Chính vì giám sát các hoạt động của cơ quan hành pháp nhằm đảm bảo cho các đạo luật được thực thi một các nghiêm túc, chức năng giám sát và những quyền hạn về giám sát đã trở thành chức
Trang 1VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
THƯ VIỆN QUỐC HỘI -o0o -
TÀI LIỆU THAM KHẢO VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA NGHỊ VIỆN
CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
(Phục vụ hoạt động của Tổ biên tập, Ban soạn thảo
Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân)
Hà Nội, tháng 10/2014
Trang 21
1 CHỨC NĂNG GIÁM SÁT
1.1 Khái niệm, đối tượng, nội dung giám sát
1.1.1 Khái niệm giám sát
Giám sát của Nghị viện được hiểu là việc theo dõi các hoạt động của hành pháp có hiệu quả, tin cậy, minh bạch và trung thực hay không, để đảm bảo rằng các khoản tiền được Nghị viện phê duyệt sẽ được sử dụng một cách hợp pháp, có hiệu quả và đúng mục đích đã đề ra1
Sau khi tiến hành các hoạt động lập pháp, nhiệm vụ tiếp theo của cơ quan lập pháp là xem xét liệu các đạo luật có được thực thi hiệu quả hay không, liệu trên thực tế các đạo luật có định rõ và giải quyết được các vấn đề như dự định của các nhà soạn thảo hay không Hoạt động này được tiến hành sau khi chính sách được ban hành thì được gọi là “hoạt động giám sát hậu kiểm” Tuy nhiên, Nghị viện có thể thực hiện “hoạt động giám sát tiền kiểm” để kiểm tra các cơ quan hành pháp trong việc chuẩn bị các chính sách
Chính vì giám sát các hoạt động của cơ quan hành pháp nhằm đảm bảo cho các đạo luật được thực thi một các nghiêm túc, chức năng giám sát và những quyền hạn về giám sát đã trở thành chức năng điển hình cho mọi mô hình Nghị viện, không phụ thuộc vào hình thức chính thể Chức năng này được quy định trong hiến pháp, các đạo luật, quy chế của các quốc gia
1.1.2 Đối tượng giám sát
Đối tượng của hoạt động giám sát thường là nhánh hành pháp, nhưng giám sát trong những trường hợp riêng biệt có thể lan rộng ra nguyên thủ quốc gia, tư pháp, chính quyền địa phương, quân đội Sự giám sát đối với hành pháp thường mang tính chất chính trị, có nghĩa là tập trung vào hoạt động chính trị của Chính phủ và các thành viên, mặc dù đôi khi được thực hiện bằng các hình thức pháp lý Trong khi đó, đối với các đối tượng khác, giám sát hoàn toàn mang tính chất pháp lý: nếu không tìm thấy sự vi phạm các quy phạm pháp luật thì không làm phát sinh hậu quả pháp lý tiêu cực đối với các cơ quan, tổ chức, các nhà chức trách Trong những trường hợp riêng biệt, đối tượng giám sát của Nghị viện có thể là hoạt động của các tập đoàn nhà nước hoặc tư nhân nếu chúng thực hiện những chức năng công quyền
1.1.3 Trách nhiệm chính trị và trách nhiệm giải trình
Các nội dung lớn của hoạt động giám sát gồm có trách nhiệm chính trị (responsibility) và trách nhiệm giải trình (accountability) của Chính phủ
1 John K Johnson, Robert T Nakamura, (2011)
Trang 32
Trách nhiệm chính trị: Trách nhiệm chính trị của Chính phủ trước Nghị
viện chỉ có ở các nước thuộc chính thể đại nghị và hỗn hợp; hàm ý trách nhiệm
về các chính sách của Chính phủ (có những trường hợp đó là trách nhiệm về hành
vi đạo đức của các thành viên Chính phủ)
Trách nhiệm chính trị của Chính
phủ trước Nghị viện ở nhiều nước tạo cơ
sở cho hệ thống giám sát của Nghị viện
Ví dụ điển hình ở đây là nước Anh Hệ
