Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là ngành bảo hiểm nước nhà đã bỏ phí một lượng hàng húa khổng lồ tham gia bảo hiểm, bởi nghiệp vụ bảo hiểm hàng húa xuất nhập khẩu chủ yếu được nhường ch
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập, toàn cầu húa ngành ngoại thương của
nước ta không ngừng mở rộng phát triển với sự giao lưu, hợp tác buôn
bán với các nước trong và ngoài khu vực Kim ngạch hàng húa xuất nhập
khẩu của nước ta liên tục tăng trong những năm gần đây, đạt mức tăng
trưởng bình quân khoảng 18, 2 % /năm, tăng gấp hai lần so với tốc
độ tăng GDP của đất nước Điều này đã chứng tỏ một tiềm năng rất lớn
về hoạt động xuất nhập khẩu cũng như tạo một môi trường thuận lợi
cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước khi triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm hàng húa xuất nhập khẩu Sự phát triển của nghiệp vụ bảo
hiểm hàng húa xuất nhập khẩu đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu yên tâm mở rộng quy mô hoạt động, đảm bảo được tình
hình khả năng tài chính của doanh nghiệp mình đồng thời cũng đẩy nhanh
quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, một thực tế đáng
buồn là ngành bảo hiểm nước nhà đã bỏ phí một lượng hàng húa khổng
lồ tham gia bảo hiểm, bởi nghiệp vụ bảo hiểm hàng húa xuất nhập khẩu
chủ yếu được nhường cho các công ty bảo hiểm nước ngoài khai thác
còn các công ty trong nước chỉ cạnh tranh nhau một phần rất nhỏ Chính
vì vậy, làm thế nào để giành lại thị phần khai thác nghiệp vụ bảo
hiểm hàng húa xuất nhập khẩu cũng như hạn chế lượng chảy máu ngoại
tệ hiện nay là thách thức rất lớn đối với các công ty bảo hiểm Việt
Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm hàng
húa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, trong thời gian thực
tập tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA- chi nhánh Hà Nội em đã tìm hiểu,
nghiên cứu và chọn đề tài: “Thực trạng kinh doanh bảo hiểm hàng húa
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty cổ phần bảo
hiểm AAA- chi nhánh Hà Nội” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề có kết cấu gồm ba chương:
Ø Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm hàng húa xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển
Ø Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng húa
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty cổ phần bảo
hiểm AAA- chi nhánh Hà Nội
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
Trang 2Ø Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo
hiểm hàng húa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty
cổ phần bảo hiểm AAA- chi nhánh Hà Nội
Do điều kiện thời gian, kiến thức thực tế và kinh nghiệm còn hạn chế
nên chuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để chuyên
đề thực tập của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng
dẫn TS Nguyễn Thị Chính và các anh chị làm việc ở công ty bảo hiểm
AAA- chi nhánh Hà Nội đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ em hoàn thành
chuyên đề thực tập này
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: Lí LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HểA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN
Dịch vụ vận chuyển nói chung và vận chuyển hàng húa xuất nhập khẩu
nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc
tế Có thể nói: “Không có thương mại nếu không có vận chuyển” Có
nhiều phương tiện vận chuyển hàng húa xuất nhập khẩu bằng đường biển,
đường sắt, đường bộ, đường hàng khụng…Trong đó vận chuyển bằng đường
biển chiếm khoảng 90% tổng khối lượng hàng húa xuất nhập khẩu của
thế giới, bởi vì vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều ưu điểm:
· Có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng húa với khối
lượng lớn mà các phương tiện vận tải khác không thể đảm nhận được,
chẳng hạn như các loại hàng húa siêu trường, siêu trọng
· Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa vào cơ
sở lợi dụng điều kiện tự nhiên của biển, do đó không phải đầu tư nhiều
về vốn và sức lao
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
Trang 3GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
động Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá thành vận chuyển
bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện khác
· Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mỗi quan
hệ kinh tế các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà
Nước, góp phần tăng thu ngoại tệ
Vì vậy, hoạt động vận chuyển bằng đường biển ngày càng phát triển
mạnh mẽ Tuy nhiên cũng có một số nhược điểm sau:
- Vận chuyển đường biển gặp rất nhiều rủi ro do yếu tố tự
nhiên, yếu tố kĩ thuật, yếu tố con người
Do yếu tố tự nhiên: Vận chuyển đường biển phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện tự nhiên Thời tiết, khí hậu trên biển ảnh hưởng trực tiếp
đến quá trình vận chuyển bằng đường biển Những rủi ro do thiên tai
bất ngờ như bão, sóng thần, lốc xoáy có thê xảy ra bất cứ lúc nào
Yếu tố tự nhiên xảy ra không tuân theo bất cứ quy luật nhất định nào
Vì vậy, mặc dù khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển và có thể dự
báo trước được nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra
Do yếu tố kĩ thuật: Trong hoạt động của mình con người ngày càng sử
dụng nhiều hơn các phương tiện khoa học kĩ thuật hiện đại Nhưng dù
máy móc hiện đại, chính xác đến đâu cũng không tránh khỏi trục trặc
về kĩ thuật về tàu, kĩ thuật dự báo thời tiết, các tín hiệu điều khiển
từ đất liền Từ đó gây ra đổ vỡ, mất mát hàng húa trong quá trình
vận chuyển
Do yếu tố con người: Hàng húa có thể bị mất trộm, hoặc bị cướp trong
quá trình vận chuyển
- Tốc độ của tàu biển còn chậm, hành trình trên biển có thời gian
dài nên xác suất rủi ro càng cao trong khi đó việc cứu hộ lại rất
khó khăn
- Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến tàu thường có
giá trị rất lớn Do đó nếu rủi ro xảy ra sẽ gây tổn thất rất lớn về
tài sản, trách nhiệm và con người
- Trong quá trình vận chuyển, trách nhiệm chính thuộc về chủ phương
tiện Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức
độ theo điều kiện giao hàng và hợp đồng vận chuyển
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp
Trang 4GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
v Đặc điểm:
· Việc XNK hàng húa thường được thực hiện thông qua hợp đồng
giữa người mua và người bán (ở hai nước khác nhau), trong đó ghi rõ
những nội dung về: số lượng, phẩm chất, ký mã hiệu, quy cách đóng
gói, giá cả hàng húa, trách nhiệm thuê tàu, cước phí, phí bảo hiểm,
thủ tục và đồn tiền thanh toán Do các bên trong hợp đồng có sự xa
cách về địa lý và họ thường không áp tải được hàng húa trong quá trình
vận chuyển nên việc làm này thông thường giao cho các hãng tàu
