động chưa có hiệu quả cao, nhất là các trạm, chốt kiểm dịch động vật ở các tỉnh phía Bắc
4.3.1 Tỉnh Nam Định
Trang 214.3.2 Tỉnh Thái Bình
- Đã kiểm soát trên 578,3 ngàn con gia súc, gia cầm ra vào tỉnh, gồm: 52.791 con lợn; 1.042 con trâu, bò; trên 524 ngàn con gia cầm; hơn 5 tấn sản phẩm động vật và trên 676 ngàn quả trứng gia cầm
- Kiểm dịch xuất tỉnh là trên 505,9 ngàn con lợn; gần 5,1 triệu con gia
cầm, gần 1.198 tấn sản phẩm thịt, phụ phẩm và trên 1,2 triệu quả trứng gia cầm
4.3.3 Đồng Nai
- Năm 2013: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là gần 823 ngàn con lợn, trên 18,5 triệu con gà và trên 31 ngàn con vịt Kiểm dịch xuất tỉnh là trên 2,7 triệu con lợn, gần 24,59 triệu con gà, trên 1,65 triệu con vịt
- 7 tháng đầu năm 2014: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là trên 235 ngàn con lợn, trên 39 triệu con gia cầm (chủ yếu từ Bình Dương, Bình Phước,
Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Ninh Thuận, Bình Thuận và một số tỉnh phía Bắc) Kiểm dịch xuất tỉnh là 40 con trâu bò; 1,27 triệu con lợn; 8,37 triệu con gia cầm Bên cạnh đó, nhiều công ty nước ngoài và cơ sở giống của Trung ương được Cơ quan Thú y vùng VI cấp giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển đi nhiều tỉnh khác
4.3.4 Bà Rịa - Vũng Tàu
- Năm 2013: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là 8.975 con trâu bò; trên 36,2 ngàn con lợn; trên 3,17 triệu con gia cầm Kiểm dịch xuất tỉnh là 349 con trâu bò; trên 713,8 ngàn con lợn và trên 6,69 triệu con gia cầm
- 7 tháng đầu năm 2014: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là 1.930 con
trâu bò, 1.358 con lợn và trên 572,3 ngàn con gia cầm (chủ yếu từ Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Tiền Giang và Trà Vinh) Kiểm dịch xuất tỉnh là 216 con trâu bò; trên 186,7 ngàn con lợn và trên 3,26 triệu con gia cầm (chủ yếu đi
Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Long An)
4.3.5 Tỉnh Bình Phước
- Năm 2013: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là 318 con trâu bò, hơn
142 ngàn con lợn, trên 3,6 triệu con gia cầm Kiểm dịch xuất tỉnh là 4912 con trâu bò, gần 432,5 ngàn con lợn, trên 4,74 triệu con gia cầm
- 7 tháng đầu năm 2014: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là trên 2,5 triệu con gia cầm (phần lớn gia súc, gia cầm được nhập vào tỉnh từ Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Tiền Giang và Trà Vinh) Kiểm dịch xuất tỉnh là 1468 con
Trang 22- 7 tháng đầu năm 2014: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là hơn 16,47 triệu con gia cầm; gần 12 ngàn con trâu bò; trên 50 ngàn con lợn (chủ yếu nhập
từ các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Ninh Thuận, Bình Thuận và Đà Nẵng) Kiểm dịch xuất tỉnh là 320 con trâu bò, gần 483 ngàn con lợn và trên 10 triệu con gia cầm (chủ yếu đến TP Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Đồng Nai, một số trâu bò vận chuyển đi Lạng Sơn và Sơn La, một số lợn xuất qua Trung Quốc theo đường tiểu ngạch)
4.3.7 Tây Ninh
- Năm 2013: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là: 6,4 triệu con gia cầm con; trên 3.700 con lợn chủ yếu từ các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ Kiểm dịch xuất tỉnh là 28 ngàn con trâu, bò; trên 12 ngàn con lợn, trên 6 triệu con gia cầm
