MSCP thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu của chính phủ, dự tính trung bình 10-15% tổng sản phẩm quốc nội GDP và chiếm 1,5 nghìn tỉ đô la Mỹ mỗi năm ở các nền kinh tế phát triển
Trang 1Tầng 9, Toà Nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 04 62702158 Fax: 04 62702138
Email: mutrap@mutrap.org.vn; Website: www.mutrap.org.vn
BÁO CÁO
CÁC LĨNH VỰC MỚI TRONG THƯƠNG MẠI:
TỰ DO HÓA MUA SẮM CHÍNH PHỦ TRONG FTA DỰ KIẾN
GIỮA LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM
Báo cáo này được xây dựng với sự hỗ trợ tài chính của Liên minh châu Âu Quan điểm trong báo cáo là của các tác
giả, không phải là ý kiến chính thức của Liên minh châu Âu hay của Bộ Công Thương
Trang 3MỤC LỤC
Tóm tắt 1
1 Giới thiệu 8
2 So sánh giữa các điều khoản MSCP trong các FTA của EU 10
2.1 Tổng quan về Hiệp định Mua sắm Chính phủ của WTO 10
2.2 Tổng quan các FTA của EU 11
3 Hệ lụy của tự do hóa MSCP ở Việt Nam thông qua FTA với EU 19
3.1 Tổng giá trị mua sắm công 19
3.2 Khuôn khổ pháp lý về Mua sắm Chính phủ của Việt Nam 20
3.3 So sánh các điều khoản MSCP ở Việt Nam với các FTA của EU 23
3.4 Hệ lụy pháp lý của FTA dự kiến với Việt Nam 24
3.5 Các hệ lụy về kinh tế và kinh doanh của FTA dự kiến đối với Việt Nam 32
4 Khuyến nghị 37
4.1 Tăng cường, hài hòa hóa và tạo điều kiện thuận lợi thực thi thủ tục đấu thầu ở Việt Nam 37
4.2 Khởi động hỗ trợ kỹ thuật và các biện pháp tăng cường năng lực của EU tại Việt Nam 40
4.3 Hỗ trợ phát triển môi trường kinh doanh cạnh tranh tại Việt Nam 42
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
EPC Gói thầu gồm thiết kế, cung cấp thiết bị và xây lắp
Trang 51
Tóm tắt
Liên minh châu Âu (EU) đã và đang tích cực tham gia các hiệp định thương mại song phương (FTAs) theo chiến lược “châu Âu toàn cầu” (2006) Các hiệp định này bao trùm các lĩnh vực như xóa bỏ thuế quan, giảm các biện pháp phi thuế quan cũng như tự do hóa đầu tư, dịch vụ và mua sắm chính phủ (MSCP) Các hiệp định song phương mà EU ký kết kể từ năm 2006 bao gồm các điều khoản quy định về tự do hóa MSCP là các hiệp định với CARIFORUM (2008), châu Mỹ La tinh (2010), Trung Mỹ (2010), và Hàn Quốc (2011) Ngoài ra, hiện nay, EU đang đàm phán FTA với Ấn Độ, Singapo, Malaysia và đang xúc tiến khởi động chính thức đàm phán FTA với Việt Nam Báo cáo này nhằm làm rõ hiện trạng các điều khoản về MSCP trong các FTA thông qua tìm hiểu những điểm chung cũng như khác biệt giữa các hiệp định ký kết giữa EU - CARIFORUM (EUCAR), EU- châu Mỹ La tinh (EULA), EU- Trung Mỹ (EUCA), và EU- Hàn Quốc (EUKOR) Báo cáo cũng phân tích các hệ lụy về mặt pháp lý và kinh doanh của những điều khoản trên và đồng thời đề xuất các khuyến nghị cho Việt Nam, giả định sẽ có một FTA giữa EU và Việt Nam trong tương lai
2 Phân tích các hệ lụy về mặt pháp lý, kinh doanh và kinh tế của các điều khoản nêu trên đối với Việt Nam với giả thuyết là các điều khoản tương tự sẽ được tái xác lập trong FTA dự kiến giữa EU và Việt Nam;
3 Đưa ra các khuyến nghị chính sách để đạt được cơ chế hợp tác tốt nhất giữa EU
và Việt Nam
Phương pháp luận sử dụng trong báo cáo là phương pháp định tính và các phát hiện cũng như kết luận trong nghiên cứu này chủ yếu đúc rút từ nghiên cứu sơ cấp và thứ cấp Các chuyên gia đã họp với Cục Quản lý Đấu thầu, cơ quan chính phủ đầu mối về pháp luật mua sắm đấu thầu thuộc
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như họp với các bên liên quan ở Việt Nam Trao đổi với Cục Quản
lý Đấu thầu giúp hiểu biết chắc chắn về cơ chế mua sắm đấu thầu hiện tại trong khi các cuộc cuộc họp với các bên liên quan cung cấp thông tin về những hỗ trợ cần thiết để xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi ở Việt Nam
Các phát hiện
1) Điểm tương đồng và khác biệt trong các điều khoản về MSCP phổ biến trong các hiệp định của EU
Phân tích cho thấy các điều khoản FTA khá giống nhau về phạm vi quy định (thực thể, dịch
vụ và các dịch vụ xây lắp, ngưỡng), minh bạch (luật, quy tắc và đấu thầu) và thủ tục trao hợp đồng (rộng rãi, chọn lọc và hạn chế), các tiêu chí lựa chọn (gói thầu chi phí thấp hay có lợi thế kinh tế nhất) cũng như cơ chế tuân thủ (giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu) Phân tích các FTA cho thấy có sự nhất quán trong việc sử dụng rộng rãi Hiệp định về MSCP của WTO (GPA) và văn kiện GPA sửa đổi (văn kiện GPA hiện đang được đàm phán) Trên
Trang 62
cơ sở giả định là FTA dự kiến giữa EU và Việt Nam rất có thể tương tự như các hiệp định mà
EU đã ký kết cho đến nay, thì chi tiết phân tích về các điểm giống và khác nhau như:
(i) Chương về MSCP và mục tiêu: Kiểm tra tất cả các FTA cho thấy các FTA đều có
một chương MSCP riêng biệt và chi tiết, gồm phần đầu liệt kê các khái niệm, phù hợp với với văn kiện GPA sửa đổi Trong tất cả các FTA đã được phân tích đó, mặc dù phần lời nói đầu không đưa ra bất kỳ tham chiếu nào về MSCP, nhưng hiệp định FTA đặc biệt đề cập đến không phân biệt đối xử và ngôn ngữ chuẩn mực của Hiệp định về Mua sắm Chính phủ của WTO (GPA)
(ii) Phạm vi quy định: Phạm vi quy định gồm hàng hóa, dịch vụ và dịch vụ xây lắp
tuân thủ Hiệp định về Mua sắm Chính phủ và được đề cập trong một Phụ lục trong các FTA khác nhau Phần quy định mà EU thông báo cho WTO được áp dụng Các cam kết
về các gói thầu được quy định trong tất cả các FTA bao gồm các thực thể chính quyền trung ương, thực thể trực tiếp dưới cấp trung ương và các thực thể khác Hiệp định EUCAR là một trường hợp ngoại lệ chỉ cam kết đối với các cơ quan thuộc chính quyền trung ương Đặc biệt, các cam kết trong hiệp định EUCA và EULA rất phù hợp với văn kiện GPA sửa đổi nhưng các ngưỡng giá trị thấp hơn đối với các Phụ lục riêng rẽ và hạn chế về phạm vi quy định thực thể Hiệp định FTA EUKOR, hiệp định giữa EU và Hàn Quốc với hai bên đều tham gia GPA, về phía Hàn Quốc trong phần phạm vi quy định có bao gồm thêm những lĩnh vực không được quy định trong GPA, ví dụ như xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT)
(iii) Các hình thức và thủ tục đấu thầu trong các FTA:
a) Các hình thức đấu thầu bao gồm các hướng dẫn chi tiết về năng lực nhà cung cấp Các hướng dẫn này nhằm tránh phân biệt đối xử giữa các nhà cung ứng trong nước và nước ngoài gồm hướng dẫn về công bố thông báo mời thầu (ví dụ kế hoạch đấu thầu) và quy trình thủ tục
b) Các hình thức đấu thầu chính được sử dụng là: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu chọn lọc và đấu thầu hạn chế Các điều kiện và các hình thức đấu thầu một lần nữa rất phù hợp với văn kiện GPA sửa đổi
(iv) Các chế tài pháp luật: Thủ tục rà soát trong nước và giải quyết tranh chấp được
đưa từ văn kiện GPA và GPA sửa đổi vào các văn kiện FTA
a) Tất cả các FTAs đều quy định thủ tục rà soát và thủ tục giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu một cách toàn diện và trên cơ sở không phân biệt đối xử, tạo điều kiện cho các nhà cung cấp kiến nghị, khiếu nại kết quả đấu thầu trong trường hợp có vi phạm quy định Các hiệp định khác nhau có mức độ quy định khác nhau Nhưng tất cả các FTA, không có ngoại lệ nào, đều quy định thành lập một cơ quan quản lý công bằng, vô tư
b) Tất cả các FTA đều có các điều khoản giải quyết tranh chấp trong các chương riêng biệt (Mục X trong hiệp định EUCA, Mục XII trong một chương tự đặt tên
và Mục VI trong EULA; và, chương 14 và Phụ lục 4 trong EUKOR) Cụ thể trong Hiệp định EUCA, thủ tục trọng tài rất toàn diện và đầy đủ vì có chi tiết các điều khoản về các biện pháp chế tài tạm thời
(v) Các điều khoản về minh bạch: Trong các FTA, các điều khoản về minh bạch
tuân thủ văn kiện GPA sửa đổi với hướng dẫn khá chi tiết về các hình thức nhằm tăng cường minh bạch trong mua sắm đấu thầu Trong các điều khoản khác, tất cả các hiệp định tập trung vào việc cung cấp thông tin cho nhà cung ứng về các quyết định trao
Trang 73
thầu và cung cấp cho các nhà thầu không trúng thầu biết lý do không được lựa chọn theo yêu cầu
(vi) Mua sắm qua mạng: Tất cả các hiệp định, trừ hiệp định EU-CARIFORUM có
cam kết cụ thể về mua sắm qua mạng và đấu thầu qua mạng