thống trách nhiệm chính trị của Chính
phủ trước Nghị viện Anh bao hàm việc
Chính phủ được thành lập từ các thành
viên Nghị viện và có trách nhiệm tập thể
trước Nghị viện Trong trường hợp Nghị
viện nhất trí bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ thì toàn thể Chính phủ phải
từ chức Trong phần lớn các nước với mô hình hai viện đều khẳng định nguyên tắc trách nhiệm của Chính phủ trước Hạ viện (Áo, Anh, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Nga, Pháp, Nhật ) Nhưng cũng có những nước Chính phủ chịu trách nhiệm trước
cả hai viện như Ý, Rumany 2
Trách nhiệm giải trình: Trách nhiệm giải trình của Chính phủ và của các
thành viên Chính phủ hàm ý nghĩa vụ phải trả lời trước Nghị viện và nhân dân về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình được giao Khác với trách nhiệm phải làm, trách nhiệm giải trình hàm ý trách nhiệm báo cáo, giải thích về những
gì đã làm hoặc không làm theo trách nhiệm đó Như vậy, trách nhiệm giải trình không phải lúc nào cũng đồng nhất với trách nhiệm chính trị của Chính phủ trước Nghị viện, nhưng trách nhiệm chính trị của Chính phủ trước Nghị viện ở các nước đại nghị và chính thể hỗn hợp bao hàm cả trách nhiệm giải trình Vì vậy, trong hiến pháp hầu hết các nước thuộc chính thể đại nghị và chính thể hỗn hợp chỉ nói đến trách nhiệm chính trị, chứ không nhắc đến trách nhiệm giải trình
Trong số các hiến pháp có quy định nguyên tắc trách nhiệm giải trình của Chính phủ trước Nghị viện, có thể dẫn ra ở đây Hiến pháp Nhật Bản Điều 72 của Hiến pháp Nhật Bản nói: “Thủ tướng với tư cách đại diện cho Nội các báo cáo trước Nghị viện về tình hình chung của các hoạt động nhà nước và quan hệ quốc tế ” Ngoài ra, quy chế hoạt động của hai viện cũng điều chỉnh chi tiết liên quan đến việc giải trình của Chính phủ
1.2 Các hình thức giám sát của Nghị viện
Trong việc giám sát cơ quan hành pháp, Nghị viện có những hình thức/công
cụ giám sát khác nhau tùy theo sự lựa chọn của mình Những công cụ giám sát
2 Hironori Yamamoto (2007), Tools for Parliamentary Oversight – A Comparative Study of 88 National
Parliaments, IPU
Trách nhiệm chính trị của Chính phủ là những gì phải làm theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, theo ủy quyền của nhân dân, của Nghị viện Trách nhiệm giải trình hàm ý phải báo cáo, giải thích về những gì đã làm hoặc không làm theo trách nhiệm chính trị
Trang 43
phổ biến nhất là chất vấn, các phiên hỏi đáp, thành lập các cơ quan điều tra, điều trần tại ủy ban, điều trần tại các phiên họp toàn thể của Nghị viện, thanh tra Quốc hội và bỏ phiếu bất tín nhiệm
Một nghiên cứu khảo sát 82 Nghị viện vào năm 2001 cho thấy có những biến đổi đáng chú ý về mức độ phổ biến của các công cụ trong hoạt động giám sát của Nghị viện Ví dụ, các nghị sĩ có thể đặt câu hỏi miệng hoặc câu hỏi bằng văn bản đối với Chính phủ ở 79 trên tổng số 82 nước, chiếm đến 96,3% số nước có số liệu Thành lập ủy ban điều tra và điều trần ở ủy ban cũng là những công cụ phổ biến trong hoạt động giám sát của các Nghị viện với tỷ lệ sử dụng trên 95% Ngược lại, chất vấn và thanh tra Quốc hội ít phổ biến hơn một cách rõ rệt theo đó thủ tục chất vấn Chính phủ được sử dụng ở 75% số nước và văn phòng thanh tra
Quốc hội chỉ xuất hiện ở 73%
Bảng 1: Mức độ phổ biến của các công cụ giám sát 3
Điều trần
tại Ủy ban
Điều trần tại phiên họp toàn thể
Thành lập
Ủy ban điều tra
Đặt câu hỏi
Thời gian hỏi đáp Chất vấn
Thanh tra Quốc hội
95,9 73 90,8 76 95,9 73 96,3 82 84 75 75,4 65 72,7 77
Số liệu của IPU và WBI còn cho thấy sự liên hệ giữa công cụ và kiểu giám sát với một yếu tố thể chế khác là hình thức chính thể Điều trần tại Ủy ban, điều trần tại phiên họp toàn thể, phiên hỏi - đáp và chất vấn thường được sử dụng phổ biến hơn ở các nước theo mô hình chính thể đại nghị so với các nước theo chính thể tổng thống và bán tổng thống Chính vì vậy, cơ quan lập pháp ở hệ thống chính thể đại nghị có nhiều công cụ giám sát hơn để lựa chọn so với các cơ quan lập pháp ở mô hình tổng thống lẫn mô hình bán tổng thống
2 QUY TRÌNH GIÁM SÁT
Thủ tục giám sát ở các nước khác nhau có những điểm khác nhau tuỳ thuộc vào chính thể của nhà nước đó và những đặc điểm riêng trong hệ thống chính trị của từng quốc gia Xét về tổng thể thì hầu hết mọi hoạt động của Nghị viện, dù ở chính thể nào cũng có ý nghĩa giám sát hoạt động của Chính phủ, từ hoạt động lập pháp, thông qua ngân sách cho đến việc đàn hạch, luận tội Chính phủ
Tuy nhiên, nếu xét về mặt thủ tục, thì hoạt động giám sát của Nghị viện các nước tập trung ở một số thủ tục sau:
3 Riccardo Pelizzo và Rick Stapenhurst (chủ biên) (2006), Cơ quan lập pháp và hoạt động giám sát, Viện Ngân
hàng thế giới, sách dịch, Hà Nội
Trang 54
2.1 Thủ tục hỏi - đáp 4
Phiên hỏi – đáp (Question Time) là một hình thức để Nghị viện giám sát hoạt động của hành pháp Các câu hỏi được đặt ra xét cho cùng là yêu cầu các thành viên Chính phủ giải thích về một vấn đề nào đó hoặc yêu cầu Chính phủ cho biết thông tin về một vụ việc và yêu cầu Chính phủ giải quyết các vụ việc đó Phiên hỏi - đáp khác với chất vấn ở chỗ không đi đến một cuộc biểu quyết thoả mãn hay không thoả mãn với câu trả lời của Chính phủ Hình thức giám sát này tạo điều kiện cho các nghị sỹ năng lực của Chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề của quốc gia
Hình thức hỏi – đáp thường chỉ có những nước theo chế độ Nghị viện, nhưng ở một số nước theo chế độ tổng thống như ở Philippines, vào thứ Năm các thành viên Chính phủ phải ra trả lời trước Quốc hội
Các câu hỏi thường bao trùm mọi lĩnh vực chính sách, và ở nhiều nước theo
mô hình Anh, các bộ trưởng thay nhau trả lời các câu hỏi theo thứ tự, tính trung bình mỗi bộ trưởng xuất hiện một lần trong một tháng Trong đó, các câu hỏi dành cho người đứng đầu hành pháp có ý nghĩa quan trọng Hiến pháp 8 nước quy định
rõ phải dành riêng thời gian để hỏi nhân vật này Ở Zambia, Phó Tổng thống đồng thời là nghị sỹ trả lời các câu hỏi dành cho Tổng thống5
Hộp 1: Vài con số về phiên hỏi – đáp 6
Theo một cuộc khảo sát, trong số 88 Nghị viện, có 67 Nghị viện dành một thời gian nhất định cho phiên hỏi – đáp với Chính phủ Trong số 67 nước nói trên, hiến pháp của 8 nước quy định tần suất các phiên hỏi – đáp trong tuần; ở
25 nước hiến pháp không quy định rõ tần suất
Tại 12 nước, có từ 3 phiên hỏi – đáp trở lên mỗi tuần, ví dụ ở Hạ viện Úc hàng ngày từ thứ Hai đến thứ Năm phiên hỏi – đáp diễn ra từ 14h – 15h30; tại
35 nước có 1 hoặc 2 phiên; ở 10 nước ít hơn một phiên hỏi đáp/tuần, ví dụ 1 lần một tháng ở Magadascar và Tunisia; còn ở 10 nước các phiên hỏi – đáp không theo một lịch trình định kỳ thường xuyên
Tần suất xuất hiện của người đứng đầu hành pháp khác nhau ở các nước,
từ 2 lần/tuần ở Ai Len, hoặc một lần trong một giai đoạn nhất định ở Estonia
Ở một số Nghị viện, nhân vậy này phải có mặt ở tất cả các phiên hỏi – đáp như Thủ tướng Bulgaria
Thủ tục hỏi – đáp được thực hiện theo hai hình thức: Câu hỏi miệng và câu hỏi viết
- Câu hỏi miệng do nghị sỹ đặt ra để yêu cầu các thành viên của Chính phủ
trả lời mình trực tiếp bằng miệng trong một khoảng thời gian nhất định đã được
4 Xem thêm về khái niệm và mức độ phổ biến của hình thức hỏi – đáp tại mục 3.2.3, Chương II
5 Xem thêm Mục 4.2, Chương IV về thủ tục tiến hành hỏi – đáp
6 Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn
Trang 65
đưa vào lịch làm việc định kỳ của Nghị viện gọi là “Thời gian dành cho các câu hỏi” (Question Time) Ở Viện dân biểu Vương quốc Anh, thời gian dành cho các câu hỏi thường được tổ chức trong khoảng thời gian từ 2 giờ 20 đến 3 giờ 30 chiều các ngày thứ Hai, thứ Ba và thứ Tư, từ 11 giờ 30 cho đến 12 giờ 20 ở các ngày thứ Năm, ngày thứ Sáu Còn ở Thụy Điển, thời gian dành cho các câu hỏi được
tổ chức vào các ngày thứ Năm hàng tuần Ở khá nhiều nước (44/88 Nghị viện) cho phép các nghị sỹ đặt câu hỏi phụ sau khi bộ trưởng trả lời câu hỏi chính ban đầu, tạo điều kiện làm rõ những điểm mà bộ trưởng vô tình hay cố ý trả lời chung chung hoặc “quên”7
- Câu hỏi viết: việc trả lời các câu hỏi viết được thực hiện bằng cách các
thành viên Chính phủ được hỏi phải soạn câu trả lời bằng văn bản và có thể được gửi trực tiếp đến người hỏi (như ở Thụy Điển) hoặc được đăng tải trong Công báo riêng của Viện (như ở Viện dân biểu của Anh)
Thường thì các nghị sỹ thích đặt câu hỏi miệng hơn vì qua đó họ có thể được đặt thêm các câu hỏi phụ và thủ tục tiến hành cũng linh động hơn, đặc biệt
nó có thể chỉ ra những điểm yếu của các chủ thể trả lời khi các câu hỏi chưa được chuẩn bị trả lời kỹ càng
Một khía cạnh liên quan đến thủ tục hỏi – đáp là có cần thông báo trước về câu hỏi hay không, vì nếu phải thông báo quá sớm sẽ làm mất hiệu quả của hình thức giám sát này Theo một cuộc khảo sát, ở 55 Nghị viện cần phải thông báo trước qua Ban thư ký Nghị viện mới được nêu câu hỏi tại hội trường trong phiên hỏi – đáp Thời gian thông báo trước từ một ngày đến 15 ngày, trong đó phần lớn Nghị viện yêu cầu thông báo trước một ngày Tuy nhiên, đối với những vấn đề cấp bách mới xảy ra, chỉ cần gửi thẳng câu hỏi cho chủ tịch viện, và nhân vật này
sẽ quyết định câu hỏi có được nêu hay không8
Thủ tục đặt câu hỏi ra đời những năm 1835 ở Nghị viện Anh, và bắt đầu được áp dụng đều đặn vào năm 1869 Cho đến nay, Thủ tục này trở thành thông dụng với khoảng 240 câu hỏi được đưa ra mỗi ngày9
2.2 Thủ tục chất vấn
Với ít nhiều điểm khác nhau ở các nước, chất vấn (interpellation) được định nghĩa là yêu cầu của nghị sỹ đối với Thủ tướng, hay các thành viên của Chính phủ
ra trước phiên họp toàn viện để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia, hay một vấn đề hiện thời nào đó của quốc gia Khác với hỏi – đáp, chất vấn thường đề cập đến các vấn đề có tầm quan trọng quốc gia, ví dụ ở Hạ viện Bỉ không được chất
7 Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn
8 Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn
9 Xem Tài liệu của cơ quan thông tin Nghị viện Anh, Factsheet 46: Parliamentary question, ở website:
http://www.parliament.uk
Trang 76
vấn về các vấn đề địa phương, hoặc các vấn đề lợi ích riêng tư Trong nhiều trường hợp, có thể diễn ra biểu quyết sau khi chất vấn, thậm chí dẫn đến kiến nghị về bất tín nhiệm Chính phủ
Hình 1: Thủ tục tiến hành chất vấn
Các nhóm đảng trong Nghị viện thường đóng vai trò quan trọng trong chất vấn Không chỉ một số Nghị viện cho phép các nhóm đảng nêu chất vấn, mà ở nhiều nước, các nhóm đảng còn kiểm soát việc khởi xướng chất vấn của nghị sỹ thuộc nhóm mình, ví dụ ở Hạ viện Bỉ, các nghị sỹ phải nhận được sự đồng ý của nhóm đảng mới được đưa chất vấn ra nghị trường Thông thường, các nhóm đảng đối lập mới hay sử dụng quyền chất vấn của mình
Thủ tục tiến hành chất vấn được thực hiện theo các bước sau đây:
a) Yêu cầu chất vấn
Thủ tục chất vấn được bắt đầu bằng yêu cầu chất vấn Yêu cầu chất vấn thường có tính cá nhân, tức là việc yêu cầu chất vấn thường xuất phát từ cá nhân hoặc một nhóm nghị sỹ chứ không phải mang tính toàn viện
Thông thường, các yêu cầu chất vấn là do một nghị sỹ nào đó trong Nghị viện đặt ra và có liên quan trực tiếp đến hoạt động của một bộ, hay việc thi hành một chính sách nào đó của Chính phủ Theo Nội quy của nhiều nước, các yêu cầu chất vấn phải ghi rõ các vấn đề chất vấn và tên cụ thể của người bị chất vấn
Ngoài ra, nhằm tránh những yêu cầu chất vấn không thoả đáng, Nghị viện nhiều nước còn quy định các yêu cầu chất vấn phải thu nhận được một lượng nhất định các chữ ký đồng tình của các nghị sỹ Chẳng hạn, Điều 153, Nội quy Quốc hội Cộng hoà Pháp quy định các yêu cầu chất vấn, hoặc yêu cầu khiển trách của nghị sỹ đối với Chính phủ phải thu nhận được số chữ ký của ít nhất một phần mười tổng số thành viên của Quốc hội
Một khảo sát khác của IPU cho biết, ở 15 trong số 45 Nghị viện có hình thức giám sát này, phải có một số lượng nghị sỹ nhất định (ví dụ 5% như ở Hạ viện Đức) hoặc một nhóm đảng mới có quyền khởi xướng chất vấn; số lượng này
có thể là 5 nghị sỹ ở nước này, cũng có thể là 1/3 tổng số nghị sỹ ở nước khác Ở
30 nước còn lại, cá nhân nghị sỹ được quyền nêu chất vấn, nhưng phải có sự ủng
Yêu cầu
chất vấn ngày chất vấn Xác định Tiến hành chất vấn
Biểu quyết kết quả chất vấn
Trang 87
hộ của một số lượng nghị sỹ nào đó hoặc thậm chí của đa số nghị sỹ Không chỉ thế, theo kiến nghị của nghị sỹ, toàn thể Nghị viện có thể tranh luận về vấn đề nêu trong chất vấn Chẳng hạn ở Nghị viện Estonia, chất vấn được khởi xướng bởi yêu cầu bằng văn bản của cá nhân các nghị sỹ Sau khi bộ trưởng trả lời, người nêu chất vấn bắt đầu cuộc tranh luận Tiếp đó, đại diện các nhóm đảng và các ủy ban phát biểu về vấn đề được nêu Nghị viện một số nước quy định chất vấn diễn
ra định kỳ, ví dụ một lần một tuần như ở Thụy Điển10
Yêu cầu chất vấn thường được gửi đến Chủ tịch Nghị viện, và người này
có trách nhiệm chuyển yêu cầu chất vấn tới Thủ tướng, hoặc thành viên của Chính phủ có trách nhiệm trả lời chất vấn
b) Xác định ngày chất vấn
Việc xác định thời gian tiến hành phiên họp toàn thể để thực hiện thủ tục chất vấn có ý nghĩa rất quan trọng bởi bản thân câu hỏi chất vấn có mục đích xem xét trách nhiệm của Thủ tướng và thành viên của Chính phủ nên câu chất vấn phải nêu ra đúng thời điểm, theo ý của người yêu cầu
Để xác định thời gian tiến hành chất vấn, rất nhiều nước đi theo hướng quy định Văn phòng Nghị viện và Chính phủ sẽ thảo luận để đi đến một thoả thuận Thời điểm này thường được xác định làm sao cho nghị viên vẫn có thời gian chất vấn, còn các thành viên của Chính phủ cũng có đủ thời gian chuẩn bị câu trả lời
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ không muốn trả lời câu hỏi chất vấn thì sao Pháp luật của một số nước như Thụy Điển giải quyết vấn đề này bằng cách chấp nhận việc không trả lời này, nhưng đi kèm với nó là uy tín chính trị của Thủ tướng, hoặc các thành viên Chính phủ sẽ bị giảm sút Một số nước khác lại quy định, nếu Chính phủ không trả lời chất vấn trong một thời gian nhất định thì với yêu cầu của một lượng nghị sỹ nhất định, Nghị viện đơn phương xác định thời gian chất vấn và thông báo cho Chính phủ
c) Tiến hành chất vấn
Theo truyền thống của nhiều Nghị viện, tại phiên chất vấn, cá nhân nghị sỹ
có câu hỏi chất vấn được phép trình bày câu chất vấn của mình và Thủ tướng hoặc thành viên Chính phủ bị chất vấn trả lời câu hỏi chất vấn trong một khoảng thời gian nhất định (nhiều nhất là 15 phút)
Sau đó, các nghị sỹ có quyền đặt câu hỏi phụ đối với vấn đề chất vấn Các câu hỏi phụ này được các nghị sỹ gửi lên Chủ tọa của phiên chất vấn và người bị chất vấn phải trả lời ngay câu hỏi Thông thường, Nội quy Nghị viện các nước giới hạn cho thời gian trả lời của mỗi câu hỏi phụ là 10 phút
10 Hironori Yamaoto (2007), dẫn trên.
Trang 98
Xét về mặt nội dung của các cuộc chất vấn, người ta có thể phân biệt ba loại chất vấn:
Thứ nhất, Chất vấn để quy kết trách nhiệm Đó là các cuộc chất vấn mà
trong khi thảo luận, nghị sỹ chất vấn đả kích Chính phủ, và thể hiện thái độ bất tín nhiệm của mình đối với Chính phủ;
Thứ hai, Chất vấn mang tính thông tin Trong các cuộc chất vấn này, mục
đích là tìm ra những quan điểm của hành pháp và lập pháp về một vấn đề nào đó
Thứ ba, chất vấn mang tính khoa trương Đây là trường hợp thường xảy ra
ở các Nghị viện theo truyền thống Nghị viện Anh Để tranh thủ uy tín cá nhân, nhiều thành viên Chính phủ đã lợi dụng thủ tục chất vấn bằng cách nhờ các nghị
sỹ thân cận của mình nêu câu hỏi chất vấn để được tŕnh bày một vấn đề nào đó trước Nghị viện
d) Biểu quyết về kết quả chất vấn
Các cuộc chất vấn dù ở dạng nào thì kết thúc nó, Nghị viện cũng phải đưa
ra ý kiến của mình Nếu Nghị viện không đưa ra ý kiến thì thủ tục chất vấn không đạt được mục đích vốn có của nó và Nghị viện lúc này chỉ còn mang ý nghĩa hình thức trước hành pháp
Truyền thống Nghị viện nhiều nước ghi nhận có ba hình thức biểu quyết để xác định ý kiến của Nghị viện
Thứ nhất, Nghị viện biểu quyết thoả mãn về sự trả lời của Thủ tướng hoặc
các thành viên của Chính phủ Theo cách thức này, vấn đề tín nhiệm đối với Thủ tướng hoặc các thành viên của Chính phủ không phải đặt ra
Thứ hai, Nghị viện biểu quyết không thoả mãn Với kết quả này, Nghị viện
sẽ có thể đặt vấn đề bất tín nhiệm đối với Chính phủ theo chế độ trách nhiệm tập thể hoặc có thể đưa ra các khuyến nghị từ chức đối với các thành viên của Chính phủ (thông thường các thành viên này sẽ buộc phải từ chức để tránh sự sụp đổ tập thể của Chính phủ) Tuy nhiên, ở một số nước có thể chế hỗn hợp như Pháp, Italia, thì cho dù Nghị viện biểu quyết không thoả mãn thì Chính phủ cũng không bị buộc phải giải tán nhưng uy tín của họ sẽ bị giảm sút nghiêm trọng và cũng thường dẫn đến việc từ chức
Thứ ba, Nghị viện biểu quyết một cách trung dung, không bao hàm ý nghĩa
tán thành hay không tán thành với câu trả lời Trong trường hợp này, Nghị viện không thảo luận gì thêm và tiếp tục nghị trình
Như vậy, nếu theo cách hiểu truyền thống như trên, thủ tục chất vấn ở Việt Nam gần với thủ tục đặt câu hỏi được đề cập ở mục dưới đây nhiều hơn Đặc biệt, sau khi kết thúc quá trình chất vấn, Quốc hội Việt Nam cũng thường ra nghị quyết
về chất vấn nhưng thường chỉ nêu các khuyến nghị liên quan đến các vấn đề chất
Trang 109
vấn mà ít khi đặt vấn đề về thoả mãn hay không thoả mãn đối với kết quả trả lời chất vấn
2.3 Thủ tục điều tra của Uỷ ban điều tra
Việc thành lập Uỷ ban điều tra xuất hiện
nhiều ở các nước theo chính thể cộng hoà tổng
thống Ở đó, quyền thành lập các uỷ ban điều tra là
một quyền rất tự nhiên của Nghị viện, xuất phát từ
nguyên tắc Nghị viện có quyền được thông tin đầy
đủ về bất kỳ các vấn đề nào hành pháp đang thực
hiện, đảm bảo cơ chế “kiềm chế và đối trọng” trong
tổ chức bộ máy nhà nước
Việc thành lập Uỷ ban điều tra nhằm mục đích thu thập các thông tin để báo cáo cho Nghị viện để nếu cần, Nghị viện có thể tổ chức thảo luận và đi đến các kết luận giám sát Đặc điểm của hoạt động này là điều tra sự lạm dụng công quyền, trong đó không chỉ trong các cơ quan hành pháp Thông thường các uỷ ban điều tra được thành lập riêng biệt ở mỗi viện của Nghị viện như ở Nhật Bản Một số nước lại qui định không chỉ sự thành lập các uỷ ban điều tra độc lập ở mỗi viện, mà còn có các uỷ ban phối hợp (Tây Ban Nha)11
Để một ủy ban điều tra hoạt động có hiệu quả, ngay bước đầu thành lập, cần đảm bảo tính độc lập cho cơ quan này Tính độc lập trong hoạt động của Ủy ban thể hiện trước hết ở chỗ, các thành viên của Ủy ban và các chuyên viên giúp việc phải được cung cấp ngân sách độc lập và phải độc lập về lợi ích, tức là không liên quan đến công việc chính trước đây của mình, không có các mối quan hệ gia đình, thân thuộc với các đối tượng bị điều tra
Có thể nói mặc dù không có quyền chất vấn và đặt các câu hỏi, nhưng Nghị viện trong chính thể cộng hoà tổng thống có quyền giám sát hoạt động của hành pháp rất lớn thông qua hoạt động của các Uỷ ban điều tra Lý do khiến hình thức
Uỷ ban điều tra ít được sử dụng ở các nước có chính thể đại nghị được cho là do Chính phủ ở các nước này xuất thân từ đa số trong Nghị viện, nên Nghị viện biết rất rõ các hoạt động của Chính phủ không cần thông qua các hoạt động điều tra
a) Thành lập các uỷ ban điều tra
Ở Hoa Kỳ, các cuộc điều tra có thể do các Uỷ ban thường trực của Nghị viện tự ý tiến hành miễn là đối tượng của các cuộc điều tra thuộc thẩm quyền của
Uỷ ban Thông thường, hoạt động điều tra của các uỷ ban thường trực trong Nghị viện Mỹ do các tiểu ban tiến hành, bởi vì các uỷ ban không muốn công việc của
11 Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn; Wilhelm Lehmann (2010), Parliamentary committees of inquiry in
national systems: a comparative survey of EU Member States, European Parliament
Quyền thành lập các uỷ ban điều tra là một quyền rất tự nhiên của Nghị viện, xuất phát từ nguyên tắc Nghị viện có quyền được thông tin đầy đủ