- 7 tháng đầu năm 2014: Số gia súc, gia cầm nhập vào tỉnh là trên 4,7 triệu con gia cầm; trên 2.000 con lợn (chủ yếu từ các tỉnh miền Trung, miền Đông và miền Tây Nam bộ) Kiểm dịch xuất tỉnh là trên 14 ngàn con trâu bò; trên 12 ngàn con lợn và trên 4 triệu con gia cầm (chủ yếu đến TP Hồ Chí Minh, Long
An, Bình Dương, Bình Phước; một số trâu bò được vận chuyển đi Lạng Sơn và Quảng Ninh, một số lợn xuất đi các tỉnh phía Bắc)
4.4 Công giết mổ tác kiểm soát giết mổ
4.4.1 Thực trạng vệ sinh thú y tại các điểm, cơ sở giết mổ
- Việc giết mổ gia súc, gia cầm không đảm bảo yêu cầu an toàn thực phẩm đã và đang diễn ra phổ biến tại nhiều tỉnh, thành phố phía Bắc, trong khi
đó một số tỉnh phía Nam thực hiện rất tốt công tác này So với các tỉnh miền Đông Nam bộ thì công tác quản lý giết mổ tại các tỉnh thành phía Bắc còn nhiều yếu kém
- Mặc dù Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành quy định
về điều kiện vệ sinh thú y đối với giết mổ gia súc gia cầm, tuy nhiên hoạt động giết mổ tại các điểm giết mổ gia súc, gia cầm đều không đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y Hầu hết các điểm giết mổ được xây dựng ngay trong hoặc cận kề các khu dân cư, khu công nghiệp; thiết kế mặt bằng hẹp, không chia được khu sạch với khu bẩn, gây nguy cơ ô nhiễm chéo, mất an toàn thực phẩm trong quá trình giết mổ; không có nơi xử lý động vật, sản phẩm động vật không đạt tiêu chuẩn; các tiêu chí về nguồn chiếu sáng, độ lưu thông không khí, nguồn nước, kết cấu vật liệu xây dựng không đảm bảo; nước thải được xả thẳng ra môi trường; trang thiết bị vật dụng sử dụng trong giết mổ rất đơn sơ, thủ công
Trang 2323
4.4.2 Thực trạng công tác kiểm soát giết mổ
Mặc dù Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành ban hành Quy trình Kiểm soát giết mổ động vật; tuy nhiên, việc thực hiện quy trình này chủ yếu được thực hiện tại các cơ sở giết mổ tập trung, còn tại hầu hết các điểm giết mổ nhỏ lẻ là không thực hiện (việc khám thân thịt, phủ tạng và đóng dấu kiểm soát giết mổ được thực hiện ngay trên sàn mổ) Hơn nữa, không có đủ nguồn lực thú y để thực hiện công tác này tại các thôn, bản
điểm giết mổ gia cầm, 57 điểm giết mổ trâu bò), 03 cơ sở giết mổ lợn tập trung (chủ yếu giết mổ lợn sữa xuất khẩu), 167 chợ buôn bán động vật và sản phẩm động vật Bình quân mỗi ngày một điểm giết mổ từ 1-3 con gia súc; 5-15 con gia cầm Gia súc, gia cầm đưa vào giết mổ đều được thu mua trực tiếp từ các hộ
chăn nuôi trong tỉnh, chưa được kiểm tra trước, trong và sau khi giết mổ Kiểm
soát đối với cơ sở giết mổ là 03/03 cơ sở, đạt 100% (do Cơ quan Thú y vùng I
kiểm soát giết mổ); không kiểm soát được điểm giết mổ
sở quy mô lớn giết mổ lợn sữa xuất khẩu, 07 cơ sở giết mổ lợn tiêu thụ nội địa),
04 cơ sở thu mua, sơ chế sản phẩm thịt đưa vào cấp đông, 1.597 điểm giết mổ lợn, 62 điểm giết mổ trâu bò và 260 điểm giết mổ gia cầm nhỏ lẻ, tự phát nằm xen kẽ trong khu dân cư Thái Bình có 233 chợ buôn bán động vật, sản phẩm động vật; trong đó có 44 chợ đã được đầu tư xây dựng khu bán thực phẩm an toàn (theo chương trình Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và An toàn thực phẩm - LIFSAP) và 12 chợ đang chuẩn bị xây dựng Kiểm soát giết mổ đối với các cơ sở giết mổ được 09/09 cơ sở, đạt 100%; đối với các điểm giết mổ chỉ kiểm soát được 15/1.929 điểm, đạt 0,78%
