BÁO CÁO PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC ĐIỀU KHOẢN VỀ CẠNH TRANH TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU EU ĐỐI VỚI VIỆT NAM MÃ HOẠT ĐỘNG: FTA- 7C Nhóm chuyên gia: Je
Trang 1
BÁO CÁO
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC ĐIỀU KHOẢN VỀ CẠNH TRANH
TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) ĐỐI VỚI VIỆT NAM
MÃ HOẠT ĐỘNG: FTA- 7C
Nhóm chuyên gia: Jean-Francois Bellis
Lê Triệu Dũng Nguyễn Anh Thư
Hà Nội, 11/2011
Báo cáo này được xây dựng với sự hỗ trợ tài chính của Liên minh châu Âu Quan điểm trong báo cáo là của các tác giả, không phải là ý kiến chính thức của Liên minh châu Âu hay của Bộ Công Thương
Trang 3MỤC LỤC
1 Lời nói đầu 5
2 Cách tiếp cận của EU đối với vấn đề cạnh tranh trong các FTA 5
3 Các điều khoản về cạnh tranh trong các FTA của EU cho đến nay 6
4 Luật cạnh tranh của Việt Nam và các cơ quan thực thi 8
5 Khuyến nghị đối với việc đàm phán quy định cạnh tranh trong FTA giữa EU và Việt Nam 12
Trang 55
1 Lời nói đầu
Mục đích của báo cáo là nhằm phân tích tác động của các điều khoản về cạnh tranh trong các Hiệp định FTA (Hiệp định thương mại tự do) của EU đối với Việt Nam kể từ sau “Chiến lược châu Âu toàn cầu” Báo cáo dựa vào phân tích các điều khoản về cạnh tranh trong các FTA của
EU cho đến nay, cũng như những kết quả thu được trong chuyến công tác 2 tuần đầu tháng 8 năm 2011 tại Hà Nội
2 Cách tiếp cận của EU đối với vấn đề cạnh tranh trong các FTA
Nhìn chung, EU ủng hộ mạnh mẽ các quy tắc về cạnh tranh trong WTO Việc tập trung vào vấn
đề cạnh tranh trong thương mại quốc tế như vậy được phản ánh phần nào qua cấu trúc các Hiệp định EC đã ký (đều có điều khoản về cạnh tranh) Sau Hội nghị Bộ trưởng Singapore năm 1996,
EU đã tìm cách thuyết phục các thành viên WTO chấp thuận các nguyên tắc cơ bản về cạnh tranh như tính minh bạch, không phân biệt đối xử, và công bằng về thủ tục, cũng như việc cấm các tập đoàn lũng đoạn độc quyền Tuy nhiên, những nỗ lực để đạt được một thỏa thuận đa phương về chính sách cạnh tranh đã không thành công Mặc dù mối quan hệ giữa thương mại và chính sách cạnh tranh đã được đưa vào chương trình làm việc của Vòng đàm phán Đôha tại Hội nghị Bộ trưởng Đôha năm 2001, tháng 7 năm 2004, Đại hội đồng lại quyết định là mối quan hệ này sẽ không còn là một phần của Chương trình làm việc đó và cũng sẽ có việc đàm phán nội dung này trong vòng đàm phán Đôha
Mặc dù các nước phát triển, đặc biệt là EU với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và Nhật Bản, đã tích cực tìm cách đưa những nguyên tắc đa phương về cạnh tranh vào WTO, nhưng hầu hết các nước đang phát triển cho đến nay đều không cho đó là cần thiết Một số quốc gia đang phát triển vốn không có nhiều kinh nghiệm về các nguyên tắc cạnh tranh trong nước tỏ ra quan ngại về những khó khăn và chi phí liên quan đến việc thực thi Luật Cạnh tranh Ngoài ra, nhiều nước đang phát triển cho rằng các nguyên tắc đa phương về cạnh tranh sẽ hạn chế họ theo đuổi và ban hành những chính sách phát triển cụ thể Hơn nữa, các nước đang phát triển lo ngại là nội dung các cuộc thảo luận và đàm phán về các nguyên tắc cạnh tranh đa phương sẽ bị chi phối bởi lợi ích của các nước phát triển Do đó, các nước đang phát triển thường nghĩ rằng các nguyên tắc đa phương về cạnh tranh chủ yếu tập trung vào nội dung tiếp cận thị trường chứ không phải việc phòng chống các hoạt động phản cạnh tranh như vậy
Mặc dù các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đã thảo luận nhiều về chủ đề này, nhưng cạnh tranh vẫn được coi là một lỗ hổng pháp lý ở cấp độ đa phương OECD đã đưa ra những khuyến nghị không mang tính bắt buộc và những thực tiễn tốt nhất để đối phó với những tập đoàn lũng loạn độc quyền, hợp tác chống cạnh tranh và rà soát việc sát nhập UNCTAD thì hỗ trợ các nước đang phát triển trong việc xây dựng Luật Cạnh tranh và ban hành bộ quy tắc quốc
tế về cạnh tranh cũng như kiểm soát các thực tiễn hạn chế thương mại
Trang 66
Nhận thấy sự thiếu vắng những quy tắc đa phương bắt buộc về cạnh tranh, EU đã quyết định đưa các điều khoản về cạnh tranh vào trong các FTA mà EU đã và đang đàm phán trong “Chiến lược châu Âu toàn cầu”, khởi động từ năm 2006 Mục tiêu của EU khi thực hiện việc này là nhằm nhân rộng mô hình pháp luật về cạnh tranh của mình
3 Các điều khoản về cạnh tranh trong các FTA của EU cho đến nay
Kể từ năm 2007 đến nay, EU đã ký hai FTA theo cách thức phải có các điều khoản về cạnh tranh trong nội dung nhằm thực hiện “Chiến lược châu Âu toàn cầu”, đó là: Hiệp định với Hàn Quốc
có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2011, và Hiệp định với Colombia và Peru được thông qua vào ngày 25 tháng 3 năm 2011 và dự kiến sẽ có hiệu lực trong năm 2012 Cả hai hiệp định đều có các điều khoản quy định về cạnh tranh EU cũng đã ký thỏa thuận hợp tác kinh tế với các quốc gia CARIFORUM (nhóm gồm 15 nước Carribbean), áp dụng từ 29 tháng 12 năm 2008 Tuy vậy, thoả thuận này không được coi là một trong các FTA mà EU đã ký nhằm thực hiện “ Chiến lược châu Âu toàn cầu”, cho dù việc đàm phán thoả thuận này được triển khai từ năm 2004 và được
ký vào tháng 12 năm 2007 Do đó, FTA này và các FTA khác mà EU đã ký trong quá khứ không
có các điều khoản quy định về cạnh tranh như trong các FTA mà EU ký sau này Đó cũng chính
là các FTA theo thể thức mới nhằm thực hiện “Chiến lược châu Âu toàn cầu”
Do vậy, trọng tâm của báo cáo này là phân tích các điều khoản cạnh tranh có trong FTA EU ký với Hàn Quốc và FTA với Colombia và Peru Mặc dù có những tương đồng về ngôn ngữ sử dụng trong các điều khoản quy định về cạnh tranh ở trong hai hiệp định1
nhưng cũng có những khác biệt đáng kể trong phạm vi áp dụng của các điều khoản này Đặc biệt, trong FTA EU ký với Hàn Quốc có một phần về trợ cấp mà trong FTA EU ký với Colombia và Peru lại không có
3.1 Điều khoản về chống độc quyền
Một nội dung quan trọng và phổ biến trong điều khoản quy định về cạnh tranh của hai FTA trên
là quy định coi sự lạm dụng vị trí thống trị và tập trung quyền lực vào các công ty gây cản trở cạnh tranh hiệu quả là vi phạm nghĩa vụ chống cạnh tranh được quy định trong hiệp định2
3.2 Điều khoản về doanh nghiệp công và doanh nghiệp có đặc quyền
Hai hiệp định đều có điều khoản quy định không cho phép các bên tạo lập hay duy trì độc quyền nhà nước hay độc quyền tư nhân, song về mặt ngôn ngữ cũng có những khác biệt giữa hai hiệp định Các hiệp định cũng quy định doanh nghiệp phải tôn trọng Luật Cạnh tranh miễn là việc áp dụng luật này không ảnh hưởng đến việc thực hiện các nhiệm vụ doanh nghiệp được giao theo
1
Xem chương 11 - FTA EU - Hàn Quốc và Mục VIII - FTA EU – Colombia và Peru
2
Xem Điều 11.1(3) - FTA EU - Hàn Quốc và Điều 259(2) - FTA EU – Colombia và Peru
Trang 77
luật hay trong thực tế.3
3.3 Điều khoản về trợ cấp
Khác biệt giữa các điều khoản quy định về cạnh tranh trong hai FTA này là FTA EU ký với Hàn Quốc có thêm quy định về trợ cấp, qua đó loại bỏ việc trợ cấp phản cạnh tranh gây bóp méo thương mại quốc tế4
Quy định này giúp loại bỏ 2 loại trợ cấp sau:
a) Trợ cấp bảo lãnh cho các khoản nợ hoặc trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp mà không có bất kỳ giới hạn nào về mặt giá trị hay thời gian, trong luật cũng như trong thực tế;
b) Trợ cấp cho các doanh nghiệp nhỏ đang gặp khó khăn, mà không cần có kế hoạch tái cơ cấu đáng tin cậy trên cơ sở giả định thực tế giúp doanh nghiệp tiếp tục tồn tại lâu dài mà không cần phụ thuộc vào hỗ trợ của Nhà nước Điều này có nghĩa là chính doanh nghiệp sẽ đóng góp phần lớn vào chi phi tái cơ cấu Loại trợ cấp này có thể bao gồm các khoản vay và bảo lãnh, trợ cấp tiền mặt, tiếp vốn, cung cấp tải sản thấp hơn giá thị trường hoặc miễn thuế Quy định trong FTA không cấm việc cấp trợ cấp bằng biện pháp hỗ trợ thanh khoản tạm thời dưới các hình thức bảo lãnh vay hoặc cho vay với hạn mức đủ để giúp một doanh nghiệp đang gặp khó khăn tồn tại trong thời gian đủ để thực hiện việc tái cơ cấu hay hoàn thành kế hoạch
Điều khoản này xuất phát từ tranh chấp thực tế trước đây trong WTO giữa EU và Hàn Quốc liên quan đến ngành đóng tàu 5
và việc áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm DRAMs nhập khẩu từ Hàn Quốc 6
Điều khoản này có quy định về tính minh bạch, theo đó các bên, ngoài các nghĩa vụ khác, hàng năm phải báo cáo về tổng số lượng trợ cấp, các loại hình trợ cấp và việc phân bổ trợ cấp Các quy định về trợ cấp áp dụng cho tất cả các mặt hàng ngoại trừ hàng nông sản và thủy sản và việc
mở rộng diện áp dụng cho các ngành dịch vụ sẽ tiếp tục được đàm phán sau 3 năm kể từ ngày hiệp định có hiệu lực Cần lưu ý là nội dung này có thể viện dẫn đến cơ chế giải quyết tranh chấp
3.4 Điều khoản về thực thi
Hai hiệp định đều có điều khoản quy định về việc thực thi, theo đó mỗi bên sẽ có một cơ quan chuyên trách quản lý về cạnh tranh được trang bị đầy đủ nhằm thực thi hiệu quả Luật Cạnh tranh của mình Các bên cũng thừa nhận tầm quan trọng của việc thực thi Luật Cạnh tranh của mình một cách minh bạch, kịp thời và không phân biệt đối xử, tôn trọng các quy tắc về quy trình và
3
Xem Điều 11.4 và 11.5 - FTA EU - Hàn Quốc và Điều 263 - FTA EU – Colombia và Peru
4
Xem Điều 11.9 – 11.5 - FTA EU - Hàn Quốc
5
Vụ kiện mã số DS273, Hàn Quốc – Các biện pháp ảnh hưởng đến thương mại trong ngành đóng tàu Báo cáo
Ban Hội thẩm ngày 7 tháng 3 năm 2005 và vụ kiện mã số DS299, EU – Các biện pháp chống bán phá giá đối
với sản phẩm DRAM nhập khẩu từ Hàn Quốc Báo cáo Ban Hội thẩm ngày 17 tháng 6 năm 2005
6
Xem Điều 11.3 - FTA EU- Hàn Quốc và Điều 260 - FTA EU – Colombia và Peru
Trang 88
quyền phòng vệ thỏa đáng.7
3.5 Điều khoản về tham vấn và hợp tác
Hai hiệp định đều có các điều khoản đề ra các nguyên tắc cơ bản về tham vấn và hợp tác giữa các
bên FTA EU ký với Hàn Quốc nêu rõ việc hợp tác phải dựa trên “Thỏa thuận giữa EU và Hàn
ký ngày 23 tháng 5 năm 2009 (gọi
tắt là Thỏa thuận hợp tác) Thỏa thuận này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2009 và đề ra các mục tiêu cũng như các công cụ hợp tác kỹ thuật giữa các cơ quan quản lý về cạnh tranh của EU và Hàn Quốc (FTA tập trung hơn vào các nội dung mang tính thực chất) Mục đích của thỏa thuận này là nhằm thực thi hiệu quả Luật Cạnh tranh của mỗi bên thông qua việc tăng cường, thúc đẩy hợp tác và phối hợp giữa các cơ quan quản lý về cạnh tranh và tránh hoặc giảm bớt khả năng xung đột có thể có giữa các bên trong tất cả các vấn đề liên quan đến việc thực thi Luật Cạnh tranh Thỏa thuận còn quy định về việc thông báo cho nhau về các vụ việc đang được điều tra có thể ảnh hưởng đến lợi ích của bên kia, quy định về khả năng hợp tác trong các hoạt động hỗ trợ thực thi,
về việc một bên có thể yêu cầu bên còn lại có hành động thực thi và về việc trao đổi thông tin giữa các bên
3.6 Điều khoản về hỗ trợ kỹ thuật
Không như hiệp định ký với Hàn Quốc, FTA EU ký với Colombia và Peru có một điều khoản về
hỗ trợ kỹ thuật.9 Ý tưởng của điều khoản này là nhằm tăng cường năng lực kỹ thuật và thể chế liên quan đến việc thực thi chính sách cạnh tranh và Luật Cạnh tranh, đào tạo nguồn nhân lực và trao đổi kinh nghiệm
4 Luật cạnh tranh của Việt Nam và các cơ quan thực thi luật
4.1 Phạm vi điều chỉnh của Luật
Luật Cạnh tranh của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2005 Luật được xây dựng theo mô hình Luật Cạnh tranh của EU và bao gồm các điều khoản xử lý việc lạm dụng vị trí độc quyền, hay tập trung kinh tế
Theo các thỏa thuận hạn chế về cạnh tranh, doanh nghiệp nắm giữ thị phần lên đến 30% hoặc cao hơn ở một thị trường thì sẽ bị cấm tham gia vào các thỏa thuận nhằm xác định giá bán và chia sẻ thị trường, các thỏa thuận về hạn chế sản lượng, phát triển kỹ thuật, đầu tư công nghệ, hay các thỏa thuận về việc áp đặt điều kiện kinh doanh cho các doanh nghiệp khác Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể đề nghị Ủy ban Cạnh tranh cho miễn trừ nếu là các
7
Xem Điều 11.6 và 11.7 - FTA EU- Hàn Quốc và Điều 261 và Điều 265 - FTA EU – Colombia và Peru
8
OJ 202, ngày 4 tháng 8 năm 2009, trang 36 đến 41
9
Xem Điều 263 - Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu – Colombia và Peru
Trang 99
thỏa thuận đó là nhằm (i) hợp lý hóa cơ cấu tổ chức hay quy mô kinh doanh và tăng hiệu quả, (ii) thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ, (iii) thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn về chất lượng và các chỉ tiêu kỹ thuật của một số loại sản phẩm, (iv) thống nhất điều kiện kinh doanh, giao hàng và thanh toán nhưng phải không liên quan đến giá hay bất kỳ yếu tố nào về giá, (v) tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, hay để (vi) làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế Bộ trưởng Bộ Công Thương (MOIT) sẽ quyết định về việc cho hưởng hay không việc miễn trừ này
Tẩy chay và đấu thầu gian lận được coi là những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bất kể thị phần nắm giữ của doanh nghiệp có liên quan là bao nhiêu và không được hưởng miễn trừ
Liên quan đến việc lạm dụng vị trí độc quyền, doanh nghiệp đang nắm giữ vị trí độc quyền
sẽ bị cấm bán thấp hơn giá thành, cố định giá bán, giá mua, hay giá bán lại tối thiểu một cách không hợp lý, hạn chế sản xuất và phân phối, hạn chế thị trường hay phát triển kỹ thuật, công nghệ, áp dụng các điều kiện thương mại phân biệt đối xử, áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng, không cho hoặc ngăn cản các doanh nghiệp khác gia nhập thị trường Doanh nghiệp được coi là giữ vị trí độc quyền nếu (i) chiếm 30% thị phần hoặc hơn ở thị trường liên quan hoặc (ii) có khả năng ngăn cản đáng kể cạnh tranh Một nhóm các doanh nghiệp hoạt động cùng nhau được coi là nắm giữ vị trí thống lĩnh thị trường nếu như các doanh nghiệp này có thị phần kết hợp chiếm 50% trở lên với nhóm 2 doanh nghiệp, 65% trở lên với nhóm 3 doanh nghiệp hoặc 75% trở lên với nhóm trên 4 doanh nghiệp
Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng có quy định về kiểm soát sáp nhập Theo đó giao dịch sáp nhập nhằm tạo lập hình thái ‘kinh tế tập trung’ phải được thông báo trước khi sáp nhập Việc sáp nhập theo định nghĩa bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi cũng như dạng thức khác của hình thái kinh tế tập trung Hình thái kinh tế tập trung mà chiếm thị phần từ 30% đến 50% thì bắt buộc phải thông báo Hình thái kinh tế tập trung mà chiếm thị phần hơn 50% bị cấm theo quy định của pháp luật Nếu thị phần nắm giữ không đạt các mức nói trên thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có toàn quyền để xem xét một giao dịch có phải
là loại bỏ hoặc hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam hay không
4.2 Cơ quan thực thi pháp luật
Cơ cấu cơ quan thực thi pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam bao gồm các cấp độ hành chính sau:
- Bộ Công Thương (MOIT) là cơ quan hoạch định chính sách;
- Hội đồng cạnh tranh Việt Nam (VCC) có vai trò ra phán quyết trong các vụ việc về cạnh tranh và được trợ giúp bởi Ban Thư ký thuộc Bộ Công Thương;
- Cục Quản lý cạnh tranh Việt nam (VCA) xử lý việc điều tra các vụ việc cạnh tranh
Trang 1010
4.3 Quyền hạn điều tra và xử phạt
Cơ quan thực thi pháp luật có quyền yêu cầu các bên cung cấp tài liệu, thẩm tra tài sản và phỏng vấn điều tra Tiền phạt có thể sẽ được áp đặt cho những hành vi không tuân thủ theo quy định, hành vi cố ý cản trở hoặc phá hoại nhưng trong báo cáo thường niên năm 2010 của cơ quan quản lý về cạnh tranh Việt Nam (VCA) lại cho rằng những hành vi không tuân thủ này là không đáng kể để ngăn chặn
Doanh nghiệp vi phạm có thể bị xử phạt bằng tiền lên đến 10% doanh thu của năm tài chính trước năm vi phạm Các cơ quan quản lý về cạnh tranh cũng áp đặt những hình phạt
bổ sung, trong đó có những hình thức như thu hồi giấp phép đầu tư, giấy phép kinh doanh
và các biện pháp khắc phục hậu quả mang tính hệ thống
4.4 Các vụ việc liên quan đến thực thi
Từ năm 2007, VCA đã tiến hành điều tra 4 vụ việc vi phạm cạnh tranh, trong đó có 2 vụ việc được điều tra ngẫu nhiên và 2 vụ việc là dựa trên đơn khiếu nại Trong số đó có hai vụ việc liên quan đến cáo buộc lạm dụng vị trí thống trị, một vụ liên quan đến cáo buộc lạm dụng độc quyền, còn vụ việc thứ tư liên quan đến cáo buộc về hạn chế cạnh tranh Báo cáo thường niên năm 2010 của VCA có chỉ ra là có 18 vụ việc được “điều tra trước khi xảy ra tranh chấp” Về kiểm soát sáp nhập, VCA nhận được 8 thông báo và 30 yêu cầu tư vấn
Đã có 2 vụ việc mà quyết định cuối cùng đã được đưa ra và thực hiện, các biện pháp xử phạt cũng đã được áp dụng: một vụ việc liên quan đến cáo buộc về lạm dụng độc quyền và
vụ việc còn lại liên quan đến một tập đoàn trong lĩnh vực bảo hiểm
Vụ việc đầu tiên là vào năm 2008, VCA bắt đầu tiến hành điều tra chống lại công ty VINAPCO là công ty duy nhất ở Việt Nam có giấy phép kinh doanh cung cấp nhiên liệu cho các hãng hàng không thương mại tại các sân bây trong nước Vụ việc này liên quan đến việc công ty đột ngột chấm dứt việc cung cấp cho hãng hàng không nội địa Jetstar Pacific Airlines trong bối cảnh có sự tranh chấp về chi phí nhiên liệu Năm 2009, VCA đã phát hiện công ty VINAPCO lạm dụng vị trí độc quyền của mình trên thị trường nhiên liệu hàng không tại Việt Nam và vi phạm Luật cạnh tranh, và đã xử phạt công ty này số tiền phạt tương ứng 0,05% tổng doanh thu của năm 2007 (cụ thể là 3.378.000 đồng)
Năm 2009, VCA cũng đã tiến hành điều tra đối với 19 công ty bảo hiểm phi nhân thọ vì các công ty này đã tham gia ký kết một thỏa thuận về mức phí bảo hiểm thiệt hại vật chất cho xe ô tô 19 công ty này có thị phần thống kê chiếm tới 99,97% thị trường dịch vụ bảo hiểm liên quan Năm 2010, VCA phát hiện ra rằng thỏa thuận ấn định giá này đã vi phạm Luật cạnh tranh và áp đặt mức tiền phạt tương ứng 0,025% tổng doanh thu năm 2009 của các công ty có liên quan (tổng số lên tới 1,7 tỷ đồng)