(vii) Sắp xếp tổ chức: Tất cả các hiệp định quy định sắp xếp tổ chức để rà soát việc
thực hiện các Hiệp định
2) Tổng quan về khuôn khổ hiện hành và hệ lụy của FTA dự kiến với EU
Khuôn khổ về đấu thầu hiện hành ở Việt Nam
Theo tính toán của Bộ Kế hoạch Đầu tư, tổng giá trị mua sắm của chính phủ Việt Nam đã tăng từ 9% lên 22% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong giai đoạn 2007-10 Về giá trị, mua sắm công năm 2007 đạt 6,22 tỷ đô la Mỹ (90 tỷ đồng) tăng lên 22,04 tỷ đô la Mỹ (334 tỷ đồng) năm 2010 Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam, và giá trị mua sắm công ngày càng gia tăng, rõ ràng tự do hóa thị trường mua sắm của Việt Nam hứa hẹn rất nhiều
Khuôn khổ pháp lý về đấu thầu hiện hành ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp quy Văn bản pháp lý chính, Luật Đấu thầu (ký năm 2005, có hiệu lực thi hành năm 2006), được
bổ sung bằng nhiều nghị định và thông tư do nhiều bộ ngành ban hành Nhiều văn bản pháp quy được ban hành bổ sung hỗ trợ thực hiện pháp luật hiện hành Phạm vi đấu thầu bao gồm tất cả hàng hóa, các dịch vụ tư vấn và dịch vụ xây lắp Tất cả các cơ quan trung ương, các cơ quan cấp trung ương, các cơ quan cấp tỉnh, doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và các thực thể chính quyền khác tại tất cả các cấp đều được điều chỉnh theo quy định đấu thầu Chỉ có các dự án xây dựng – kinh doanh – chuyển giao và các hợp đồng chuyển nhượng mà có ít hơn 30% tổng chi phí được Nhà nước cấp vốn là không thuộc đối tượng điều chỉnh Không có ngưỡng cụ thể nào đối với các gói thầu được quy định, điều này có nghĩa là tất cả các gói thầu của chính phủ tại tất cả các cấp đều được quy định Về các thủ tục đấu thầu, pháp luật yêu cầu các bên mời thầu cung cấp thông tin đấu thầu cho các nhà cung ứng và có hướng dẫn về lịch nộp hồ sơ dự thầu Các quy định đưa
ra bảy hình thức đấu thầu và đồng thời cho phép đàm phán với các nhà thầu Các tiêu chí trao thầu dựa trên cơ sở chi phí thấp nhất, kết hợp bản chào kỹ thuật và tài chính đối với hàng hóa và dịch vụ cũng như phương pháp chấm điểm theo năng lực đối với dịch vụ tư vấn Theo khuôn khổ hiện hành, ưu tiên cho các nhà thầu được thành lập và hoạt động tại Việt Nam Cơ chế giải quyết tranh chấp và giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu cũng được quy định Hiện nay, đấu thầu qua mạng đang được thực hiện trong một dự án thí điểm ở Việt Nam
Hệ lụy về pháp lý, kinh doanh và kinh tế của FTA dự định đối với Việt Nam
Việc đưa các điều khoản MSCP vào FTA dự định giữa EU và Việt Nam đem lại các hệ lụy được phân thành nhóm hệ lụy pháp lý và kinh doanh, bao gồm chi phí và lợi ích đối với nền kinh tế Việt Nam, như sau:
Trang 84
A Hệ lụy pháp lý đối với Việt Nam:
Pháp luật về mua sắm công quốc gia của Việt Nam khác so với mô hình FTA hiện tại của EU Nếu có FTA với EU trong tương lai, các hệ lụy chính của một hiệp định như vậy đối với Việt Nam được liệt kê dưới đây:
a) Khuôn khổ pháp lý hiện tại được liên tục sửa đổi, dẫn đến cơ chế đấu thầu hiện nay rất phức tạp và phân mảnh Nếu đàm phán FTA với EU, trước hết, Việt Nam sẽ phải sửa đổi khuôn khổ pháp lý của mình để đơn giản hóa pháp luật đấu thầu và đảm bảo minh bạch trong đấu thầu
b) Hiện nay tất cả các hàng hóa, dịch vụ và dịch vụ xây lắp cũng như tất cả các thực thể thuộc chính phủ đều nằm trong quy định Trong FTA dự kiến, phạm vi quy định đấu thầu, tức là các thực thể, hàng hóa, dịch vụ và dịch vụ xây lắp cũng như các ngưỡng giá trị cần được cân nhắc kỹ Các thực thể và phạm vi quy định sẽ được liệt
kê trong Phụ lục của hiệp định dự kiến Đồng thời các ngưỡng giá trị sẽ được nêu rõ,
có tính đến trình độ phát triển và khả năng thực hiện các nghĩa vụ trong FTA đề xuất của Việt Nam
c) Theo cơ chế đấu thầu hiện hành, việc Việt Nam cho phép ưu đãi nhà thầu là có tính chất phân biệt đối xử Việc ưu đãi trên đi ngược lại nguyên tắc không biệt đối xử quy định trong GPA (Điều III), và không được phép trong FTA, ngoại trừ phần
“Ngoại lệ” Trong FTA dự kiến, đối xử ưu đãi với các nhà thầu sẽ được giảm dần và cuối cùng là loại bỏ hẳn
d) Về tiêu chí trao hợp đồng, một tiêu chí theo chế độ hiện hành có liên quan đến sử dụng thang điểm để trao thầu (Điều 29: 3 của Luật Đấu thầu) Tiêu chí về trao thầu hiện tại của Việt Nam cần phải được sửa đổi và tiêu chí sửa đổi nên dựa trên cơ sở chi phí thấp nhất hoặc có lợi thế nhất, như trong trường hợp của các FTA khác của
EU
e) Pháp luật của Việt Nam quy định bảy hình thức đấu thầu, trong đó có hình thức như chào hàng cạnh tranh và chỉ định thầu thiếu minh bạch Trong FTA mà EU mới ký kết gần đây, ba hình thức đấu thầu được sử dụng, đó là đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và đấu thầu chọn lọc, đây cũng là các hình thức đấu thầu được liệt kê trong GPA Việt Nam có thể xem xét hài hòa hóa các hình thức đấu thầu, các quy trình và thủ tục, để tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả các nhà thầu của EU tại Việt Nam
f) Dù có điều khoản về cơ chế giải quyết tranh chấp chính thức trong pháp luật hiện hành, nhưng không có cơ quan quản lý độc lập để giải quyết các khiếu nại về đấu thầu Bên mời thầu, chủ đầu tư và người có thẩm quyền, là các thực thể mua sắm, chịu trách nhiệm giải quyết khiếu nại của nhà thầu Với việc bên mời thầu cũng đồng thời là cơ quan giải quyết khiếu nại, điều cấp thiết là phải thay thế hệ thống hiện tại bằng một cơ quan độc lập hỗ trợ một khuôn khổ hiệu quả và minh bạch cũng như quy định cơ chế giải quyết tranh chấp và kiến nghị, khiếu nại trong đấu
thầu
g) Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, minh bạch là sức mạnh tiềm ẩn của FTA mà EU ký kết Việt Nam sẽ phải tăng cường minh bạch trong cơ chế đấu thầu hiện tại Hiện nay, không có phần tham chiếu rõ ràng đối với tính minh bạch trừ phần trong “Mục tiêu” (Điều 1, Luật Đấu thầu), đề cập đến tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Việt Nam sẽ thực hiện các cam kết để tăng cường tính minh bạch Những nghĩa vụ đó liên quan đến thủ tục và hình thức đấu thầu, mua sắm qua mạng và có thể là các cam kết về đấu thầu qua mạng Điều này
sẽ đặc biệt phù hợp vì đấu thầu điện tử hiện đang được thực hiện trong một dự án thí điểm
Trang 95
B Hệ lụy về kinh tế và kinh doanh đối với Việt Nam:
Từ quan điểm kinh tế, hệ lụy về kinh doanh đối với Việt Nam sẽ bắt nguồn từ năng lực cạnh tranh cao hơn Tăng minh bạch trong khuôn khổ đấu thầu sửa đổi sẽ hài hòa hóa các chính sách đấu thầu với các quy chuẩn được quốc tế chấp nhận, tăng cường phối hợp chính sách nội bộ và cải thiện quản trị về đấu thầu ở Việt Nam Điều này cũng giúp tiết kiệm ngân sách, tạo nhiều công ăn việc làm hơn trong các công ty có năng lực cạnh tranh, hưởng lợi từ việc tăng cường tiếp cận thị trường trong các FTA dự kiến Tự do hóa thị trường sẽ đồng thời hỗ trợ tăng luồng vốn đầu tư và sáng tạo đổi mới nhiều hơn, đem lại lợi ích cho khu vực tư nhân và người tiêu dùng ở
Việt Nam Lợi ích tiềm tàng mà FTA dự kiến với EU đem lại cho Việt Nam sẽ gồm:
a) Tăng cường tiếp cận thị trường và lợi ích từ các nhà cung ứng chi phí thấp
b) Tự do hóa mua sắm kèm theo tăng tính minh bạch hóa trong FTA sẽ tăng cạnh tranh
và chính phủ Việt Nam sẽ có thể sử dụng giá trị đồng tiền hiệu quả hơn
c) Phối hợp chính sách nội bộ sẽ đem lại sự thống nhất giữa các nguyên tắc đấu thầu của Việt Nam với các quy chuẩn trong FTA và văn kiện GPA Sự hài hòa hóa quy định về đấu thầu với các quy chuẩn đấu thầu quốc tế như vậy sẽ cải thiện quản trị tổng thể
d) Tự do hóa thị trường đấu thầu sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa được thể hiện thông qua sự gia tăng công ăn việc làm và sáng tạo đổi mới, đem lại ảnh hưởng tích cực đối với khu vực tư nhân và người tiêu dùng ở Việt Nam
Lồng ghép các điều khoản MSCP vào FTA dự kiến giữa EU và Việt Nam sẽ đem lại những chi phí tiềm tàng sau đây:
a) Đó là chi phí tài chính và hành chính trong quá trình đàm phán và chi phí kèm theo khi thực hiện thay đổi khuôn khổ pháp lý Các chi phí tăng thêm như thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp và kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu, cũng như chi phí điều chỉnh của các công ty
b) Việt Nam có thể mất quyền sử dụng mua sắm công như là một công cụ cho các mục tiêu kinh tế và công nghiệp
c) Các doanh nghiệp nhỏ có năng lực tài chính và chuyên môn hạn chế của Việt Nam sẽ chịu tác động tiêu cực trong viễn cảnh có FTA dự kiến
Tuy nhiên, nên cân nhắc xem chi phí nào trước mắt có tác động tiêu cực nhưng trong dài hạn sẽ đem lại lợi ích cho Việt Nam
3) Khuyến nghị chính sách về cơ chế hợp tác hiệu quả nhất giữa EU và Việt Nam
Khuyến nghị về cơ chế hợp tác hiệu quả nhất giữa EU và Việt Nam đề xuất dựa trên kết quả thảo luận với các bên liên quan Đề xuất cải cách những trụ cột cốt yếu nhằm giải quyết các vấn đề căn bản như sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và các điều khoản MSCP trong các FTA (mà EU đã
ký kết), đồng thời xử lý tính minh bạch còn ở mức độ thấp trong khuôn khổ đấu thầu hiện hành Đề xuất EU tăng cường năng lực cho phía Việt Nam cũng được tính đến Vì vậy, báo cáo đưa ra khuôn khổ khuyến nghị chi tiết chia theo ba trụ cột sau đây:
Trang 106
Trụ cột 1: Tăng cường, hài hòa hóa & tạo điều kiện thực hiện thủ tục đấu thầu ở Việt Nam
a) Việt Nam nên liệt kê các thực thể trong phạm vi quy định một cách có chọn lọc để từng bước đàm phán các thực thể theo lộ trình thời gian và theo sự thống nhất giữa Việt Nam và EU Việt Nam có thể xem xét liệt kê một số ngành quy mô nhỏ quan trọng, phù hợp để đạt mục tiêu chính sách thứ yếu trong phần ‘Ghi chú chung’ của hiệp định dự kiến Tuy nhiên, điều này không nhất thiết phải trở thành quy chuẩn b) Việt Nam nên áp dụng phương pháp chọn - cho khi liệt kê hàng hóa và công trình xây lắp trong khi áp dụng phương pháp chọn - bỏ đối với dịch vụ tư vấn Đây là quy chuẩn cũng được chấp nhận trong GPA của WTO
c) Các ngưỡng ban đầu nên được đưa ra ở mức cao với giai đoạn chuyển đổi rõ ràng để sau đó các ngưỡng giá trị này sẽ giảm từ từ (như đã thực hiện trong hiệp định EULA) Điều này sẽ tạo điều kiện và hỗ trợ cho Việt Nam tăng cường năng lực để thực hiện các nghĩa vụ về ngưỡng giá trị một cách hiệu quả Nên có một điều khoản
về sửa đổi ngưỡng và phạm vi quy định sau khi tham vấn chung giữa các nước cam kết
d) Các ưu đãi cho phép đối với đấu thầu quốc tế theo hệ thống hiện tại cần được loại bỏ dần dần Có thể thực hiện thông qua (a) giảm dần ưu đãi trong các ngành đặc biệt mà các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh Nên đưa vào FTA các điều khoản để điều chỉnh ưu đãi sau khi tham vấn chung, về giới hạn tương tự như ưu đãi cho phép đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa trong các hiệp định EULA
và EUCA; (b) tiếp tục quy định các ưu đãi ‘hợp lý’ đối với các ngành lựa chọn như là một phần của chính sách phát triển của chính phủ, mà có thể liệt kê trong phần
‘Ngoại trừ’
e) Đảm bảo tuân thủ với các quy chuẩn về thủ tục đấu thầu để Việt Nam áp dụng ba hình thức đấu thầu, đó là đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và đấu thầu chọn lọc, đây là những phương thức phù hợp với quy chuẩn GPA
f) Thành lập một tổ chức độc lập để thực thi cơ chế giải quyết khiếu nại và kiến nghị trong đấu thầu Đề xuất một cơ chế trao đổi thông tin với các nhà thầu không trúng thầu và cung cấp cho họ lý do/cơ sở loại bỏ hồ sơ thầu Đây là điều quan trọng cấu thành một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập
g) Các bước ban đầu nhằm tăng cường khuôn khổ thực thi pháp chế về đấu thầu hiện tại, chú trọng hỗ trợ tăng cường quy định hành động trừng phạt và áp dụng các hình phạt trong trường hợp vi phạm quy định
Trụ cột 2: Khởi động hỗ trợ kỹ thuật và các biện pháp tăng cường năng lực của EU tại Việt
Nam
a) Phía EU nên đưa ra cam kết chắc chắn về hỗ trợ kỹ thuật trong văn kiện FTA, kèm theo đó là các cam kết mục tiêu của chính phủ Việt Nam Điều này sẽ hỗ trợ xúc tiến một khuôn khổ đấu thầu mở và mục tiêu ở Việt Nam tại các cấp trung ương, tỉnh và trực thuộc trung ương
b) EU nên hỗ trợ nỗ lực cải tổ khuôn khổ đấu thầu hiện hành của chính phủ Việt Nam thông qua lập một phương tiện trực tuyến tại cấp vùng Điều này sẽ khuyến khích cạnh tranh và tạo điều kiện phổ biến thông tin hiệu quả về cơ hội đấu thầu cho các nhà thầu triển vọng đồng thời nâng cao tính minh bạch
c) Thiết lập cơ chế trao đổi thông tin về các thông lệ tốt nhất và khuôn khổ đấu thầu quốc tế và chia sẻ bài học
d) Hỗ trợ thành lập cơ sở dữ liệu đấu thầu ở Việt Nam tại cấp trung ương và cấp tỉnh Khi thiếu cơ sở dữ liệu, Việt Nam sẽ không thể đưa ra các quyết định đúng
Trang 11Trụ cột 3: Hỗ trợ và thúc đẩy phát triển môi trường kinh doanh cạnh tranh ở Việt Nam
Không thể nhấn mạnh thái quá vai trò của một môi trường cạnh tranh đối với cả các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp EU đang tìm cách tiếp cận thị trường Việt Nam Trong bối cảnh kinh doanh quốc tế, động lực chính của năng lực cạnh tranh là môi trường kinh doanh kinh tế vi mô có tiềm năng tăng năng suất và cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp Đề xuất thúc đẩy môi trường kinh doanh cạnh tranh bao gồm các biện pháp nhằm:
a) Nâng cao tính minh bạch trong thị trường đấu thầu của Việt Nam vì điều này sẽ giải quyết được vấn đề tham nhũng Đề xuất tăng cấp độ minh bạch bao gồm: sử dụng đấu thầu điện tử, xây dựng Quy tắc Ứng xử quốc gia đối với cán bộ đấu thầu
cả cấp quốc gia và cấp tỉnh vì hiện tại chưa có quy tắc nào, ngoại trừ trong các khoản ODA viện trợ không hoàn lại Nên có các điều khoản phạt nghiêm ngặt để ngăn chặn phòng ngừa, các khoản phạt áp dụng cho các nhà thầu phải cao với thời gian không được tham gia thầu lâu hơn đối với các nhà cung ứng bị liệt vào danh sách đen
b) Khởi xướng các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nỗ lực Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn để doanh nghiệp phát triển Đề xuất này chú trọng sử dụng đầu tư nước ngoài thông qua Đối tác công tư đặc biệt trong các dự án cơ sở hạ tầng và xây dựng
Kết luận lại, phân tích này cho thấy văn kiện GPA/GPA sửa đổi được sử dụng rộng rãi trong khuôn khổ các FTA của EU FTA giữa EU và Việt Nam sẽ có hai tác động rộng lớn; thứ nhất, các quy tắc về thủ tục đấu thầu sẽ nâng cao tính minh bạch, dẫn đến tăng quản trị và cạnh tranh
mà cuối cùng sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam sử dụng giá trị đồng tiền hiệu quả hơn; thứ hai, các điều khoản về tự do hóa sẽ giảm ‘không gian chính sách’ có sẵn để sử dụng công cụ đấu thầu ưu đãi để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước và DNNN Tuy nhiên, các vấn đề chính mà Việt Nam đối mặt là tự do hóa đấu thầu ở cấp chính quyền trực thuộc địa phương, tái cơ cấu DNNN, quy định rõ ngưỡng giá trị, liệt kê các thực thể, và liệt kê phạm vi quy định hàng hóa, dịch vụ và dịch vụ xây lắp Đưa phần mua sắm vào khuôn khổ FTA sẽ khởi xướng cải cách chế độ đấu thầu trong nước của Việt Nam Các lợi ích khác cho Việt Nam bao gồm minh bạch và tăng cường quản trị từ một thị trường đấu thầu mở Sẽ có hệ lụy về tiếp cận thị trường và mức độ ảnh hưởng đối với các nhà cung cấp trong nước là một vấn đề quan trọng mà Việt Nam sẽ phải xem xét trong khi lựa chọn chính sách để đàm phán FTA với EU Thành công của FTA đề xuất sẽ phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế tăng cường năng lực và hỗ trợ kỹ thuật Thách thức đối với việc đàm phán và thực hiện thành công là to lớn, và vì vậy sẽ cần hợp tác chặt chẽ giữa Việt Nam và EU cùng với sự tham gia của các bên liên quan
Trang 128
1 Giới thiệu
Mua sắm Chính phủ (MSCP) liên quan đến quy trình mà theo đó một cơ quan nhà nước mua sắm một sản phẩm hay dịch vụ cho việc sử dụng của chính mình Thuật ngữ này được sử dụng hoán đổi với mua sắm công gồm các khoản mua sắm của chính phủ, các cơ quan cung cấp dịch vụ công ích và các doanh nghiệp nhà nước MSCP thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu của chính phủ, dự tính trung bình 10-15% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chiếm 1,5 nghìn tỉ đô la
Mỹ mỗi năm ở các nền kinh tế phát triển.1 Ở các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, mua sắm công thực chất lớn hơn rất nhiều và dự tính có thể bằng 50% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).2 Hiện nay, tự do hóa mua sắm công thuộc phạm vi có hiệu lực của Hiệp định Mua sắm Chính phủ của WTO (GPA), đây là hiệp định nhiều bên áp dụng cho các nước thành viên của WTO chọn tham gia là thành viên của Hiệp định này.3 Hiệp định này hiện đang được đàm phán
và hiệp định tạm thời sẽ được kiểm định về mặt pháp lý và tùy thuộc vào kết quả nhất trí chung
về khía cạnh khác trong đàm phán Hiệp định Mua sắm Chính phủ mới, đó là các đàm phán về
mở rộng phạm vi quy định.4 Số lượng thành viên của Hiệp định này hiện là 41, trong đó 35 thành viên là các nước phát triển và sáu thành viên là nước đang phát triển.5
Tiến độ đàm phán tự do hóa mua sắm đấu thầu tại cấp đa phương hiện nay còn chậm do có hiện tượng chú trọng nhiều hơn vào đàm phán tự do hóa mua sắm đấu thầu trong các hiệp định song phương và khu vực, chủ yếu là các hiệp định tự do thương mại (FTA) Liên minh châu Âu đã tham gia tích cực vào đàm phán các hiệp định song phương theo chiến lược “châu Âu toàn cầu” (2006) Ngoài các lĩnh vực truyền thống như thuế quan, các FTA của EU tập trung vào các ‘lĩnh vực mới’ của thương mại như mua sắm của chính phủ, đầu tư, cạnh tranh và quyền sở hữu trí tuệ
MUTRAP yêu cầu so sánh các điều khoản MSCP trong văn kiện FTA mà EU đã ký kết sau khi khởi xướng chiến lược “châu Âu toàn cầu” Các FTA đã ký kết bao gồm các FTA ký với Hàn Quốc (2011), Châu Mỹ La tinh gồm các nước thuộc Liên minh các quốc gia Nam Mỹ như Peru
& Colombia (2010), Trung Mỹ (2010)6, và CARIFORUM (2008)7 Tất cả các FTA khác hiện
1
Ủy ban châu Âu ‘Báo cáo Hoạt động thị trường mua sắm công ở EU: Lợi ích từ việc áp dụng các Chỉ thị của EU
và Thách thức trong tương lai’ (Brussels, 2004); D Audet ‘Quy mô thị trường mua sắm của Chính phủ’ (2002) Tập
1(4) Tạp chí Ngân sách của OECD 7; Ủy ban châu Âu ‘Tạp chí Thị trường chung’ (1997) Mua sắm Công, số III, tập
2, trang 171–178; S Arrowsmith ‘Mua sắm của Chính phủ trong WTO’ Kluwer Law Int’l (2003) 3, fn 4; A Reich
‘Văn kiện mới trong Hiệp định Mua sắm của Chính phủ: Phân tích và Đánh giá’ (2009) Tạp chí Luật Kinh tế Quốc
tế 12(4), 989–1022
2
Kovacic, W ‘Chính sách Cạnh tranh, Bảo vệ người tiêu dùng và bất lợi kinh tế’ (2007) 25 Trường Đại học
Washington Tạp chí Luật & Chính sách 101
3
Hiệp định về Mua sắm của Chính phủ Hiệp định Marrakesh Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới, Phụ lục 4 Văn kiện hiện tại của GPA (“GPA 1994”) có trên <www.wto.org/english/docs_e/legal_e/gpr-94_01_e.htm> Xem thêm thông tin về Hiệp định trên: <www.wto.org/english/tratop_e/gproc_e/gp_gpa_e.htm>
Trang 132 Phân tích các hệ lụy về mặt pháp lý, kinh doanh và kinh tế của các điều khoản nêu trên cho Việt Nam với giả thuyết là các điều khoản tương tự sẽ được tái xác lập trong FTA dự kiến giữa EU và Việt Nam
3 Đưa ra các khuyến nghị chính sách về cơ chế hợp tác tốt nhất giữa EU và Việt Nam có thể đạt được
Phương pháp luận sử dụng trong báo cáo là phương pháp định tính và các phát hiện, kết luận trong nghiên cứu này chủ yếu đúc rút từ nghiên cứu sơ cấp và thứ cấp Cụ thể, nghiên cứu này được thực hiện để tìm hiểu khuôn khổ mua sắm đấu thầu của Việt Nam và tìm hiểu xem cần sự hỗ trợ nào để xây dựng một khuôn khổ MSCP hiệu quả, nếu FTA được sử dụng như là một phương tiện để tạo một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam mong muốn tham gia mua sắm công ở
EU Chuyên gia có một số cuộc họp với Cục Quản lý Đấu thầu, cơ quan chính phủ đầu mối (thuộc
Bộ Kế hoạch Đầu tư) chịu trách nhiệm về dự thảo pháp luật mua sắm đấu thầu và giám sát các thủ tục mua sắm công ở Việt Nam cũng như các đối tác liên quan khác Nghiên cứu này rà soát các văn bản pháp luật liên quan, văn kiện chính sách và tài liệu về chính sách, các thông lệ mua sắm đấu thầu của Việt Nam được đưa vào báo cáo này
Cấu trúc báo cáo như sau:
Phần 2 trình bày tổng quan về GPA của WTO và ý kiến nhận xét về các điều khoản liên quan trong các hiệp định song phương của EU được ký kết theo chiến lược “châu Âu toàn cầu” Phần này phân tích chi tiết các nghĩa vụ MSCP của các đối tác trong FTA, trình bày điểm tương đồng
và khác biệt cũng như cung cấp thông tin liên quan đến sự tồn tại của các điều khoản cơ bản phổ biến trong tất cả các hiệp định
Phần 3 trình bày kỹ về pháp luật MSCP ở Việt Nam và đưa ra phân tích khuôn khổ mua sắm đấu thầu hiện hành Phần này so sánh FTA của EU với khuôn khổ đấu thầu của Việt Nam, đồng thời đánh giá hệ lụy của việc đưa các điều khoản MSCP trong FTA vào hệ thống pháp luật ở Việt Nam với giả định rằng các điều khoản tương tự sẽ lại được đưa vào hiệp định EU dự kiến với Việt Nam Phân tích định tính các hệ lụy về kinh tế và kinh doanh của các nghĩa vụ đó của Việt Nam, bao gồm chi phí và lợi ích
Phần 4 đưa ra các khuyến nghị về cơ chế hợp tác hiệu quả nhất giữa EU và Việt Nam để đạt mục tiêu chung về tự do hóa công của hai bên Phần này trình bày các cuộc phỏng vấn với các bên liên quan và các đề xuất cải cách trên cơ sở cách tiếp cận theo trụ cột để vạch ra các bước tiếp theo cho Việt Nam nhằm xây dựng một môi trường kinh doanh cạnh tranh và hiệu quả cho tất cả các công ty
Trang 1410
2 So sánh giữa các điều khoản MSCP trong các FTA của EU
2.1 Tổng quan về Hiệp định Mua sắm Chính phủ của WTO
Hiện nay, tự do hóa mua sắm công thuộc Hiệp định về Mua sắm Chính phủ (GPA) của WTO, một hiệp định nhiều bên áp dụng cho các nước thành viên của WTO lựa chọn tham gia Hiệp định này.8 Hiệp định này thiết lập khuôn khổ thống nhất về quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết liên quan đến luật quốc gia, quy định, thủ tục và thông lệ về mua sắm của chính phủ của các bên Hầu hết các bên tham gia GPA là các nước rất phát triển và có rất ít các nước đang phát triển tham gia.9 Không phân biệt đối xử là một nguyên tắc quan trọng của GPA Đối với tất cả các khoản mua sắm được điều chỉnh trong Hiệp định này, các bên ký kết GPA được yêu cầu đối xử đối với các hàng hóa, dịch vụ và các nhà cung cấp của bên ký kết kia của Hiệp định “không kém thuận lợi hơn” so với cách đối xử đối với hàng hóa, dịch vụ và các nhà cung cấp của nước họ.10Ngoài ra, các bên ký kết có thể không phân biệt đối xử đối với hàng hóa, dịch vụ và các nhà cung cấp của các bên ký kết khác.11 Đồng thời, mỗi bên ký kết được yêu cầu đảm bảo rằng các thực thể của họ không đối xử khác biệt các nhà cung ứng trong nước trên cơ sở quyền sở hữu hay tính trực thuộc nước ngoài nhiều hay ít, cũng như đảm bảo rằng các thực thể của họ không phân biệt đối xử đối với các nhà cung cấp nội địa với lý do là hàng hóa hay dịch vụ của các nhà cung cấp nội địa trên được sản xuất trong lãnh thổ của bên ký kết khác.12
Hộp 1 Cấu trúc các biểu phạm vi điều chỉnh của GPA (các Phụ lục của Phụ chương I)
Đối với mỗi bên ký kết, Phụ chương I được chia thành năm Phụ lục quy định các thực thể chính quyền trung ương được điều chỉnh trong Hiệp định; thực thể trực thuộc trung ương; các thực thể được điều chỉnh ‘khác’ (ví dụ các cơ quan cung cấp dịch vụ công); phạm vi điều chỉnh dịch vụ; và phạm vi điều chỉnh các dịch vụ xây lắp Các Phụ lục cũng quy định rõ các ngưỡng giá trị mà nếu vượt ngưỡng đó thì các khoản mua sắm đấu thầu riêng rẽ sẽ chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc trong GPA Ngoài ra, Phụ lục của hầu hết các bên đều có phần Ghi chú chung để việc
áp dụng Hiệp định có đủ hiệu lực Hàng hóa được điều chỉnh nếu được đấu thầu bởi một thực thể trong phạm vi điều chỉnh và không bị loại trừ trong trường hợp đặc biệt Các bên, về nguyên tắc, được tự do lựa chọn phương pháp chung hay phương pháp liệt kê danh mục, và nếu trong trường hợp phương pháp liệt kê theo danh mục, thì các bên
có thể tự do áp dụng phương pháp chọn – cho và phương pháp chọn-bỏ
10
Xem GPA, ghi chú số 3, Điều III: 1(a)
11 Xem GPA, ghi chú số 3, Điều III: 1(b)
12 Xem GPA, ghi chú số 3, Điều III: 2.
13
Xem WTO ‘Tổng quan Nhận thức về GPA’ Xem thêm thông tin
<http://www.wto.org/english/tratop_e/gproc_e/gpa_overview_e.htm>
Trang 1511
Về cơ bản, Hiệp định này không áp dụng đối với tất cả các gói thầu của các Bên, điều này có nghĩa là nghĩa vụ của Hiệp định chỉ áp dụng cho các gói thầu của các thực thể mời thầu mà được mỗi Bên liệt kê trong các Phụ lục thuộc Phụ chương I Phạm vi quy định được xác định trong các phụ lục của Hiệp định theo bốn chỉ số sau: giá trị gói thầu mà chỉ có các hợp đồng vượt ngưỡng nhất định mới nằm trong phạm vi quy định; đặc điểm của cơ quan mời thầu tức là chỉ có những
cơ quan được các Bên liệt kê trong phụ lục; loại hàng hóa và sản phẩm; và, xuất xứ hàng hóa và dịch vụ của những nước trong danh mục nước thành viên của GPA trong phạm vi quy định
Theo GPA, tất cả các Bên thông qua một ngưỡng chung là SDR 130,000 (Quyền Rút vốn Đặc biệt) đối với hàng hóa và dịch vụ của các thực thể thuộc Phụ lục 1 Phần lớn các Bên thông qua các ngưỡng là SDR 200,000 đối với các thực thể thuộc Phụ lục 2 và SDR 400,000 đối với các thực thể thuộc Phụ lục 3 mặc dù có nhiều mức áp dụng khác Đối với dịch vụ xây lắp, phần lớn các Bên thông qua ngưỡng SDR 5,000,000, khá cao so với hàng hóa và dịch vụ Tất cả hàng hóa đấu thầu vượt ngưỡng quy định đều được điều chỉnh trong GPA, trừ phi một Bên được đảm bảo ngoại trừ trong quá trình đàm phán Hiệp định này Những ngưỡng trên khác nhau khá nhiều giữa các nước trong các hiệp định song phương với ngưỡng thường là cao hơn được áp dụng cho các nước không tham gia GPA
2.2 Tổng quan các FTA của EU
Bảng 1 tóm tắt các điều khoản đấu thầu trong các hiệp định khu vực còn hiệu lực giữa EU và các nước khác
08/11 Tự do hóa thị trường
đấu thầu khu vực WTO +
EU-Mỹ Latinh Hiệp định Hợp tác15 10/1 Mở cửa thị trường
MSCP hiệu quả và trên
cơ sở có đi có lại của các bên ký kết
WTO +
EU-Trung Mỹ Hiệp định Hợp tác 16 10/5 Mở cửa dần các thị
trường mua sắm đấu thầu liên quan một cách hiệu quả, trên cơ sở có
15
Hiệp định Hợp tác này gồm ba trụ cột: đối thoại chính trị, các chương trình hợp tác phát triển và một FTA Hiệp định thương mại này đem lại tự do hóa hàng hóa và dịch vụ tiệm tiến và trên cơ sở có đi có lại thông qua FTA phù hợp với các quy tắc và nghĩa vụ của WTO, và xây dựng các nguyên tắc chung trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến thương mại
16 Nt
Trang 1612
Phân tích các hiệp định đã ký kết cho thấy rằng trong hầu hết các trường hợp, các điều khoản FTA rất phù hợp với văn kiện GPA sửa đổi, cụ thể là các hiệp định EUCA và EULA rất tương tự với các cam kết GPA Các hiệp định có các cam kết kiểu GPA được phân loại là các điều khoản WTO- cộng (Bảng 1) Các hiệp định đó chủ yếu có tính cầu tiến, nhằm tự do hóa dần thông qua đối xử quốc gia và/hoặc không phân biệt đối xử, công bố pháp luật trên mạng internet, và quy định rõ các chế độ đấu thầu.17
Tuy nhiên, nội dung của các cam kết và phạm vi điều chỉnh khác nhau giữa các hiệp định tùy thuộc số lượng các yếu tố, bao gồm trình độ phát triển của các đối tác và các ngành mà có thể hiệp định sẽ tạo ra thách thức cạnh tranh.18 Tuy nhiên, FTA giữa EU-Hàn Quốc, gồm những điều khoản WTO bổ sung Những cam kết này bổ sung thêm cho những cam kết của Hàn Quốc trong GPA và bao gồm các nghĩa vụ xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT) mà hiện chưa được điều chỉnh trong GPA của WTO.19
2.2.1 Các cam kết về phạm vi quy định và thực thể
Phần này mô tả các điều khoản MSCP trong các FTA của EU, thảo luận các điều khoản này trong mối quan hệ với GPA của WTO, tập trung cụ thể vào các hiệp định đã được EU ký kết sau khi khởi xướng chiến lược “châu Âu toàn cầu” Bảng 2 trình bày tổng quan các cam kết về phạm
vi điều chỉnh của các Bên và đưa ra nhận xét về các điều khoản MSCP
Bảng 2: Tổng quan về các thực thể và mua sắm đấu thầu được điều chỉnh trong các FTA của EU
Hiệp định Phạm vi quy định hàng hóa và dịch vụ Phạm vi quy định các thực thể BOT Ưu đãi
Hàng hóa
Dịch vụ Dịch vụ xây
lắp quyền trung Chính
ương
Chính quyền trực thuộc trung ương
Thực thể khác
* Sửa đổi theo tham vấn với các bên
Đánh giá các hiệp định giữa EU- Hàn Quốc, EU- Mỹ Latinh, EU- Trung Mỹ và EUCAR cho thấy các cam kết về phạm vi quy định được nêu chi tiết và các ngoại lệ được liệt kê trong văn kiện Phạm vi quy định các thực thể, tất cả các FTA, ngoại trừ EUCAR, gồm chính quyền trung ương, cơ quan trực thuộc trung ương và các thực thể khác Trong hiệp định EU- Hàn Quốc, mà
cả EU và Hàn Quốc đều là thành viên của GPA, danh sách các thực thể được quy định trong FTA toàn diện và phạm vi của các cam kết song phương tương đương với các nghĩa vụ trong GPA của WTO Theo FTA giữa EU và Hàn Quốc, phạm vi quy định thậm chí còn không chỉ
20 FTA giữa EU và Hàn Quốc, Phụ lục 9
Trang 1713
dừng lại ở dịch vụ xây lắp, dịch vụ và hàng hóa thông thường, mà bao gồm các chính quyền địa phương ở thành phố Seoul, Busan, Incheon và Gyonggi-do theo cam kết BOT.21
Phạm vi quy định: Về các hiệp định EUCAR, EULA và EUCA, không nước đối tác nào là
thành viên của GPA Phạm vi hàng hóa, dịch vụ và dịch vụ xây lắp cũng như các thực thể được nêu trong các Phụ lục của Hiệp định Phạm vi được EU thông báo lên WTO với tư cách là bên ký kết của GPA được áp dụng Phạm vi hàng hóa và dịch vụ của các nước đối tác FTA trong các hiệp định EUCAR, EULA và EUCA tuân theo khuôn khổ phạm vi liệt kê trong GPA của WTO Phương pháp liệt kê các thực thể được điều chỉnh phù hợp với GPA, danh mục có tính toàn diện và nêu chi tiết hàng hóa và dịch vụ của những thực thể cụ thể này theo phương pháp liệt kê chọn cho Nhưng dịch vụ của các thực thể này được liệt kê theo phương pháp chọn bỏ Đặc điểm đặc thù của hiệp định EULA, không thấy trong các hiệp định được xem xét khác, là chia nhỏ các danh sách trên thành danh sách A và B (trong trường hợp với Panama có cả danh sách C) đối với phụ lục 3, phụ lục về các thực thể khác được áp nhiều ngưỡng giá trị khác nhau Ngoài ra, trong cùng một hiệp định, EU cũng chia nhỏ các thực thể của mình trong Phụ lục 2 thành các bên ký kết hợp đồng địa phương/khu vực và các cơ quan được điều chỉnh theo luật công – một đặc thù khác so với các hiệp định khác đang được phân tích
Ngưỡng giá trị: tìm hiểu chung cho thấy các FTA trong nghiên cứu áp dụng các cách đa dạng để
xác định các giá trị này Điều quan trọng cần lưu ý là trong phụ lục của các hiệp định trên thực
tế, các ngưỡng giá trị được nêu chi tiết trong các tiêu đề khác nhau tùy theo các hiệp định khác nhau, ví dụ nội dung trong Phụ lục 1 của hiệp định EUKOR được liệt kê trong một phần nhỏ của hiệp định EUCA
Trong Phụ lục 1, trong trung hạn đến dài hạn, tất cả các bên cam kết tuân theo các ngưỡng giá trị của GPA ngoại trừ trường hợp CARIFORUM xác định ngưỡng giá trị cao hơn nhằm đảm bảo điều chỉnh cả các hợp đồng quan trọng về mặt kinh tế, đồng thời giảm thiểu chi phí tuân thủ bằng việc loại trừ nhiều hợp đồng giá trị nhỏ hơn gây mất nhiều thời gian và chi phí để tuân thủ các chi tiết thủ tục Tuy nhiên, phải lưu ý rằng cho đến thời gian ngay sau khi thực thi hiệp định, theo hiệp định EUCA, các nước El Salvador, Guatemala, Nicaragua và Honduras đề nghị hạ từ ngưỡng giá trị cao hơn xuống ngưỡng giá trị GPA trong các giai đoạn nhất định
Trong Phụ lục 2, hiệp định EUCA gồm một ngưỡng giá trị cao hơn ngưỡng giá trị của GPA ngoại trừ các cơ quan EU được điều chỉnh theo luật công có ngưỡng giá trị là SDR 200,000 (Quyền Rút vốn Đặc biệt) Hiệp định EULA một lần nữa tuân theo ngưỡng giá trị phổ biến của GPA dành cho chính quyền trực thuộc cấp trung ương
Phụ lục 3 cho thấy các ngưỡng giá trị GPA ngày càng được tuân thủ Điều này đặc biệt phù hợp với hiệp định EUCA trong phần dịch vụ xây lắp khi ngưỡng dịch vụ được chia thành hai hạng mục, điều này có nghĩa là ngưỡng giá trị áp dụng cho một thực thể phụ thuộc vào việc thực thể
đó nằm trong danh mục nào Phân tích ngưỡng cho thấy Danh sách A và B của tất cả các nước (tính đến yếu tố lạm phát) được liệt kê theo cách thức là Danh sách B phù hợp với ngưỡng giá trị của GPA đối với hàng hóa và dịch vụ còn Danh sách A chỉ áp dụng một nửa ngưỡng giá trị của GPA.22 Tuy vậy, các nước như Guatemala tận dụng phương pháp cho phép họ dần tiến tới giá trị của GPA Theo hiệp định EUKOR (EU với Hàn Quốc) đã tăng ngưỡng đấu thầu dịch vụ xây lắp lên SDR 15,000,000 Một vấn đề nên lưu ý rằng EU chỉ cam kết duy trì các ngưỡng giá trị phù hợp với GPA
21
Nt Điều 9: 2 của hiệp định nêu, ‘Mua sắm trong chương này sẽ là tất cả mua sắm trong các Phụ lục của mỗi Bên
ký kết GPA 1994 và bất kỳ ghi chú nào kèm theo, bao gồm sửa đổi và thay thế’
22 Trong trường hợp Panama, bao gồm A, B và C
Trang 1814
2.2.2 Các cam kết về đấu thầu
Một đặc điểm chung của tất cả các hiệp định này là nếu Bên kia không phải là bên ký kết GPA, thì sẽ chú trọng vào các thủ tục đấu thầu Trong bối cảnh các hiệp định được phân tích, các thủ tục này nhằm đảm bảo mở cửa cho phép tiếp cận gói thầu và tạo cơ hội công bằng cho tất cả các nhà cung ứng trong nước cũng như của EU, và các nhà cung ứng cạnh tranh tham gia các hợp đồng của chính phủ Trước khi thực hiện quy trình đấu thầu trên thực tế, các nước đối tác được yêu cầu công bố mời tham gia với hình thức là thông báo mời thầu trên một ấn phẩm mà công chúng có thể tiếp cận như quy định trong văn kiện FTA Mục đích của biện pháp này là thông tin cho tất cả các nhà cung cấp quan tâm về cơ hội đấu thầu và các nghi vấn liên quan đến đấu thầu Đối với các hiệp định EULA, EUCA và EU-CARIFORUM, Chương về mua sắm công quy định các hướng dẫn sâu rộng về một loạt các vấn đề như quy định công bố thông báo mời thầu bao gồm thông tin về lịch đấu thầu đã lên kế hoạch và dự định cũng như thủ tục đấu thầu Bên mời thầu cung cấp tất cả thông tin cần thiết liên quan đến gói thầu để tạo điều kiện cho các nhà cung cấp tiềm năng nộp hồ sơ dự thầu đáp ứng đúng yêu cầu, bao gồm thông tin cần được công bố trong thông báo mời thầu và các thông tin quan trọng khác, ví dụ các yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật Ví dụ, trong hiệp định EUCA, có các hướng dẫn chi tiết về công bố điều kiện dự thầu, tính chất thầu, năng lực của nhà cung cấp, chỉ dẫn kỹ thuật và các tiêu chí trao thầu.23 Về cơ bản, các hướng dẫn chi tiết về năng lực của nhà cung cấp chủ yếu nhằm tránh bất kỳ phân biệt đối xử nào giữa nhà cung cấp trong nước và nước ngoài Không chỉ là tránh phân biệt đối xử căn cứ vào xuất xứ địa lý của nhà cung cấp mà cả đặc điểm kỹ thuật như trong hiệp định EUCA:
“Khi mô tả đặc điểm kỹ thuật của hàng hóa và dịch vụ được đấu thầu, Bên mời thầu khi phù hợp, sẽ:
a) Xác định đặc điểm kỹ thuật liên quan đến các yêu cầu về hiệu suất và vận hành, chứ không phải đặc điểm thiết kế hay mô tả; và
b) Các đặc điểm kỹ thuật dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế, nếu có; nếu không thì trên
cơ sở các quy định kỹ thuật quốc gia, các tiêu chuẩn quốc gia được công nhận hoặc xây dựng các quy tắc.”24
Ví dụ khác là hiệp định EU-CARIFORUM quy định “bên mời thầu sẽ đảm bảo các đặc điểm kỹ thuật đã hay dự định áp dụng [ ] được nêu trong thông báo, hồ sơ mời thầu”.25 Trên hết, các hiệp định này cũng đưa ra các hướng dẫn khá chi tiết cho các bên mời thầu của các Bên ký kết để thực hiện đấu thầu thông qua đàm phán trong trường hợp ý định đàm phán đã được nêu trước đó trong thông báo mời thầu và các điều khoản quy định trong các hiệp định này.26
FTA của EUKOR tái khẳng định các cam kết về thủ tục đấu thầu trong điều 9 (1) là: “Đối với tất
cả các mua sắm được điều chỉnh trong chương này, các Bên sẽ áp dụng văn kiện GPA sửa đổi đã thống nhất”
Bảng 3 quy định chi tiết cam kết của các đối tác FTA
Trang 1915
Bảng 3: Các cam kết đấu thầu trong FTAs
Năng lực nhà cung cấp
Phương pháp đấu thầu
27
Thời hạn Kiến nghị,
khiếu nại trong đấu thầu
Giải quyết tranh chấp
Minh bạch Mua sắm qua
Một ví dụ khác về năng lực của nhà cung cấp trong FTA của EULA là trong Điều 180 gồm nghĩa vụ rất phù hợp với văn kiện GPA sửa đổi dưới đây
“1 Bên mời thầu duy trì một danh sách sử dụng nhiều lần về các nhà cung cấp, với điều kiện là một thông báo mời các nhà cung cấp quan tâm đăng ký để được vào danh sách được công bố hàng năm, và khi công bố bằng phương tiện điện tử, thì phải được liên tục đăng trên phương tiện có sẵn phù hợp liệt kê trong Phụ chương III Một thông báo như trên sẽ bao gồm thông tin theo quy định tại Phụ chương V
2 Dù đoạn 1, trong trường hợp danh sách sử dụng nhiều lần có hiệu lực trong ba năm hay ít hơn, bên mời thầu có thể công bố một thông báo đề cập trong đoạn trên chỉ một lần, khi bắt đầu danh sách trên có hiệu lực, với điều kiện là thông báo trên nêu thời hạn
có hiệu lực và không có thêm thông báo nào được công bố nữa
3 Bên mời thầu sẽ cho phép các nhà cung cấp đăng ký vào bất kỳ thời điểm nào để được tham gia vào danh sách sử dụng nhiều lần và sẽ đưa vào danh sách tất cả các nhà cung cấp đủ điều kiện trong khoảng thời gian ngắn hợp lý”
2.2.2.2 Các hình thức đấu thầu
Các hình thức đấu thầu chính được các nước đối tác cam kết trong các hiệp định là đấu thầu rộng rãi, chọn lọc và hạn chế Liên quan đến hình thức đấu thầu, các điều kiện đấu thầu phù hợp với văn kiện GPA sửa đổi
Theo thủ tục đấu thầu rộng rãi, tất cả các nhà cung cấp quan tâm có thể nộp hồ sơ dự thầu Theo thủ tục đấu thầu chọn lọc chỉ những nhà thầu nào được bên mời thầu mời mới có thể nộp
hồ sơ dự thầu Văn kiện quy định rằng bất cứ nhà cung cấp nào đáp ứng điều kiện phải được công nhận là nhà cung cấp “trừ phi bên mời thầu nêu trong thông báo về đấu thầu dự kiến bất cứ
27 Các phương thức đấu thầu rộng rãi, chọn lọc và hạn chế
28 Chi tiết hướng dẫn trong phần III của Hiệp định EUCARIFORUM
29 Chi tiết hướng dẫn – Mục X
30 Hiệp định hợp tác EUCA, Mục 12
31 Chi tiết hướng dẫn – Mục XII, EULA FTA
32 EULA FTA, Mục X
33 EUKOR FTA, Chương 14 và Phụ lục 14
34 Hiệp định EUCA, Điều 215: 4
Trang 2016
hạn chế nào về số lượng nhà cung cấp được phép đấu thầu và tiêu chí lựa chọn số lượng hạn chế các nhà cung cấp’ Liên quan đến vấn đề này, Điều V 3 (a) trong GPA: đề cập cụ thể rằng các nhà cung cấp phải thỏa mãn các yêu cầu nhất định do cơ quan mời thầu đưa ra và ‘các thủ tục mà theo đó [ ] các nhà cung cấp được bên mời thầu mời có thể nộp hồ sơ’ Ngoài ra, Văn kiện cũng quy định các bên mời thầu phải mời các nhà thầu trong số lượng nhiều nhất các nhà cung cấp và luôn duy trì một danh sách các nhà cung cấp đạt điều kiện.35
Về đấu thầu hạn chế, văn kiện của các hiệp định tuân theo văn kiện GPA sửa đổi và cho phép
sử dụng đấu thầu hạn chế chỉ trong các trường hợp đặc biệt để không hạn chế cạnh tranh Một ví
dụ là Điều 220 của FTA của EUCA trình bày điểm này bằng ngôn từ chuẩn nhất:
“Miễn là thủ tục đấu thầu không dùng để lẩn tránh cạnh tranh hoặc để bảo vệ các nhà cung cấp trong nước, bên mời thầu có thể trao hợp đồng thông qua đấu thầu hạn chế hoặc các thủ tục đấu thầu tương đương khác trong các trường hợp sau đây:
(a) trong trường hợp,
(i) không hồ sơ dự thầu nào được nộp, hoặc không có nhà cung cấp nào tham
không được sửa đổi nhiều.”
Đàm phán: Các văn kiện FTA cho phép các thực thể tổ chức đàm phán với các nhà cung cấp dự
thầu, miễn là trong thông báo mời thầu ban đầu hay đánh giá thầu cho thấy có thể tổ chức đàm phán Đánh giá với trách nhiệm cao nhất nên được tuân thủ để không nhà thầu nào có lợi thế nhất và tuân theo các biện pháp phòng ngừa nhằm đảm bảo các đàm phán đó không phân biệt đối
xử giữa các nhà cung cấp Như nêu trong hiệp định EUCA trong điều 219: 2:
“Bên mời thầu sẽ:
a) Đảm bảo rằng việc loại bỏ nhà cung cấp tham gia đàm phán được thực hiện tuân
theo các tiêu chí đánh giá nêu trong thông báo hoặc hồ sơ mời thầu; và b) Nếu đàm phán kết thúc, đưa ra một thời hạn chung cho các nhà cung cấp còn lại
để nộp bất cứ hồ sơ dự thầu mới hay sửa đổi nào.”
2.2.2.3 Thời hạn
Văn kiện GPA sửa đổi quy định rằng “Bên mời thầu sẽ, theo nhu cầu hợp lý của mình, cho các nhà cung cấp đủ thời gian để chuẩn bị và trình yêu cầu tham gia và các hồ sơ dự thầu đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu ” 36 Cũng theo mạch này, các văn kiện FTA như EUCA quy định các điều khoản cho phép nhà cung cấp nước ngoài đủ thời gian để chuẩn bị và nộp hồ sơ dự thầu để tham gia đấu thầu.37 Một ví dụ khác là EULA FTA liệt kê các quy tắc chi tiết về thời hạn trong Phụ lục 6 của Phụ lục XII quy định chi tiết về thời gian nộp yêu cầu tham dự trong trường hợp đấu thầu chọn lọc, nếu sử dụng danh sách các nhà cung cấp, giảm thời hạn trong các trường hợp đặc biệt, và giảm thời hạn trong trường hợp đấu thầu điện tử
35 Văn kiện GPA sửa đổi, ghi chú số 4, Điều XIII
36 Văn kiện GPA sửa đổi, ghi chú 4, Điều XI
37 Hiệp định EUCA, Điều 177 – 187
Trang 2117
2.2.2.4 Các tiêu chí trao thầu
Chỉ có hồ sơ dự thầu tuân thủ các yêu cầu thiết yếu trong thông báo mời thầu hay hồ sơ mời thầu
và là của nhà thầu tuân thủ với các điều kiện tham gia thì có thể được xem xét trao thầu Các văn kiện FTA đề cập cụ thể là các bên mời thầu có nghĩa vụ trao thầu cho nhà thầu được xác định là
có đầy đủ năng lực thực hiện hợp đồng và có hồ sơ dự thầu chi phí thấp nhất hoặc hồ sơ dự thầu được xác định là lợi thế nhất Các quy định trên phù hợp với văn kiện GPA sửa đổi,38 về các tiêu chí đánh giá cụ thể nêu trong thông báo hay hồ sơ mời thầu
2.2.3 Chế tài pháp luật
Quy trình rà soát trong nước và giải quyết tranh chấp được đưa từ văn kiện GPA và GPA sửa đổi vào FTA
2.2.3.1 Giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu và rà soát trong nước
Tất cả các FTA quy định thủ tục rà soát không phân biệt đối xử, và toàn diện nhằm tạo điều kiện cho các nhà cung cấp được giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu trong trường hợp vi phạm luật lệ Mức độ quy định khác nhau giữa các hiệp định khác nhau Tất cả các FTA không
có ngoại lệ nào quy định về việc thành lập một cơ quan quản lý công bằng vô tư để rà soát kiến nghị, khiếu nại các gói thầu
Cụ thể, các hiệp định EUCA và EULA quy định chi tiết và cung cấp thông tin về các hình thức giải quyết kiến nghị, khiếu nại trong đấu thầu.39 Mặt khác, EU-CARIFORUM khá mơ hồ và không quy định thời hạn chính xác nộp kiến nghị, khiếu nại và các điều khoản liên quan quy định: ‘[ ] khi cơ sở kiến nghị, khiếu nại được làm rõ và hợp lý thì có thể trở thành nhà cung cấp’ 40 Ngoài ra, hiệp định không quy định các biện pháp cụ thể phải thực hiện để sửa chữa các
vi phạm và bồi thường cho bên bị vi phạm.41
2.2.3.2 Giải quyết tranh chấp
Tất cả các FTA, không có ngoại lệ, đều có các điều khoản về giải quyết tranh chấp để xử lý các tranh chấp phát sinh giữa các bên trong các chương riêng (Mục X trong hiệp định EUCA; Mục XII như là một chương tự đặt tiêu đề và Mục VI trong EULA; chương 14 và Phụ lục 14 trong EUKOR)
Trong FTA của EUKOR, Chương 14 và Phụ lục 14 trình bày phạm vi mở rộng và đi sâu vào chi tiết với mục tiêu nhằm phòng tránh và giải quyết bất cứ tranh chấp nào giữa các Bên, áp dụng tinh thần hợp tác của Hiệp định này và nếu có thể đi đến một giải pháp mà các bên đều nhất trí.42 Vấn đề về xử lý tố tụng trọng tài và hiệp định EUCA đã đạt được quy định này khi có các điều khoản chi tiết về các biện pháp chế tài tạm thời 43
38 Văn kiện GPA sửa đổi, ghi chú 4, Điều VIII: 1
39 Hiệp định EULA, Điều 190; Hiệp định EUCA, Điều 225
40 EU-CARIFORUM EPA Điều 179
41 Nt, Điều 179 : 4
42 EUKOR FTA, Điều 14 : 1
43 Hiệp định EUCA , Điều 317
Trang 2218
Tương tự, hiệp định EUCA quy định giải quyết tranh chấp trong Mục XII một cách ngắn gọn nhưng lại quy định vấn đề này trong một phần mở rộng trong Mục X của hiệp định, dựa trên phương thức giải quyết tranh chấp nhằm tránh giải quyết bất cứ tranh chấp giữa các bên về cách diễn giải hay áp dụng phần 4 của Hiệp định này.44
Hiệp định Đối tác kinh tế (EPA) giữa EU-CARIFORUM quy định hướng dẫn giải quyết tranh chấp trong phần III của Hiệp định.45 Cơ chế giải quyết tranh chấp áp dụng đối với bất cứ tranh chấp nào liên quan đến cách diễn giải và áp dụng EPA.46 Các điều khoản liệt kê chi tiết hướng dẫn các hình thức đệ trình yêu cầu tham vấn sau khi thành lập ban trọng tài và thủ tục trong trường hợp tranh chấp không được giải quyết hay phán quyết không được tuân thủ.47
Phân tích hiệp định EU-CARIFORUM cho thấy tính hiệu lực của các điều khoản bị suy giảm do khuôn khổ kiến nghị, khiếu nại thầu yếu và không rõ ràng.48
2.2.4 Các cam kết bổ sung
2.2.4.1 Mua sắm qua mạng
Tất cả các FTAs, ngoại trừ hiệp định EU-CARIFORUM, đề cập cụ thể đến mua sắm qua mạng
và đấu thầu qua mạng Ví dụ, hiệp định EUCA đặc biệt nhấn mạnh sử dụng đấu thầu mua sắm
qua mạng: “ thực thể sẽ cung cấp cho mỗi bên tham gia phương pháp đánh giá tự động dựa trên tiêu chí nêu trong hồ sơ mời thầu, kết quả đánh giá ban đầu bất cứ yếu tố nào của hồ sơ dự thầu trong trường hợp hợp đồng được trao trên cơ sở hồ sơ dự thầu lợi thế nhất và bất cứ thông tin liên quan khác trước khi bắt đầu đấu thầu.” 49
2.2.4.2 Minh bạch
Các điều khoản về minh bạch phù hợp với văn kiện GPA sửa đổi Các FTA của EU yêu cầu các bên thực hiện cam kết liên quan đến tất cả các thủ tục, quy định và luật đấu thầu, minh bạch thông tin đấu thầu và rà soát tư pháp Tất cả FTA đều chú trọng cung cấp thông tin cho các nhà cung cấp về quyết định trao thầu và nếu được yêu cầu, sẽ cung cấp cho các nhà cung cấp không trúng thầu lý do không được chọn và công bố thông tin liên quan đến thông báo mời thầu Một trường hợp ngoại lệ cấm cung cấp thông tin cho bên mời thầu là khi thông tin đó làm phương hại đến cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà cung cấp Ví dụ về cách xử lý toàn diện nhất trong hiệp định EUCA về minh bạch là trong Mục 5 (Mua sắm của Chính phủ) và trong một chương riêng dành hoàn toàn cho minh bạch (Mục 12)
2.2.4.3 Hỗ trợ kỹ thuật
Các hiệp định EULA và EUKOR cung cấp hỗ trợ kỹ thuật Các hiệp định này yêu cầu ‘Các Bên
sẽ thiết lập TC để họp một lần trong năm hoặc bất cứ lúc nào khi có yêu cầu bằng văn bản và mỗi bên sẽ luân phiên chủ trì các cuộc họp’ Hiệp định EU-CARIFORUM quy định trao đổi kỹ thuật, thiết lập các hệ thống phù hợp để đảm bảo tuân thủ và xây dựng một phương tiện trực
44 Hiệp định EUCA , Điều 308
45 EU-CARIFORUM EPA, Điều 202
46 Nt, Điều 203 : 1
47 Nt, Điều 209-221
48
K Dawar và S Evenett ‘Nghiên cứu tình huống về chủ nghĩa khu vực: Đối tác Kinh tế EC-CARFORUM’ trong
S Arrowsmith và Robert D Anderson (eds.) Cơ chế của WTO về Mua sắm của Chính phủ: Thách thức và Cải cách
(Cambridge University Press 2011) Chương 21
49 Hiệp định EUCA , Điều 221
Trang 2319
tuyến tại cấp khu vực, chỉ là giả định là ở cấp khu vực, mặc dù chưa rõ ràng.50 Các nghiên cứu cho thấy việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật còn hơi yếu trong hiệp định được cho là có tinh thần hỗ trợ phát triển.51
2.2.4.4 Hỗ trợ tổ chức
Ủy ban Thương mại và Phát triển CARIFORUM được yêu cầu rà soát việc thực hiện các điều khoản về đấu thầu sau ba năm và đưa ra khuyến nghị cho Ủy ban Liên hợp.52 Hiệp định EUKOR thiết lập tổ công tác về trao đổi thông tin và giám sát việc thực thi chương MSCP.53 Hiệp định EUCA đề cập cụ thể “[ ] thúc đẩy hợp tác lẫn nhau và các sáng kiến hỗ trợ kỹ thuật về các vấn
đề liên quan đến Mua sắm của Chính phủ”.54
3 Hệ lụy của tự do hóa MSCP ở Việt Nam thông qua FTA với EU
3.1 Tổng giá trị mua sắm công
Năm 2010, tổng giá trị mua sắm công ước tính 334,097 tỉ VND (23,05 triệu USD), 22% GDP của Việt Nam.55 Bảng 1 liệt kê các chỉ số kinh tế của Việt Nam, tổng giá trị mua sắm MSCP tính theo phần trăm GDP và tổng số hợp đồng được trao trong giai đoạn 2007-2010
Bảng 4: Tổng quan về Mua sắm của Chính phủ Việt Nam (2007-10)
Tổng sản phẩm quốc nội
(US$ tỉ)
K Dawar và S Evenett ‘Nghiên cứu tình huống về chủ nghĩa khu vực: Đối tác Kinh tế EC-CARFORUM’ trong
S Arrowsmith và Robert D Anderson (eds.) Cơ chế của WTO về Mua sắm của Chính phủ: Thách thức và Cải cách
(Cambridge University Press 2011) Chương 21 (chú thích 45)
52 Hiệp định EU-CARIFORUM , Điều 182
53 Hiệp định EUKOR, Điều 9: 3
54
Hiệp định EUCA , Điều 227 and Điều 58, Mục VI (Phát triển Kinh tế và Thương mại) của Phần III, Hiệp định EUCA
55
Bộ KHĐT ‘Báo cáo hàng năm về Mua sắm công của Việt Nam’ (2007 – 2010)
Con số trong bảng được chuyển đổi theo tỷ giá US$1 = VND 19,495 ngày 31 tháng 12 năm 2010, theo Tỷ giá ngoại
tệ của Ngân hàng Vietcombank
Trang 2420
Nguồn: Báo cáo thường niên về Mua sắm công của Việt Nam, Bộ Kế hoạch Đầu tư, 2007 - 2010
Tổng giá trị mua sắm công của Việt Nam tăng gấp ba lần, từ gần 9% lên đến 22% GDP trong giai đoạn 2007-2010 Tổng giá trị hợp đồng được trao cũng cho thấy sự gia tăng đáng kể, từ 90 tỉ VND lên đến 334 tỉ VND trong giai đoạn này Với tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng của Việt Nam và tỷ trọng mua sắm công cũng tăng, rõ ràng tự do hóa thị trường đấu thầu của Việt Nam đầy triển vọng
3.2 Khuôn khổ pháp lý về Mua sắm Chính phủ của Việt Nam
Luật Đầu thầu ban hành năm 2005, là pháp luật cơ bản, cốt lõi.61 Luật quy định tất cả các hoạt động đấu thầu ở Việt Nam và nhằm mục đích đem lại tính minh bạch trong các thủ tục đấu thầu; hướng dẫn về phân cấp trong việc ra quyết định đấu thầu cho các bộ, ngành và chính quyền địa phương; quy trình phúc thẩm; và các điều khoản thực thi MSCP ở Việt Nam bao gồm mua sắm của các bộ thuộc trung ương (18), cơ quan cấp bộ (4), Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, chính quyền cấp tỉnh, còn gọi là Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân (63), DNNN62, các tổ chức chính trị xã hội, và lực lượng quân đội nhân dân.63 Cục Quản lý Đấu thầu trực thuộc
Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chính phủ hàng đầu chịu trách nhiệm dự thảo luật, nghị định
và thông tư bổ sung hướng dẫn cho Luật Đấu thầu và cung cấp thông tin cho các thực thể thuộc phạm vi điều chỉnh Chính phủ cũng ban hành Nghị định ‘Hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng’.64 Điều 68 Luật Đấu thầu quy định các nhà đầu
tư xây dựng – kinh doanh – chuyển giao65
(BOT), xây dựng – chuyển giao – kinh doanh66 (BTO)
và xây dựng – chuyển giao67 (BT) Luật pháp về đấu thầu bổ sung liên quan bao gồm các Nghị định và Thông tư được các Bộ Kế hoạch và Đầu tư68
; Bộ Tài chính69; Bộ Xây dựng70; Xăng
61
Xem Luật số 61 /2005/QH11 do Quốc hội nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành vào Khóa XI, phiên thứ 8
(sau đây gọi là Luật Đấu thầu 2005).
62
DNNN được định nghĩa là ‘doanh nghiệp có 50% tổng số vốn do Nhà nước sở hữu’ Xem Luật số 60/2005/QH11
do Quốc hội nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành vào Khóa XI, phiên thứ 8, gọi là Luật Doanh nghiệp 2005, Điều 4: 22
63 Xem Luật Đấu thầu, chú thích 61, Điều 1
64
Nghị định 85/2009/ND-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 “Hướng dẫn thi hành luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu
xây dựng theo Luật Xây dựng”
65
Hợp đồng BOT (Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao) là hợp đồng được ký kết giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư xây dựng và kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; khi thời hạn hết, nhà đầu tư sẽ chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam Xem Nghị định 108/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 11, năm 2009, Điều 2: 1.
66
Hợp đồng BTO (Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh) là hợp đồng được ký kết giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận Xem Nghị định 108/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2009, của Chính phủ về ‘đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO) và Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT)’ Điều 2: 2.
67
Hợp đồng BT (Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao) là hợp đồng được ký kết giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình
đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện Dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và
lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong Hợp đồng BT Nt, Điều 2: 3; Nghị định
24/2011/NĐ-CP sửa đổi một số điều trong Nghị định 108/2009/NĐ-CP; Thông tư 03/2011/TT-BKH ngày 27 tháng
1 năm 2011 hướng dẫn Nghị định 108/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2009.