các điểm giết mổ nằm trong khuôn viên nhà ở, trong khu dân cư gây ô nhiễm, diện tích chật hẹp, trang thiết bị thô sơ, giết mổ trên bệ xi măng, trên nền nhà, không có các khu vực sạch và bẩn riêng biệt Kiểm soát giết mổ đối với cơ sở giết mổ được 37/37 cơ sở, đạt 100%; đối với điểm giết mổ được 106/106 điểm, đạt 100%
cầm Các cơ sở giết mổ được cấp phép đều có kiểm soát của thú y và định kỳ thực hiện kiểm tra vệ sinh thú y, nâng cấp sửa chữa theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn Tuy nhiên tình trạng giết mổ trái phép, giết mổ không đúng nơi quy định vẫn tồn tại nhất là những địa phương chưa xây dựng được cơ sở giết
mổ tập trung Việc buôn bán gia súc, gia cầm và sản phẩm gia súc, gia cầm tại các chợ truyền thống do UBND cấp xã hoặc Ban quản lý chợ (trực thuộc UBND cấp huyện) trực tiếp quản lý Sản phẩm gia súc, gia cầm được buôn bán phải qua kiểm tra, có dấu kiểm soát giết mổ Kiểm soát giết mổ đối với cơ sở giết mổ được 33/33 cơ sở, đạt 100%; đối với điểm giết mổ chỉ kiểm soát được 27/51 điểm, đạt 52%
Trang 2424
đ) Bình Phước: Hiện có 13 cơ sở giết mổ tập trung: gồm có 09 cơ sở giết
mổ gia súc có quy mô từ 50 - 150 con/ đêm; 02 cơ sở giết mổ gia súc có quy mô
từ 20 - 50 con/ đêm; 02 cơ sở giết mổ gia cầm quy mô 500 - 1000 con/ đêm Ngoài ra còn có 17 điểm giết mổ nhỏ lẻ Tất cả các cơ sở giết mổ, điểm giết mổ trên đều được cơ quan thú y kiểm tra, giám sát theo đúng quy định, tỷ lệ kiểm soát đạt 100% UBND tỉnh cũng đã quy hoạch chăn nuôi, giết mổ, chế biến, tiêu thụ gia súc, gia cầm giai đoạn 2006-2020
Hiện nay toàn tỉnh có 63 chợ, 01 siêu thị có kinh doanh thịt gia súc, gia cầm với 400 quầy bán sản phẩm động vật Phần lớn các quầy sạp đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y, trên bề mặt bàn lát gạch men hoặc bọc bằng thép không rỉ, tuy nhiên các chợ ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn kinh doanh thịt trên những sạp
gỗ không đảm bảo vệ sinh thú y
trung và 33 điểm giết mổ nhỏ lẻ Tất cả các cơ sở giết mổ đều có hệ thống giết
mổ treo, được Chi cục Thú y thực hiện kiểm soát giết mổ, đảm bảo vệ sinh thú
y Gia súc, gia cầm đưa vào giết mổ đều qua kiểm dịch thú y Kiểm soát giết mổ đối với cơ sở giết mổ được 35/35 cơ sở, đạt 100%; đối với điểm giết mổ chỉ kiểm soát được 23/33 điểm, đạt 69,70%
và 48 điểm giết mổ nhỏ lẻ Đa số các cơ sở giết mổ đều giết mổ theo phương thức thủ công và được Chi cục Thú y thực hiện kiểm soát giết mổ, đảm bảo vệ sinh thú y Gia súc, gia cầm đưa vào giết mổ đều qua kiểm dịch thú y Kiểm soát giết mổ đối với cơ sở giết mổ được 76/76 cơ sở, đạt 100%
PHẦN II: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP
I QUAN ĐIỂM
1.1 Thí điểm xây dựng vùng, cơ sở ATDB đối với gia súc và gia cầm tại các
tỉnh Nam Định, Thái Bình, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, cụ thể như sau:
- Các cơ sở chăn nuôi lợn, gà, vịt tập trung thuộc 07 tỉnh sẽ xây dựng các
