Điều này sẽ được giải thích ở Chương III: trong khi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có thể tác động tích cực đến đầu tư và đổi mới, giới học thuật cũng nhấn mạnh rằng bảo hộ IPR có thể phản
Trang 1Tầng 9, Toà nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam
Chuyên gia: Aurelio Lopez-Tarruella Martine,
Tác giả cảm ơn các ông:
Nguyễn Hữu Cẩn, Claudio Dordi và Laurent Manderieuxvề sự hỗ trợ để hoàn thiện Báo cáo này
Báo cáo này được xây dựng với sự hỗ trợ tài chính của Liên minh châu Âu Quan điểm trong báo cáo là của các tác giả, không phải là ý kiến chính thức của Liên minh châu Âu hay của Bộ Công Thương
Trang 3MỤC LỤC
TỔNG QUAN 4
GIỚI THIỆU 8
CHƯƠNG I SỰ CẦN THIẾT CỦA MỘT CHƯƠNG VỀ IPR TRONG FTA TƯƠNG LAI GIỮA EU VÀ VIỆT NAM 10
I Cách tiếp cận của EU và của Việt Nam về IPR 10
II Bối cảnh khuôn khổ quản lý IPR quốc tế cho FTA giữa Việt Nam và EU 12
1 Khuôn khổ quản lý IPR quốc tế hiện hành và các hành động của EU nhằm gia tăng mức độ bảo hộ 12
2 Đặc điểm bổ trợ của các điều khoản IPR trong các FTA: TRIPS-cộng/TRIPS-bổ sung, các điều khoản MFN và NT 15
CHƯƠNG II NỘI DUNG CHƯƠNG IPR TRONG FTA TƯƠNG LAI GIỮA VIỆT NAM VÀ EU – TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG IPR CỦA VIỆT NAM 17
I Giới thiệu 17
II Mục tiêu, nghĩa vụ và nguyên tắc chung 18
1 Quy định phổ biến trong các FTA của EU 18
2 Tác động đối với hệ thống IPR của Việt Nam 20
III Các điều khoản nội dung về bảo hộ IPR 21
1 Bằng sáng chế 21
2 Giống cây trồng 24
3 Nhãn hiệu 25
4 Kiểu dáng công nghiệp 27
5 Chỉ dẫn địa lý 29
6 Tài nguyên di truyền, tri thức truyền thống và văn hóa dân gian 32
7 Quyền tác giả và các quyền liên quan 35
IV Quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ 39
1 Quy định chung 40
2 Các biện pháp dân sự và hành chính 42
3 Các biện pháp biên giới 48
4 Các nội dung không giống nhau trong các FTA: trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ Internet và các biện pháp hình sự 49
5 Điều khoản về chuyển giao công nghệ 52
CHƯƠNG III PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH CÁC TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM VỀ MẶT KINH TẾ VÀ KINH DOANH CỦA MỘT CHƯƠNG VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG FTA GIẢI ĐỊNH GIỮA VIỆT NAM VÀ EU 54
I Giới thiệu 54
II Những lợi ích của việc tăng cường bảo hộ IPR ở các nước đang phát triển và Việt Nam 54
1 Đối với một nước đang phát triển nói chung 54
2 Trường hợp của Việt Nam 57
III Chi phí của việc gia tăng bảo hộ IPR đối với các nước đang phát triển 58
IV Thực hiện các FTA của EU: Các phương tiện để giảm bớt phí tổn của việc gia tăng bảo hộ sở hữu trí tuệ 60
CHƯƠNG IV CƠ CHẾ HỢP TÁC TRONG CHƯƠNG VỀ IPR 63
I Giới thiệu 63
II Hợp tác trong lĩnh vực bảo hộ và thực thi IPR 64
III Hợp tác trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ 66
IV Hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển 68
PHỤ LỤC 70
Trang 5sở hữu trí tuệ
Trang 7Cam kết giữa hai bên trong FTA tương lai sẽ vượt cam kết trong các hiệp định trước
Chiến lược châu Âu toàn cầu của EU khẳng định rằng các FTA phải toàn diện, tham vọng về
phạm vi và “phải giải quyết được các rào cản phi thuế thông qua hội tụ chính sách” Một lĩnh
vực được nhắc đến nhiều lần trong Chiến lược là sở hữu trí tuệ (IPR)
Mục tiêu của Báo cáo này là dự kiến nội dung của một chương về IPR trong FTA tương lai giữa EU và Việt Nam, tác động của chương này đối với hệ thống IPR của Việt Nam, tác động
về kinh tế xã hội và cơ chế hợp tác để hỗ trợ Việt Nam thực thi chương này Báo cáo được chia thành 4 chương, tập trung vào các nội dung trong Điều khoản tham chiếu của Hoạt động
Chương I nêu sự cần thiết phải có một chương về IPR trong FTA trong tương lai giữa EU
và Việt Nam, và khuôn khổ quản lý IPR quốc tế mà FTA có thể đưa vào chương này
Theo Chiến lược châu Âu 2020, nghiên cứu và đổi mới là các yếu tố cơ bản cho sự tăng
trưởng kinh tế của EU Bảo hộ IPR trong và ngoài biên giới EU và ở các nước thứ ba mà các công ty của EU hoạt động là điều thiết yếu theo Chiến lược này
Việt Nam rất coi trọng quyền sở hữu trí tuệ mặc dù vẫn còn một số vấn đề trong việc bảo
hộ và thực thi Lý do là mục tiêu chính trị của Việt Nam nhằm trở thành “một nền kinh tế thị trường trên cơ sở tri thức trong thế kỷ 21” Việt Nam tin tưởng rằng khuyến khích đổi mới, sáng tạo và bảo hộ IPR sẽ phục vụ cho mục tiêu phát triển quốc gia Ngoài ra, các cơ quan chức năng của Việt Nam cũng nhận thức được về những lợi ích của việc tăng cường bảo hộ IPR đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chuyển giao công nghệ quốc tế và khuyến khích sáng tạo và nghiên cứu trong nước
Với các lý do trên, không ngạc nhiên khi PCA khẳng định tầm quan trọng lớn lao mà hai bên đặt ra đối với việc bảo hộ IPR (Điều 20) Vì thế, việc đặt ra chương riêng về IPR trong FTA EU-Việt Nam dự kiến sẽ không gặp vấn đề gì Sự khác biệt về quan điểm trên thực tế có thể phát sinh trong quá trình đàm phán nội dung của chương này Trong khi mục tiêu của EU trong các FTA là xác lập một mức độ bảo hộ IPR tương tự như trong luật pháp của EU thì mức độ bảo hộ này có thể gây tổn hại xét về mức độ phát triển thấp hơn của Việt Nam Tuy nhiên, trong bất cứ trường hợp nào, việc đàm phán hiệp định vẫn có thể hoàn tất chừng nào EU công nhận việc xem xét trình độ phát triển của quốc gia liên quan là cần thiết
Việc đưa một chương riêng về IPR trong FTA là một trong các biện pháp mà EU sử dụng
để tăng cường bảo hộ IPR ngoài các khuôn khổ quốc tế hiện hành như TRIPS và các hiệp định
đa phương khác EU đã hoàn tất đàm phán một số FTA có các quy định về IPR Các hiệp định mang đậm dấu ấn này bao gồm các hiệp định: với Hàn Quốc (FTA EU-Hàn Quốc); với Colombia và Peru (TA EU-CP); với khu vực Trung Mỹ (AA EU-CA) và với các nước CARIFORUM (EPA EU-CARIFORUM) Báo cáo sẽ tập trung phân tích các hiệp định này
Việt Nam cũng là một bên tham gia một số hiệp định, bao gồm Hiệp định thương mại song phương BTA với Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác kinh tế (EPA)với Nhật Bản và Hiệp định giữa Chính phủ CHXHCN ViệtNam và Chính phủ liên bang Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với Thụy Sĩ
Trang 85
Các quy định IPR trong FTA thường có tính chất TRIPS+, tức là mức độ bảo hộ cao hơn quy định trong TRIPS; hoặc các quy định rộng hơn TRIPS, tức là ràng buộc các bên phải bảo hộ các đối tượng IPR khác ngoài các đối tượng quy định trong TRIPS Những quy định này không làm suy giảm mà đơn giản chỉ là bổ sung các quy định quốc tế hiện hành Đặc biệt, các nguyên tắc Tối huệ quốc và Đãi ngộ quốc gia vẫn được áp dụng với một số trường hợp ngoại lệ
Chương II là trọng tâm của Báo cáo này và đặt ra 2 mục tiêu Mục tiêu thứ nhất là dự kiến nội dung của chương về IPR bằng cách xác định các quy định IPR phổ biến trong các FTA của EU Mục tiêu thứ hai là đánh giá các tác động của việc thông qua chương về IPR với các nội dung nói trên đối với hệ thống luật pháp về IPR của Việt Nam
Chương này được chia thành 4 phần: a) mục tiêu, các nguyên tắc và nghĩa vụ chung; b) nội dung bảo hộ; c) thực thi; d) chuyển giao công nghệ Ba phần đầu là quan trọng nhất
Các quy định trong FTA liên quan đến “mục tiêu”, “bản chất và phạm vi nghĩa vụ” và
“các nguyên tắc chung” rất quan trọng Lý do là vì chúng cho phép sự linh hoạt của các bên khi nội luật hóa các nghĩa vụ trong chương về IPR thành quy định luật pháp trong nước để đáp ứng các nhu cầu cụ thể So sánh các FTA của EU cho thấy mục tiêu đặt ra không chỉ là “đảm bảo việc bảo hộ và thực thi hiệu quả về IPR” Các FTA này còn đề cập đến các mục tiêu khác phù hợp với các nước đang phát triển như “xúc tiến việc chuyển giao công nghệ quốc tế” Ngoài ra, tất cả các FTA đều dẫn chiếu đến Tuyên bố Đô-ha về Y tế Cộng đồng và các mục tiêu, nguyên tắc của TRIPS (Điều 7 và 8) Cần phải lưu ý rằng những nguyên tắc này chỉ hơi khác nhau giữa FTA này với FTA khác tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi đối tác EU Điều này đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam: các cơ quan có thẩm quyền có độ linh hoạt trong đàm phán thông qua những nguyên tắc phù hợp với điều kiện của đất nước và thực hiện FTA theo luật pháp Việt Nam
Các quy định trọng tâm liên quan đến toàn bộ các đối tượng IPR Nhìn chung, mức độ bảo hộ được thiết lập trong các quy định này đã gần tương đương trong luật pháp về IPR của Việt Nam, chỉ trừ một số trường hợp ngoại lệ Trước hết, trong lĩnh vực quyền tác giả, Việt Nam cần phải phê duyệt WCT và WPPT và tăng thời hạn bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan khác lên 70 và 50 năm Thứ hai, đối với các chỉ dẫn địa lý (GIs) – một lĩnh vực có liên quan nhiều đến EU và Việt Nam, FTA dự kiến sẽ bao gồm nghĩa vụ công nhận lẫn nhau và gia tăng bảo hộ GIs tại Việt Nam có thể bao gồm các quy định về tranh chấp thương hiệu đã đăng ký trước đó Thứ ba, trong lĩnh vực thương hiệu, Việt Nam cần cố gắng triển khai tốt thủ tục đăng
ký và đảm bảo các quyết định được giải thích đầy đủ FTA còn bao gồm các quy định về bảo hộ nguồn tài nguyên di truyền và kiến thức truyền thống sẽ mang lại lợi ích to lớn cho đất nước đa dạng về sinh học như Việt Nam
Như đã đề cập trước đó, các quy định thi hành là những quy định khắt khe nhất trong các FTA Việt Nam đã bị EU (và Hoa Kỳ) coi là một trong số các quốc gia hàng đầu trong vấn nạn hàng giả và hàng vi phạm bản quyền Các biện pháp triển khai để giải quyết vấn đề này đã được công nhận nhưng vẫn bị coi là chưa đầy đủ Việc thực hiện các nghĩa vụ trong lĩnh vực này sẽ đòi hỏi Việt Nam phải sửa đổi một phần luật pháp về IPR của mình, như bảo đảm các biện pháp cưỡng chế thi hành và xử phạt có hiệu quả nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm; sửa đổi danh sách các bên có quyền yêu cầu xử lý vi phạm bao gồm cả các bên nhận li-xăng về đối tượng sở hữu công nghiệp, cho phép yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi tiến hành thủ tục tố tụng hoặc quản lý quyền thông tin Quan trọng hơn là Việt Nam cần nỗ lực cung cấp các phương tiện để đảm bảo thực thi hiệu quả, chẳng hạn đầu tư vào thiết bị và cơ sở hạ tầng mới, nhân lực mới và đào tạo Để đảm bảo thực hiện những nghĩa vụ này, Việt Nam có thể yêu cầu cơ chế hợp tác như quy định trong các FTA của EU
Chương III tập trung vào những tác động kinh tế-xã hội của việc đưa vào FTA dự kiến giữa EU và Việt Nam các quy định tương tự như trong các FTA hiện tại của EU Báo cáo tập
Trang 9cụ thể của từng nước, chẳng hạn trình độ về nghiên cứu và phát triển (R&D) của quốc gia đó Ngoài ra, các nước đang phát triển chỉ được hưởng lợi từ việc gia tăng mức bảo hộ IPR về dài hạn
Ngoài các lợi ích, việc gia tăng mức bảo hộ IPR có thể mang lại nhiều phí tổn Quan trọng nhất là phí tổn phát sinh từ việc thực hiện các quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ vì chúng có thể đòi hỏi những khoản đầu tư khổng lồ cho cơ sở hạ tầng, thiết bị và nhân lực Các phí tổn khác có thể là trở ngại trong việc tiếp cận thuốc chữa bệnh, khó khăn trong phát triển ngành nông nghiệp, khó khăn khi chia sẻ lợi ích hợp pháp từ việc khai thác kiến thức truyền thống, tài nguyên di truyền và tiếp cận tri thức
Để tối đa hóa các lợi ích và cắt giảm phí tổn do gia tăng mức bảo hộ IPR, mỗi quốc gia đang phát triển phải điều chỉnh hệ thống IPR sao cho phù hợp với mức độ phát triển và hoàn cảnh cụ thể của mình Ngoài ra, các cải cách IPR cần phải đi đôi với các biện pháp khác trong những lĩnh vực có liên quan đến IPR như R&D
Đối với Việt Nam, dường như cho đến nay việc gia tăng bảo hộ IPR đã không mang lại tác động như mong muốn cho sự phát triển kinh tế Các học giả và cơ quan nhà nước chỉ ra một
số nguyên nhân như: việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ còn yếu kém; người dân chưa có nhận thức đầy đủ về IPR; và việc phát triển IPR còn yếu do thiếu các nhà khoa học và kỹ sư, mức độ đầu tư vào R&D còn thấp – chỉ chiếm 0,5% GDP của cả nước và vẫn tồn tại những yếu kém trong cơ cấu R&D
Ngoài ra, phân tích hệ thống luật pháp hiện hành về IPR tại Việt Nam cho thấy một số quy định không phù hợp với mức độ phát triển của quốc gia Chẳng hạn, Việt Nam bắt buộc phải
áp dụng cơ chế rất hạn chế về quyền đối với giống cây trồng của UPOV năm 1991 Một số học giả khẳng định rằng cơ chế này có thể có tác động tiêu cực đến sự phát triển của ngành nông nghiệp May là đó không phải tình trạng chung Một số khía cạnh khác của luật pháp về IPR có
vẻ phù hợp hơn với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, chẳng hạn, quy định về hết quyền trên phạm
vi quốc tế dường như giúp tăng cường tiếp cận thuốc chữa bệnh
Nhìn chung, việc thực hiện FTA với một chương tương tự như các FTA khác do EU ký kết sẽ không làm gia tăng hay giảm bớt các phí tổn này Tuy nhiên, thực thi là một khía cạnh rất quan trọng và sẽ phát sinh phí tổn lớn Việt Nam phải đầu tư lớn vào các nguồn lực về con người
và tài chính: xây dựng cơ sở hạ tầng mới, mua sắm trang thiết bị mới, thuê nhân công, đào tạo, vv
Trong mọi trường hợp, mặc dù việc gia tăng mức độ bảo hộ IPR tại Việt Nam mang lại hiệu quả thấp và phí tổn lớn, các tài liệu chính thức cho thấy các cơ quan nhà nước cam kết bảo
hộ IPR để đạt được một số mục tiêu chiến lược của quốc gia Các mục tiêu này bao gồm thu hút FDI từ các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực liên quan nhiều đến IPR như công nghệ thông tin, viễn thông và công nghệ sinh học; hoặc mục tiêu phát triển một thị trường R&D vững mạnh