· Hàng húa sau khi được trao đổi sẽ có sự chuyển quyền sở hữu
từ người bán sang người mua
· Hàng húa XNK được vận chuyển qua biên giới quốc gia nên phải
chịu sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch tựy theo quy định của mỗi
nước Đồng thời để được vận chuyển ra hoặc vào biên giới thì phải
mua bảo hiểm theo tập quán Thương mại Quốc tế Người tham gia bảo
hiểm có thể là người bán hàng (người xuất khẩu) hoặc người mua hàng
(người nhập khẩu) Hợp đồng bảo hiểm thể hiện quan hệ giữa người bảo
hiểm và người mua bảo hiểm thì phải chuyển nhượng lại cho người mua
hàng để khi hàng về đến nước nhập, nếu bị tổn thất có thể đòi người
bảo hiểm bồi thường
· Hàng húa XNK vận chuyển bằng đường biển phải thông qua người
vận chuyển, tức là cả người mua và người bán đều không trực tiếp kiểm
soát được những tổn thất có thể gây ra cho hàng húa của mình Và theo
hợp đồng vận chuyển thì người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm về tổn
thất hàng húa trong một phạm vi, giới hạn nhất định vì vậy để giảm
rủi ro trong kinh doanh họ thường phải mua bảo hiểm cho hàng húa
Quá trình XNK hàng húa có liên quan đến nhiều bên, trong đó có bốn
bên chủ yếu là: người mua, người bán, người vận chuyển và người bảo
hiểm Vì thế, phải phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan
1.1.2 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng húa XNK vận chuyển
bằng đường biển
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
Ngành bảo hiểm ra đời do có sự tồn tại khách quan của các rủi ro mà
con người không thể khống chế được Nếu những rủi ro xảy ra mà không
có những khoản bù đắp thiệt hại kịp thời của các nhà bảo hiểm đặc
biệt là những rủi ro mang tính thảm họa thì chủ tàu và chủ hàng gặp
rất nhiều khó khăn về tài chính trong việc khắc phục hậu quả do các
Trang 5rủi ro đó gây ra Vì vậy, sự ra đời của bảo hiểm hàng húa XNK vận
chuyển bằng đường biển có tác dụng như sau:
Thứ nhất, giảm bớt rủi ro cho hàng húa đó, hạn chế tổn thất nhờ tăng
cường bảo quản kiểm tra đồng thời kết hợp các biện pháp đề phòng và
hạn chế tổn thất
Thứ hai, có khả năng tập trung được nguồn vốn rất lớn cho nền kinh
tế nhờ vào phí bảo hiểm thu được, sau đó nguồn vốn này một phần được
trích lập dự phòng và phần còn lại đem đầu tư trở lại nền kinh tế,
mang lại những khoản thu lớn hơn vốn đầu tư ban đầu
Thứ ba, nhờ có bồi thường, các tổ chức, cá nhân có thể nhanh chóng
ổn định được sản xuất kinh doanh, ổn định được cuộc sống Dù khả năng
tích lũy của các công ty bảo hiểm không lớn tuy nhiên họ lại họ lại
có khả năng bảo hiểm cho những giá trị bồi thường rất lớn thong qua
hoạt động phân tán rủi ro như tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm
Thứ tư, bảo hiểm hàng húa XNK vận chuyển bằng đường biển được thực
hiện ở trong nước làm giảm chi ngoại tệ
Thứ năm, thúc đẩy nghiệp vụ bảo hiểm hàng húa XNK vận chuyển bằng
đường biển cũng như ngành bảo hiểm trong nước nói chung phát triển,
góp phần tạo việc làm tăng thu nhập cho người dân, tăng thu cho ngân
sách nhà nước
1.1.3 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hàng húa XNK vận chuyển
bằng đường biển
Như chúng ta đã biết, bảo hiểm hàng húa vận chuyển bằng đường biển
đã có từ lâu, nú ra đời và phát triển cùng với hàng húa và hoạt động
trao đổi buôn bán quốc tế Khoảng thế kỷ V trước công nguyên, giao
lưu buôn bán giữa các quốc gia dần dần hình thành, phát triển và cũng
từ đó vận chuyển bằng đường biển đã ra đời Vào thời kỳ này, để né
tránh những tổn thất toàn bộ của mình con người đã tìm cách phân tán
hàng trên nhiều con tàu khác nhau nhờ vậy mà nếu một tàu không may
gặp rủi ro thì thiệt hại cũng chỉ một phần, đây chính là một cách
phân tán rủi ro, tổn thất
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
và đó là hình thức sơ khai của bảo hiểm Nhưng cùng với sự phát triển
của thương mại và giao lưu hàng húa đường biển thì tổn thất xảy ra
ngày càng lớn làm cho giới thương mại ngày càng lo lắng Sau đó để
đối phó với những tổn thất nặng nề thì hình thức “cho vay mạo hiểm”
Trang 6đã xuất hiện theo đó trong trường hợp xảy ra tổn thất đối với hàng
húa trong quá trình vận chuyển, người vay sẽ được miễn không phải
trả khoản tiền vay cả vốn lẫn lãi Ngược lại, nếu họ cập bến an toàn
thì sẽ phải trả một lãi suất rất cao Như vậy có thể hiểu lãi suất
cao này là hình thức sơ khai của phí bảo hiểm Song số vụ tổn thất
xảy ra ngày càng nhiều làm cho các nhà kinh doanh cho vay vốn cũng
lâm vào thế nguy hiểm và thay thế nú là hình thức bảo hiểm ra đời
Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý đã xuất hiện các hợp đồng bảo
hiểm hằng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người
được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được
bảo hiểm phải gánh chịu khi có rủi ro xảy ra trên biển và gây tổn
thất cho hàng húa được bảo hiểm, đồng thời với việc nhận một khoản
phí Hợp đồng bảo hiểm cổ nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/
04/ 1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren Sau đó cùng với việc phát
hiện ra Ấn Độ Dương và tìm ra Châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và
bảo hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh
Về cơ sở pháp lý thì có thể coi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn
bản pháp luật đầu tiên trong ngành bảo hiểm Sau đó là sắc lệnh của
Philippe de Bourgogne năm 1458, những sắc lệnh của Brugos năm 1537,
Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm 1558 Ngoài ra còn có sắc lệnh
của Phần Lan năm 1563 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng húa
Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI - XVII cùng với sự ra đời của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển
rộng rói và ngày càng đi sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh
tế - xã hội Mở đường cho sự phát triển này là luật 1601 của Anh thời
Nữ hoàng Elisabeth sau đó là chỉ dụ 1681 của Pháp do Colbert biên
soạn và Vua Louis XIV ban hành, đó là những đạo luật mở đường cho
lĩnh vực bảo hiểm hàng hải
Đến thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán
và hàng hải quốc tế và Luân Đôn trở thành trung tâm phồn thịnh nhất
Tàu của các nước đi từ Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều về cập
bến hai bờ song Thame của
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
thành phố Luân Đôn Các tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của các nhà buôn,
chủ ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm để giao dịch, trao
đổi thông tin với nhau
Edward Lloyd’s là một thuyền trưởng về hưu bắt đầu mở quán cà phê
ở Phố Great Tower ở Luân Đôn vào khoảng năm 1962 Các nhà buôn, chủ
Trang 7ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm thường đến đó để trao
đổi các thong tin về con tàu viễn dương, về hàng húa chuyên chở trên
tàu, về sự an toàn và tình hình tai nạn của các chuyến tàu Ngoài
việc quản lý cà phê, năm 1696 Edward Lloyd’s còn cho ra một tờ báo
tổng hợp các tình hình tàu bè và các vấn đề khác nhằm cung cấp thông
tin cho các khách hàng của quán Tuy nhiên, việc làm chính của ông
vẫn là cung cấp địa điểm để khách hàng đến giao dịch bảo hiểm, hội
họp Sau khi Edward Lloyd’s qua đời người ta thấy rằng cần phải có
một nơi tương tự như vậy để các nhà khai thác bảo hiểm hàng hải tập
trung đến giao dịch và năm 1770”Society of Lloyd’s” với tư cách là
một tổ chức tự nguyện đã thành lập và thu xếp một địa điểm ở Pope’s
Head Alley cho các thành viên của họ Sau đó tổ chức này rời địa điểm
đến trung tâm hối đoái của Hoàng gia và ở đó đến năm 1828 thì rời
đến tũa nhà riêng của họ tại Phố Leaden Hall Tổ chức này hoạt động
với tư cách là tổ chức tư nhân đến năm 1871 thì hợp nhất lại theo
luật Quốc hội và trở thành Hội đồng Lloyd’s và sau này đã trở thành
nơi giao dịch kinh doanh bảo hiểm và hang bảo hiểm lớn nhất thế giới
Bảo hiểm Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với các nước trên thế giới
nhưng so với các nước Đông Nam Á thì bảo hiểm Việt Nam vẫn ra đời
sớm hơn cả
Vào thời kỳ Pháp thuộc (những năm 1920) cùng với sự ra đời của các
chi nhánh công ty bảo hiểm Quốc gia Pháp, sau đó là của ngân hàng
thế giới, bảo hiểm hàng hải cũng ra đời từ đó.Năm 1965 bảo hiểm Việt
Nam bắt đầu đi vào hoạt động,Bộ tài chính đã ban hành quy tắc chung
về bảo hiểm hàng húa vận chuyển bằng đường biển (QTC-1965) và đến
năm 1990 Bộ tài chính ban hành quy tắc chung mới (QTC-1990)
Công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) chính thức đi vào
hoạt động tại Miền Bắc vào ngày 15/01/1965 Trong những năm đầu, Bảo
Việt chỉ tiến hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng húa
XNK, bảo hiểm tàu viễn dương
Đến nay, bảo hiểm hàng hải đã phát triển rộng khắp thế giới và được
hầu hết các quốc gia triển khai Một số thị trường bảo hiểm hàng hải
lớn của thế giới là:Anh, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc…Trong
đó, thị trường bảo hiểm London là
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
thị trường lớn nhất thế giới và là mẫu mực cho ngành bảo hiểm của
nhiều nước Các điều khoản, luật lệ, tập quán của London được các
thị trường bảo hiểm khác áp dụng, nhất là Luật bảo hiểm hàng hải năm
1906 và các điều khoản thong dụng như: các điều khoản bảo hiểm hàng
Trang 8húa, các điều khoản bảo hiểm than tàu và các hợp đồng bảo hiểm hàng
húa theo mẫu của Lloyd’s của viện những người bảo hiểm London ILU
Cho đến 1982 ILU mới cho ra mẫu hợp đồng mới, kèm theo các điều kiện
của hợp đồng mới (ICC 1982) để thay thế mẫu hợp đồng cũ và các điều
khoản cũ (ICC 1963)
1.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm hàng húa XNK vận chuyển bằng đường
biển
1 2 1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
v Đối tượng bảo hiểm:
Trong nghiệp vụ này đối tượng bảo hiểm chính là hàng húa XNK đang
trong quá trình vận chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng đường biển
(Bao gồm cả thời gian lưu kho, chờ xếp lên phương tiện hoặc chờ chủ
hàng nhận lại hàng)
Hàng húa có thể là:
-Nguyên vật liệu ban đầu: than, gỗ, dầu thô, các sản phẩm hàng húa
dạng bột hoặc nước
-Các sản phẩm thủy sản đông lạnh như: tôm, cỏ…
-Các sản phẩm nông sản thực phẩm: ngũ cốc, rau củ quả
-Hàng công nghiệp (May mặc, giầy da…), trang thiết bị máy móc hoàn
chỉnh
v Phạm vi bảo hiểm:
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn rủi ro được bảo hiểm và cũng là giới
hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm Hàng húa được bảo hiểm theo
điều kiện nào thì chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện
đó mới được bồi thường Phạm vi trách nhiệm càng rộng thì những rủi
ro được bảo hiểm càng nhiều và kéo theo mức phí lớn
Căn cứ vào các điều khoản bảo hiểm ICC (Institule Casgo Claude)
01/01/1982, để phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam đối với
quá trình bốc dỡ, vận chuyển hàng húa ở các cảng Việt Nam, Bộ Tài
Chính đã ban hành quy tắc chung về bảo hiểm hàng húa vận chuyển bằng
đường biển gọi tắt là QTC 1990 Quy tắc này được xây dựng trên cơ
sở điều khoản ICC
SVTH: Phạm Thị Trà My Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Trang 9Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
01/01/1982 Đối với hàng húa nhập khẩu từ các cảng nước ngoài về Việt
Nam thường được bảo hiểm theo QTC 1990
Để phù hợp với tập quán quốc tế, khi bán bảo hiểm hàng húa xuất nhập
khẩu các công ty bảo hiểm thường áp dụng ICC 01/01/1982 Khi hàng
húa có tổn thất, người nhận hàng dễ dàng nhận biết ngay hàng húa bị
tổn thất có nằm trong phạm vi bảo hiểm hay không
1.2.2.Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
1.2.2.1 Giá trị bảo hiểm:
Giá trị bảo hiểm (GTBH) là giá thực tế của lô hàng, thường là giá
CIF, bao gồm: Giá hàng húa, cước phí vận chuyển, phí bảo hiểm và các
chi phí liên quan khác.Công thức xác định:
V=C+I+F
Trong đó: V: Giá trị bảo hiểm của hàng húa
I: Giá hàng tại cảng đi (giá FOB)
F: Phí bảo hiểm
1.2.2.2 Số tiền bảo hiểm:
Số tiền bảo hiểm (STBH) là số tiền được đăng ký bảo hiểm,ghi trong
hợp đồng bảo hiểm
STBH được xác định dựa trên GTBH
Húa đơn hàng là tài liệu chắc chắn nhất để xác định GTBH của hàng
húa
Nếu STBH = GTBH: Bảo hiểm ngang giá trị (bảo hiểm toàn phần)
Nếu STBH > GTBH: Bảo hiểm trên giá trị
Nếu STBH < GTBH: Bảo hiểm dưới giá trị
Trong thực tế, chủ hàng thường bảo hiểm ngang giá trị
1.2.2.3 Phí bảo hiểm
SVTH: Phạm Thị Trà My
Trang 10Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
Phí bảo hiểm là một khoản tiền do người tham gia bảo hiểm nộp cho
người bảo hiểm để hàng húa được bảo hiểm
Phí bảo hiểm được xác định trên cơ sở GTBH hoặc STBH và tỷ lệ phí
bảo hiểm.Phí bảo hiểm (P) được xác định như sau:
P=Sb*(a+1)*R
Trong đó: - Sb: Số tiền bảo hiểm
- a: Số phần trăm lãi dự tính
- R: Tỷ lệ phí bảo hiểm
Trong thực tế, chủ hàng thường mua bảo hiểm ngang giá trị nên phí
bảo hiểm được xác định theo công thức:
P = CIF * R (Nếu không bảo hiểm lãi
dự tính)
Hoặc P = CIF*(a+1)*R(Nếu bảo hiểm thêm lãi dự
tính a)
Tỷ lệ phí bảo hiểm được ghi trong hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận
giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm
Tỷ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc các yếu tố sau:
- Loại hàng húa: Hàng dễ bị tổn thất như đễ vỡ dễ bị mất cắp thì
tỷ lệ phí bảo hiểm sẽ cao hơn
- Loại bao bì: Bao bì càng chắc chắn thì tỷ lệ phí càng hạ
- Phương tiện vận chuyển: Hàng được chở trên tàu trẻ có tyt lệ phí
bảo hiểm thấp hơn hàng được chở bằng tàu già
- Hành trình: Tỷ lệ phí tăng lên đối với những hành trình có nhiều
rủi ro hoăch hành trình qua các vùng có xung đột vũ trang
- Điều kiện bảo hiểm: Điều kiện bảo hiểm có phạm vi càng hẹp thì tỷ
lệ phí bảo hiểm càng thấp
Trong một số trường hợp có nguy cơ gia tăng rủi ro như hàng được vận
chuyển trên tàu già, tỷ lệ phí bảo hiểm gồm hai phần như sau:
Trang 11SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
R = Rgốc + Rphụ
Trong đó: -Rgốc: Tỷ lệ phí gốc
-Rphụ: Tỷ lệ phí phụ (Phụ thuộc tàu,
quốc tịch tàu, bảo hiểm chiến tranh)
Như vậy, thực chất Phí bảo hiểm gồm hai phần:
- Phí gốc:
Pgốc = Sb * Rgốc
- Phí phụ:
Ptàu già = Sb * Rtàu già
Trong đó: Sb: Số tiền bảo hiểm
Lúc này: Ptổng cộng = Pgốc + Ptàu già
1.2.3 Các điều kiện bảo hiểm
1.2.3.1 ICC 01/01/1963
v Điều kiện bảo hiểm miễn Tổn thất riờng (FPA – Free from
Particular Average)
Theo điều kiện bảo hiểm FPA, trách nhiệm bảo hiểm bao gồm:
· Tổn thất toàn bộ do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển
hoặc dỡ hàng tại cảng lánh nạn thuộc tổn thất riêng
· Tổn thất bộ phận do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển
hoặc dỡ hàng tại cảng lánh nạn do rủi ro chính đem lại
· Mất nguyên kiện hàng trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải
· Bồi thường các chi phí sau:
Ø Chi phí đóng góp tổn thất chung
Trang 12Ø Chi phí cứu nạn
Ø Chi phí đề phòng, hạn chế tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm do
người thứ ba không phải là người được bảo hiểm hay người làm công
của họ gây nên
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực,kể
từ khi kí kết HĐBH và có bằng chứng công ty bảo hiểm đã chấp nhận
bảo hiểm bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm
(trừ trường hợp đã có thỏa thuận khác trong HĐBH) cho tới khi kết
thúc trách nhiệm bảo hiểm.Trong bảo hiểm hàng húa, nếu hàng húa được
ký kết theo HĐBH bao bì thì thời hạn bảo hiểm khác hiệu lực bảo
hiểm.Thời hạn bảo hiểm của HĐBH bao là một khoảng thời gian nhất định
được chỉ ra trong hợp đồng bảo hiểm được chỉ ra trong HĐBH (thường
là một năm) và hiệu lực bảo hiểm được tính riêng cho từng chuyến
hàng.Với HĐBH chuyến,thời hạn bảo hiểm là kể từ lúc bắt đầu một chuyến
hành trình cho tới khi kết thúc chuyến hành trình đó
1.2.6.Giám định và bồi thường tổn thất
1.2.6.1.Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất
Khi phương tiện chở hàng gặp tai nạn và đe dọa đến sự an toàn của
hàng húa,người được bảo hiểm phải có trách nhiệm thông báo cho các
cơ quan liên quan nơi gần nhất như cơ quan hàng hải,cơ quan bảo hiểm
để các cơ quan này có biện pháp theo dõi và phòng bị cho tàu và hàng
húa
Nếu được thông tin hay phát hiện thấy thực tế hàng húa bị tổn thất
thì người được bảo hiểm cần phải làm ngay các việc sau:
-Thông báo cho người bảo hiểm biết và nếu thấy tình hình hàng húa
tổn thất hoặc nghi ngờ có tổn thất thì cần làm giấy yêu cầu người
bảo hiểm giám định ngay
-Việc giám định hàng húa bảo hiểm bị tổn thất phải do người bảo hiểm
tiến hành theo đơn đề nghị của người được bảo hiểm.Nếu vụ tổn thất
không được giám định viên của người bảo hiểm tiến hành thì sẽ không
được người bảo hiểm chấp nhận bồi thường
Các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất:
Ø Thực ra việc đề phòng và hạn chế tổn thất cho hàng húa nói
Trang 13chung trong HĐBH là để chỉ những trường hợp hàng úa bị rủi ro thuộc
phạm vi bảo hiểm như cháy, mắc cạn, …đe dọa tàu khi tàu chở hàng đang
trên đường hành trình hoặc neo đậu tại bến cảng dọc đường
Ø Bảo lưu quyền khiếu nại cho người bảo hiểm tức là làm đơn
khiếu nại ngay bên gây ra tổn thất cho hàng húa và gọi là khiếu nại
người thứ ba,người đứng
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
· Đối với tổn thất bộ phận:Bồi thường số kiện,số bao hàng bị
thiếu,mất hay giá trị trọng lượng số hàng rời bị thiếu,mất hoặc bồi
thường theo mức giảm giá trị thương mại của phần hàng bị tổn thất
Ngoài ra,nếu trong HĐBH hàng húa XNK có ấn định mức miễn thường của
công ty bảo hiểm thì khi tổn thất xảy ra,xác định số tiền bồi thường
đối với giá trị hàng húa bị tổn thất phải xét đến mức miễn thường
này
Mức miễn thường là một tỷ lệ miễn giảm trách nhiệm bồi thường của
người bảo hiểm khi tổn thất xảy ra đối với hàng húa được bảo hiểm
Có hai loại miễn thường:Miễn thường có khấu trừ và miễn thường không
có khấu trừ.Theo H ĐBH có áp dụng mức miễn thường có khấu trừ a%,nếu
tổn thất xảy ra vượt quá a% STBH thì người bảo hiểm sẽ bồi thường
phần tổn thất vượt quá đó.Theo H ĐBH có áp dụng miễn thường không
khấu trừ a%,nếu tổn thất vượt qua a% STBH thì người bảo hiểm sẽ bồi
thường toàn bộ tổn thất
Trong cả hai trường hợp miễn thường,nếu tỷ lệ tổn thất không vượt
quá tỷ lệ miễn thường thì công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm
bồi thường tổn thất
1.3.Chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hàng
húa XNK vận chuyển bằng đường biển
1.3.1.Chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh
Kết quả kinh doanh là một số tuyệt đối,phản ánh cụ thể kết quả đạt
được khi thực hiện một công việc nào đó.Kết quả kinh doanh của một
nghiệp vụ bảo hiểm,một loại hình bảo hiểm và của cả doanh nghiệp bảo
hiểm (DNBH) được thể hiện ở hai chỉ tiêu chủ yếu là:Doanh thu và lợi
nhuận
· Doanh thu của DNBH phản ánh tổng hợp kết quả kinh doanh trong
Trang 14một thời kỳ nhất định (thường là một năm).Nú là cơ sở để tính các
chỉ tiêu khác có liên quan phục vụ phân tích hoạt động kinh doanh
trong doanh nghiệp bảo hiểm.Chỉ tiêu này bao gồm các bộ phận cấu thành:
SVTH: Phạm Thị Trà My
Lớp: Kinh tế bảo hiểm K49
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Nguyễn Thị Chính
· Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm Tai nạn con người
· Bảo hiểm Tài sản và bảo hiểm thiệt hại
· Bảo hiểm hàng húa vận chuyển bằng đường biển, đường bộ,
đường song, đường sắt và đường hàng không
· Bảo hiểm Xe cơ giới
· Bảo hiểm cháy, nổ
· Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu
· Bảo hiểm trách nhiệm chung
· Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính
· Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh
· Bảo hiểm nông nghiệp
- Tái bảo hiểm: Nhận và nhượng Tái bảo hiểm đối với tất cả
các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
- Đầu tư tài chính
Địa bàn hoạt động: Công ty cổ phần bảo hiểm AAA được phép hoạt động
trên phạm vi cả nước
Đối tượng khách hàng: Là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
sinh sống, học tập và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam
2.1.3 Sơ đồ tổ chức
Có thể nói rằng để đứng vững trên thị trường nhiều biến động và cạnh
tranh như hiện nay mỗi doanh nghiệp đều phải tự hoàn thiện mình, phải
có mỗi quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên để cùng thực hiện mục
đích chung dưới sự lãnh đạo của các nhà quản lý