cơ sở ATDB (đối với một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm) theo các yêu cầu của Đề án thí điểm Các tỉnh, thành phố khác tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng vùng, cơ sở ATDB theo các chương trình, kế hoạch của địa phương
- Đối với các huyện, thị xã, thành phố (sau đây gọi là các huyện) thuộc 07 tỉnh nêu trên ở các vị trí bao quanh của vùng và tiếp giáp với các tỉnh liền kề hoặc biên giới Căm-pu-chia là vùng đệm để bảo vệ vùng ATDB Riêng các huyện nêu trên hoặc các xã thuộc địa bàn của huyện nêu trên mà có đặc điểm địa
lý cách biệt với các tỉnh, huyện khác (có sông lớn, núi cao) hoặc tiếp giáp với tp
Trang 2525
Hồ Chí Minh thì vẫn thuộc phạm vi xây dựng vùng ATDB; các huyện, xã còn lại của 07 tỉnh sẽ thuộc phạm vi xây dựng vùng ATDB
1.2 Vùng ATDB được xây dựng đáp ứng các yêu cầu của Đề án thí điểm và
có tham khảo các quy định của OIE nhằm phục vụ cho phát triển chăn nuôi bền vững, hướng tới xuất khẩu sản phẩm thịt gia cầm và đấy mạnh việc xuất khẩu sản phẩm thịt lợn đông lạnh, trừng gia cầm; đồng thời làm căn cứ và mô hình cho việc mở rộng vùng, cơ sở ATDB cho các địa phương khác trong cả nước
1.3 Lồng ghép với các hoạt động của chương trình mục tiêu quốc gia về nông
thôn mới và đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp
II MỤC TIÊU
2.1 Mục tiêu chung
- Xây dựng vùng ATDB gia súc và gia cầm đối với với bệnh LMLM và cúm gia cầm tại các huyện có địa lý thuận lợi thuộc 07 tỉnh (gồm có: Nam Định, Thái Bình, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh) theo yêu cầu của Đề án thí điểm để Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh việc xuất khẩu động vật, sản phẩm động vật sang các nước
- Xây dựng các cơ sở ATDB được Cục Thú y công nhận, đồng thời đáp ứng các quy định của OIE để đẩy mạnh việc xuất khẩu sản phẩm gia súc, gia cầm sang các nước
- Đến tháng 08/2017: Xây dựng được vùng ATDB không tiêm phòng đối
với cúm gia cầm, đáp ứng các yêu cầu của Tổ chức OIE để trình công nhận
Trang 26và được cơ quan thú y cấp giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển động vật; được phép vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ra khỏi vùng đang công bố dịch theo hướng dẫn của cơ quan thú y
- Danh sách các cơ sở ATDB được công bố công khai trên các trang tin điện tử của các cơ quan thú y có thẩm quyền (Cục Thú y, Cơ quan Thú y vùng, Chi cục Thú y)
- Được hỗ trợ tìm kiếm thị trường xuất khẩu động vật và sản phẩm động vật
- Các cơ sở giống động vật được Nhà nước ưu tiên lựa chọn để cung cấp con giống trong các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển chăn nuôi
- Đối với cơ sở ATDB nuôi động vật thịt thương phẩm thì không bắt buộc
sử dụng vắc xin để tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
- Tăng thời gian công nhận ATDB từ 6 tháng lên 02 năm; đồng thời giảm
tỷ lệ lấy mẫu và tần suất lấy mẫu để giám sát dịch bệnh, hiệu lực vắc xin tiêm phòng đối với các cơ sở chăn nuôi động vật giống có sử dụng vắc xin tiêm phòng
+ Lấy mẫu giám sát sau tiêm phòng (đánh giá tỷ lệ bảo hộ): áp dụng tỷ lệ lưu hành ước tính 80% (tối đa lấy 65 mẫu/ cơ sở)
+ Lấy mẫu giám sát lưu hành vi rút: cơ sở nuôi thịt thương phẩm áp dụng
tỷ lệ lưu hành ước tính 10% (tối đa lấy 30 mẫu/ cơ sở), cơ sở giống áp dụng tỷ lệ lưu hành 5% (tối đa lấy 60 mẫu/ cơ sở)