Để đạt được những mục tiêu này, khuyến nghị cho các cơ quan của Việt Nam bao gồm: a) đàm phán một chương về IPR quy định mức độ bảo hộ phù hợp nhất với mức độ phát triển và hoàn cảnh cụ thể của quốc gia; b) đàm phán đưa vào chương về IPR các nguyên tắc chung để cơ quan chức năng có thể linh hoạt áp dụng các nghĩa vụ trong FTA vào luật pháp quốc gia; c) thực hiện các biện pháp để tạo dựng nền tảng cho việc hưởng lợi đầy đủ từ gia tăng bảo hộ IPR; d)
Trang 10Cơ chế này hỗ trợ rất nhiều các nước đang phát triển thực hiện đúng nghĩa vụ quy định trong các hiệp định Cơ chế này tập trung vào 3 lĩnh vực: bảo hộ và thực thi IPR một cách hiệu quả, thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ ở cấp độ quốc tế và củng cố một hệ thống R&D khả thi tại các nước đang phát triển
Theo các chuyên gia được phỏng vấn cho báo cáo này, hỗ trợ kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với Việt Nam trong việc giải quyết 2 vấn đề chính: thiếu nguồn lực về con người và tài chính để chống lại hàng giả, hàng vi phạm bản quyền; và thiếu ý thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo hộ IPR Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ việc trao đổi thông tin, xây dựng năng lực và tăng cường hợp tác về mặt thể chế giữa các văn phòng sở hữu trí tuệ Cơ chế hợp tác này vượt xa cơ chế hình thành trong PCA Trong mọi trường hợp, nhiều chuyên gia đều đồng ý rằng cần phải điều chỉnh hỗ trợ kỹ thuật cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam; các chương trình huấn luyện không cần phải theo đúng công thức “một cỡ cho tất cả” – áp dụng tính linh hoạt của TRIPS; hỗ trợ kỹ thuật cho tất cả các cơ quan nhà nước và hiệp hội doanh nghiệp có liên quan đến IPR; cuối cùng, tăng cường tiếp cận công nghệ thông tin hoặc cơ sở dữ liệu do các
tổ chức quốc tế quản lý cũng rất cần thiết
Mục tiêu của các cơ chế hợp tác còn nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ cho các đối tác của EU Nguyên nhân là vì một quốc gia càng tiến bộ về công nghệ thì quốc gia đó càng được hưởng lợi nhiều từ hệ thống IPR và càng thu hút được nhiều hàng nhập khẩu liên quan đến IPR Do đó, việc thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan Vì mục đích này, các FTA của EU quy định nhiều cơ chế hợp tác: trao đổi quan điểm và thông tin về các thông lệ ảnh hưởng đến việc chuyển giao công nghệ trên cả phạm
vi quốc gia và quốc tế; ưu đãi của EU dành cho các doanh nghiệp và tổ chức của mình để thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ cho bên khác xây dựng một nền tảng công nghệ; các chương trình trao đổi về học tập, chuyên môn và kinh doanh
Cuối cùng, để tăng cường IPR có tác động đến nền kinh tế của một quốc gia, việc tăng cường cần phải đi kèm với các biện pháp củng cố cấu trúc R&D EPA EU-CARIFORUM và TA EU-CP bao gồm các cơ chế hợp tác cụ thể được hiểu là để giúp các đối tác cải thiện các hệ thống R&D của họ Các cơ chế hợp tác đó bao gồm việc trao đổi thông tin về các dự án R&D được công khai tài trợ; sự tham gia của các cơ quan và chuyên gia vào các hệ thống khoa học và công nghệ (S&T) tương ứng; và các chương trình xây dựng năng lực
Một số cơ chế mới nhất đã được đề cập trong PCA Các cơ chế này có thể có lợi cho Việt Nam trong tình trạng R&D thấp như hiện nay – mức đầu tư thấp, rất ít hoạt động R&D của khu vực tư nhân, thiếu sự hợp tác giữa các tổ chức công về R&D và các doanh nghiệp tư nhân, thiếu nhận thức về IPR của các nhà nghiên cứu Các cơ chế này có thể giúp các cơ quan nhà nước của Việt Nam đạt được mục tiêu nâng cao năng lực khoa học và công nghệ của mình lên tầm khu vực như mục tiêu trong Kế hoạch 5 năm về khoa học và công nghệ hiện nay của Việt Nam
Trang 11ở mức thấp hơn so với tiềm năng và lợi thế của cả hai bên.3
Để tăng cường quan hệ, hai bên đã đàm phán một Hiệp định khung về Hợp tác và Đối tác toàn diện (PCA).4
PCA tạo cơ sở cho việc xây dựng quan hệ hiệu quả hơn giữa EU và các quốc gia thành viên với Việt Nam trong các lĩnh vực phát triển, thương mại, kinh tế và công bằng Tại thời điểm soạn thảo Báo cáo này, Hiệp định chuẩn bị có hiệu lực
Tuy nhiên, đây không phải là bước cuối cùng trong mối quan hệ Việt Nam-EU PCA khẳng định rõ ràng rằng hiệp định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc khởi động và ký kết một Hiệp định thương mại tự do (FTA) phù hợp với mục tiêu của EU là tạo ra một khuôn khổ kinh tế và chính trị chặt chẽ cho quan hệ giữa EU và các nước ASEAN.5
Việc tăng cường quan hệ kinh tế-thương mại giữa Việt Nam và EU có thể mang lại lợi ích chung cho cả hai bên
Về phía Việt Nam, theo Đề án tổng thể về quan hệ với Liên minh châu Âu,6
"sự phát triển của quan hệ hợp tác toàn diện với EU và với từng quốc gia thành viên trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi có tầm quan trọng chiến lược cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".7
Về phía EU, trong Chiến lược toàn cầu châu Âu8
năm 2006, Ủy ban châu Âu khẳng định tiếp cận thị trường ở nước ngoài là một nguồn quan trọng để gia tăng năng suất, tăng trưởng và tạo việc làm ASEAN được xác định là một trong các khối khu vực cần đàm phán FTA, xét về tiềm năng thị trường (độ lớn và khả năng tăng trưởng kinh tế) cũng như mức độ bảo hộ đi ngược lại lợi ích xuất khẩu của EU (lợi ích thuế và phi thuế).9
Sau khi không thành công trong việc đàm phán chung với cả khối ASEAN, EU đã quyết định khởi động đàm phán với từng thành viên ASEAN.10 Đó là bối cảnh cho việc bắt đầu đàm phán giữa EU với Việt Nam
Theo Chiến lược toàn cầu châu Âu, cam kết của các bên trong một FTA trong tương lai
sẽ đi xa hơn cam kết trong các hiệp định trước đó, kể cả PCA mà đến nay chưa có hiệu lực
Chiến lược toàn cầu châu Âu khẳng định FTA sẽ xây dựng trên cơ sở WTO và các quy tắc quốc
tế khác để đưa ra những cam kết cao hơn và nhanh hơn về mở cửa và hội nhập Cam kết sẽ ở mức toàn diện và tham vọng hơn về phạm vi, và “giải quyết các rào cản phi thuế thông qua hội
tụ về cơ chế quản lý trong chừng mực có thể, bao gồm các quy định thuận lợi hóa thương mại ở mức độ cao”.11
Trang 129
Một trong các lĩnh vực được nhiều lần đề cập trong Chiến lược và được xác định cần
thiết phải hội tụ về cơ chế quản lý là quyền sở hữu trí tuệ (IPR): “Các FTA cần bao gồm các quy định mạnh mẽ hơn về quyền sở hữu trí tuệ ”.12
Mục tiêu của báo cáo này là dự kiến nội dung của một chương về quyền sở hữu trí tuệ trong FTA tương lai giữa EU và Việt Nam; các tác động về kinh tế và pháp lý của chương này đối với Việt Nam Nhằm mục đích đó, báo cáo sẽ được chia thành 4 chương
Chương I giải thích những lý do cho sự cần thiết phải có một chương về quyền sở hữu trí tuệ trong FTA
Chương II xác định các điều khoản chung được đưa vào chương về quyền sở hữu trí tuệ trong các FTA gần đây của EU, và giải thích các tác động đối với hệ thống IPR của Việt Nam nếu các điều khoản tương tự được đưa vào FTA tương lai giữa hai bên
Chương III tập trung vào những tác động kinh tế - xã hội đối với Việt Nam của các điều khoản này, căn cứ vào các báo cáo nghiên cứu về tác động của việc gia tăng bảo hộ IPR ở các nước đang phát triển
Cuối cùng, Chương IV sẽ đề cập về cơ chế hợp tác trong các FTA của EU và cách thức
mà cơ chế này có thể hỗ trợ Việt Nam thực hiện các nghĩa vụ trong chương về IPR trong FTA tương lai với EU
12
Thông cáo, trang 11
Trang 1310
CHƯƠNG I SỰ CẦN THIẾT CỦA MỘT CHƯƠNG VỀ IPR TRONG FTA TƯƠNG LAI GIỮA EU VÀ VIỆT NAM
I Cách tiếp cận của EU và của Việt Nam về IPR
EU là một trong các bên ủng hộ mạnh mẽ nhất đối với việc bảo hộ IPR trên toàn thế giới
Lý do chính là nghiên cứu và đổi mới là các yếu tố cơ bản trong chiến lược tăng trưởng kinh tế
của EU Tháng 3/2000, Hội đồng châu Âu đã thông qua Chiến lược Lisbon với mục tiêu trở
thành “nền kinh tế năng động và cạnh tranh nhất dựa vào tri thức trên thế giới trong năm 2010”13
Mục tiêu này được nhắc lại trong Chiến lược châu Âu 2020: “kiến thức và đổi mới là
động lực cho sự tăng trưởng của chúng ta trong tương lai” IPR là điều thiết yếu trong chiến lược này vì nó cho phép các doanh nghiệp và cá nhân hưởng lợi từ sự sáng tạo trí tuệ và tạo ra động lực đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển14
Các lý do khác giải thích tại sao EU thúc đẩy việc bảo hộ IPR ở mức cao là: sản phẩm giả mạo và vi phạm bản quyền ảnh hưởng đến sức khỏe và sự an toàn của các công dân EU và việc buôn bán lậu các sản phẩm này là nguồn tài trợ cho các tổ chức tội phạm và khủng bố15
Vì những lý do trên, dễ hiểu tại sao Ủy ban đánh giá rằng “hơn bao giờ hết trong nền kinh
tế dựa vào tri thức, việc thực thi IPR là một mục tiêu chủ yếu, là điều sống còn đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp châu Âu và đối với sự tăng trưởng, việc làm của EU cũng như sự an toàn của mỗi công dân EU”16
Tuy nhiên, mục tiêu thúc đẩy bảo hộ IPR ở mức cao của EU không chỉ ở trong phạm vi lãnh thổ của EU EU có lợi thế so sánh về các hoạt động nghiên cứu và đào tạo, đặc biệt khi so với các nền kinh tế mới nổi Toàn cầu hóa tạo ra cho EU nhiều cơ hội để xuất khẩu và buôn bán các sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao và các bí quyết cho các nước thứ ba17
Tuy nhiên, các công ty EU không thể hưởng lợi nhuận đầy đủ từ các cơ hội này nếu các quyền sở hữu trí tuệ của họ không được bảo hộ thích đáng khi buôn bán ở nước ngoài Ngoài ra, EU còn nhận thức rõ ràng rằng việc ngăn chặn buôn bán hàng nhái và hàng vi phạm bản quyền phải được giải quyết từ các nước xuất phát
Những điều trên giải thích tại sao EU là một bên thúc đẩy mạnh mẽ việc bảo hộ và thực thi hiệu quả đối với IPR trên các diễn đàn thế giới và tài sao một trong các mục tiêu FTA mà EU đặt ra đối với các nước thứ ba là phải có các điều khoản về IPR, trong đó đặt ra “cố gắng tối đa
để đạt được mức độ bảo hộ tương tự như mức độ hiện hành ở EU”18
Mặc dù ở vào hoàn cảnh khác với EU, Việt Nam cũng là một nước tích cực về bảo hộ IPR Lý do chính là Việt Nam cũng nhằm trở thành một nền kinh tế thị trường dựa trên tri thức
trong thế kỷ 21 Vì mục tiêu này, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 của
Việt Nam cũng đã xác định nhu cầu phải phát triển mạnh mẽ thị trường khoa học và công nghệ
đi kèm với việc bảo hộ IPR19
Đảng và Nhà nước tin tưởng rằng khuyến khích và thúc đẩy sáng tạo và đổi mới, bảo hộ IPR là phục vụ cho sự phát triển đất nước20
Giới học thuật cũng cho rằng bảo hộ IPR là một yêu cầu thiết yếu cho bất cứ quốc gia nào để phát triển các ngành dựa vào công nghệ và thúc đẩy phát minh và đổi mới21
Chiến lược thực thi IPR ở các nước thứ ba (Chiến lược thực thi IPR), trang 7 (OJ 129, 26/5/2005)
16 Tài liệu công tác Ủy ban “Báo cáo thực thi IPR 2009”, trang 3
Trang 1411
Ngoài ra, bảo hộ IPR ở mức cao sẽ hỗ trợ cho các nước đang phát triển như Việt Nam thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); chuyển giao công nghệ quốc tế và bí quyết thông qua liên kết mạng lưới và hợp tác với các công ty trong nước,22
thúc đẩy sáng kiến và nghiên cứu của các công ty và cá nhân trong nước
Cuối cùng, mặc dù chưa khẳng định chính thức, Việt Nam sẽ đồng ý với quan điểm của
EU rằng việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao cũng sẽ giúp đảm bảo sức khỏe
và an toàn cho các công dân Việt Nam, cắt giảm nguồn tài trợ cho các tổ chức tội phạm
Bất kể những mục tiêu kể trên, điều chắc chắn là Việt Nam phải vượt qua nhiều vấn đề trong nước hiện nay để bảo hộ và thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ Trong thực tế, theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Việt Nam xếp hạng thứ 127 trong tổng số 142 quốc gia về tính hiệu quả trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.23
Những vấn đề này sẽ được giải thích trong Báo cáo
Xét về quan điểm của EU và Việt Nam trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì việc các bên đồng ý đưa vào FTA một chương về IPR hẳn không gặp phải trở ngại gì
Tại Điều 20 PCA, các bên đã “tái khẳng định tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo việc bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả các quyền nói trên phù hợp với tiêu chuẩn/hiệp định quốc tế liên quan, bao gồm các phương thức thực thi hiệu quả”
Những khó khăn có thể thể hiện ra khi đàm phán nội dung của Chương Điều này sẽ được giải thích ở Chương III: trong khi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có thể tác động tích cực đến đầu tư
và đổi mới, giới học thuật cũng nhấn mạnh rằng bảo hộ IPR có thể phản tác dụng ở các nước đang phát triển, cụ thể là tình trạng độc quyền thị trường bởi các công ty nước ngoài, hàng hóa liên quan đến IPR có mức giá cao, các vấn đề về y tế công cộng, tiếp cận tri thức, an ninh lương thực, môi trường, quyền lao động, chuyển giao công nghệ, quản lý đa dạng sinh học.24
Đồng thời, việc đảm bảo thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ đòi hỏi đầu tư nhiều nguồn tài nguyên (chẳng hạn như vật chất, nhân lực, tài chính hoặc thông tin) để xây dựng một khuôn khổ hành chính và tư pháp cần thiết
Giới học thuật cho rằng bảo hộ sở hữu trí tuệ cần được điều chỉnh tùy theo trình độ phát triển của mỗi nước.25
Mục tiêu bao trùm là thúc đẩy sự tiến bộ xã hội của đất nước đòi hỏi một mức độ bảo hộ IP có tính đến lợi ích của tất cả các bên liên quan và sự cân bằng về lợi ích giữa các bên này.26
Các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần chú ý đến những mối quan ngại này trong đàm phán FTA với EU Khi đàm phán nội dung của chương về IPR, Việt Nam nên cố gắng thương lượng mức độ bảo hộ khác nhau cho nhiều loại quyền sở hữu trí tuệ, phù hợp với tình hình cụ thể, đàm phán các điều khoản cho phép sự linh hoạt nhất định trong việc thực hiện luật trong nước hoặc đặt ra các ngoại lệ đối với các quyền độc quyền
Trước hết, cách tiếp cận này có thể bị coi là hoàn toàn trái ngược với cách tiếp cận của
EU, bởi như đã đề cập ở trên, mục tiêu đầu tiên của EU là đặt ra các điều khoản mà theo đó "thúc đẩy mức độ bảo hộ IPR càng nhiều càng tốt tới mức tương đương trong EU" Tuy nhiên, EU
cũng nêu trong Chiến lược toàn cầu châu Âu rằng khi đàm phán FTA thì điều quan trọng là phải
“tính đến nhu cầu phát triển của nước đối tác”.27
J Kuanpoth, "Các quy tắc TRIPS-cộng theo các Hiệp định thương mại tự do: Một góc nhìn châu Á", trong: C Heath / A
Kamperman Sanders, Sở hữu trí tuệ và các Hiệp định thương mại tự do, Oxford, Hart Publishing, 2007, trang 27
25
A Kur / H Grosse Ruse-Khan, "Đủ là đủ - khái niệm về mức trần ràng buộc trong bảo hộ sở hữu trí tuệ quốc tế", Tài liệu
nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư số 09-01, trang 29
26
H Grosse Russe-Khan, "Khái niệm phát triển bền vững trong luật IP quốc tế - Phương pháp tiếp cận mới từ các Hiệp định Đối
tác Kinh tế của EU", ICTSD, tháng 9 năm 2010
27
Chiến lược toàn cầu châu Âu, trang 19
Trang 1512
Cụ thể, thông cáo gần đây của Ủy ban châu Âu về Thị trường chung các quyền sở hữu trí tuệ (Thông cáo)28
nêu rõ rằng “trong đàm phán FTA, các điều khoản IPR cần đưa ra ở mức càng
cao càng tốt tới mức bảo hộ hiện tại ở EU trong khi có tính đến trình độ phát triển của các nước liên quan” Hơn nữa, Thông cáo này cũng khẳng định rằng “cần đảm bảo sự cân bằng thích hợp
giữa bảo hộ IPR và tiếp cận tri thức ở các nước thứ ba”.29
Để kết luận, có thể khẳng định rằng hai bên đều có lợi ích trong việc đưa vào một chương
về IPR trong FTA giữa EU và Việt Nam Trong khi các bên có thể có một số bất đồng về nội dung cụ thể của Chương này - mức độ bảo hộ, linh hoạt trong thực hiện các nghĩa vụ, trường hợp ngoại lệ về các quyền độc quyền , thì phương thức tiếp cận như EU đã tuyên bố liên quan đến việc đàm phán các hiệp định song phương với các đối tác cho thấy rằng những bất đồng này có thể dễ dàng giải quyết
II Bối cảnh khuôn khổ quản lý IPR quốc tế cho FTA giữa Việt Nam và EU
1 Khuôn khổ quản lý IPR quốc tế hiện hành và các hành động của EU nhằm gia tăng mức độ bảo hộ
Một công cụ cơ bản về bảo hộ IPR quốc tế được biết đến rộng rãi là Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) Hiệp định này được thông qua trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),30
do đó tất cả các nước thành viên - bao gồm EU và Việt Nam phải tuân thủ các quy định của Hiệp định.31
Nhìn chung, TRIPS ràng buộc các bên phải đảm bảo một mức độ bảo hộ tối thiểu cho các đối tượng sở hữu trí tuệ khác nhau - quyền tác giả, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, bằng sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, chỉ dẫn địa lý và thông tin không tiết lộ - và phải áp dụng các biện pháp để đảm bảo thực thi hiệu quả việc bảo hộ Hơn nữa, Điều 64 TRIPS cho phép các thành viên được viện tới Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO trong trường hợp có tranh cãi về việc tuân thủ các quy định của Hiệp định
Ngoài TRIPS, nhiều điều ước quốc tế khác liên quan đến từng đối tượng sở hữu trí tuệ đã được thông qua trong khuôn khổ Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) Các điều ước cơ bản bao gồm Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật năm 1886 và Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883 Cả EU và Việt Nam đều tham gia các điều ước quốc tế này Trên thực tế, TRIPS buộc mọi thành viên WTO phải tuân thủ các điều ước này
Tuy nhiên, trong khi EU hoặc các nước Thành viên EU đã phê chuẩn tất cả các điều ước quốc tế khác dưới sự quản lý của WIPO, Việt Nam32
cũng như nhiều nước phát triển và đang phát triển khác chưa thực hiện việc phê chuẩn
Xét rằng IPR quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, ta dễ hiểu tại sao EU cho rằng mức
độ bảo hộ theo TRIPS chưa đủ Hơn nữa, EU còn cho rằng hiệp định này chưa được thực thi đầy
Nam phần lớn vẫn ở dạng văn bản "dưới luật" (WTO, Rà soát pháp luật của Việt Nam trước Hội đồng TRIPS, Doc 10-4595 ngày
7 tháng 9 năm 2010, trang 2) Vì vậy, những nỗ lực của Việt Nam để phù hợp với hệ thống quyền sở hữu trí tuệ của TRIPS chắc chắn được đánh giá cao
32
Việt Nam đã tham gia các điều ước quốc tế sau trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ: TRIPS (ngày 1 tháng 1 năm 2007), Công ước WIPO (1975), Công ước Paris (1975), PCT (tháng 12 năm 1992), Thoả ước Madrid (tháng 2 năm 1973), Nghị định thư Madrid (tháng 4 năm 2006), Công ước Berne (tháng 7 năm 2004), Công ước về Bản ghi (tháng 4 năm 2005), Công ước UPOV (2006), Công ước Rome (2007) Các điều ước quốc tế Việt Nam chưa phê chuẩn gồm: WCT, WPPT, Hiệp ước về Luật bằng sáng chế, Hiệp ước Singapore về Luật Nhãn hiệu hàng hoá năm 2006, Hiệp ước Luật Nhãn hiệu năm 1994, Hiệp ước Budapest, Hiệp định Hague, Thoả ước Nice, Hiệp định Locarno, Hiệp định Strasbourg và Công ước Vienna Toàn văn và thông tin của tất
cả các điều ước quốc tế nêu trên có tại http://www.wipo.int/treaties/en/
Trang 16EU đấu tranh cho việc tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở các nước thứ ba theo 2 kênh: đa phương và song phương:33
a) Hành động đa phương chủ yếu thực hiện bởi EU là tham gia đàm phán trong các diễn
đàn quốc tế như Hội đồng TRIPS và các Uỷ ban của WIPO
Hơn nữa, EU cũng tham gia đàm phán Hiệp định Thương mại chống hàng giả (ACTA) Do sự thất vọng về sự tiến bộ đạt được liên quan đến việc giám sát và thiết lập tiêu chuẩn về thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong các diễn đàn đa phương, các nước công nghiệp chủ chốt đã bắt đầu đàm phán điều ước này trong năm 2007.34
Dự thảo cuối cùng đã được thông qua tháng 10 năm 2010 Mục tiêu đặt ra là phải có một điều ước đa phương mới nâng cao các tiêu chuẩn toàn cầu cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, hiệu quả hơn trong việc chống buôn bán hàng giả và hàng vi phạm bản quyền.35
b) Hành động song phương Sau Báo cáo đặc biệt của Hoa Kỳ số 301,36 kể từ khi thông
qua Chiến lược thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở các nước thứ ba (Chiến lược thực thi IPR) năm 2005, EU cũng đã tiến hành một Đánh giá về thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở các nước thứ ba (Báo cáo đánh giá) Kết quả của đánh giá này là một danh sách các
quốc gia / khu vực mà EU phải tập trung nỗ lực thúc đẩy bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ
EU áp dụng 2 hành động bổ sung lẫn nhau với các nước trong danh sách Một mặt, EU
tiến hành "đối thoại chính trị” về các vấn đề sở hữu trí tuệ (thường liên quan đến các ngành của châu Âu), và / hoặc bố trí các chương trình hợp tác kỹ thuật nhằm hỗ trợ tăng cường hệ thống
quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan có thẩm quyền của các nước Mặt khác, khi đạt điều kiện chín
muồi, EU sẽ khởi động đàm phán hiệp định thương mại song phương với một số nước
Việt Nam được liệt vào Nhóm 337
trong Báo cáo đánh giá năm 2006: “Các quốc gia/vùng lãnh thổ có mức độ cao về sản xuất, quá cảnh và/hoặc tiêu thụ hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, mà EU có thể sớm có quan hệ thương mại ở mức độ sâu hơn, trong đó sẽ bao gồm việc tập trung cao hơn về thực thi quyền sở hữu trí tuệ”.38
Như đã đề cập ở trên, đàm phán các hiệp định thương mại song phương là một trong những hành động của EU để tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở các nước thứ ba Hiệp
37
Cùng với Hàn Quốc, Argentina, Bra-xin, Paraguay, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin và Ma-lai-xi-a Trong năm 2009, danh sách được cập nhật: Việt Nam vẫn trong danh sách cùng với Argentina, Bra-xin, Canada, Ấn Độ, Israel, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Nga và Hoa Kỳ
38
Cụ thể, Báo cáo đánh giá nêu rằng "Mặc dù các nước ASEAN đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây về xây dựng pháp luật, việc sản xuất và kinh doanh hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn phổ biến, việc thực thi không đủ và các hình phạt đối với vi phạm hầu như không có tính chất ngăn chặn Việc mở cửa thị trường giữa EU và ASEAN phải đi kèm với việc gia tăng tôn trọng và bảo hộ các tài sản sở hữu trí tuệ"
http://trade.ec.europa.eu/doclib/docs/2010/february/tradoc_145795.pdf
Trang 1714
định sẽ không chỉ đề cập đến quyền sở hữu trí tuệ mà tất cả các khía cạnh liên quan đến thương mại Do đó, để đánh đổi với việc gia tăng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, EU có thể nhượng bộ trong các lĩnh vực khác về thương mại như ưu đãi tiếp cận thị trường EU cho các sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định
EU đã đàm phán trên 40 hiệp định như vậy.Tùy vào nước thứ ba mà một hiệp định sẽ dưới hình thức Hiệp định Đối tác và Kinh tế, Hiệp định Đối tác và Hợp tác, Hiệp định liên minh, Hiệp định Phát triển thương mại và Hợp tác, Hiệp định liên minh Euro-Địa Trung Hải hay Hiệp định thương mại tự do
Sự cần thiết phải bao gồm điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ trong các hiệp định đã gia tăng do nhiệm vụ nêu trong Chiến lược toàn cầu châu Âu, Chiến lược thực thi quyền sở hữu trí tuệ và các thông cáo kế tiếp của Ủy ban châu Âu Số lượng các điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ trong các FTA gần đây ở mức cao so với các lĩnh vực pháp luật khác:
a) 25 (từ Điều 139 đến 164) trong Hiệp định đối tác kinh tế với các nước CARIFORUM39
(EPA EU-CARIFORUM);
b) 69 (từ Điều 10.1 đến 10.69) trong Hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc40
(FTA EU-Hàn Quốc);
c) 48 (từ Điều 195 đến 257) trong Hiệp định Thương mại với Cô-lôm-bi-a và Pê-ru41
(TA EU-CP);
d) 63 (từ Điều 228 đến 276) trong Hiệp định liên minh42
EU-Trung Mỹ43 (AA EU-CA) Hiện nay, EU đang đàm phán FTA với Canada, Ấn Độ, Malaysia, Mercosur Tất cả các hiệp định đang đàm phán đều có chương về quyền sở hữu trí tuệ với rất nhiều điều khoản
Các điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ trong các FTA này là TRIPS-cộng hay TRIPS-bổ sung TRIPS-cộng nghĩa là quy định về tiêu chuẩn bảo hộ ở mức rộng hơn đối với các đối tượng
sở hữu trí tuệ đề cập trong TRIPS, đi kèm với cơ chế thực thi mạnh, giảm bớt các “linh hoạt” và
“đối xử đặc biệt và khác biệt” cho các nước đang phát triển và kém phát triển TRIPS-bổ sung là
quy định về bảo hộ đối với các đối tượng không được đề cập trong TRIPS - ví dụ như bảo hộ dữ liệu thử nghiệm các sản phẩm dược phẩm hoặc nông hoá
EU không đơn độc trong việc sử dụng các FTA để gia tăng mức độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ đã ký kết hơn 30 hiệp định FTA với các đối tác; các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng bắt đầu làm tương tự mặc dù nội dung chương về quyền sở hữu trí tuệ trong từng trường hợp có sự khác biệt
Đàm phán FTA bao gồm các điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ không phải mới đối với Việt Nam Việt Nam đã ký kết Hiệp định quan hệ thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2000 (BTA Việt Nam-Hoa Kỳ), Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản năm 2008 và đang trong quá trình đàm phán FTA với Chile
Thêm vào đó, là một thành viên của ASEAN, Việt Nam đã tham gia các Hiệp định của ASEAN thành lập Khu vực thương mại tự do với Úc-Niu di lân, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc
và Nhật Bản mặc dù không phải tất cả các FTA này đều có điều khoản về IPR.44
Cuối cùng, trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ, Việt Nam đã ký kết một hiệp định song phương với Hội đồng Liên bang Thụy Sĩ về Bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở
39
OJ L 289, ngày 31 tháng 10 năm 2008 CARIFORUM bao gồm 14 thành viên của Cộng đồng Ca-ri-bê (CARICOM) - Antigua
và Barbuda, Bahamas, Barbados, Belize, Dominica, Grenada, Guyana, Haiti, Jamaica, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines, Saint Kitts và Nevis, Surinam, Trinidad và Tobago, và Cộng hòa Dominica
Trang 18Các hiệp định này được thực thi tại Việt Nam thông qua khiếu nại trước tòa án và được tòa án ra phán quyết45 Ngoài ra, trong trường hợp có xung đột giữa một điều ước quốc tế và một quy định trong nước thì điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên.46
Như đã đề cập ở Chương II, tác động của một FTA với EU đối với hệ thống quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam sẽ giảm bớt bởi trên thực tế Việt Nam đã thực hiện một số nghĩa vụ TRIPS-cộng hoặc TRIPS-bổ sung trong khuôn khổ các FTA đã tham gia
2 Đặc điểm bổ trợ của các điều khoản IPR trong các FTA: TRIPS-cộng/TRIPS-bổ sung, các điều khoản MFN và NT
Qua thảo luận, rõ ràng mục tiêu của chương về IPR trong FTA là để bổ trợ sự bảo hộ theo TRIPS Cần lưu ý rằng TRIPS chỉ đặt ra một tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu47, do đó các thành viên WTO được tự do gia tăng mức độ bảo hộ thông qua các điều khoản TRIPS-cộng/TRIPS-bổ sung trong FTA.48
Để tăng cường tính chất bổ trợ này, các FTA của EU bao gồm “điều khoản không cản trở” Quy định này nhằm làm rõ rằng mục tiêu của các điều khoản về IPR là bổ trợ, cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của các Bên theo Hiệp định TRIPS49
Điều khoản “không cản trở” đặc biệt quan trọng khi diễn giải các FTA: a) trong trường hợp có xung đột giữa các quy định trong FTA và trong TRIPS, thì quy định trong FTA phải được giải thích theo cách không mâu thuẫn hoặc phương hại đến quy định trong TRIPS; b) quy định trong FTA không cản trở TRIPS hay bất kỳ điều ước quốc tế nào khác Quy định trong FTA “bổ trợ” các điều ước quốc tế và trong một số trường hợp làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên theo các điều ước này
Nói chung, sự phổ biến các FTA có điều khoản IPR đã tạo ra ảnh hưởng “tăng cường” các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.50
Ảnh hưởng “tăng cường” còn được nhân lên bởi các nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT) tại Điều 3 và 4 TRIPS,51
theo đó một bên tham gia FTA phải áp dụng mức
độ bảo hộ cao hơn không chỉ cho công dân của các bên tham gia FTA khác mà cho công dân của bất kỳ thành viên WTO nào khác Khác với GATT và GATS, việc miễn trừ các nguyên tắc này
Trang 1916
Tuy nhiên, nói một cách chính xác, các nguyên tắc MFN và NT chỉ áp dụng đối với các điều khoản TRIPS-cộng, nghĩa là các điều khoản trong FTA tăng cường mức độ bảo hộ đối với
các đối tượng sở hữu trí tuệ đã đề cập trong TRIPS - ví dụ như điều khoản ràng buộc các bên
FTA phải tăng thời hạn bảo hộ quyền tác giả lên 70 năm Tuy nhiên, các nguyên tắc này không
áp dụng đối với các điều khoản TRIPS-bổ sung, ví dụ như dữ liệu thử nghiệm độc quyền, quyền
đối với giống cây trồng bởi vì các nguyên tắc này không đề cập đến các đối tượng sở hữu trí
tuệ không có trong TRIPS.53
Vì thế, các bên tham gia FTA không có nghĩa vụ phải áp dụng các điều khoản TRIPS-bổ sung cho các thành viên WTO khác
Cuối cùng, cần lưu ý rằng một số FTA của EU bao gồm các điều khoản NT và MFN.54
Các điều khoản này cũng được tìm thấy trong một số FTA mà Việt Nam đã ký kết.55
Điều khoản NT nhằm làm rõ rằng việc đối xử quốc gia dành cho bên kia vô điều kiện, trừ các ngoại lệ được phép theo Điều 3 và 5 TRIPS
Nhờ vào điều khoản MFN, công dân của mỗi bên tham gia FTA được hưởng lợi từ những
lợi thế, ưu đãi, đặc quyền hay miễn trừ mà bên tham gia FTA khác áp dụng cho công dân của các bên thứ ba, trừ các ngoại lệ được phép theo Điều 3 và 5 TRIPS
Việc không có điều khoản NT trong FTA EU-Hàn Quốc và EPA EU-CARIFORUM không gây ra bất kỳ vấn đề gì do sự tồn tại của nguyên tắc NT trong TRIPS Việc không có điều khoản MFN trong các FTA này nghĩa là một bên tham gia FTA không có nghĩa vụ phải áp dụng đối với công dân của bên tham gia khác những ưu đãi mà bên này dành cho các bên thứ ba Tuy nhiên, một khi những ưu đãi này được thực hiện trong luật quốc gia thì công dân của bên tham gia khác sẽ được hưởng lợi theo nguyên tắc NT
X Seuba Hernandez, “Bảo vệ sức khỏe trong Hiệp định liên minh EU và Andean", Ấn bản HAI Europe/AIS Latinoamerica &
Caribe, năm 2008, từ trang 20-22
Trang 2017
CHƯƠNG II NỘI DUNG CHƯƠNG IPR TRONG FTA TƯƠNG LAI GIỮA VIỆT NAM VÀ EU – TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG IPR CỦA VIỆT NAM
I Giới thiệu
Chương đầu tiên đã tập trung giải thích sự cần thiết của một chương về IPR trong FTA tương lai với EU và khuôn khổ pháp lý quốc tế cho việc đàm phán về chương này
Sau khi trình bày về 2 khía cạnh đó, chương thứ hai này có 2 mục tiêu:
a) Dự kiến nội dung của chương về IPR bằng cách xác định các điều khoản phổ biến về IPR trong các FTA mà EU đã ký kết Giả định đặt ra là EU vẫn đặt mục tiêu đưa các điều khoản tương tự vào FTA trong tương lai với Việt Nam;
b) Xem xét những tác động của chương về IPR với các nội dung dự kiến đối với hệ thống quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam
Nhằm mục tiêu đầu tiên, các FTA sau đây sẽ được tập trung phân tích: EPA CARIFORUM, FTA EU-Hàn Quốc, TA EU-CP, và AA EU-CA Lý do là bởi các FTA này được
EU-EU ký kết gần đây nhất, sau khi EU-EU đã công bố Chiến lược thực thi quyền sở hữu trí tuệ Một lý
do khác là, ngoại trừ FTA EU-Hàn Quốc, các FTA còn lại là giữa EU với các nước đang phát triển như Việt Nam
Nói chung, có thể khẳng định rằng chương về IPR sẽ có cấu trúc và giải quyết cùng các vấn đề về IPR Tuy nhiên, nội dung các điều khoản sẽ khác nhau tùy vào từng hiệp định, cho dù
sự khác biệt không quá lớn như trong các quy định về việc thực thi
ACTA cũng sẽ được chú ý Mặc dù hiệp định này chưa được thông qua và EU đang trong quá trình thông qua hiệp định này, chúng tôi cho rằng các tiêu chuẩn của ACTA sẽ được coi như
tiêu chí đa phương thực tế áp dụng mà các nước thứ ba sẽ phải đáp ứng, có thể dưới hình thức
chính thức khi tham gia ACTA, hoặc như một phần trong các thỏa thuận song phương56 Bởi vậy, nhiều khả năng là các FTA trong tương lai có điều khoản về thực thi IPR sẽ đòi hỏi việc phê chuẩn ACTA hoặc được thiết kế theo ACTA
Nhằm mục tiêu thứ hai, chúng tôi sẽ so sánh các điều khoản IPR phổ biến trong các FTA với quy định pháp luật về IPR của Việt Nam, đặc biệt là các quy định sau:
a) Các quy định chung: Điều 736 - 759 Bộ luật Dân sự (CC)57 và Luật Sở hữu trí tuệ (IPL).58
b) Trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp: Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp59
và Thông tư 01/2007/TT-BKHCN60
hướng dẫn thực hiện Nghị định 103
c) Trong lĩnh vực quyền tác giả và các quyền liên quan: Nghị định 100/2006/NĐ-CP61quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
Trang 2118
d) Trong lĩnh vực giống cây trồng: Nghị định 104/2006/NĐ-CP62
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền đối với giống cây trồng
e) Về thực thi: Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (CPC) 63, Luật Hải quan, 64
Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và về quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ65, Nghị định 97/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp, Luật Công nghệ thông tin (ITL)66
f) Trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ: Luật Chuyển giao công nghệ (TTL).67
Những quy định này đã được dần sửa đổi và cập nhật đáp ứng các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế đa phương và các hiệp định song phương, dưới áp lực đáng kể của các đối tác thương mại chính của Việt Nam.68
Nhằm hiểu biết tốt hơn về những quy định này và việc thực thi trong thực tế, chúng tôi quan tâm đến một số nghiên cứu về hệ thống quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam được xuất bản bằng tiếng Anh69
và lấy ý kiến của một số luật sư và cán bộ nhà nước thông qua phỏng vấn
Trong khi pháp luật hiện hành của Việt Nam đã có một bước tiến quan trọng trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, giới học thuật, các luật sư và đại diện khu vực kinh doanh cho rằng
hệ thống này vẫn còn thiếu sót và một số khía cạnh của quy định không phù hợp với TRIPS.70
Chương này được chia thành bốn phần: a) mục tiêu, các nghĩa vụ và nguyên tắc chung; b) nội dung bảo hộ; c) thực thi; d) chuyển giao công nghệ Mỗi phần được chia thành mục nhỏ: mục một là các quy định IPR phổ biến trong các FTA và mục hai là tác động của các quy định này đối với hệ thống IPR của Việt Nam
II Mục tiêu, nghĩa vụ và nguyên tắc chung
1 Quy định phổ biến trong các FTA của EU
Tất cả các FTA của EU đều mở đầu chương IPR với một mục về “mục tiêu”, “bản chất
và phạm vi của các nghĩa vụ” và “các nguyên tắc chung” Mục này cũng thường có thêm một nội dung tham chiếu đề cập đến việc hết hạn các quyền
Mục tiêu.71
Ngạc nhiên là mục tiêu của chương về IPR trong các FTA có phần khác
nhau Điều này có thể giải thích được dựa vào trình độ phát triển kinh tế của các đối tác FTA của
EU
61 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006, chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật
Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
WTO, Rà soát chính sách thương mại của Việt Nam …, Mục 14 Y Heo / T N Kien, “Việt Nam…”, trang 77 Trong các cuộc
phỏng vấn cho Báo cáo này, các luật sư cũng đề cập đến thiếu sót đặc biệt liên quan đến thủ tục đăng ký và thực thi Những ý kiến này không được chia sẻ bởi M TRANG Nguyen, M TRANG Nguyen, Tác động của hệ thống IP đối với Tăng trưởng kinh
tế Việt Nam", trong: WIPO, IP ở các nước châu Á: Nghiên cứu về cơ sở hạ tầng và tác động kinh tế, năm 2009, trang 115 Theo
Sách trắng của Eurocham 2011 (các vấn đề thương mại / đầu tư và khuyến nghị), 1 trong 5 vấn đề cốt lõi năm 2011 là "bảo hộ và
thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ" (trang 6)
71
Điều 195 TA EU-CP, Điều 228 AA EU-CA, Điều 10.1 FTA EU-Hàn Quốc, Điều 132 EPA EU-CARIFORUM
Trang 2219
Một mặt, mục tiêu trong FTA EU-Hàn Quốc là: a) đạt được mức độ bảo hộ và thực thi đầy đủ và có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; b) tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất và thương mại hóa các sản phẩm đổi mới và sáng tạo của các Bên
Mặt khác, 3 FTA khác của EU đưa ra mục tiêu: a) đạt được mức độ bảo hộ và thực thi đầy đủ và có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; b) thúc đẩy và khuyến khích chuyển giao công nghệ giữa hai Bên AA EU-CA và EPA EU-CARIFORUM thậm chí còn đi xa hơn thế Mục tiêu thứ
ba đặt ra là thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và tài chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ EPA CARIFORUM còn đặt ra hẳn một chương về “Đổi mới và sở hữu trí tuệ” Điều này ngụ ý một mục tiêu cao hơn, bao gồm cả hai lĩnh vực
EU-Các nghĩa vụ chung.72
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, FTA ràng buộc các Bên tham gia phải thực thi chương về IPR trong FTA, quy định của TRIPS và các điều ước quốc tế liên quan về quyền sở hữu trí tuệ mà các Bên đã tham gia
Khi đặt ra mục tiêu tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, từng FTA đưa ra định nghĩa
về IPR bao gồm cả các đối tượng sở hữu trí tuệ không đề cập trong TRIPS Mặc dù các định nghĩa rất giống nhau và đều bao gồm quyền đối với giống cây trồng nhưng vẫn có một số khác biệt nhỏ.73
Duy nhất có EPA EU-CARIFORUM bao gồm một “điều khoản tuân thủ quốc gia” –
“Các bên được tự do quyết định phương thức thích hợp để thực hiện các quy định của Mục này trong hệ thống pháp lý và thực thi của mình” Các FTA khác không có điều khoản này nhưng
cần lưu ý rằng “điều khoản tuân thủ quốc gia” có thể tìm thấy tại Điều 1.1 và Điều 41.5
TRIPS.74
Các nguyên tắc chung.75
Tất cả các FTA đều công nhận tầm quan trọng của Tuyên bố Đô-ha về Hiệp định TRIPS và Y tế công cộng trong việc diễn giải và thực hiện các quyền và
nghĩa vụ phát sinh từ điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ của FTA76 Hơn nữa, các FTA cũng đều
tham chiếu đến Quyết định về việc thực thi Đoạn 6 của Tuyên bố Đô-ha và Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS77
TA EU-CP và EPA EU-CARIFORUM đề cập đến quyền của các Bên tham gia trong việc thông qua các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe công cộng và chế độ dinh dưỡng hoặc để ngăn chặn việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ bởi chủ thể quyền hoặc các hành vi hạn chế thương mại một cách bất hợp lý hoặc ảnh hưởng bất lợi đến chuyển giao công nghệ quốc tế Điều khoản này sao chép từ Điều 8 TRIPS, do đó, việc không có điều khoản này cũng không có bất kỳ ảnh hưởng nào78
72
Điều 196 TA EU-CP, Điều 229 AA EU-CA, Điều 10.2 FTA EU-Hàn Quốc, Điều 139 EPA EU-CARIFORUM
73 Ví dụ, định nghĩa IPR trong Điều 196.5 TA EU-CP bao gồm cả tên thương mại "cho đến nay tên thương mại được bảo hộ với
ý nghĩa là quyền sở hữu độc quyền trong luật pháp quốc gia”; trong Điều 139.3 EPA EU-CARIFORUM “bằng sáng chế cho các phát minh công nghệ sinh học" và "bảo hộ cơ sở dữ liệu" (có lẽ bao gồm cả quyền đối với các cơ sở dữ liệu không phải dữ liệu gốc); và trong Điều 229.2.c) AA EU-CA "chỉ dẫn địa lý, bao gồm cả chỉ dấu nơi xuất xứ "
74
Mặc dù không phải là một đặc điểm chung của các FTA, cần lưu ý rằng một số FTA đặt ra các thời hạn khác nhau cho việc thực hiện chương về IPR: chẳng hạn, các nước CARIFORUM phải tuân thủ nghĩa vụ trước ngày 01 tháng 1 năm 2014 hoặc muộn hơn cho các nước kém phát triển; Hàn Quốc phải tuân thủ vào năm 2013 đối với các điều khoản về quyền tác giả (Điều 10.14 FTA EU-Hàn Quốc)
77
Trong khi trong EPA EU-CARIFORUM các bên “đồng ý thực hiện các bước cần thiết để phê duyệt Nghị định thư" thì trong các FTA khác, các bên “phải đóng góp vào việc thực hiện và tôn trọng" Có thể lập luận rằng nghĩa vụ của các quốc gia CARIFORUM cao hơn các đối tác khác của EU Tuy nhiên, khó có thể nói rằng "phải đóng góp vào việc thực hiện và tôn trọng" không hàm ý rằng các nước bị ràng buộc phải phê chuẩn
78
Với một ngoại lệ: trong khi Điều 8 TRIPS quy định rằng các biện pháp “phải phù hợp với quy định của Hiệp định này" thì điều này không được đưa vào EPA EU-CARIFORUM và EU-CP TA
Trang 2320
Do các bên tham gia EPA EU-CARIFORUM, TA EU-CP và AA EU-CA với EU là các nước đang phát triển nên các FTA này đều bao gồm nguyên tắc linh hoạt trong việc thực hiện chương về IPR trong luật pháp quốc gia Chẳng hạn, mặc dù vẫn liệt kê đầy đủ các mục tiêu về quyền sở hữu trí tuệ, AA EU-CA bổ sung rằng việc đảm bảo bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải
“tính đến tình hình kinh tế và nhu cầu xã hội, văn hóa của mỗi bên” TA EU-CP bổ sung rằng mục tiêu đó phải “đóng góp cho việc chuyển giao và phổ biến công nghệ và ủng hộ phúc lợi xã hội và kinh tế và sự cân bằng giữa quyền của chủ sở hữu với lợi ích công cộng” Điều này cũng được trích từ Điều 7 TRIPS Cuối cùng, EPA EU-CARIFORUM quy định rằng việc “thực thi đầy đủ và có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ phải tính đến nhu cầu phát triển của các nước CARIFORUM”
Hết hạn các quyền79
Các FTA đều có một quy tắc phổ biến về vấn đề này tương tự như trong Điều 6 TRIPS: các Bên sẽ được tự do quy định chế độ về hết hạn các quyền Mặc dù EPA EU-CARIFORUM không đề cập nhưng do Điều 6 TRIPS thì kết quả không khác Vì vậy, các bên tham gia FTA có thể lựa chọn trong số các chế độ quy định theo luật quốc gia, khu vực hoặc quốc tế về hết hạn các quyền
2 Tác động đối với hệ thống IPR của Việt Nam
Đến nay, các FTA mà Việt Nam đã tham gia chỉ đề cập đến duy nhất một mục tiêu “bảo
hộ và thực thi đầy đủ và hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ” Chỉ có AANZFTA dẫn chiếu đến một mục tiêu khác: tạo ra và sử dụng quyền sở hữu trí tuệ một cách đầy đủ và hiệu quả
Bên cạnh đó, các FTA này đều chứa đựng một số nguyên tắc chung để hướng dẫn thực hiện và diễn giải80 Tuy nhiên, các nguyên tắc này không toàn diện như trong FTA của EU
Nội dung các điều khoản trong FTA liên quan đến “mục tiêu”, “bản chất và phạm vi của các nghĩa vụ” và “các nguyên tắc chung” rất hữu ích vì ít nhất 2 lý do quan trọng sau: a) trong trường hợp có sự sai khác về cách hiểu quy định của FTA thì các mục tiêu và nguyên tắc chung
sẽ mang lại đường hướng cho việc diễn giải; b) tạo ra một số linh hoạt cho các Bên khi thực hiện các nghĩa vụ của chương về IPR trong luật pháp quốc gia cho phù hợp với nhu cầu trong nước81
Như sẽ tiếp tục được giải thích trong Chương III, việc tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chắc chắn có lợi ích cho các nước đang phát triển nhưng nếu mức độ bảo hộ không phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội sẽ có thể phản tác dụng Vì lý do đó, càng có được sự linh hoạt trong việc thực thi IPR trong FTA thì càng có lợi cho các nước đang phát triển như Việt Nam
Với quan điểm đó, Việt Nam cần chú ý khi việc soạn thảo các điều khoản này Việc đưa vào các mục tiêu và nguyên tắc chung tương tự như trong TA EU-CP, AA EU-CA hoặc EPA EU-CARIFORUM sẽ rất có lợi cho Việt Nam
Trong thực tế, Việt Nam có thể yêu cầu đưa vào không chỉ các nguyên tắc phù hợp cho các nước đang phát triển nói chung mà cả các nguyên tắc quan trọng đối với hoàn cảnh kinh tế -
xã hội cụ thể của mình Ví dụ, TA EU-CP đề cập đến các nguyên tắc chung đặc biệt thích hợp cho Peru và Colombia - việc tiếp cận các loại thuốc chữa bệnh (Điều 197.1), tầm quan trọng của
việc thúc đẩy thực hiện Nghị quyết WHA 61.21 Chiến lược và Kế hoạch hành động toàn cầu về Y
BTA Việt Nam-Hoa Kỳ nêu rằng "các bên thừa nhận mục tiêu chính sách xã hội cơ bản của các hệ thống quốc gia cho việc bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm mục tiêu phát triển và công nghệ, và đảm bảo rằng các biện pháp để bảo hộ và thực thi quyền
sở hữu trí tuệ không trở thành rào cản đối với thương mại chính đáng (Điều 1) AANZFTA đề cập đến sự cần thiết phải "tính đến các mức độ khác nhau của sự phát triển kinh tế và năng lực, sự khác biệt trong các hệ thống pháp luật quốc gia và sự cần thiết phải duy trì cân bằng thích hợp giữa các chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích hợp pháp của người sử dụng" (Điều 1) Hiệp định ASEAN về Sở hữu trí tuệ quy định rằng các nước thành viên có trách nhiệm "thông qua các biện pháp cần thiết cho việc bảo
hộ sức khỏe và dinh dưỡng công cộng, thúc đẩy các lợi ích công cộng trong các lĩnh vực quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế-xã hội và công nghệ của mỗi nước Thành viên, phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế của Thành viên này"
81
X Seuba Hernandez, “Bảo vệ sức khỏe ”, trang 14-15
Trang 2421
tế công cộng, đổi mới và sở hữu trí tuệ82
(Điều 197.4) AA EU-CA là FTA duy nhất có điều khoản về thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và tài chính trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ, do đó cũng
có thể coi là đặt ra mục tiêu tương tự
Việt Nam cũng nên quyết định xem có đưa vào hay không nghĩa vụ phê chuẩn Quyết định về việc thực hiện Đoạn 6 của Tuyên bố Đô-ha và Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS Cần lưu ý rằng việc áp dụng Quyết định này gặp phải sự hoài nghi của các nước đang phát triển, giới học thuật và các tổ chức phi chính phủ83 Trong bản Rà soát pháp luật Việt Nam trước Hội đồng TRIPS, đại diện Việt Nam cho biết rằng Việt Nam đang nghiên cứu khả năng phê chuẩn
Quyết định Tại thời điểm soạn thảo Báo cáo này, Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn Quyết định.84
Nhằm phản ánh các nguyên tắc khi thực hiện các điều khoản về IPR, Việt Nam nên sử dụng các biện pháp như tại Điều 7 IPL85, các trường hợp ngoại lệ và hạn chế đối với các quyền độc quyền, và việc hết hạn của các quyền
Liên quan đến hết hạn các quyền, các FTA Việt Nam đã tham gia không đề cập bất kỳ nghĩa vụ cụ thể nào Theo Điều 125.2 b) IPL, Việt Nam đã thông qua nguyên tắc hết hạn quyền quốc tế Hơn thế, quyền cũng bị hết hạn khi các sản phẩm được đưa ra thị trường không chỉ theo
sự đồng ý của chủ thể quyền, mà cả trong khuôn khổ của một giấy phép bắt buộc86
Giới học thuật cho rằng đây là lựa chọn tốt nhất cho nhập khẩu song song, vì cách quy định này cho phép kiểm soát chi phí của các sản phẩm thuốc chữa bệnh và tạo điều kiện tiếp cận với thuốc Tuy nhiên, cách này cũng có thể trở thành một biện pháp cản trở đầu tư vào dược phẩm trong nước Đồng thời do buộc phải sản xuất hướng tới một giá toàn cầu duy nhất cho sản phẩm, các nhà sản xuất rất có thể sẽ định giá ở mức cho các nước giàu có hơn87
III Các điều khoản nội dung về bảo hộ IPR
Cả 4 FTA đều có quy định đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ liệt kê trong TRIPS Ngoài ra, các FTA này đều có các điều khoản về giống cây trồng và nguồn gen, tri thức truyền thống và văn hóa dân gian
1 Bằng sáng chế
a) Quy định phổ biến trong các FTA của EU
Bằng sáng chế được quy định từ Điều 27 đến 34 TRIPS Các điều khoản FTA liên quan đến bằng sáng chế không nhiều và không khác nhiều so với quy định tại các Điều 27-34
EU bày tỏ mối quan ngại về các quy định này trong WTO, Rà soát chính sách thương mại của Việt Nam…, trang 8-9 Đại diện
Việt Nam giải thích rằng cả 2 quy định phù hợp với TRIPS Điều 7 (3) quy định rõ ràng rằng việc thực hiện quyền của Nhà nước
sẽ đi kèm "điều kiện thích hợp" và Điều 7 (3) cũng quy định rõ ràng rằng Nhà nước chỉ có quyền can dự trong các trường hợp
“quy định trong Luật này"
86
Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ không có quyền để ngăn cấm những người khác thực hiện các hoạt động sau: "lưu hành, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được lưu hành hợp pháp trên thị trường, bao gồm cả thị trường nước ngoài, ngoại trừ các sản phẩm đưa vào thị trường nước ngoài không phải do chủ thể quyền hoặc bên được cấp li-xăng"
Ngoài ra, Điều 21 Nghị định 103/2006 quy định: "sản phẩm lưu hành hợp pháp trên thị trường bao gồm các sản phẩm đã được đưa vào thị trường nước ngoài bởi chủ thể quyền, bên được cấp li-xăng kể cả bên được cấp li-xăng theo quyết định cấp phép bắt buộc hoặc người có quyền sử dụng trước đối với đối tượng sở hữu trí tuệ"
87
X Seuba Hernandez, “Bảo vệ sức khỏe…”, trang 27-29
Trang 2522
TRIPS88 Tuy nhiên, các FTA đặt ra các nghĩa vụ TRIPS-cộng/TRIPS-bổ sung Bên cạnh đó các quy định về giống cây trồng - sẽ được phân tích trong phần dưới đây - bao gồm nghĩa vụ liên quan đến việc tuân thủ một số hiệp định quốc tế và việc bảo hộ dữ liệu thử nghiệm, mở rộng thời hạn bảo hộ bằng sáng chế đối với các sản phẩm dược phẩm và nông nghiệp
Điều ước quốc tế89 Các FTA của EU đều bao gồm một danh sách các điều ước quốc tế trong lĩnh vực bằng sáng chế mà các đối tác của EU phải tuân thủ, gia nhập hoặc nỗ lực gia nhập Các FTA này đặt ra một nghĩa vụ phổ biến là “tuân thủ” hoặc “gia nhập” Hiệp ước Budapest90 và PCT91 Tuy nhiên, nghĩa vụ liên quan đến Hiệp định Luật sáng chế lại khác nhau, tùy thuộc vào FTA92
Mở rộng thời hạn bằng sáng chế Không có quy định chung về vấn đề này TA EU-CP
và FTA EU-Hàn Quốc93 quy định việc gia hạn thời hạn bảo hộ bằng sáng chế đến 5 năm để bù đắp cho các bên được cấp bằng bảo hộ dược phẩm đối với bất kỳ sự chậm trễ hợp lý nào bởi cơ quan quản lý dược phẩm trong việc kiểm tra hồ sơ đăng ký hoặc bởi cơ quan cấp bằng sáng chế trong việc xử lý hồ sơ cấp bằng sáng chế Tuy nhiên, trong khi các điều khoản trong FTA EU-Hàn Quốc là bắt buộc thì trong TA EU-CP lại là tùy chọn đối với các Bên về việc áp dụng các biện pháp này94
EPA EU-CARIFORUM và AA EU-CA không có nghĩa vụ gia hạn thời hạn bằng sáng chế
Bảo hộ dữ liệu thử nghiệm Một lần nữa, các FTA của EU không có quy định chung về
việc bảo hộ các dữ liệu liên quan đến an toàn và hiệu quả được cung cấp cho các cơ quan quốc gia để phê duyệt việc tiếp thị các sản phẩm hóa chất dược, hóa nông nghiệp
TA EU-CP và FTA EU-Hàn Quốc95 quy định khoảng thời gian độc quyền là 5 năm cho các sản phẩm dược phẩm và 10 năm cho các sản phẩm hoá nông nghiệp dành cho người nộp đơn phê duyệt quyền tiếp thị đầu tiên Tuy nhiên, 2 FTA này có một số khác biệt nhất định Hai trong
số những khác biệt này là: a) TA EU-CP quy định rằng, trong trường hợp không có quy định cụ thể, việc bảo hộ độc quyền đối với dữ liệu dữ liệu ở Peru nhằm ngăn chặn việc tiết lộ và các hành vi trái với thông lệ thương mại trung thực, phù hợp với Điều 39.2 TRIPS; b) trong FTA EU-Hàn Quốc, ngoại lệ duy nhất đối với quyền độc quyền là việc sử dụng bởi một người có thể chứng minh "sự nhất trí rõ ràng của chủ thể quyền tiếp thị", còn trong EU- CP TA, các bên được tùy ý đưa vào các trường hợp ngoại lệ vì lý do lợi ích công cộng, các tình huống khẩn cấp quốc gia hoặc trường hợp cực kỳ khẩn cấp
AA EU-CA và EPA EU-CARIFORUM không có các quy định tương tự Các nghĩa vụ của các đối tác của EU về quyền độc quyền trong các FTA này là bảo hộ dữ liệu thử nghiệm theo
88 Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các nội dung về bằng sáng chế là phần khó đàm phán nhất (D Gervais, Hiệp định TRIPS - Lịch sử
soạn thảo và phân tích, London, Sweet và Maxwell, 1998, trang 147)
91
Trong EPA EU-CARIFORUM, EU phải tuân thủ và các nước CARIFORUM phải tham gia Hiệp ước Các FTA khác không đề cập đến nghĩa vụ này vì tất cả các đối tác của EU đều là một bên tham gia Hiệp ước
92
liên quan đến Hiệp định Luật Sáng chế, EU có nghĩa vụ “tuân thủ” theo EPA EU-CARIFORUM, và "thực hiện mọi nỗ lực hợp
lý để tuân thủ" trong TA EU-CP, AA EU-CA và FTA EU-Hàn Quốc (trong FTA này chỉ có nghĩa vụ liên quan đến các Điều 1 đến 16) Các đối tác của EU có nghĩa vụ “thực hiện tất cả các nỗ lực hợp lý để tham gia" trừ Hàn Quốc phải "thực hiện tất cả các
nỗ lực hợp lý để tuân thủ” và các nước CARIFORUM "nỗ lực để gia nhập" Hiệp ước Cần lưu ý rằng nghĩa vụ này sau ở mức thấp hơn so với nghĩa vụ của các đối tác khác của EU
95
Điều 231 TA EU-CP, Điều 10.36 và Điều 10.37 FTA EU-Hàn Quốc
Trang 2623
các quy tắc về cạnh tranh không lành mạnh tại Điều 10bis PUC (Điều 39.2 TRIPS) Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh không có nghĩa chấp thuận thời hạn độc quyền96
b) Tác động đối với hệ thống IPR của Việt Nam
Bằng sáng chế được điều chỉnh theo các Điều 750-753 CC và Điều 50-62 IPL Các điều khoản này được làm rõ trong Nghị định 103/2006 Những quy định này phù hợp với TRIPS
Việt Nam là thành viên Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT)97
do đó, FTA với EU có thể bao gồm một điều khoản ràng buộc Việt Nam phải “tuân thủ” hiệp ước này hoặc không cần đề cập đến vấn đề này
Liên quan đến Hiệp ước Budapest, Việt Nam đã thực thi nghĩa vụ “nỗ lực tối đa để tuân thủ” theo Hiệp định Thụy Sĩ-Việt Nam98
(Hiệp định giữa Việt Nam và Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ) Vì tất cả các FTA của EU đều đặt ra nghĩa vụ phải tuân thủ hoặc gia nhập hiệp ước này, nhiều khả năng EU cũng sẽ yêu cầu Việt Nam gia nhập Điều này sẽ dẫn đến việc Việt Nam phải sửa đổi một số quy định trong nước để tuân thủ hiệp ước này
Việt Nam chưa tham gia Hiệp ước luật sáng chế (PLT) Nhiều khả năng EU sẽ yêu cầu Việt Nam “thực hiện tất cả các nỗ lực hợp lý để gia nhập”99
Đến nay, các quy định về bằng sáng chế cho các sản phẩm hóa dược và hóa nông nghiệp vẫn đặc biệt nhạy cảm bởi mức độ bảo hộ cao hơn thì giá của các sản phẩm này cũng cao hơn, khó khăn hơn cho các nhà sản xuất thuốc gốc (generic) trong việc tiếp cận thị trường Như đã giải thích trong Chương III, điều này có thể là một trở ngại nghiêm trọng trong việc tiếp cận với các loại thuốc thiết yếu cho các nước đang phát triển
Như đã đề cập, các FTA của EU không có các điều khoản chung về gia hạn bằng sáng chế và bảo hộ dữ liệu thử nghiệm Dù sao chăng nữa, Việt Nam đã bảo hộ các loại dữ liệu này với ý nghĩa là bí mật kinh doanh cho thời hạn 5 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký tiếp thị, ngăn ngừa việc công bố công khai cũng như ngăn ngừa việc sử dụng cho các mục đích thương mại không công bằng, và sử dụng để xin cấp giấy phép tiếp thị cho các sản phẩm Trường hợp ngoại lệ là việc tiết lộ dữ liệu thử nghiệm cho mục đích bảo vệ công cộng và các mục đích phi thương mại100
Pháp luật Việt Nam không quy định về gia hạn bảo hộ Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chỉ có FTA EU-Hàn Quốc có quy định về gia hạn bảo hộ
Xét đến tất cả những yếu tố, có thể khẳng định rằng một FTA với EU sẽ không cản trở các cơ chế hiện đang áp dụng theo luật của Việt Nam nhằm tạo thuận lợi cho việc tiếp cận thuốc hoặc để thúc đẩy bất kỳ lợi ích công cộng nào khác liên quan đến bảo hộ bằng sáng chế - ví dụ như việc thúc đẩy nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp
đó quy định một nghĩa vụ về bảo hộ dữ liệu thử nghiệm Hoa Kỳ gần đây tuyên bố rằng Việt Nam cần "làm rõ hệ thống bảo hộ của mình để đối phó với việc sử dụng thương mại không công bằng, cũng như tiết lộ trái phép dữ liệu kiểm tra và các dữ liệu bí mật khác được tạo ra nhằm xin cấp phép đối với việc tiếp thị các sản phẩm dược phẩm" (Báo cáo đặc biệt 301 của Hoa Kỳ, trang 41-42)
Trang 2724
2 Giống cây trồng
a) Quy định chung trong các FTA của EU
Giống cây trồng chỉ được đề cập duy nhất tại Điều 27.3, theo đó nghĩa vụ bảo hộ giống
cây trồng được xác lập qua bằng sáng chế hoặc một quyền riêng hoặc cả hai cách thức
EU đã có quy định trong khối về lĩnh vực này101
nên một trong các mục đích của EU trong các cuộc đàm phán song phương là tăng cường việc bảo hộ giống cây trồng trên lãnh thổ của các đối tác Với mục đích đó, EU đã cố gắng áp đặt yêu cầu phải gia nhập Công ước quốc tế
về Bảo hộ giống cây trồng mới năm 1991 (UPOV) Công ước này được EU và Hoa Kỳ coi là một hệ thống đặc định hữu hiệu theo nghĩa của Điều 27.3 của EU và Mỹ Tuy nhiên, EU đã chỉ đạt được mục đích áp đặt này trong FTA EU-Hàn Quốc (Điều 10.39)102 Đây là FTA duy nhất có nghĩa vụ TRIPS-bổ sung
Ngoại trừ FTA EU-Hàn Quốc, các FTA khác của EU đưa ra một tham chiếu rõ ràng đến
“ưu đãi cho người nông dân” hay là các ngoại lệ đối với độc quyền dành cho các nhà lai tạo giống cây trồng: “cho phép người nông dân dành dụm, sử dụng và trao đổi các loại hạt giống cây trồng được bảo hộ mà tự mình sản xuất ra cho mục đích truyền bá”103
TA EU-CP có tham chiếu đến Điều 15.2 UPOV, bao gồm các trường hợp ngoại lệ nhưng ở mức độ hạn chế hơn104, đặc biệt không cho phép người nông dân được trao đổi giống với các nông dân khác cho mục đích truyền
bá mà chỉ đơn thuần cho phép dành dụm và sử dụng hạt giống cho mục đích truyền bá tại chỗ với giới hạn nhất định và phải đảm bảo lợi ích hợp pháp của các nhà lai tạo giống
b) Tác động đến hệ thống IPR của Việt Nam
Quyền đối với giống cây trồng liên quan nhiều đến các nước đang phát triển có ngành nông nghiệp phát triển mạnh và đa dạng sinh học ở mức độ cao Tuy nhiên, một số nước đang phát triển hoài nghi về việc bảo hộ IPR dựa trên quan điểm rằng quyền đối với giống cây trồng
sẽ cho phép các tập đoàn đa quốc gia độc chiếm thị trường giống cây trồng mới được phát triển
từ các giống gốc thông qua các quy trình công nghệ sinh học
Việt Nam áp dụng một cách tiếp cận khác Việt Nam đã tham gia UPOV 1991 từ năm
2006105 và có nhiều quy định trong nước để đảm bảo việc bảo hộ hiệu quả giống cây trồng106 Hơn nữa, theo Điều 7.2.c) BTA giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, Việt Nam có nghĩa vụ bảo hộ theo pháp luật về bằng sáng chế đối với rất nhiều các loại giống cây trồng không được bảo hộ theo UPOV107
Cần lưu ý rằng trong tháng 5 năm 2011, Việt Nam đã ký một Biên bản ghi nhớ (MoU) với Văn phòng cộng đồng EU về giống cây trồng với mục đích tăng cường hợp tác trong lĩnh vực này108
103
Điều 149.1 EPA EU-CARIFORUM và Điều 259.3 AA EU-CA Trường hợp ngoại lệ này cho phép những người nông dân đã mua hạt giống của giống cây trồng được bảo hộ được dành dụm từ vụ thu hoạch cho vụ kế tiếp hoặc trao đổi với những người nông dân khác mà không bị kiện bởi chủ thể quyền
Trang 2825
Xét đến tất cả những yếu tố này, Việt Nam dường như ở vị thế sẵn sàng đáp ứng các nghĩa vụ trong lĩnh vực bảo hộ giống cây trồng ở mức chặt chẽ nhất trong các FTA của EU Trên thực tế, có thể coi những nỗ lực về mặt pháp lý của Việt Nam đã đặt ra một mức độ bảo hộ được các nước phương Tây xem như một hệ thống đổi mới “hiện đại”109
Do Việt Nam đã là thành viên UPOV 1991 nên không thể đặt quy định linh hoạt hơn về
“ưu đãi cho người nông dân” như trong AA EU-CA và EPA EU-CARIFORUM110 Điều này sẽ
bị coi là bất lợi nếu xét theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu cho rằng các khuôn khổ pháp
lý hiện hành tạo ra “hạn chế quá mức về mặt pháp lý đối với việc tiếp cận các nghiên cứu cơ bản đầu vào cho nông nghiệp, bao gồm các nguồn tài nguyên di truyền thực vật cho phát triển lương thực và nông nghiệp Một vấn đề quan trọng xoay quanh câu hỏi liệu việc bảo hộ này có khuyến khích nghiên cứu nông nghiệp vì lợi ích của đa số nông dân và người tiêu dùng Việt Nam hay không”111
Hơn nữa, có quan điểm cho rằng nghĩa vụ trong BTA Việt Nam-Hoa Kỳ “cản trở việc áp dụng các biện pháp liên quan đến bằng sáng chế để đảm bảo dinh dưỡng và an ninh lương thực”, thậm chí ngay cả khi các biện pháp này có lý do chính đáng theo Điều 8.1 TRIPS112
3 Nhãn hiệu
a) Quy định chung trong các FTA của EU
Nhãn hiệu hàng được quy định trong Điều 15-21 TRIPS Các FTA của EU bổ trợ TRIPS với các điều khoản về điều ước quốc tế, thủ tục đăng ký, nhãn hiệu nổi tiếng và ngoại lệ đối với các quyền
Các hiệp định quốc tế 113
Các FTA của EU không có quy định chung về hiệp định quốc
tế liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá Tất cả các FTA đều tham chiếu đến Nghị định thư Madrid114, trừ duy nhất một nghĩa vụ về gia nhập đối với EU và Colombia trong thời hạn 10 năm
Liên quan đến các Hiệp định về Nhãn hiệu hàng hoá năm 1994 và 2006, các FTA đặt ra nghĩa vụ “thực hiện tất cả các nỗ lực hợp lý để tuân thủ” - đối với các Bên đã tham gia các hiệp định này; hoặc “thực hiện tất cả các nỗ lực hợp lý để gia nhập” hoặc “cố gắng để gia nhập” Một
số các FTA thậm chí không đề cập đến bất cứ hiệp định nào
Cuối cùng, chỉ có TA EU-CP quy định nghĩa vụ “sử dụng phương thức phân loại trong Hiệp định Nice về Phân loại hàng hoá và dịch vụ quốc tế”115
Thủ tục đăng ký 116 Điều 62 (quy định chung) và Điều 15 (đối với nhãn hiệu hàng hóa) của TRIPS quy định cụ thể về thủ tục đăng ký quyền sở hữu trí tuệ
Điều 15.5 quy định rằng các thành viên có thể cho phép các thủ tục đối lập Điều này trở
thành một nghĩa vụ trong các FTA của EU
Ngoài ra, các thủ tục đăng ký phải đảm bảo rằng việc từ chối đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải có lý do hợp lý và thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn để người này có cơ hội khiếu nại và kiện lần cuối trước khi tòa án
109
C Chiarolla, Sở hữu trí tuệ sở hữu trí tuệ và bảo hộ môi trường của đa dạng sinh học cây trồng theo Luật quốc tế (Tiến sĩ),
Trung tâm Nghiên cứu Luật Thương mại, Trường Luật, Đại học Queen Mary London, tháng 12 năm 2009
110
Việc trao đổi hạt giống giữa các nông dân - được phép theo AA EU-CA và EPA EU-CARIFORUM nhưng lại không được phép trong UPOV 1991 - có ý nghĩa quan trọng về an ninh lương thực và cây trồng và vụ mùa xoay vòng (một phương thức thực hành tốt vì nhiều lý do, chẳng hạn như để tránh sâu bệnh (E Bonadio, "Các quy định về IP trong Hiệp định giữa EU-Hiệp hội Trung Mỹ và các vấn đề phát triển", JIPLP, 2011, quyền 6, số 1, trang 19)
Trang 2926
FTA EU-Hàn Quốc, EPA EU-CARIFORUM và TA EU-CP cũng đặt ra nghĩa vụ cho các bên tham gia phải thiết lập một cơ sở dữ liệu điện tử công khai về các hồ sơ và đăng ký
Nhãn hiệu nổi tiếng Tất cả các FTA trừ FTA EU-Hàn Quốc đều có quy định về nhãn
hiệu nổi tiếng, bổ sung Điều 16.2 TRIPS Tuy nhiên, nội dung quy định giữa các FTA rất khác nhau nên không thể coi như có quy định chung về vấn đề này117
EPA EU-CARIFORUM và TA EU-CP119 quy định rõ ràng rằng việc sử dụng chỉ dẫn địa
lý (GI) trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu trước đó có thể thuộc các trường hợp ngoại lệ
b) Tác động đối với hệ thống IPR của Việt Nam
Bảo hộ nhãn hiệu được điều chỉnh tại Điều 750-753 CC, Điều 72 - 75 IPL ngoài các điều khoản áp dụng chung đối với quyền sở hữu công nghiệp
Việt Nam là thành viên Thoả ước và Nghị định thư Madrid, và đã ban hành Nghị định 103/2006 để thực thi nghĩa vụ theo các điều ước quốc tế này (Điều 12)
Việt Nam chưa phải là thành viên của TLT năm 1994 và 2006 Tuy nhiên, nghĩa vụ duy nhất của các đối tác của EU là “thực hiện tất cả mọi nỗ lực hợp lý để tuân thủ” Việt Nam đã có cam kết tương tự trong Hiệp định Thụy Sĩ-Việt Nam về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Việc tham gia Hiệp ước về luật nhãn hiệu (TLT) có thể dẫn đến nhu cầu điều chỉnh các quy tắc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá (Điều 105 Nghị định 103/2006)
Cuối cùng, liên quan đến Hiệp định Nice, Việt Nam chưa tham gia và các FTA của EU cũng không bao gồm nghĩa vụ phê chuẩn hiệp định này Dù sao chăng nữa, Việt Nam cũng đã cam kết nghĩa vụ vận dụng hệ thống phân loại của Hiệp định Nice trong BTA Việt Nam-Hoa Kỳ, EPA Việt Nam-Nhật Bản và AANZ FTA
Nhìn chung, có thể được khẳng định quy định luật pháp của Việt Nam phù hợp với các
điều khoản chung liên quan đến thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá trong các FTA của EU
Điều 112 IPL đặt ra quy trình cho phép các bên thứ ba thể hiện ý kiến với cơ quan đăng
ký về việc cấp hoặc từ chối hồ sơ đề nghị cấp nhãn hiệu hàng hoá Việc thể hiện ý kiến có thể đi đến kết quả là cơ quan đăng ký từ chối cấp đăng ký, do vậy Việt Nam cần đảm bảo rằng quy trình này tuân thủ nghĩa vụ trong các FTA của EU về việc cho phép áp dụng thủ tục đối lập Trong bất kỳ trường hợp nào, Việt Nam cần đảm bảo các thủ tục đối lập theo quy định tại Điều
120
Theo trang web Helpline Law, "Việt Nam không quy định cho một thủ tục đối lập chính thức Tuy nhiên, chủ sở hữu nhãn
hiệu hàng hoá nếu phát hiện rằng nhãn hiệu của mình bị chiếm đoạt hoặc một nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn đã được chấp nhận đăng ký có thể nộp đơn phản đối không chính thức Đơn gửi Cục Sở hữu trí tuệ phải nêu lý do phản đối cùng với chứng cứ” tại http://www.helplinelaw.com/article/vietnam/391
Trang 3027
Điều 110 IPL quy định rằng các hồ sơ đăng ký phải được công bố sau khi được chấp nhận trong công báo về IP Tuy nhiên, cần lưu ý rằng 3 trong số các FTA của EU quy định việc thành lập một cơ sở dữ liệu điện tử công khai để công bố cho những tài liệu này Việt Nam đã cam kết nghĩa vụ tương tự trong AANZ FTA Mặc dù luật trong nước không có quy định về việc công bố này nhưng thực tế Cục Sở hữu trí tuệ đã có công báo về IP trên trang thông điện tử của
cơ quan này, do đó có thể khẳng định Việt Nam đã tuân thủ nghĩa vụ cam kết
Mặc dù có thể khẳng định là luật pháp của Việt Nam phù hợp với các nghĩa vụ khác trong các FTA của EU cũng như trong TRIPS liên quan đến thủ tục đăng ký, một số luật sư đã chỉ ra nhiều vấn đề áp dụng trong thực tế
Trước hết, IPL quy định rằng nhãn hiệu sẽ được cấp trong vòng 6 tháng kể từ ngày công
bố đơn (Điều 119 IPL), tuy nhiên các công ty thường phải chờ hơn 1t năm để nhận được giấy chứng nhận Trong thời gian đó, lợi ích của chủ thể quyền không được bảo hộ EuroCham cho rằng điều này dường như không phù hợp với các nghĩa vụ tại Điều 66.2 TRIPS về việc chứng nhận quyền sở hữu trí tuệ trong một khoảng thời gian hợp lý để tránh việc trì hoãn vô lý thời hạn bảo hộ121 EuroCham đề nghị sửa đổi quy định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ bằng cách đưa
ra các quy định cụ thể đối với yêu cầu của người nộp đơn đề nghị bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nhằm ngăn chặn việc vi phạm các quyền sở hữu trí tuệ đang trong giai đoạn nộp hồ sơ bảo hộ122
Thứ hai, Eurocham cho rằng trong việc xử lý thủ tục đối lập và hủy bỏ nhãn hiệu, Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục ra các quyết định chưa thuyết phục về việc một nhãn hiệu có vi phạm một nhãn hiệu khác hay không, cũng như tiếp tục chưa xem xét một cách đầy đủ các chứng cứ cho thấy một hồ sơ đăng ký nhãn hiệu được nộp một cách dối trá123 Một mặt điều này có thể tạo ra trở ngại đối với các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam; mặt khác có thể coi là sự vi phạm nghĩa vụ ra các quyết định có lý do chính đáng theo các FTA và Điều 41.2 TRIPS124
Liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, Điều 75 IPL và Điều 6.2 D Nghị định 103/2006 dường như đã đủ để đáp ứng nghĩa vụ trong các FTA
Cuối cùng, về các trường hợp ngoại lệ, Điều 125.2 g) IPL quy định rằng chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá không được ngăn cấm việc sử dụng “tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, chất lượng, số lượng, việc sử dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc điểm khác của hàng hóa và dịch vụ” một cách trung thực Xét rằng EU cho phép sự tồn tại song song của chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu hàng hoá trước đó đã được bảo hộ, quy định này có vẻ phù hợp với các FTA của EU
4 Kiểu dáng công nghiệp
a) Quy định chung trong các FTA của EU
Các FTA của EU bao gồm một số điều khoản về kiểu dáng công nghiệp bổ sung cho các Điều 25-26 TRIPS Các điều khoản này đề cập đến điều ước quốc tế, yêu cầu, phạm vi và thời hạn bảo hộ, trường hợp ngoại lệ đối với quyền độc quyền và quyền tác giả
Các hiệp định quốc quốc tế Tất cả các FTA của EU trừ FTA EU-Hàn Quốc đều ràng
buộc các bên để “thực hiện tất cả các nỗ lực hợp lý”125
hay “cố gắng”126 gia nhập Đạo luật Geneva năm 1999 của Hiệp định Hague127
Yêu cầu bảo hộ128 Các FTA có quy định về yêu cầu đối với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ Các FTA giống nhau về 3 quy định sau: a) không bảo hộ kiểu dáng được xác định chủ
Trang 3128
yếu bởi các yếu tố kỹ thuật hoặc chức năng - trong khi việc loại trừ này là tùy ý theo Điều 25.1 TRIPS thì lại là bắt buộc trong các FTA; b) bảo hộ qua đăng ký; c) “một kiểu dáng không được chấp nhận nếu trái với chính sách công cộng hoặc các nguyên tắc đạo đức được chấp nhận chung”129
Các FTA đều đặt ra các yêu cầu mà kiểu dáng công nghiệp phải đáp ứng để được bảo hộ, nhưng không thống nhất: một FTA yêu cầu kiểu dáng phải có tính mới, một FTA khác yêu cầu kiểu dáng phải nguyên gốc, hoặc mới hoặc nguyên gốc Đồng thời 3 FTA yêu cầu kiểu dáng phải
có đặc trưng riêng, trong khi TA EU-CP không yêu cầu như vậy130
Phạm vi bảo hộ Tất cả các FTA trừ AA EU-CA đều mở rộng các hành vi là đối tượng
theo nghĩa “độc quyền - ius prohibendi” quy định tại Điều 26 TRIPS Điều 26 cho phép chủ sở
hữu kiểu dáng công nghiệp được quyền để ngăn chặn các bên thứ ba “sản xuất, bán hoặc nhập khẩu” sản phẩm mang hoặc thể hiện kiểu dáng cho mục đích thương mại Các FTA mở rộng độc
quyền - prohibendi ius cho các hành vi từ chào mua/bán, tàng trữ hoặc sử dụng131
Ngoài ra,
trong tất cả các FTA trừ TA EU-CP, độc quyền - prohibendi ius có thể được thực thi không chỉ
khi hành vi nhằm mục đích thương mại - như quy định tại Điều 26.1 TRIPS - mà cả khi “quá mức và gây làm phương hại đến việc khai thác bình thường của kiểu dáng hoặc không tương thích với thông lệ thương mại công bằng”
Thời hạn bảo hộ Các FTA không có quy định chung trong vấn đề này Trong khi TA
EU-CP và AA EU-CA đặt ra thời hạn tối thiểu là 10 năm tương tự Điều 26.3 TRIPS thì FTA EU-Hàn Quốc đặt mức tối thiểu là 15 năm và EU CARIFORUM EPA quy định thời hạn bảo hộ phải ít nhất là 5 năm đi kèm với khả năng gia hạn đến 25 năm132
Trường hợp ngoại lệ Tất cả các FTA đều sao chép lại quy định tại Điều 26.1 TRIPS về
các trường hợp ngoại lệ đối với quyền độc quyền “với điều kiện các ngoại lệ không xung đột một cách bất hợp lý với việc khai thác bình thường của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ và không gây phương hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu kiểu dáng được bảo hộ,
có tính đến lợi ích hợp pháp của các bên thứ ba”133
Quan hệ với quyền tác giả Cuối cùng, các FTA đều có một điều khoản nêu rõ rằng đối
tượng kiểu dáng bảo hộ có thể được bảo hộ theo quyền tác giả từ ngày thiết kế được sáng tạo hay thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào.134
Các quy định khác Các FTA bao gồm các quy định khác liên quan đến kiểu dáng công
nghiệp, nhưng không thể khẳng định các quy định này có xuất hiện ở trong tất cả các FTA hay chỉ có chung một số vấn đề Các vấn đề liên quan bao gồm: bảo hộ kiểu dáng chưa đăng ký, bảo
hộ kiểu dáng hàng dệt và các căn cứ từ chối đăng ký
b) Tác động đến hệ thống IPR của Việt Nam
Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp được quy định tại Điều 750-753 CC và Điều 63 - 67 IPL, ngoài các quy định áp dụng chung đối với quyền sở hữu công nghiệp
Việt Nam chưa tham gia Hiệp định Hague Tuy nhiên, các đối tác của EU chỉ có nghĩa vụ phải “thực hiện mọi nỗ lực hợp lý” để tham gia Hiệp định Dù sao chăng nữa, Việt Nam đã cam kết nghĩa vụ này trong khuôn khổ Hiệp định Việt Nam-Thụy Sĩ Nếu phê chuẩn việc tham gia
128
Điều 228.2 TA EU-CP, Điều 146.C.2 EPA EU-CARIFORUM, Điều 253 AA EU-CA, Điều 10.31 FTA EU-Hàn Quốc
Trang 32Bên cạnh đó, Luật Sở hữu trí tuệ không đề cập đến việc loại trừ bảo hộ những kiểu dáng trái với chính sách công cộng hoặc với các nguyên tắc đạo đức được thừa nhận chung Ngược lại, tương tự như quy định tại các FTA của EU, Điều 64 IPL loại trừ việc bảo hộ đối với sản phẩm chỉ dựa vào tính năng kỹ thuật136
Về thời hạn bảo hộ, hiện nay luật của Việt Nam quy định là 5 năm kể từ ngày nộp đơn137
và có thể được gia hạn hai lần liên tiếp với thời hạn 5 năm Lưu ý rằng thời hạn tối thiểu quy định trong các FTA của EU là 10 năm (TA EU-CP và AA EU-CA), 15 năm (FTA EU-Hàn Quốc) và 5 năm, cho phép gia hạn lên đến 25 năm (EPA EU-CARIFORUM) Rất khó để đánh giá xem liệu quy định của Việt Nam có được EU chấp nhận hay không
Cuối cùng, liên quan đến phạm vi bảo hộ, Điều 124.2 IPL và Điều 20 Nghị định
103/2006 quy định chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp có quyền ngăn chặn các bên thứ ba sản xuất, nhập khẩu, lưu thông (bán hàng và trưng bày để bán), quảng cáo, chào mua/bán và lưu kho bãi các sản phẩm thể hiện kiểu dáng công nghiệp Danh sách các hoạt động không bao gồm xuất khẩu, nhưng trên thực tế, các trường hợp liên quan đến xuất khẩu sẽ bị coi là vi phạm nếu xuất khẩu được hỗ trợ bởi sản xuất, nhập khẩu, lưu thông (bán hàng và trưng bày để bán hàng), quảng cáo, chào mua/bán và lưu kho bãi các sản phẩm lưu thông Vì vậy, về điểm này quy định của Việt Nam phù hợp với các FTA của EU
Tuy nhiên Điều 125.2.a) quy định rằng chủ sở hữu kiểu dáng sẽ không có quyền ngăn cấm người khác từ “sử dụng kiểu dáng phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc cho các mục đích phi thương mại ” Cần lưu ý rằng các điều ước quốc tế quy định việc bảo hộ tới mức chỉ trừ các hành vi “quá mức gây phương hại đến việc khai thác bình thường của kiểu dáng hoặc không tương thích với tập quán thương mại công bằng”
5 Chỉ dẫn địa lý
a) Quy định chung trong các FTA của EU
Mặc dù là một thể loại sở hữu trí tuệ tương đối mới đối với hầu hết các nước đang phát triển, chỉ dẫn địa lý (GIs) đã có truyền thống lâu đời ở châu Âu Chỉ dẫn địa lý là một trong những ưu tiên chủ yếu của EU trong các cuộc đàm phán quốc tế, là một khía cạnh quan trọng của chính sách nông nghiệp nhằm duy trì nền kinh tế nông thôn châu Âu
EU đã không thể đạt được một mức độ bảo hộ về chỉ dẫn địa lý trong TRIPS thỏa mãn nhu cầu của mình Do đó, EU tìm cách tăng cường bảo hộ chỉ dẫn địa lý quy định tại các Điều 22-24 TRIPS cả trong các khuôn khổ đàm phán đa phương138 và song phương139, bao gồm các FTA
Trang 3330
Các điều khoản trong các FTA của EU nhằm tăng cường bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo 3 phương thức: công nhận lẫn nhau về địa lý; tăng phạm vi bảo hộ; và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác giữa các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực này
Công nhận lẫn nhau TA EU-CP và FTA EU-Hàn Quốc quy định việc công nhận lẫn
nhau và bảo hộ chỉ dẫn địa lý của mỗi Bên Với mục đích đó, mỗi Bên đề ra một danh sách chỉ dẫn địa lý để đưa vào thành phụ lục của các FTA này Các Bên đã tiến hành kiểm tra tóm lược thông tin về các chỉ dẫn địa lý trong danh sách, thực hiện thủ tục phản đối trước khi phê chuẩn các hiệp định này140
Công nhận lẫn nhau cũng được quy định trong AA EU-CA141
Tuy nhiên, danh sách các chỉ dẫn địa lý để công nhận lẫn nhau vẫn còn đang được các nước Trung Mỹ thống nhất thông qua một thủ tục về kiểm tra và phản đối để thông qua bởi Hội đồng liên minh Điều 353.5 quy định rằng hiệp định sẽ chưa có hiệu lực chừng nào từng nước chưa hoàn thành danh sách chỉ dẫn địa lý
Cả 3 FTA đều quy định một thủ tục để bổ sung chỉ dẫn địa lý mới vào danh sách trong Phụ lục và chỉ dẫn địa lý bổ sung sẽ được tự động công nhận bởi các bên khác142
EPA EU-CARIFORUM không quy định nghĩa vụ tương tự, dường như là do các nước CARIFORUM không có một hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý Vì vậy, các bên có nghĩa vụ phải thiết lập một hệ thống bảo hộ và trao đổi một danh sách chỉ dẫn địa lý của các nước CARIFORUM trong vòng 6 tháng kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực Các bên cũng đồng ý bắt đầu đàm phán nhằm thỏa thuận về bảo hộ chỉ dẫn địa lý không muộn hơn ngày 1 tháng 1 năm
2014 Một thỏa thuận như vậy có khả năng sẽ quy định về nghĩa vụ công nhận lẫn nhau143
Tăng cường bảo hộ Nói chung, quy định trong các FTA là việc mở rộng các quy định
bảo hộ đã có dành cho rượu vang và rượu mạnh trong TRIPS liên quan đến chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm nông nghiệp Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý có thể ngăn cấm: a) việc sử dụng bất cứ phương cách nào trong thể hiện hoặc trình bày một hàng hóa chỉ ra hoặc dẫn chiếu đến một khu vực địa lý khác so với nơi xuất xứ thực thụ của hàng hóa, có tính lừa dối công chúng về nguồn gốc địa lý của hàng hóa; b) bất kỳ việc sử dụng nào cấu thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh; c) hoặc việc sử dụng chỉ dẫn địa lý cho một hàng hóa tương tự không có nguồn gốc tại nơi
có chỉ dẫn địa lý, cho dù có nêu nguồn gốc thực sự của hàng hóa hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng trong dịch thuật hoặc chú giải hoặc đi kèm các từ như “cùng loại”, “cùng kiểu”, “phỏng theo” hoặc tương tự144 Mức độ bảo hộ trong TA EU-CP còn xa hơn thế145
Hơn thế, trong khi TRIPS đặt điều kiện đối với việc từ chối hoặc huỷ bỏ hiệu lực của đăng ký nhãn hiệu hàng hoá có xung đột với một chỉ dẫn địa lý đã đăng ký trước đó do tính chất
“lừa dối công chúng về xuất xứ thực sự” thì các FTA xóa bỏ yêu cầu này146
Một yêu cầu phổ biến khác là việc bảo hộ sẽ căn cứ theo mức độ bảo hộ tại nước xuất
xứ147, nghĩa là bắt buộc áp dụng quy định tự nguyện tại Điều 24.9 TRIPS
Cuối cùng, cần lưu ý rằng TA EU-CP cho phép các bên tham gia mở rộng việc bảo hộ phù hợp với luật pháp của mỗi bên cho các sản phẩm phi nông nghiệp148
Vì EPA
EU-trong vòng hai năm bắt đầu có hiệu lực của Hiệp định WTO" Ngoài ra, theo Điều 24,1: "Các thành viên đồng ý tham gia đàm phán nhằm tăng cường bảo hộ từng chỉ dẫn địa lý theo quy định tại Điều 23" Đàm phán được đưa vào Chương trình nghị sự Đô-
Trang 3431
CARIFORUM và AA EU-CA đề cập đến chỉ dẫn địa lý nói chung nên việc mở rộng bảo hộ cho các sản phẩm phi nông nghiệp dường như đã được bao gồm trong nghĩa vụ chung FTA EU-Hàn Quốc giới hạn rõ ràng việc bảo hộ chỉ áp dụng đối với các sản phẩm nông nghiệp
Hợp tác cơ chế Tất cả các FTA đều thiết lập một cơ chế hợp tác cụ thể về chỉ dẫn địa
lý149 FTA EU-Hàn Quốc quy định thành lập một Nhóm công tác về chỉ dẫn địa lý Các FTA khác trao thẩm quyền cho một số cơ quan hợp tác150
được thành lập trong khuôn khổ các hiệp định này để thực thi quy định về chỉ dẫn địa lý, để trao đổi thông tin trong lĩnh vực này và theo dõi việc bổ sung các sản phẩm mới vào danh sách chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
Các quy định khác FTA còn có các quy định khác liên quan đến chỉ dẫn địa lý, tuy
nhiên khó xác định được các quy định phổ biến Ví dụ, tất cả các FTA đều có quy định về trường hợp ngoại lệ đối với chỉ dẫn địa lý: chỉ dẫn địa lý đồng âm, tên tập quán, tên người, chủng loại cây trồng, xung đột với nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ trước đó, tuy nhiên số lượng và nội dung của các quy định có sự khác biệt151
Những trường hợp ngoại lệ này bổ sung cho các trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều 23 và 24 TRIPS
Cần lưu ý rằng FTA EU-Hàn Quốc và AA EU-CA đề ra một danh sách các yêu cầu mà
hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý của mỗi Bên phải đáp ứng152
EPA EU-CARIFORUM và TA TA EU-CP không có quy định tương tự
Cuối cùng, TA EU-CP và AA EU-CA bao gồm một điều khoản với nội dung sau: mỗi chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo các FTA này “không thể được coi là tên gọi chung ở một Bên chừng nào còn được bảo hộ như một chỉ dẫn địa lý trong Bên nước xuất xứ”153 Hai FTA còn lại không
có quy định tương tự
b) Tác động đến hệ thống IPR của Việt Nam
Chỉ dẫn địa lý được quy định tại các Điều 750-753 CC, Điều 79-83 IPL và các quy định
áp dụng chung về quyền sở hữu công nghiệp
Là một nước trong đó nông nghiệp đóng một vai trò rất quan trọng cho sự bền vững của nền kinh tế, Việt Nam rất quan tâm bảo hộ chỉ dẫn địa lý Bảo hộ chỉ dẫn địa lý không chỉ là một công cụ tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm đã được công nhận rộng rãi,
mà còn là một chiến lược phát triển nông nghiệp154 Bất kể các khiếm khuyết của luật pháp155, đến nay, Việt Nam đã có 28 chỉ dẫn địa lý đã đăng ký bảo hộ, hầu hết liên quan đến các sản phẩm quốc gia, đặc biệt là các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất: gạo, cà phê và trà
Trong Điều 20.2 PCA, EU và Việt Nam đã nhất trí tăng cường hợp tác xác lập “các phương tiện thích hợp tạo điều kiện thuận lợi cho bảo hộ và đăng ký chỉ dẫn địa lý của bên kia trong lãnh thổ của mình, có tính đến các quy tắc, thông lệ và diễn biến quốc tế trong lĩnh vực này cũng như năng lực của mỗi bên”
Xét đến hiệp định đã có và tầm quan trọng của chỉ dẫn địa lý đối với cả hai bên, việc Việt
Nam và EU thống nhất với nhau về một hệ thống công nhận lẫn nhau các chỉ dẫn địa lý sẽ
148
T B Vu / D H Dao, Chỉ dẫn địa lý và Xuất xứ tại Việt Nam: Thực tế, chính sách và cách tiếp cận, Viện Chính sách và Chiến
lược Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Dự án MISPA năm 2006, có tại origin.org/documents/GI%20and%20AO%20in%20Vietnam.pdf
http://www.foodquality-155
Luật không rõ ràng sẽ khiến khó thực thi, cụ thể như các yêu cầu đối với việc nộp hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý (sản xuất ở một nơi tương tự, phải phân biệt được so với các sản phẩm tương tự) gây khó khăn cho các nhà sản xuất trong việc tạo ra một chiến lược thích hợp để phát triển và bảo hộ thương hiệu của mình (Y Heo / TN Kiên, "Việt Nam ", trang 89)
Trang 3532
không gặp trở ngại Việc thống nhất này cũng sẽ không bị cản trở bởi thực tế là các chỉ dẫn địa
lý mà EU muốn bảo hộ sẽ nhiều hơn số lượng các chỉ dẫn địa lý mà các đối tác của EU đề xuất Chẳng hạn như trong FTA EU-Hàn Quốc, EU đưa ra danh sách hơn 160 chỉ dẫn địa lý
Một khía cạnh khác của việc lập danh sách cần xem xét là thực tế một số chỉ dẫn địa lý
được Việt Nam bảo hộ liên quan đến các sản phẩm phi nông nghiệp - như Văn Yên, Huế Trong
khi Việt Nam quan tâm đến việc đưa các chỉ dẫn này vào danh sách thì EU hiện chưa bảo hộ nhưng cũng đang nghiên cứu khả năng ban hành quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực này156
Hệ thống IPR của Việt Nam bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở mức cao hơn TRIPS, tuy nhiên Điều
129.3 IPL dường như không bảo hộ một tình huống trong các FTA của EU: việc sử dụng chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm khác ngoài rượu vang và rượu mạnh không có xuất xứ từ khu vực mang
chỉ dấu địa lý, cho dù có nêu nguồn gốc thực sự của hàng hóa hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng trong dịch thuật hoặc chú giải hoặc đi kèm các từ như “cùng loại”, “cùng kiểu”, “phỏng theo” hoặc tương tự Trong trường hợp này, dường như người vi phạm có thể lợi dụng danh tiếng và sự
ưa chuộng của chỉ dẫn địa lý, hay nói cách khác, người tiêu dùng có thể bị nhầm lẫn về xuất xứ của sản phẩm
Cuối cùng, cần lưu ý rằng việc miễn trừ bảo hộ chỉ dẫn địa lý có thể có vấn đề Như đã đề cập ở phần trước, quy định trong các FTA của EU rất khác TA EU-CP và AA EU-CA quy định rằng mỗi chỉ dẫn địa lý được bảo hộ “không thể được coi là tên gọi chung ở một Bên chừng nào còn được bảo hộ như một chỉ dẫn địa lý trong Bên nước xuất xứ” Trái lại, Điều 80 IPL quy định rằng tên và chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung ở Việt Nam sẽ không được bảo hộ với ý nghĩa là chỉ dẫn địa lý
Các trường hợp miễn trừ bảo hộ còn bao gồm các chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự các dấu hiệu đã được bảo hộ, hoặc các chỉ dẫn có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm Ngoài ra, Điều 125.2 g) và h) IPL còn quy định rằng chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý không được ngăn cấm việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá trùng hoặc tương tự chỉ dẫn địa lý trong trường hợp nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ một cách trung thực trước ngày nộp hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý Hơn nữa, chỉ dẫn địa lý không ngăn cấm việc sử dụng một cách trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ (Điều 125.2 g) và h) IPL)
Cuối cùng, AANZ FTA quy định rằng mỗi bên có trách nhiệm bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký trước chỉ dẫn địa lý theo quy định pháp luật trong nước của mỗi bên và quy định của TRIPS Mỗi bên đều công nhận rằng chỉ dẫn địa lý có thể được bảo hộ thông qua hệ thống nhãn hiệu
Đặc thù của hệ thống chỉ dẫn địa lý của Việt Nam khiến đàm phán nội dung thỏa thuận trong lĩnh vực này trở nên khó khăn hơn
6 Tài nguyên di truyền, tri thức truyền thống và văn hóa dân gian
a) Quy định chung trong các FTA của EU
Tri thức truyền thống, tài nguyên di truyền và văn hóa dân gian (các hình thức thể hiện văn hóa truyền thống) là tài sản kinh tế và văn hóa của các cộng đồng bản địa, địa phương và quốc gia Trong những năm gần đây, việc sử dụng các nguồn tài nguyên này cho các mục đích kinh tế và thương mại đã gia tăng mạnh Trong khi đó, một số trường hợp chiếm dụng các tài sản này đã xảy ra - ví dụ như các loại thuốc, mỹ phẩm và các sản phẩm nông nghiệp có nguồn gốc từ
156
Theo nghĩa này Thông cáo, trang 16 Rõ ràng, một trong những lý do cho việc thông qua luật này là một số đối tác của EU chẳng hạn như Ấn Độ đã yêu cầu bảo hộ chỉ dẫn địa lý phi nông nghiệp để đổi lại với việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong lĩnh vực nông nghiệp của EU trong phạm vi lãnh thổ của các bên
Trang 3633
nguồn tài nguyên đa dạng sinh học ở các nước châu Phi nhưng được cấp bằng sáng chế cho các tập đoàn đa quốc gia mà không đem lại lợi ích cho các nước xuất xứ157
Bảo vệ các tài sản này đã trở thành yêu cầu bức thiết đối với các nước có đa dạng sinh học phong phú và do đó có nguy cơ trở thành đối tượng bị chiếm dụng Tuy nhiên, các nguyên tắc về bảo hộ của các nước này và các nguyên tắc về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ dường như có xung đột Trong khi TRIPS quan niệm quyền sở hữu trí tuệ là "các quyền tư"158
cơ bản thuộc sở hữu của cá nhân hoặc công ty thì Công ước của Liên Hợp Quốc về Đa dạng sinh học (CBD) khẳng định chủ quyền của các quốc gia về tài nguyên di truyền trong phạm vi lãnh thổ của họ Đồng thời, luật pháp một số nước quy định rằng tài nguyên di truyền và văn hóa dân gian thuộc
về các cộng đồng địa phương159
Hội đồng TRIPS đã và đang hướng tới xây dựng một công cụ quốc tế trong lĩnh vực này trong khuôn khổ của Vòng đàm phán Đô-ha160
và WIPO161 Trong khi đó, EU đã đưa vấn đề này vào các cuộc đàm phán FTA và đạt được kết quả rất khác nhau
Nhìn chung, các FTA “công nhận tầm quan trọng của việc tôn trọng, bảo tồn và duy trì kiến thức, sáng kiến và thông lệ của các cộng đồng bản xứ và địa phương liên quan đến việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học"162
Thứ hai, các FTA đề cao việc thúc đẩy và ứng dụng rộng rãi tri thức truyền thống, tài nguyên di truyền và văn hóa dân gian với sự tham gia và chấp thuận của chủ thể sở hữu kiến thức, sáng kiến và thông lệ, khuyến khích sự chia sẻ công bằng những lợi ích thu được từ việc ứng dụng Cần lưu ý rằng CBD xác lập một nghĩa vụ về “chia sẻ lợi ích”163 Tuy nhiên, chỉ có
TA EU-CP và AA EU-CA chứng thực một cách rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các nước theo CBD164
Thứ ba, tất cả các FTA đều có một điều khoản về mối quan hệ giữa CBD và các nghĩa vụ quốc tế trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ
TA EU-CP ràng buộc các bên phải đảm bảo rằng quyền sở hữu trí tuệ được hỗ trợ và không đi ngược lại quyền và nghĩa vụ quy định trong CBD
Với mục tiêu đó, AA EU-CA nêu rõ rằng hiệp định này không ngăn cản các Bên vận dụng hoặc duy trì các biện pháp phù hợp với CBD Điều 259.2 khẳng định về việc “không có mâu thuẫn giữa việc bảo hộ giống cây trồng và năng lực của mỗi Bên trong việc bảo vệ và bảo tồn tài nguyên di truyền”
EPA EU-CARIFORUM yêu cầu việc diễn giải CBD và các điều khoản liên quan đến bằng sáng chế trong hiệp định này một cách hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời quy định việc chia sẻ quan điểm giữa các bên về các vấn đề liên quan đến quan hệ giữa TRIPS và CBD
157
T Worku Dagne, “Áp dụng quyền sở hữu trí tuệ đối với Tài nguyên đa dạng sinh học: một kỹ thuật cho các nước phía Nam
để duy trì Kiểm soát Tài nguyên đa dạng sinh học trong vùng lãnh thổ của các nước này?”, RACID, tập 17, 2009, từ trang 150
164
Theo CBD, “cơ quan để quyết định quyền tiếp cận sẽ trực thuộc chính phủ và căn cứ theo luật pháp quốc gia" Vì vậy, sử dụng tài nguyên di truyền không cần sự đồng ý trước của chủ thể quyền vi phạm các nghĩa vụ về tiếp cận và chia sẻ lợi icha của CBD Không rõ là việc thiếu tham chiếu đến CBD trong các FTA EU-Hàn Quốc và EPA EU-CARIFORUM có ảnh hưởng nào không
Trang 3734
FTA EU-Hàn Quốc cũng có một điều khoản về việc trao đổi quan điểm này
Cuối cùng, các FTA của EU trong chương IPR đều bao gồm phần các quy định khác nhưng không giống nhau Cần lưu ý rằng EPA EU-CARIFORUM và TA EU-CP có quy định liên quan đến việc công bố nguồn gốc của tài nguyên di truyền trong hồ sơ đăng ký bằng sáng chế - một chủ đề được thảo luận rộng rãi trong các cuộc đàm phán đa phương - nhưng vẫn chưa được nước nào chấp nhận coi là nghĩa vụ165
FTA EU-Hàn Quốc và AA EU-CA không đề cập đến nội dung này
b) Tác động đến hệ thống IPR của Việt Nam
Bảo hộ tri thức truyền thống, tài nguyên di truyền và văn hóa dân gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước phong phú về đa dạng sinh học
Là một nước khí hậu nhiệt đới, Việt Nam được xếp hạng 1 trong 10 nước giàu đa dạng sinh học nhất thế giới
Ví dụ về quy định trong lĩnh vực này có thể tìm thấy trong luật pháp của các nước Mỹ Latinh như Peru, Panama, Costa Rica166
Điều này giải thích tại sao các điều khoản về lĩnh vực này trong FTA của các nước này với EU nhiều hơn trong FTA EU-Hàn Quốc
Quy định luật pháp trong lĩnh vực này chưa phổ biến đến mức như vậy ở khu vực Đông Nam Á Chỉ đến những năm gần đây, các nước trong khu vực mới ban hành các quy định cụ thể
để bảo hộ lợi ích của các cộng đồng bản địa167, mặc dù một số nước đã có các quy định cụ thể trong hệ thống luật pháp liên quan đến IPR168
Ngoài việc tham gia CBD từ năm 1994, Việt Nam đã ban hành Luật Đa dạng sinh học (BDL) và đặt ra nhiều quy định cụ thể trong IPL
Về cơ bản, BDL nhấn mạnh nguyên tắc chung là các cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác
đa dạng sinh học sẽ chia sẻ lợi ích với các bên liên quan Bất kỳ công ty nào quan tâm đến việc tiếp cận trong việc tiếp cận tài nguyên di truyền phải: a) đăng ký; b) ký kết một thỏa thuận chia
sẻ lợi ích (Hợp đồng ABS) với cơ quan được Chính phủ chỉ định để quản lý vùng lãnh thổ có tài nguyên di truyền; c) xin cấp giấy phép từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; d) gửi báo cáo định kỳ về tiến độ nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các sản phẩm có nguồn gốc từ tài nguyên di truyền
Luật này không bao gồm nghĩa vụ phải tiết lộ nguồn gốc của tài nguyên di truyền trong các bằng sáng chế và hồ sơ xin cấp quyền về giống cây trồng Theo một số nhà nghiên cứu, điều này giúp làm giảm mối lo ngại về việc đánh cắp bản quyền sinh học169
Bên BDL, Điều 14 k) IPL liệt kê văn hóa dân gian và các tác phẩm nghệ thuật văn hóa là các sản phẩm có bản quyền Theo Điều 23 IPL và Điều 20 Nghị định 100/2006, người sử dụng các thể loại tác phẩm văn hóa này có nghĩa vụ nêu rõ nguồn gốc bằng cách trích dẫn địa điểm
165
FTA đầu tiên quy định rằng công bố là một yêu cầu hành chính đối với việc nộp hồ sơ xin cấp bằng sáng chế FTA thứ hai thừa nhận sự cần thiết của việc công bố vì nó góp phần nâng cao sự minh bạch về việc sử dụng các nguồn tài nguyên di truyền FTA này cũng bao gồm các quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận với thông tin về các hồ sơ xin cấp bằng sáng chế và bằng sáng chế liên quan đến tài nguyên di truyền, trao đổi thông tin, sử dụng cơ sở dữ liệu hoặc thư viện kỹ thuật số - và xây dựng năng lực cho các giám định viên về bằng sáng chế và các cơ quan thực thi pháp luật trong lĩnh vực này
166
Quyết định 391 của Cộng đồng Andean về một chế độ chung về tiếp cận tài nguyên di truyền (1996), Biện pháp khẩn cấp tạm thời số 2186-16 của Brazil (2001), Luật Đa dạng sinh học 7788 của Costa Rica (1998), Luật số 20 ngày 26 tháng 6 năm 2002 của Panama, Luật 27811 năm 2009 của Peru về bảo hộ kiến thức truyền thống của cộng đồng bản địa liên quan đến đa dạng sinh học Xem C Correa, "Bảo hộ của TRIPS và TRIPS-cộng và tác động trong khu vực châu Mỹ Latinh" trong D Gervais (ed.), Thương mại và Phát triển sở hữu trí tuệ, Oxford University Press, 2007, từ trang 221
167
Đó là trường hợp Luật Quyền của người dân bản địa Philippines năm 1997 Xem C Antons, "Kiến thức truyền thống và
Quyền sở hữu trí tuệ ở Úc và Đông Nam Á", trong C Heath / A Kamperman Sanders, Các mặt trận mới về Luật Sở hữu trí tuệ,
Oxford, Nhà xuất bản Hart, trang 51
168
Đó là trường hợp của luật về giống cây trồng tại Thái Lan và Ấn Độ, quyền tác giả và giống cây trồng ở In-đô-nê-xi-a Xem
C Antons, "Kiến thức truyền thống ", trang 51
169
C Chiarolla, Sở hữu trí tuệ , trang 239
Trang 38thơ hay nón Huế
Xét rằng Việt Nam là một nước giàu tài nguyên sinh học, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu khả năng đưa ra các điều khoản về tài nguyên di truyền, kiến thức truyền thống và văn hóa dân gian trong FTA tương lai với EU để đảm bảo việc bảo hộ quốc tế đối với đa dạng sinh học của Việt Nam
7 Quyền tác giả và các quyền liên quan
a) Quy định chung trong các FTA của EU
Quyền tác giả và các quyền liên quan được quy định tại Điều 9 đến Điều 14 TRIPS (Mục
1, Phần II) Tất cả các FTA của EU đều bao gồm các điều khoản TRIPS-cộng trong lĩnh vực này, điều chỉnh mối quan hệ với các điều ước quốc tế, thời hạn bảo hộ, vai trò của tổ chức thu phí, công nhận quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi và đài phát thanh truyền hình trong việc phát sóng và truyền đến công chúng, cũng như quy định nghĩa vụ trong lĩnh vực các biện pháp bảo hộ công nghệ (TPM) và thông tin quản lý quyền điện tử (RMI)
Điều ước quốc tế Tất cả các FTA của EU đều bao gồm nghĩa vụ cho các bên trong việc
“tuân thủ”: a) Công ước Berne, b) Công ước Rome; c) Hiệp định về quyền tác giả của WIPO; d) Hiệp ước về Biểu diễn và Bản ghi của WIPO171 Mức độ bảo hộ sâu rộng trong lĩnh vực này trong các điều ước quốc tế cho thấy đây là một quy định TRIPS-cộng quan trọng
Thời hạn bảo hộ Trừ EPA EU-CARIFORUM, các FTA khác đều thống nhất rằng quyền
tác giả sẽ kéo dài ít nhất là 70 năm kể từ khi tác giả qua đời và các quyền liên quan có thời hạn ít nhất 50 năm kể từ năm thực hiện việc biểu diễn, thực hiện bản ghi hay phát sóng172 Đây cũng là một quy định TRIPS-cộng quan trọng, đặt thời hạn bảo hộ gia tăng so với quy định trong Công ước Berne và Điều 12 và 14.5 TRIPS173
Tổ chức thu phí Đặc trưng của tất cả các FTA là việc đưa ra một điều khoản ràng buộc
các Bên phải “tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập thỏa thuận giữa tổ chức thu phí của các Bên với mục đích đảm bảo việc dễ dàng tiếp cận, cấp phép sử dụng nội dung "174
Đây được xem như một công cụ hữu ích cho nhiều nước khai thác tốt hơn các ngành văn hóa của mình Vì lý do đó, đáng lưu ý là tất cả các FTA trừ EPA CARIFORUM đều đòi hỏi việc quản lý hiệu quả, phân phối công bằng, hợp lý hóa, cải thiện tính minh bạch liên quan đến các hoạt động của tổ chức thu phí
170
WTO, Rà soát chính sách thương mại của Việt Nam , Mục 80
171
Điều 215 TA EU-CP, Điều 10.5 FTA EU-Hàn Quốc và Điều 233 AA EU-CA Ngạc nhiên là EPA EU-CARIFORUM không
đề cập đến Công ước Berne (mặc dù tất cả các bên tham gia đã phê chuẩn Công ước này) và, liên quan đến Công ước Rome chỉ
có một nghĩa vụ "cố gắng để tham gia" (Điều 143.A)
172
Điều 218-219 TA EU-CP, Điều 234-235 AA EU-CA Trong FTA EU-Hàn Quốc, thời hạn 50 năm chỉ quy định đối với việc phát sóng (Điều 10.6-10.7 ) TA EU-CP bao gồm một số quy tắc để tính toán thời hạn trong trường hợp đồng tác giả, tác phẩm khuyết danh hay bút danh, tác phẩm nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, hoặc tác phẩm nghe nhìn