b) Vùng ATDB được ưu đãi như sau:
- Ưu đãi về kiểm dịch vận chuyển: Ngoài các ưu đãi đối với cơ sở được công nhận ATDB, động vật và sản phẩm động vật xuất phát từ các cơ sở thu gom, chăn nuôi nhỏ lẻ thuộc vùng ATDB thì không phải thực hiện việc kiểm
Trang 27- Được nhà nước hỗ trợ đăng ký, thẩm định và công nhận ATDB;
- Được hỗ trợ tìm kiếm thị trường xuất khẩu động vật và sản phẩm động vật
3.1.2 Về truyền thông
Xây dựng và triển khai các chương trình truyền thông đối với các đối tượng có liên quan về quyền lợi, trách nhiệm trong việc xây dựng vùng, cơ sở ATDB
- Người chăn nuôi nhỏ lẻ: Tăng cường chăn nuôi đảm bảo an toàn dịch bệnh, áp dụng các biện pháp an ninh sinh học
- Các trang trại chăn nuôi tham gia xây dựng cơ sở ATDB đáp ứng các quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Người buôn bán, vận chuyển động vật: Tuân thủ các quy định về kiểm dịch vận chuyển động vật, thực hiện các biện pháp an ninh sinh học để hạn chế làm phát sinh và lây lan dịch bệnh
- Người giết mổ động vật: Tuân thủ các quy định về giết mổ động vật, bảo đảm vệ sinh thú y và an toàn dịch bệnh
3.1.3 Về đào tạo, tập huấn
Xây dựng và tổ chức triển khai các chương trình tập huấn kỹ thuật cho các đối tượng liên quan
- Người chăn nuôi được tập huấn kiến thức về chăn nuôi đảm bảo an ninh sinh học, áp dụng các biện pháp an toàn dịch bệnh
- Người buôn bán, vận chuyển, giết mổ động vật được tập huấn về áp dụng các biện pháp phòng bệnh lây sang người; các biện pháp vệ sinh, khử trùng, an ninh sinh học để hạn chế phát sinh và lây lan dịch bệnh
- Người hành nghề thú y trong vùng ATDB được tập huấn các kỹ năng chẩn đoán, phát hiện và xử lý ca bệnh, ổ dịch
3.1.4 Về tổ chức hệ thống thú y địa phương
- Hệ thống thú y địa phương được củng cố, ổn định tổ chức theo ngành dọc và xuyên suốt từ cấp tỉnh xuống tới xã theo mô hình: Chi cục Thú y tỉnh - Trạm Thú y huyện - nhân viên thú y xã (cấp dưới trực thuộc cấp trên bổ nhiệm, chỉ đạo, điều hành và chi trả kinh phí)
Trang 2828
- Hình thành mạng lưới thú y cơ sở bao gồm nhân viên thú y xã, thú y các thôn, bản và người hành nghề thú y (nhân viên thú y trong các trang trại chăn nuôi, người tiêm phòng và chữa bệnh cho động vật, người bán thuốc thú y, ) cùng tham gia vào việc giám sát và quản lý dịch bệnh trong vùng, cơ sở ATDB
3.1.6 Các giải pháp đối với vùng đệm
- Tuyên truyền, vận động người chăn nuôi, buôn bán, vận chuyển, giết mổ động vật, sản phẩm động vật tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch bệnh cho động vật để bảo vệ vùng ATDB
- Các cơ sở chăn nuôi tập trung xây dựng cơ sở ATDB; hộ chăn nuôi nhỏ
lẻ áp dụng tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm và LMLM
- Kiểm soát triệt để việc vận chuyển gia súc, gia cầm, đảm bảo không để vận chuyển trái phép vào trong vùng đệm và từ vùng đệm vào vùng ATDB
- Xây dựng hệ thống đánh dấu, nhận dạng đối với gia súc trong vùng đệm
- Giám sát dịch bệnh trong vùng và xử lý các ổ dịch theo quy định
- Thường xuyên thực hiện vệ sinh, tiêu độc, khử trùng khu vực chăn nuôi, chợ buôn bán, cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm
3.2 Giải pháp cụ thể
3.2.1 Đối với Mục tiêu 1:
* Đến tháng 12/2015: 50% các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn 07 tỉnh xây dựng cơ sở ATDB đáp ứng các yêu cầu của Đề án thí điểm
* Đến tháng 6/2016: 100% các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn 07 tỉnh xây dựng cơ sở ATDB đáp ứng các yêu cầu của Đề án thí điểm
- Phối hợp với các cơ sở chăn nuôi tập trung tiến hành lập kế hoạch tiếp tục xây dựng và công nhận cơ sở ATDB theo chuỗi sản xuất của các cơ sở
- Tuyên truyền, vận động các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn 06 tỉnh tham gia Đề án tổ chức xây dựng cơ sở ATDB
- Xây dựng và ban hành chính sách ưu đãi để khuyến khích các tổ chức cá nhân tham gia xây dựng cơ sở ATDB
- Cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa trong việc đăng ký
và công nhận cơ sở ATDB, quản lý hiệu quả, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xây dựng cơ sở ATDB: Đăng ký qua mạng Internet, ưu tiên thực hiện ngay việc
Trang 2929
thẩm định và công nhận, công khai ngay quyết định công nhận cơ sở ATDB trên trang tin điện tử của Cục Thú y, tăng thời gian công nhận ATDB lên 02 năm, đơn giản hóa thủ tục tái công nhận
- Xã hội hóa công tác xét nghiệm: Kết quả xét nghiệm của các phòng xét nghiệm đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá và chỉ định phòng thử nghiệm ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn được cơ quan thú
y sử dụng làm căn cứ để làm thủ tục công nhận cơ sở ATDB
- Kiểm tra các chỉ tiêu vệ sinh thú y: Miễn kiểm tra các chỉ tiêu lý, hóa và chỉ kiểm tra các chỉ tiêu tổng vi khuẩn hiếu khí và coliform đối với nước sử dụng cho chăn nuôi Miễn kiểm tra trong trường hợp sử dụng nước máy, nước sạch nông thôn
- Tần suất lấy mẫu để giám sát sau tiêm phòng, giám sát dịch bệnh và kiểm tra các chỉ tiêu vệ sinh thú y thực hiện 01 lần/ năm
- Công nhận cơ sở ATDB đối với trường hợp chăn nuôi động vật thịt thương phẩm đảm bảo an ninh sinh học và không sử dụng vắc xin
- Hỗ trợ xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ động vật, sản phẩm động vật
3.2.2 Đối với Mục tiêu 2:
* Đến tháng 12/2016: 50% các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn 07 tỉnh xây dựng cơ sở ATDB đáp ứng yêu cầu của OIE
* Đến tháng 6/2018: 100% các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn 07 tỉnh xây dựng cơ sở ATDB đáp ứng yêu cầu của OIE
- Thực hiện các giải pháp như đối với Mục tiêu số 1 tại Mục 3.2.1 nêu trên
- Hướng dẫn về điều kiện kỹ thuật, thủ tục đăng ký, thẩm định, công nhận
cơ sở ATDB đáp ứng yêu cầu của OIE
- Triển khai thực hiện chương trình giám sát dịch bệnh và công nhận cơ
sở ATDB đáp ứng yêu cầu của OIE
- Hỗ trợ xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ động vật, sản phẩm động vật trong nước và xuất khẩu
3.2.3 Đối với Mục tiêu 3:
* Đến tháng 8/2016 xây dựng được vùng ATDB đối với bệnh LMLM và
cúm gia cầm theo các yêu cầu của Đề án thí điểm
Đối với chăn nuôi nhỏ lẻ cần áp dụng các giải pháp nhằm đảm bảo không
để xảy ra dịch bệnh LMLM và cúm gia cầm trong địa bàn vùng ATDB của 07 tỉnh; các bệnh truyền nhiễm khác phải được phát hiện và xử lý kịp thời theo đúng kỹ thuật; công tác thú y phải đảm bảo kiểm soát được dịch bệnh, cụ thể như sau: