Các chữ viết tắt BCC Truyền thông thay đổi hành vi BCHPCLB Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão BCHPCLB và TKCN Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn Bộ NNPTNT Bộ Nông nghiệp và
Trang 1HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG-CECODES
Địa chỉ: Số 46, Ngõ 41, Phố Đông Tác, Hà Nội;
ĐT: 84-4-35765643; Fax: 84-4-3976 5322; Email: vncecodes@gmail.com
========================================================
Dự án Quản lý thiên tai (VN-Haz)
Báo cáo đánh giá xã hội
Báo cáo tổng hợp
PGS TS Vũ Mạnh Lợi
GS TS Trịnh Duy Luân ThS Trần Thị Minh Thi
TS Đỗ Thiên Kính ThS Nguyễn Thị Hương
TS Nguyễn Xuân Mai
Hà Nội, tháng Ba năm 2012
Trang 2Lời cảm ơn
Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới cán bộ dự án của các văn phòng dự án tại các tỉnh, và cán bộ lãnh đạo tỉnh và huyện tại Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Ninh Thuận và Bình Định Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn tới lãnh đạo và người dân các xã Yên Phú (huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa), xã Hòa Tiến (huyện Hòa Vang, Đà Nẵng), và xã Đại Lãnh (huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu thực địa Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ văn phòng Quản lí dự án trung ương, đặc biệt là ông Cao Tuấn Minh, ông Nguyễn Cảnh Tĩnh, ông Trần Văn Huyến, bà Nguyễn Tuấn Dung, bà Nguyễn Thanh Mai đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi về mặt hậu cần Cuối cùng, chúng tôi rất cảm ơn sự giúp đỡ và hợp tác từ các thành viên trong Nhóm tư vấn đã nhiệt tình chia
sẻ công việc với chúng tôi trong quá trình chuẩn bị dự án này
Trang 3Các chữ viết tắt
BCC Truyền thông thay đổi hành vi
BCHPCLB Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão
BCHPCLB và TKCN Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn
Bộ NNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ TNMT Bộ tài nguyên và môi trường
BQLDA tỉnh Ban quản lí dự án tỉnh
BQLDATW Ban quản lí dự án trung ương
DAQLTT Dự án quản lí thiên tai
DAQLTTVN Dự án quản lí thiên tai Việt Nam
HLHPN Hội liên hiệp phụ nữ
Hội NDVN Hội nông dân Việt Nam
IEC Thông tin-giáo dục-truyền thông
QLRRTT Quản lí rủi ro thiên tai
QLRRTTCD Quản lí rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
Sở LĐTBXH Sở lao động-thương binh-xã hội
Sở NNPTNT Sở nông nghiệp và phát triên nông thôn
Sở TNMT Sở tài nguyên môi trường
TTDBKTTV Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương TTPCTTCA Trung tâm phòng chống thiên tai Châu Á
TTGD Các hoạt động truyền thông, giáo dục
TTNCNT Truyền thông nâng cao nhận thức
UBND huyện Ủy ban nhân dân huyện
UBND tỉnh Ủy ban nhân dân tỉnh
BCHPCLB Ủy ban phòng chống lụt bão
BCHPCLBTW Ủy ban phòng chống lụt bão trung ương
Trang 4Mục lục
Các chữ viết tắt 3
Tóm tắt báo cáo 6
I Giới thiệu 9
1.1 Mục tiêu của dự án 10
1.2 Hợp phần của dự án 10
1.3 Mục đích của đánh giá xã hội 11
1.3.1 Phạm vi của dự án 11
1.3.2 Các khía cạnh phân tích chính 12
II Phương pháp của đánh giá xã hội 13
2.1 Phương pháp định lượng 13
2.2 Phương pháp định tính 14
2.3 Xử lí và phân tích số liệu 16
III Tình hình kinh tế xã hội và thiên tai tại 10 tỉnh có dự án 16
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 16
3.2 Tình hình thiên tai và thiệt hại từ 2000-2010 20
3.2.1 Nghiên cứu trường hợp Quảng Nam 26
3.2.2 Nghiên cứu trường hợp Đà Nẵng 30
3.2.3 Nghiên cứu trường hợp Thanh Hóa 34
IV Công tác chuẩn bị ứng phó với thiên tai 38
4.1 Tổ chức 38
4.2 Công tác chuẩn bị của chính quyền địa phương 46
4.3 Công tác chuẩn bị của người dân địa phương 55
4.4 Di cư, các chính sách tái định cư và các nhóm dễ bị tổn thương 67
V Công tác đối phó với thiên tai 1
5.1 Công tác đối phó của chính quyền địa phương 1
5.2 Công tác đối phó của cộng đồng và hộ gia đình 4
VI Các nỗ lực khắc phục hậu quả thiên tai 6
6.1 Thống kê thiệt hại 6
6.2 Khắc phục hậu quả 7
Trang 56.3 Vai trò của chính quyền và Mặt trận tổ quốc trong việc phân bổ các
nguồn cứu trợ và vấn đề minh bạch hóa 10
VII Tác động của dự án 17
7.1 Các tác động tích cực 17
7.2 Các ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy ra 19
VIII Kết luận và khuyến nghị 19
8.1 Khuyến nghị cho hợp phần 1: Về khía cạnh thể chế: 20
8.2 Khuyến nghị cho hợp phần 2: Củng cố hệ thống dự báo thời tiết và hệ thống cảnh báo sớm 21
8.3 Khuyến nghị cho hợp phần 3: Sự tham gia của cộng đồng 21
8.4 Khuyến nghị cho hợp phần 4: Ưu tiên cho đầu tư giảm nhẹ tác hại của thiên tai 23
8.5 Khuyến nghị cho hợp phần 5: Quản lí dự án 23
PHỤ LỤC 25 Phụ Lục 1 Công cụ nghiên cứu: Bảng hỏi, bảng kiểm 25
Phụ lục 2: Các trận bão vào các tỉnh tại Việt Nam từ 1961-2010 44
Tài liệu tham khảo 52
Trang 6Việt Nam rất dễ bị ảnh hưởng bởi bão, lụt, biển xâm thực, lở đất, hạn hán và cháy rừng Bão
và lụt là những thiên tai thường gặp nhất Mưa lớn kèm theo bão thường làm mực nước sông dâng cao rất nhanh, gây nên lụt, lở đất và xói mòn khu vực lưu vực sông Bão gây ra các hậu quả nghiêm trọng không chỉ khi vào đất liền mà còn đe dọa tính mạng người dân sinh sống ở các hòn đảo hoặc làm việc trên các tàu thuyền trên biển Trong vòng 10 năm trở lại đây, thiên tai, chủ yếu là bão và lụt, đã khiến hàng nghìn người chết và bị thương, và thiệt hại tài sản khoảng 50 nghìn tỉ đồng cho người dân tại các tỉnh dự án
Với kinh nghiệm hàng thế kỷ trong việc đối phó với các mất mát và thiệt hại của rất nhiều thiên tai, một cơ cấu tổ chức chặt chẽ gồm Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão (BCHPCLB) và
Ủy ban tìm kiếm cứu nạn (TKCN) cấp trung ương đã được thành lập và tại tất cả các cấp tỉnh, huyện, xã các hoạt động phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn được kết hợp trong một Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn (BCHPCLB và TKCN) Nhìn chung, BCHPCLB và TKCN các cấp tại các tỉnh có dự án hoạt động khá giống nhau, theo sự hướng dẫn của BCHPCLB và Ủy ban TKCN Trung ương BCHPCLB và TKCN có các kế hoạch cho một loạt các hoạt động, từ gia cố và bảo vệ các công trình trọng điểm, chuẩn bị cho tình huống khẩn cấp, đối phó và phục hồi sau thiên tai Các biện pháp công trình cho hoạt động PCLB nhận được nhiều sự chú ý hơn là các biện pháp phi công trình Gần đây quản lí thiên tai dựa vào cộng đồng đã nhận được nhiều sự chú ý hơn trước
Nói chung, những người được hỏi là lãnh đạo cấp tỉnh, huyện, xã đều thể hiện hiểu biết rất tốt
về các rủi ro thiên tai và nhận thức được tầm quan trọng trong vai trò của họ Họ ý thức được trách nhiệm của mình và thể hiện sự sẵn sàng thực hiện công việc với chất lượng cao
Người dân ở các vùng hay bị bão lụt thể hiện nhiều sáng kiến sống chung và thích ứng với điều kiện có thiên tai thường xảy ra do bão lụt Họ thể hiện tính sẵn sàng tham gia và chia sẻ chi phí quản lí rủi ro thiên tai
Tuy nhiên trong thực tế vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả sự chuẩn bị, đối phó và phục hồi sau thiên tai
Dưới đây là một số khuyến nghị từ báo cáo đánh giá xã hội:
Khuyến nghị cho hợp phần 1: Về khía cạnh thể chế:
Xây dựng một cơ chế cho tất cả các ngành trong những tỉnh thường xuyên có thiên tai
để lồng ghép QLRRTT vào các kế hoạch phát triển ngành và địa phương; các phương
án khác nhau nhằm đối phó và khắc phục hậu quả cần đươc tính đến từ đầu (chứ không chỉ sau khi thiên tai xảy ra)
Xây dựng cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin, và hỗ trợ hợp tác liên ngành
Trang 7 Để phụ nữ tham gia vào các Ban PCLB ở tất cả các cấp bởi vì phụ nữ thường nhạy cảm hơn với những nhu cầu của phụ nữ và họ hiểu những mối nguy hiểm cũng như những cơ hội cho phụ nữ tốt hơn nam giới;
Hỗ trợ công tác xây dựng đội ngũ các cán bộ chuyên trách về QLRRTT và PCLB: Cân nhắc thành lập một trung tâm QLRRTT chuyên trách cấp tỉnh Hiện nay phần lớn cán bộ của BCHPCLB và TKCN là các cán bộ kiêm nhiệm và có thể bị thay đổi mỗi năm Hình thức tổ chức này khiến cán bộ khó tích lũy kinh nghiệm và không khuyến khích họ gắn bó với công việc Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Bình Định đã thành lập Trung tâm Kiểm soát và giảm nhẹ thiên tai với các cán bộ chuyên trách Đây là một bước rất tốt trong việc gây dựng các cán bộ chuyên nghiệp cho hoạt động PCLB Mô hình này cần được nghiên cứu kĩ lưỡng để phát triển cán bộ chuyên môn phù hợp cho công tác PCLB
Cần xây dựng một cơ chế có hỗ trợ bổ sung, bao gồm cả hỗ trợ về tiền mặt, cho các nhân viên PCLB và Ủy ban cứu trợ trong thời gian xảy ra thiên tai
Cần rà soát lại việc tổ chức phân phối tiền/hàng cứu trợ ở địa phương (khuyến nghị cho cấp địa phương)
Xem xét lại Nghị định 64/2008/ND-CP Nghị định này điều chỉnh việc gây quỹ và phân phối tiền/hàng cứu trợ cho các nạn nhân của thiên tai mà theo ý kiến nhiều người
có liên quan còn chưa phản ánh tốt thực tế các nỗ lực cứu trợ, đặc biệt về giới hạn thời gian của hoạt động cứu trợ và về vai trò bao trùm của Mặt trận Tổ quốc Có nhiều ý kiến đề nghị xem xét lại nghị định này có tính đến thực tế của các hoạt động cứu trợ khẩn cấp của các tỉnh trong thời gian gần đây (mở rộng thời hạn cứu trợ, nâng cao vai trò của các tổ chức/cá nhân khác ngoài MTTQ tham gia cứu trợ, và các vấn đề khác
có liên quan)
Khuyến nghị cho hợp phần 2: Củng cố hệ thống dự báo thời tiết và cảnh báo sớm
Nâng cao chất lượng hệ thống dự báo thời tiết để đưa ra thông tin kịp thời và chính xác về các hiện tượng thời tiết, đặc biết là ở các vùng hay bị thiên tai dọc theo lưu vực sông; xây dựng năng lực dự báo thời tiết ở địa phương;
Cải thiện hệ thống cảnh báo sớm về lụt bão trên các phương tiện thông tin đại chúng; phát triển hệ thống thông tin địa phương về cảnh báo bão lụt thông qua các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương Cần có hệ thống thông tin liên lạc tốt hơn cho người dân, cung cấp cho họ thông tin chính xác và kịp thời về các nguy cơ của thiên tai
Khuyến nghị cho hợp phần 3: Sự tham gia của cộng đồng
Nâng cấp hệ thống thông tin hiện có nhằm cải tiến các hoạt động thông tin-giáo truyền thông (IEC) và truyền thông thay đổi hành vi (BCC) cho các nỗ lực PCLB
dục- Cần đặc biệt quan tâm tới các hoạt động PCLB và QLRRTT dựa vào cộng đồng, đặc biệt là:
o Nâng cao nhận thức của các lãnh đạo và cán bộ trong tất cả các ngành, đặc biệt là những người không phải là thành viên của BCHPCLB địa phương và phụ nữ
Trang 8o Khuyến khích các gia đình trong vùng hay bị bão lụt có áo phao có dùng còi
và đài phát thanh
o Nâng cao khả năng đối phó với lũ lụt lớn
o Có dự trữ khi có thiên tai, đài phát thanh địa phương cần dành toàn bộ thời gian phát thanh (24 giờ một ngày) cho việc thông báo đến người dân về tình hình thiên tai và các hướng dẫn cần thiết để sinh tồn
o Truyền thông cho công tác chuẩn bị cần đặc biệt chú ý tới những người cho rằng họ có nguy cơ thấp về thiên tai Đối với những người sống ở nơi mà thiên tai tỏ ra ít nguy hiểm hơn, như những người sống ở nhà kiên cố nơi đất cao, hoặc những người sống ở các vùng mà lũ lụt thường chỉ tác động đến sản xuất nông nghiệp (như ở điểm nghiên cứu ở Thanh Hóa), nhiều người trong số họ thường có tâm lý chủ quan về bão lụt Trong trường hợp có thiên tai nghiêm trọng khác thường, thái độ này có thể khiến họ phải trả giá đắt Một số thiệt hại về người ghi nhận được ở các điểm nghiên cứu đã xảy ra chính vì điều này Thái độ chủ quan là thách thức lớn đối với BCHPCLB trong việc nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia của cộng đồng
Khuyến nghị cho hợp phần 4: Ưu tiên cho đầu tư giảm nhẹ tác hại của thiên tai
Hỗ trợ công cụ và thiết bị làm việc tốt hơn cho BCHPCLB
Hỗ trợ việc tái định cư cho những gia đình trong những khu vực nguy hiểm
Xây dựng bản đồ chi tiết, rà soát lại và hoàn thiện các kế hoạch sơ tán dân căn
cứ vào mức độ nguy hiểm của thiên tai được dự báo
Hỗ trợ xây dựng những căn nhà an toàn trong những xã thường xuyên xảy ra
thiên tai (bão lụt) Mô hình của những căn nhà an toàn do dân tự làm như Nhà Xanh ở xã Đại Lãnh (Quảng Nam), hay nhà nổi ở xã Tân Hòa (Quảng Bình) cần được hỗ trợ với sự tham gia của người dân trong xã
Khuyến nghị cho hợp phần 5: Quản lí dự án
Xây dựng hệ thống thông tin quản lí về thiên tai và cơ chế chia sẻ thông tin
cho tất cả các tỉnh và ở tất cả các cấp;
Thống kê các thông tin về thiên tai có tách riêng theo giới tính và dân tộc cần
được xem như yêu cầu bắt buộc
Các phương pháp thống kê thiệt hại cần được cải tiến để có số liệu nhanh hơn
sau thiên tai thì mới kịp thời thực hiện được các biện pháp cứu trợ
Cân nhắc việc thành lập quỹ hỗ trợ cho quản lí thiên tai để tài trợ cho các hoạt
động chuẩn bị, đối phó và phục hồi
Trang 9I Giới thiệu
Việt Nam là một trong những nước dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai nhất trên trên thế giới bởi các đặc điểm địa lí, địa hình, cơ cấu kinh tế và phân bố dân cư Việt Nam rất dễ bị bão, lụt, nước biển dâng cao, lở đất, hạn hán và cháy rừng Ví dụ, trung bình một năm Việt Nam phải chịu khoảng 5 trận bão nhiệt đới, trong đó có một phần ba được xếp vào loại bão nhiệt đới cấp độ mạnh Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng hơn vào mùa gió mùa, với ngập lụt ở vùng lưu vực sông và lũ quét (cùng với lở đất)
Mặc dù các dữ liệu lịch sử không ghi nhận sự gia tăng các thiên tai lớn ở Việt Nam, thiệt hại gần đây được ước tính cao hơn nhiều so với trước đây, chủ yếu là do sự phát triển mạnh về kinh tế và đầu tư trên khắp cả nước trong vòng hai thập kỷ vừa qua đã khiến cho mật độ các công trình hạ tầng và hoạt động kinh tế dày đặc hơn nên nếu có thiên tai thì tổn thất cũng lớn hơn Mặc dù vậy, trong tương lai dự báo các thiên tai có thể còn tăng cao hơn về mật độ và mức độ Cùng với các dự báo về mực nước biển tăng cao và nhiều biến đổi về thời tiết, kinh tế-xã hội Việt Nam, nằm dọc theo dải bờ biển hẹp và nằm ở vùng lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long, được đánh giá là có nhiều nguy cơ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu
Dựa trên các kinh nghiệm trước đây, trên nền tảng của Chiến lược quốc gia và các kế hoạch
đi kèm, dự án mới về thích ứng và giảm thiểu rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu đã được đề xuất, gọi là Dự án Quản lí Thiên tai Việt Nam Dự án này được xây dựng trên các bài học từ các dự án trước đây và bao gồm các khía cảnh của việc giảm thiểu rủi ro ở quy mô mà những dự án trước chưa hỗ trợ, chẳng hạn như hệ thống cảnh báo sớm và quản lí rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Những điểm khác biệt chính giữa dự án đề xuất và dự án giảm thiểu rủi ro thiên tai quốc gia trước đây là:
Dự án không tài trợ cho tái thiết/phục hồi sau thiên tai vì đã có Dự án bổ sung kinh phí thực hiện nhiệm vụ này
Hỗ trợ tăng cường năng lực và cơ sở hạ tầng để giảm thiểu rủi ro theo phương thức lồng ghép hai nhiệm vụ này trong bối cảnh cụ thể của các lưu vực sông được coi là
dễ bị tổn thương bởi thiên tai Trong Dự án quản lý rủi ro thiên tai (NDRMP), việc đầu tư vào các hạng mục công trình và hỗ trợ quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng đã không được liên kết với nhau và dàn trải trên toàn quốc, từ bắc đến nam
Các biện pháp công trình và phi công trình được lồng ghép, tập trung vào các lưu vực sông lớn ở miền Trung vì đây là khu vực bị thiên tai nhiều nhất ở Việt Nam Các lưu vực sông này là Sông Cả, sông Mã, Vu Gia-Thu Bồn, Trà Khúc- Trà Bồng và sông Côn trải rộng ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi Bên cạnh đó, các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định và Ninh Thuận cũng sẽ tham gia vào dự án
Vì Việt Nam là nước thường xuyên phải đối mặt với những hiểm họa thiên tai liên quan đến bão lũ và biến đổi khí hậu, do vậy, hệ thống cảnh báo sớm và dự báo thời tiết chính xác trong từng khu vực có vai trò hết sức quan trọng trong việc giảm thiểu các tổn thất Dự án này sẽ tăng cường công tác dự báo thời tiết và hệ thống cảnh báo sớm, đồng thời tăng cường năng lực cho các cơ quan liên quan ở cấp quốc gia và cấp tỉnh
Trang 10 Dự án này sẽ tiếp tục các giải pháp của dự án trước, nhưng với quy mô lớn hơn, để hỗ trợ quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng
Địa bàn của dự án nằm ở khu vực ven biển miền Trung Việt Nam, là nơi thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai như bão, lụt, lở đất, xói mòn… Những thiên tai này gây thiệt hại rất lớn về tính mạng và tài sản Bốn hệ thống sông tuy ngắn nhưng rất dốc Dự án sử dụng cách tiếp cận lồng ghép các lưu vực sông để giảm thiểu rủi ro thiên tai tại các vùng dễ bị ảnh hưởng, do vậy dự án được kỳ vọng sẽ mang lại hiệu quả tích cực về mặt môi trường
1.1 Mục tiêu của dự án
Mục tiêu chính của dự án là Nhằm hỗ trợ triển khai Chiến lược phòng tránh, ứng phó và giảm nhẹ thiên tai bằng cách tăng cường khả năng chống chịu (resilience) của người và tài sản đối với hiểm họa thiên nhiên tại những lưu vực sông lớn được lựa chọn của miền Trung Việt Nam thông qua các đầu tư chọn lọc và xây dựng năng lực Mục tiêu này sẽ đạt được thông qua các điều sau:
Tăng cường khả năng của các cơ quan quản lý rủi ro thiên tai của quốc gia, của tỉnh
và của địa phương để cải thiện việc lập kế hoạch và giảm thiểu các rủi ro, do đó giảm tổn thất về người, giảm hư hỏng về tài sản và giảm sự gián đoạn của các hoạt động kinh tế
Cải thiện hệ thống dự báo thời tiết và cảnh báo sớm để thu thập, xử lý và phổ biến thông tin cho người dân và các bên có liên quan có thể triển khai hành động kịp thời
và hiệu quả hơn, nhằm giảm nhẹ các thiệt hại thiên tai và ứng phó được với các điều kiện thời tiết một cách tổng quát hơn; và
Thực hiện các biện pháp công trình nhằm giảm thiểu rủi ro của bão nhiệt đới và rủi ro bão khác trong khu vực có ưu tiên cao Điều này có thể thực hiện được thông qua đầu
tư cho các cơ sở hạ tấng quy mô trung bình đến lớn của cấp bộ và tỉnh và những can thiệp quy mô nhỏ được xác định và tiến hành bởi các xã dễ bị tổn thương
1.2 Hợp phần của dự án
Dự án gồm 5 hợp phần:
Hợp phần 1: Tăng cường thể chế (7 triệu USD) nhằm nâng cao khả năng lập Kế hoạch Giảm thiểu Rủi ro Thiên tai (DRM) tại các cấp quốc gia, cấp khu vực và cấp tỉnh Hợp phần sẽ giúp cho việc chuẩn bị cơ sở dữ liệu giảm thiểu rủi ro thiên tai để theo dõi tiến trình hoạt động và tăng cường năng lực của Trung tâm Phòng chống và Giảm nhẹ Thiên tai (CDPM) Quốc gia mới thành lập, cải thiện/mở rộng việc lập kế hoạch quản lý thiên tai tổng hợp, hỗ trợ việc lập bản đồ và phân vùng thiên tai ở cấp tỉnh, hỗ trợ việc quản lý cơ sở dữ liệu an toàn đập, hỗ trợ thêm cho việc thiết kế tiêu chuẩn xây dựng an toàn chống thiên tai trên các vùng địa lý khác nhau; và tăng cường truyền thông về quản lý thiên tai
Hợp phần 2: Tăng cường khả năng của hệ thống dự báo thời tiết và cảnh báo sớm (30 triệu USD) Hợp phần này nhằm tăng cường năng lực cấp quốc gia, cấp vùng và cấp tỉnh về các hệ thống dự báo thời tiết và cảnh báo sớm thông qua việc trang bị các phương tiện quan trắc khí tượng thủy văn hiện đại và các cơ sở truyền thông, phát triển các cơ sở dữ liệu tốt hơn, tăng cường các hệ thống phổ biến về thời tiết và cảnh báo sớm cho các đối tượng cư dân khác
Trang 11nhau, và tăng cường nguồn nhân lực trong các cơ quan chủ chốt Việc cải thiện các hệ thống này cũng sẽ là đòn bẩy để cải thiện các dịch vụ/các sản phẩm dự báo thời tiết cho các mục đích sản xuất nông nghiệp, du lịch, xây dựng và các ngành công nghiệp khác Dự án cũng có thể tài trợ cho việc áp dụng các dữ liệu thời tiết trong lịch sử và hiện tại cho mục đích bảo hiểm
Hợp phần 3: Quản lý Thiên tai dựa vào cộng đồng (20 triệu USD) Các hoạt động chính của hợp phần nhằm hỗ trợ việc nâng cấp đáng kể cho Chương trình Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (CBDRM) của chính phủ đã được khởi xướng từ dự án NRDMP-I Các Trung tâm Phòng chống và Giảm nhẹ thiên tai (CDPM) cấp tỉnh sẽ được thành lập (hoặc tăng cường
ở nơi đã có) và hỗ trợ cho các hoạt động quản lý rủi ro thiên tai (QLRRTT) cấp huyện và xã, bao gồm việc lập kế hoạch và xây dựng chiến lược giảm thiểu rủi ro thiên tai Tài trợ sẽ dành cho việc đào tạo QLRRTT tại cấp xã cũng như các đầu tư ưu tiên quy mô nhỏ, đặc biệt là cho việc giảm thiểu tác hại của lũ lụt và hạn hán Ước tính sẽ có 10 tỉnh và 100 xã sẽ được tài trợ theo hợp phần này Có thể tìm kiếm thêm đồng tài trợ
Hợp phần 4: Hỗ trợ đầu tư ưu tiên giảm thiểu rủi ro thiên tai (90 triệu USD) Các hoạt động chính của hợp phần nhằm hỗ trợ Chính phủ trong việc thực hiện các biện pháp công trình
quan trọng đã đề xuất trong Kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng, chống và giảm
nhẹ thiên tai đến năm 2020 Phương pháp tiếp cận dựa trên lưu vực sông được áp dụng để
xác định và ưu tiên cho các tiểu dự án đầu tư trong các lưu vực được lựa chọn ở Miền Trung Các biện pháp công trình sẽ giảm thiểu các rủi ro thiên tai do lũ lụt, lở đất, bão lớn Do các quan ngại về tính an toàn, việc xây dựng các hồ chứa nước mới sẽ không phải là đối tượng được tài trợ của dự án dựa theo hợp phần này Tuy nhiên việc tái thiết một vài đập nước để tăng tính an toàn có thể được tài trợ
Hợp phần 5: Quản lí dự án (3 triệu USD) Các hoạt động chính của hợp phần nhằm hỗ trợ các hoạt động quản lý dự án, bao gồm việc chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và giám sát thực thi chính sách an toàn xã hội và môi trường, quản lý tín dụng và tài chính, v.v… Hợp phần này cũng sẽ hỗ trợ phát triển hệ thống giám sát và đánh giá (M&E) cho dự án
1.3 Mục đích của đánh giá xã hội
Đánh giá xã hội được tiến hành nhằm xác định phạm vi và các dạng hoạt động can thiệp của
dự án cần được thiết kế nhằm phát huy tối đa tiềm năng của những người tham gia dự án ở địa phương, xác định các nguồn lực bên ngoài mà họ có thể cần, và trong điều kiện nào họ
sẽ phát huy tốt nhất tiềm năng (về nhân lực và tài chính) của mình để đạt được mục tiêu của
Trang 121.3.2 Các khía cạnh phân tích chính
Đánh giá xã hội được thiết kế để cung cấp thông tin quan trọng cho quy trình chuẩn bị dự
án Vì thế, thông tin thu thập phải có ý nghĩa thực tiễn và đưa ra được các khuyến nghị thực
tế và có tính định hướng hành động Tư vấn làm việc chặt chẽ với các đối tác chính phủ trong suốt thời gian thực hiện tư vấn Tư vấn đã khuyến khích các cán bộ địa phương tham gia vào việc thu thập thông tin để phát huy quyền sở hữu dự án ngay từ giai đoạn đầu
a Tiến hành phân tích nhóm các bên liên quan, những người liên quan tới hoạt động dự án với tư cách là người hưởng lợi và những người hỗ trợ dự án Trong
đó cần quan tâm đặc biệt tới vị trí của các bên liên quan trong bối cảnh của dự án, mức độ ảnh hưởng, lợi ích của họ tại các lĩnh vực chính khi có dự án và của các nhóm/tổ chức/đoàn thể/mạng lưới xã hội, vai trò của họ trong hoạt động tham vấn, thực hiện và giải quyết xung đột
b Xác định các nạn nhân của thiên tai trước đó và các nạn nhân tiềm năng, đặc biệt
là từ 3 khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất Lập hồ sơ thông tin cơ bản về các nạn nhân nói trên từ các nguồn thông tin thứ cấp hiện có Hồ sơ này bao gồm: tóm tắt
số liệu nhân khẩu học, dân tộc, sinh kế chính, hình thức sản xuất, các nguồn kiếm thêm thu nhập, tình trạng sở hữu đất đai, sự khác biệt trong quan hệ giới, phương thức sản xuất và phân phối, việc ra quyết định cần phải được nêu bật
c Thu thập thông tin chung về địa phương nơi mà nạn nhân sinh sống như: lịch sử cộng đồng, những nhà lãnh đạo chính thức và không chính thức, các hoạt động cộng đồng và bất kỳ thông tin nào có thể hỗ trợ việc thiết kế dự án đưa ra các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu tác hại
d Rà soát lịch sử tình hình thiên tai xảy ra qua vài thập niên gần đây để xác định các yếu tố sau đây: tác động của thiên tai (chẳng hạn mất mát về người và của); thời gian phục hồi, loại hình và thời gian hỗ trợ của chính phủ, tầm quan trọng và các loại hình mạng lưới an toàn phi chính thức, các cơ chế phòng chống thiên tai, vv
e Đánh giá mức độ nhiệt tình của người dân trong việc cải thiện tình hình phòng tránh thiên tai và các hình thức cải thiện nên được tiến hành: Họ có nắm được nguyên nhân gây ra thiên tai không? Họ có đề xuất được cách thức phòng chống không? Theo họ, trách nhiệm của chính phủ và cộng đồng là gì?
f Đánh giá vai trò và trách nhiệm của các cấp trong việc phòng chống, giảm thiểu tác hại và khắc phục hậu quả: Điều gì họ có thể làm tốt và những khó khăn nào
mà họ đang gặp phải? (Chuyên gia về thể chế trong nhóm chuẩn bị dự án sẽ có nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về vấn đề này nhưng Tư vấn đánh giá xã hội có thể xem xét vấn đề này từ góc độ xã hội)
g Xác định xem liệu những biện pháp cải thiện mà Dự án dự định sẽ sử dụng có tác động tiêu cực đến người dân tộc thiểu số và các nhóm dễ bị tổn thương hay không? Đánh giá phạm vi tác động và các nhóm dân tộc thiểu số tiềm năng có thể bị ảnh hưởng
h Xác định liệu người dân có bị ảnh hưởng bởi các biện pháp cải thiện sẽ được Dự
án áp dụng thông qua việc thu hồi tài sản/đất đai và khả năng di dời khỏi nơi mà
Trang 13họ sinh sống Tham khảo công việc của Hội chữ thập đỏ trong khuôn khổ chương trình hỗ trợ Chính phủ xây dựng và làm nhà kiên cố tránh thiên tai cho người dân trong khu vực dễ bị tổn thương Đánh giá xem liệu chương trình có thực thi các biện pháp chính sách an toàn đầy đủ đáp ứng yêu cầu OP 4.12 của WB về tái định cư không tự nguyện hay không?
II Phương pháp của đánh giá xã hội
2.1 Phương pháp định lượng
Điều tra đinh lượng được tiến hành tại các xã được lựa chọn thuộc lưu vực sông Mã ở Thanh Hóa và sông Vu Gia – Thu Bồn thuộc Quảng Nam và Đà Nẵng Tại mỗi tỉnh, dựa trên tham vấn với Ban quản lý dự án và BCHPCLB chọn một huyện hay bị ảnh hưởng bởi thiên tai Tại huyện đó chọn một xã bị thiên tai năng nhất Tại xã đó chọn một thôn hay bị ảnh hưởng nhất
và một thôn chịu ảnh hưởng ở mức trung bình Các hộ gia đình trong thôn được chọn ngẫu nhiên Kết quả là có 200 hộ gia đình ở Thanh Hóa, 207 hộ ở Đà Nẵng và 200 hộ ở Quảng Nam đã được phỏng vấn bằng bảng hỏi có cấu trúc (tổng cộng có 607 người trả lời tại 3 xã thuộc 3 tỉnh đã được phỏng vấn)
Bảng 2.1.1 cho thấy các đặc điểm của người trả lời Ở Đà Nẵng, số người trả lời là nữ cao hơn hẳn so với số người trả lời là nam bởi tại thời điểm phỏng vấn rất nhiều nam giới vắng nhà Cơ cấu tuổi của mẫu nghiên cứu tại Thanh Hóa bao gồm nhiều người trẻ hơn so với hai tỉnh còn lại Mẫu nghiên cứu tại Thanh Hóa cũng bao gồm người trả lời có trình độ học vấn khá cao so với hai tỉnh còn lại Hầu hết người trả lời ở cả ba tỉnh đều làm nông nghiệp (bao gồm một tỷ lệ nhỏ làm việc trong lâm nghiệp và ngư nghiệp) Tỷ lệ nghèo cao nhất ở tỉnh Quảng Nam, và thấp nhất ở Thanh Hóa Mẫu nghiên cứu ở tỉnh Quảng Nam cũng là nơi có tỷ
lệ người trả lời sống trong nhà kiên cố thấp nhất do đây là xã nghèo hơn so với xã được nghiên cứu ở Thanh Hóa và Đà Nẵng
Bảng 2.1.1 Đặc điểm của người trả lời (%)
Thanh Hóa (N=200)
(N=207)
Quảng Nam (N=200) Giới tính
Trang 14Điểm yếu của mẫu định lượng liên quan đến tính đại diện của người dân tộc thiểu số là ở tất
cả các xã được nghiên cứu dân tộc Kinh là nhóm chủ yếu Dân tộc thiểu số thường sống ở các vùng núi cao vùng sâu vùng xa nơi thường xuyên xảy ra lũ quét và lở đất, hơn là ở các vùng đồng bằng nơi hàng năm thường xảy ra lụt lớn và kéo dài đi kèm với bão Do đó các xã dân tộc thiểu số không được thể hiện trên mẫu nghiên cứu có trọng tâm là các xã hay bị lụt nặng Thông tin về dân tộc thiểu số chỉ được thu thập qua số liệu định tính và thu thập thông tin thứ cấp Thông tin bổ sung về người dân tộc thiểu số có thể thấy trong các báo cáo của các nhóm
tư vấn khác
2.2 Phương pháp định tính
Phân tích bao hàm nhiều loại tài liệu khác nhau, như báo cáo thông kê hàng năm về bão lụt
và tìm kiếm cứu nạn cho thời kỳ từ năm 2000 đến 2010, các tài liệu và số liệu của BCHPCLB
và TKCN, tài liệu cấp tỉnh thu thập được từ điền dã và trên trang điện tử của các tổ chức, báo cáo thống kê hàng năm cấp huyện, xã, tài liệu từ các dự án giảm thiểu thiên tai, tài liệu của
các tổ chức đoàn thể và các tổ chức phi chính phủ hoạt động về quản lí thiên tai (xem danh
sách tài liệu tham khảo) Các tài liệu này không chỉ bao gồm thông tin về giảm thiểu rủi ro thiên tai mà còn bao gồm các thông tin về tình hình kinh tế-xã hội và văn hóa của các địa phương nghiên cứu
Ngoài việc phân tích tài liệu sẵn có, nhóm tư vấn còn tiến hành các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Các phỏng vấn sâu được tiến hành với các cán bộ nhà nước và lãnh đạo các UBND và các tổ chức quần chúng cấp tỉnh, huyện, xã Đây là một công cụ khá linh hoạt nhằm giúp người tham gia cung cấp các thông tin rất có giá trị về hiệu quả và tác động của dự
án Phương pháp này tỏ ra rất có hiệu quả khi nghiên cứu thực địa bởi thông tin thu được rất chi tiết và là phương pháp linh hoạt cho cả người hỏi lẫn người trả lời đưa ra các quan điểm khác nhau
Các thảo luận nhóm giúp thu thập thông tin đa dạng về suy nghĩ và nhận thức chung của người dân Các hộ tham gia thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được lựa chọn từ các hộ đã được phỏng vấn bằng bảng hỏi để thu thập thông tin sâu hơn về đền bù, trợ giúp, tái định cư, dân tộc thiểu số và phục hồi sinh kế Một vài người được hỏi độc lập để tìm hiểu về nhận
Trang 15thức, thái độ và hành vi của họ về việc chuẩn bị, đối phó với thiên tai và phục hồi sau thiên tai Mỗi nhóm bao gồm từ 8 đến 10 người Các loại thảo luận nhóm đã thực hiện:
Họp tham vấn với lãnh đạo và cán bộ cấp tỉnh về thiên tai ở tại 10 tỉnh
Thảo luận nhóm với lãnh đạo và cán bộ huyện tại 3 huyện nghiên cứu
Thảo luận nhóm với lãnh đạo và cán bộ xã: các tổ chức đoàn thể, trưởng thôn, UBND, BCHPCLB
Thảo luận nhóm với người dân tại các xã, bao gồm các nhóm xã hội khác nhau
Trong quá trình thực địa, các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm đã được thực hiện:
Nghệ An: 4 phỏng vấn sâu và một thảo luận nhóm với đại diện của sở NNPTNT và BCHPCLB;
Hà Tĩnh: 8 phỏng vấn sâu và một thảo luận nhóm với đại diện của sở NNPTNT và BCHPCLB;
Quảng Bình: 4 phỏng vấn sâu với sở NNPTNT và sở TNMT;
Quảng Trị: 7 phỏng vấn sâu và một thảo luận nhóm với đại diện của sở NNPTNT và BCHPCLB, ban quản lí các dự án thủy lợi;
Quảng Ngãi: 4 phỏng vấn sâu với sở NNPTNT, sở TNMT, MTTQ, sở LĐTBXH;
Bình Định: 5 vấn sâu với sở NNPTNT, sở TNMT, MTTQ, sở LĐTBXH;
Ninh Thuận: 17 phỏng vấn sâu với sở NNPTNT, sở TNMT, Hội LHPN, sở GTVT, sở xây dựng và UB dân tộc;
Đà Nẵng: 9 phỏng vấn sâu với cán bộ các sở NNPTNT, sở TNMT, sở LĐTBXH, MTTQ, Hội chữ thập đỏ; 9 phỏng vấn sâu với UBND huyện, phòng NNPTNT, phỏng giáo dục, y tế, tài chính v.v…; 25 cán bộ xã trên nhiều lĩnh vực; 32 phỏng vấn sâu và
7 thảo luận nhóm với nạn nhận, người dân, hộ nghèo, nam/nữ, và nhóm khá giả;
Thanh Hóa: 8 phỏng vấn sâu và 1 thảo luận nhóm với sở NNPTNT, sở TNMT, sở LĐTBXH, MTTQ, Hội chữ thập đỏ; 6 phỏng vấn sâu với cán bộ UBND huyện, cán
bộ phòng NNPTNT, y tế, giáo dục, tài chính; 15 thảo luận nhóm với cán bộ xã tại các điểm nghiên cứu, 8 phỏng vấn sâu và 4 thảo luận nhóm với các nạn nhân, người dân
và các nhóm dễ bị tổn thương;
Quảng Nam: 4 phỏng vấn sâu và 1 thảo luân nhóm với cán bộ cấp tỉnh của sở NNPTNT, sở TNMT, sở LĐTBXH, MTTQ, hội Chữ thập đỏ; 3 phỏng vấn sâu với cán bộ UBND huyện, cán bộ phòng NNPTNT, y tế, giáo dục, tài chính; 5 phỏng vấn sâu với cán bộ UBND huyện, cán bộ phòng NNPTNT, y tế, giáo dục, tài chính; 15 thảo luận nhóm với cán bộ xã tại các điểm nghiên cứu,; 9 phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các nạn nhân, người dân và các nhóm dễ bị tổn thương, 1 thảo luận nhóm nam
Tổng cộng, tại 10 tỉnh, ở cấp tỉnh đã phỏng vấn sâu 70 trường hợp, 6 thảo luận nhóm với những người liên quan; ở cấp huyện đã có 18 phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm; ở cấp xã đã
có 45 phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm; tại cấp cộng đồng đã có 49 phỏng vấn sâu và 12 thảo luận nhóm
Phương pháp quan sát trực tiếp cũng là một trong các phương pháp thu thập số liệu được sử dụng tại các điểm nghiên cứu Nhóm tư vấn đã đánh giá cơ sở vật chất, nhà cửa và điều kiện của trang thiết bị Ngoài ra còn có ảnh minh họa trong các phần sau
Trang 162.3 Xử lí và phân tích số liệu
Xử lí và phân tích số liệu định lượng: Số liệu thống kê thu được từ bảng hỏi được xử l bằng
phần mềm thống kê SPSS 17.0 Xử lí số liệu bao gồm làm sạch số liệu và mã hóa, kiểm tra tính thống nhất của số liệu, mã hóa lại và phân tích
Các bảng mô tả được lấy ra để phân tích và chuẩn bị báo cáo Các dữ liệu thu thập được được lưu giữ trong bộ dữ liệu để sử dụng cho giám sát và đánh giá trong thời điểm thực hiện dự án
Xử lí và phân tích số liệu định tính: Số liệu định tính được thu thập qua các tài liệu sẵn có,
quan sát, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, được ghi âm hoặc ghi chép lại, xử lý và phân tích Kết quả định tính giúp giải thích rõ hơn kết quả định lượng và thể hiện quan điểm cũng như sự đồng thuận hay không đồng thuận của người dân đối với dự án và giúp tìm ra các vấn
đề mà người dân quan tâm, ví dụ như sinh kế, đời sống, quá trình chuẩn bị, đối phó và phục hồi sau thiên tai
III Tình hình kinh tế xã hội và thiên tai tại 10 tỉnh có dự án
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
a) Đặc điểm địa hình:
Các tỉnh duyên hải miền trung thuộc dải đất nằm giữa dãy Trường Sơn về phía Tây và Biển Đông, trải dài từ Thanh Hóa đến Ninh Thuận với khoảng hơn 1000 km bờ biển Dải đất bị chia cắt bởi nhiều nhánh của dãy Trường Sơn ăn ra biển, do đó địa hình khá dốc và vùng đồng bằng rất hẹp Trong vùng có nhiều sông, ví dụ như sông Mã ở Thanh Hóa, sông Gianh ở Quảng Bình, sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, sông Hương ở Thừa Thiên Huế, sông Vu Gia ở
Đà Nẵng, sông Thu Bồn ở Quảng Nam, sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi, sông Côn ở Bình Đinh
b) Đặc điểm khí tượng thủy văn:
Do các tỉnh miền trung trải dài từ Bắc vào Nam, điều kiện khí hậu thay đổi khá rõ rệt Vùng này nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 270C và có bốn mùa rõ rệt trong năm Về chế độ mưa thì trong năm có hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4 Mùa mưa ở vùng Bắc Trung bộ thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng
10, và ở vùng Nam Trung bộ là từ tháng 10 đến tháng 12
Khí hậu ở vùng miền Trung chia thành 2 khu vực: khu vực Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ
Ở vùng Bắc Trung bộ (bao gồm toàn bộ phía bắc đèo Hải Vân) do gió mùa thổi theo hướng đông bắc mang theo hơi ẩm từ biên vào nên mùa đông vùng này chịu ảnh hưởng bởi thời tiết lạnh và mưa Điều này khác biệt hoàn toàn với mùa đông ở vùng phía bắc Vào mùa hè, không có hơi ẩm từ biển vào và gió mùa Tây Nam tới (còn gọi là gió Lào) khiến cho thời tiết nóng và khô Vào mùa này, nhiệt độ ban ngày có thể lên trên 400C trong khi độ ẩm rất thấp
Ở vùng Nam Trung bộ (bao gồm vùng đồng bằng ở Nam Trung bộ và phía nam đèo Hải Vân), gió mùa Đông Bắc thường suy yếu khi tới vùng này bởi bị chặn bởi dãy Bạch Mã Do
đó, vào mùa hè khí hậu thường khô và nóng khi gió Tây nam thổi mạnh từ vinh Thái Lan qua dãy Trường Sơn Đặc điểm nổi bật của khí hậu vùng miền trung là mùa mưa và mùa khô không diễn ra đồng thời giữa vùng Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ
Trang 17Các sông ở vùng miền Trung thường ngắn và dốc, do đó lũ chảy mạnh Các cửa sông bị chặn lại rất nhanh khiến nước lũ không thoát được, thường gây ra lũ Lưu lượng nước ở các sông vùng miền trung chịu ảnh hưởng của thủy triều từ Biển Đông
Trong vùng cũng có nhiều hệ thống thủy lợi, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước, xả nước, và là đường thủy cho khu vực
c) Điều kiện kinh tế
Đây là vùng kinh tế trọng điểm, với rất nhiều thuận lợi về vị trí chiến lược, 17 cảng biển, 15 khu kinh tế, 22 khu công nghiệp, 2 khu chế xuất, 8 sân bay, 2 quốc lộ, và hành lang kinh tế Đông-Tây, và rất nhiều dự án trị giá hàng chục tỷ USD Tuy nhiên, vào thời điểm hiện tại, những tiềm năng hiện có chưa được tận dụng để phát triển các thế mạnh kinh tế vùng khi mà các tỉnh thành phố đều có những thuận lợi nhất định nhưng còn thiếu quy hoạch, và sản xuất vẫn còn mang tính chất nhỏ lẻ tự phát Các cảng nước sâu Chân Mây, Đà Nẵng, Kỳ Hà, và Dung Quất vẫn chưa hoạt động hết công suất Các khu công nghiệp, chế xuất vẫn còn thiếu hấp dẫn đối với đầu tư từ trong nước và nước ngoài Dự án cảng nước sâu và khu công nghiệp Dung Quất đã tạo ra một vùng kinh tế trọng điểm trải dài từ Liên Chiểu (Đà Nẵng) tới Dung Quất (Quảng Ngãi), hình thành một trục du lịch – công nghiệp dọc theo bờ biển từ Đà Nẵng tới Dung Quất Song song đó là một dải đô thị dọc bờ biển, bao gồm Huế, Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn và các khu công nghiệp lớn như Chân Mây – Lăng
Cô, Chu Lai, Dung Quất và Nhơn Hội
Trong vùng dự án, thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế của vùng kinh tế miền trung với
cơ cấu kinh tế tập trung chủ yếu vào Xây dựng – Công nghiệp và dịch vụ (97%) Do Quảng Ngãi có khu công nghiệp Dung Quất, nên trong vùng dự án cơ cấu kinh tế của vùng này cao nhất về công nghiệp (59,3%), mặc dù vậy nông nghiệp vẫn chiếm phần quan trọng (22,1%)
và dịch vụ vẫn còn chưa phát triển (18,6%) Ba tỉnh có tỷ lệ nông nghiệp khá cao trong cơ cấu kinh tế là Nghệ An – 38,1%, Bình Định – 35,0%, và Ninh Thuận – 42,6% Năm tỉnh còn lại có cơ cấu Công nghiệp – Xây Dựng và dịch vụ khoảng 70% Tỉnh có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất trong năm 2009-2010 là Quảng Ngãi là 72,9%, chủ yếu từ nhà máy lọc dầu Dung Quất và khu công nghiệp Dung Quất Nhóm các tỉnh đứng thứ hai về tăng trưởng GDP khoảng trên 10% (từ 10,8% đến 13,3%) là: Quảng Nam, Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa Nhóm thứ ba về tăng trưởng GDP dưới 10% là: Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định và Ninh Thuận (8,4%-9,3%)
Bảng 3.1.1 Một vài đặc điểm kinh tế của các tỉnh dự án năm 2009
quân (USD)
Tốc độ tăng trưởng GDP (%)
Tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp (%)
Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng (%)
Tỷ trọng dịch vụ (%)
Trang 18Bảng 1.1.2 Cơ cấu sử dụng đất ở các tỉnh dự án
Tỉnh dự án
Tổng diện tích
Đất nông nghiệp Đất rừng
Đất đặc chủng Đất ở Bờ biển (nghìn ha) (nghìn ha) (nghìn ha) (nghìn ha) (nghìn ha) km Thanh Hóa 1113,3 245,7 566,0 67,3 50,2 102 Nghệ An 1649,1 250,1 915,9 53,2 20,2 82
chiếm khoảng 40%, số hộ có khoảng 2.000-5.000
m2 chiếm khoảng 45,3% Chỉ có 5,3% số hộ có hơn 1 ha đất nông nghiệp Sự phụ thuộc vào diện tích đất nông nghiệp hạn chế và tần số thiên tai cao khiến cho người nông dân ở vùng dự
án có khả năng bị tổn thương cao và khả năng phục hồi thấp (Báo cáo SIA, 2011)
e) Dân số và thu nhập
Dân số các tỉnh miền trung là 18.835.154 người (2009) Trong số các tỉnh dự án, các tỉnh đông dân nhất là Thanh Hóa – 3.400.595 và Nghệ An – 2.912.041 người, và tỉnh ít dân nhất
là Ninh Thuận – 564.993 và Quảng Trị – 598.324 người
Bảng 3.1.3 Dân số các tỉnh miền trung và các tỉnh dự án năm 2009
TT
Tỉnh
Dân số năm 2009
Trang 19TT
Tỉnh
bộ và chỉ thấp hơn hai vùng nghèo nhất ở Việt Nam, đó là vùng núi phía Bắc (31,6%) và Tây Nguyên (24,1%) Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo cũng chậm lại trong những năm gần đây Tỷ
lệ nghèo ở Đà Nẵng – thành phố lớn nhất khu vực miền Trung, và là thấp nhất trong các tỉnh
dự án, là 3,5%, thấp hơn cả vùng đô thị toàn quốc (6,7%), năm 2008 Tỷ lệ nghèo năm 2008
ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Quảng Bình là cao nhất trong các tỉnh dự án (24,9%, 26,5% và 21,9%), Bình Định có tỷ lệ nghèo thấp nhất (ngoại trừ Đà Nẵng), là 14,2% Trong vòng 3 năm từ 2006-2008, Quảng Ngãi đã giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, từ 22,5% xuống còn 19,5%, do
sự hoạt động của khu công nghiệp Dung Quất đã tạo hàng nghìn việc làm cho lao động địa phương Nghèo đói ở vùng dự án là một trong các nhân tố ảnh hưởng tới việc phòng tránh,
đối phó và phục hồi sau thiên tai của cộng đồng trong vùng dự án
Bảng 3.1.5 Tỷ lệ nghèo theo vùng và tỉnh (%)
Trang 20Người dân tộc thiểu số làm việc trong nông nghiệp chiếmm tỷ lệ lớn, 90,9%, cao hơn nhiều
so với người Kinh, 74,1% Do đó, thiên tai sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và thu nhập của họ, làm yếu khả năng đối phó và phục hồi sinh kế trước thiên tai như bão, lụt và hạn hán
3.2 Tình hình thiên tai và thiệt hại từ 2000-2010
Khái niệm Bão: Theo tác giả Nguyễn Văn Tuyên về các khái niệm về thiên tai trên trang điện
tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Trung tâm quốc gia Dự báo khí tượng thủy văn, các hiện tượng thiên nhiên như bão, áp thấp nhiệt đới, và bão nhiệt đới đều thuộc khái niệm bão chung hơn (Nguyễn Văn Tuyên 2011) Các khái niệm này chỉ mức độ khác nhau của tốc độ
di chuyển của cơn bão Ở Việt Nam các khái niệm này đều được hiểu dưới một khái niệm chung là ―bão‖ và khái niệm bão thường được dịch sang tiếng Anh là ―storm‖ Ủy ban phòng chống lụt bão trung ương cũng dùng từ ―storm‖ để chỉ khái niệm mà tác giả Nguyễn Văn Tuyên đề cập đến như là ―typhoon‖ Để đơn giản hóa, từ ―bão‖ sẽ sử dụng cho một diện rộng khái niệm như bão, áp thấp nhiệt đới và bão lốc
Các thiên tai như bão, sấm chớp, lụt lội, lũ quét, lở đất, xói mòn, ngập mặn, hạn hán và cháy rừng đều xuất hiện ở các tỉnh có dự án
Bão và lụt là hai loại thiên tai thường gặp nhất tại 10 tỉnh Bão thường vào từ biển và kèm theo mưa lớn, làm dâng mực nước sông rất nhanh và gây lụt lụt trên diện rộng Bão thường gây ảnh hưởng ở vùng ven biển và gây lụt lội ở vùng đất liền Tại 10 tỉnh có dự án đều có vùng bờ biển rộng, dễ bị ảnh hưởng bởi bão Các tỉnh ở miền Trung Việt Nam có đặc tính địa
lý riêng với địa hình cao và các núi dốc từ phía tây đổ xuống bờ biển phía đông, qua các con sông ngắn hơn sông Hồng ở miền Bắc và sông Cửu Long ở miền Nam Trong điều kiện này, mưa lớn kèm theo bão thường khiến cho nước sông dâng cao, gây lũ, lở đất và xói mòn ở lưu vực sông
Trang 21Trong thời gian từ 1961 đển 2010, đã có 246 cơn bão đổ bộ vào các tỉnh ven biển Việt Nam (xem Phụ lục 2) Tất cả các cơn bão này đổ bộ vào một hoặc nhiều tỉnh tại Việt Nam Thanh Hóa là tỉnh chịu nhiều bão nhất trong thời gian này, 88 cơn bão, nhiều hơn gấp nhiều lần số cơn bão đổ vào Ninh Thuận và Bình Định (55 cơn bão), Quảng Ngãi, Quang Nam, Đà Nẵng, Quảng Trị (46 cơn bão), và Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An (42 cơn bão) (Biểu 3.2-1) Trong vòng 10 năm trở lại đây, Thanh Hóa cũng là tỉnh chịu nhiều bão nhất Trung bình một năm Thanh Hóa chịu khoảng 2 cơn bão trong khi các tỉnh khác chỉ chịu 1 cơn bão Trong vòng 10 năm trở lại đây các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Bình Định, và Ninh Thuận, mỗi tỉnh phải hứng chịu 3 cơn bão cấp 10 hoặc mạnh hơn (tốc độ gió từ 89-102km/h hoặc cao hơn) Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi chỉ phải chịu 2 cơn bão cấp 10 hoặc mạnh hơn trong khoảng thời gian này (2000-2010)
Bão gây thiệt hại năng nề không chỉ khi đổ bộ vào đất liền mà cũng gây nguy hiểm cho người dân sinh sống trên các hòn đảo hoặc sinh sống trên các tàu thuyền trên biển Năm 2007 có khoảng hơn 3000 tàu/thuyền bị nhấn chìm bởi thiên tai, chủ yếu là bão Năm 2006 bão số 1 (bão Chanchu) đã được dự báo sẽ vào miền Trung Việt Nam nhưng đã bất ngờ đổi hướng lên phía bắc đến Trung Quốc và đã phá hủy rất nhiều tàu thuyền của Việt Nam đã được neo đậu
ở một nơi tưởng là an toàn xa đường đi của bão Chanchu Do đó, mặc dù bão Chanchu không
đổ bộ vào Việt Nam nhưng nó đã gây thiệt hại rất lớn về người và tàu thuyền Tại Đà Nẵng, bão Chanchu đã đánh chìm 10 tàu/thuyền, làm hư hỏng nặng 20 tàu/thuyền, làm chết 224
Trang 22người, trong đó có 74 người ở Đà Nẵng Thiệt hại về vật chất mà bão Chanchu gây ra ước tỉnh khoảng 24 tỷ đồng VN (BCH phòng chống lụt bão TP Đà Nẵng 2007) Ở Quảng Nam, riêng xã Bình Minh (huyện Thăng Bình), 87 ngư dân của 72 hộ gia đình trong xã đã bị thiệt mạng bởi bão Chanchu Bài học buồn của bão Chanchu cho ngư dân ở Đà Nẵng, Quảng Nam
và Quảng Ngãi cho thấy tầm quan trọng của việc dự báo sớm và chính xác thiên tai
Bảng 3.2.1 Thiệt hại về người và của do tất cả các loại thiên tại các tỉnh có dự án WB5
Thiệt hại từ thiên tai
Số người chết và mất tích
Số người bị thương
Thiệt hại ước tính (tỷ VND)
Trong thời gian từ 1990 đến 2010 Nghệ An đã phải chịu 34 cơn bão và 29 trận lụt lớn, làm
432 người thiệt mạng và làm bị thương 523, tổng thiệt hại về vật chất khoảng 6.031.674 triệu đồng Trong vòng 5 năm trở lại đây, từ 2006-2010, bão và lụt đã làm chết 178 người và bị thương 106 người, tổng thiệt hại về vật chất là 4.677.000 triệu đồng (Số liệu của BCHPCLB Nghệ An)
Trang 23Dưới đây là số liệu cụ thể thiệt hại về người và vật chất do thiên tai tại các tỉnh có dự án WB5
Bảng 3.2.2 Thiệt hại về người và vật chất do bão lụt từ 1990-2010 tại Nghệ An
Năm Số người chết Số người bị thương Thiệt hại vật chất (tỷ đồng)
Nguồn: Số liệu BCHPCLB tỉnh Nghệ An
Bảng 3.2.3 Thiệt hại về người và vật chất do bão lụt từ 2000-2008 tại Quảng Bình
Năm Số người chết Số người bị
thương Thiệt hại vật chất
Trang 24Nguồn: UBND tỉnh Quảng Bình 2010 Kế hoạch Quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp đến năm
2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Đồng Hới: UBND tỉnh Quảng Bình
Bảng 3.2.4 Thiệt hại về người và vật chất do bão lụt từ 2000-2008 tại Quảng Trị
Năm Số người chết Số người bị
thương Thiệt hại vật chất (tỷ đồng)
Nguồn:Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão tỉnh Quảng Trị unknown Tổng hợp diễn biến các
đợt lũ lụt thiên tai từ năm 1998 đến 2007 ở Quảng Trị Đông Hà
Sở NNPTNT tỉnh Quảng Trị Biểu tổng hợp thiệt hại tài sản do thiên tai gây ra từ năm 1999-2007 tại Quảng Trị Đông Hà
Sở NNPTNT tỉnh Quảng Trị Bảng thống kê 2009 Tình hình thiệt hại do bão số 9 và mưa lũ sau bão gây ra Đông Hà
Bảng 3.2.5 Thiệt hại về người và vật chất do bão lụt từ 2000-2010 tại Quảng Ngãi
Năm Số người chết Số người bị thương Thiệt hại vật chất (tỷ đồng)
Trang 25Bảng 3.2.6 Thiệt hại về người và vật chất do bão lụt từ 2000-2010 tại Bình Định
Năm Số người chết Số người bị thương Thiệt hại vật chất (tỷ đồng)
Sở LĐTBXH tỉnh Bình định 2011 Tổng kết công tác PCLB và TKCN, cứu trợ năm
2010 và phương án nhiệm vụ PCLB-GNTT năm 2011 Quy Nhơn: Sở LĐTBXH tỉnh Bình định
Bão và lụt là hai loại thiên tai chủ yếu ở Quảng Ngãi Số liệu của BCHPCLB Quảng Ngãi ghi nhận bão lụt đã làm thiệt mạng 36 người năm 2007, 30 người năm 2008 và 42 người năm
2009 (UBND tỉnh Quảng Ngãi 2011a) Năm 2010 Quảng Ngãi phải hứng chịu 6 cơn bão, 3 trận lũ và 2 trận lốc xoáy, làm thiệt mạng 45 người, sập 66 căn nhà và làm 148 ngôi nhà hư hỏng nặng, ngập lụt 21.800 ngôi nhà, gây thiệt hại nặng nề về sản xuất nông nghiệp và cơ sở
hạ tầng, ước tính khoảng 474,03 tỷ (UBND tỉnh Quảng Ngãi 2011b)
Yếu tố giới thường không được nhắc đến trong các số liệu về nạn nhân của thiên tai Số liệu
về thiên tai thường chỉ ghi chú số nạn nhân mà không có thêm thông tin về giới tính hay dân tộc của nạn nhân Tuy nhiên, từ danh sách cụ thể về số người thiệt mạng, có thể xác định giới tính của người thiệt mạng qua tên của họ Cách này không hoàn toàn chính xác vì tên có thể dùng chung cho cả nam và nữ Khi nghiên cứu kỹ những danh sách này, chúng tôi cho rằng chỉ có một số ít tên có thể vừa là nam vừa là nữ Do đó tên nạn nhân cũng có thể cho chúng ta biết về giới tính của nạn nhân
Dường như tỷ lệ nam giới bị thiệt mạng do bão lụt thường cao hơn Ví dụ, trong danh sách tên của 36 nạn nhân thiệt mạng ở Quảng Ngãi năm 2007, chỉ có 9 phụ nữ; năm 2008 chỉ có 2 phụ nữ trên tổng số 25 nạn nhân Tại huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) năm 2009, bão số 9 làm
Trang 26thiệt mạng 23 người và chỉ có 6 phụ nữ Nhưng người bị thiệt mạng bởi thiên tai khi đang làm việc trên tàu cá thường là nam giới Ví dụ như bão Chanchu năm 2006 (mặc dù không vào đất liền), đã làm thiệt mạng 87 ngư dân nam thuộc 72 hộ tại xã Bình Minh (huyện Thăng Bình) Năm 2010, toàn bộ 19 người thiệt mạng đều là ngư dân nam đang ở trên tàu ngoài biển (danh sách nạn nhân và nguyên nhân thiệt mạng do BCHPCLB Quảng Ngãi cung cấp) Tuy nhiên ngay cả trong số những nạn nhân thiệt mạng trên đất liền vì thiên tai thì tỷ lệ nam giới vẫn cao hơn nhiều so với phụ nữ Trong danh sách 13 nạn nhân thiệt mạng do thiên tai khi không ở trên tàu/thuyền năm 2010 tại Quảng Ngãi, chỉ có 3 phụ nữ và một trẻ em (không có thông tin về giới tính của em nhỏ này)
Phụ nữ và trẻ em là thân nhân của nam giới thiệt mạng phải chịu những hậu quả lâu dài từ cái chết của chồng và cha họ
3.2.1 Nghiên cứu trường hợp Quảng Nam
Bão lụt cũng được coi là thiên tai nguy hiểm nhất gây ảnh hưởng đến cuộc sống của rất nhiều người dân ở Quảng Nam
Tại Quảng Nam trong vòng 10 năm trở lại đây thiên tai đã làm thiệt mạng 663 người, làm bị thương hơn 700 người và gây thiệt hại về vật chất khoảng hơn 1000 tỷ đồng Ước tính hàng năm thiệt hại về vật chất chiếm khoảng 1,5% GDP của tỉnh (phỏng vấn lãnh đạo UBPCBL tỉnh) (xem thêm chi tiết tại (UBND tỉnh Quảng Nam 2010b))
Bảng 3.2.1.1 Thiệt hại về người và vật chất do mọi loại thiên tai từ 1997-2009 tại
Quảng Nam Năm Số người chết Số người bị
Nguồn: Kế hoạch quản lý rủi ro do thiên tai tại Quảng Nam đến năm 2020, đính kèm Quyết
định số 1080/QD-UBND do Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Nam ngày 07/04/ 2011
So với Thanh Hóa và Đà Nẵng, mức độ thiệt hại của Quảng Nam do thiên tai lớn hơn gấp nhiều lần Đánh giá xã hội được tiến hành ở cấp tỉnh tới cấp hộ gia đình, trong đó tham vấn cộng đồng được tiến hành ở xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc
Trang 27Huyện Đại Lộc là một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm ở lưu vực sông Vu Gia và sông Côn Đại Lộc có 18 xã và một huyện lỵ Đại Lộc phải chịu lụt hàng năm Các vùng chịu lụt nặng thường xuyên là Đại Hưng, Đại Lãnh, Đại Đồng, Đại An, Đại Nghĩa và huyện lỵ Bão cấp 3 đã có thể gây lụt cho 1/3 diện tích đất ở Đại Lộc
Xã Đại Lãnh là một xã miền núi nằm cách huyện lỵ Đại Lộc 25 km về phía Tây Khu dân cư của xã nằm ở thung lũng bao quanh bằng sông Côn và sông Vu Gia về một phía, và đồi núi ở phía khác Đại Lãnh có 10 thôn với 10.160 người sống trong 2277 hộ 80% lao động trong xã làm nông nghiệp (UBND xã Đại Lãnh 2010a) Đại Lãnh hàng năm đều bị lũ lụt với các mức
độ khác nhau, và trận lụt nặng nhất xảy ra năm 2009 Đại Lãnh có 517 hộ nghèo, chiếm 22,71% số hộ toàn xã
Như đã nói ở trên, Đại Lộc là một huyện hay gặp thiên tai do lũ lụt thường xuyên xảy ra hàng năm Các xã Đại Hưng, Đại Đồng, Đại Hòa, Đại An, Đại Nghĩa và trung tâm huyện lỵ là nơi
có địa hình thấp và cũng là nơi dễ bị lụt nhất Khác với tình hình thiên tai ở Thanh Hóa, chỉ gây ảnh hưởng đối với sản xuất nông nghiệp, lũ lụt ở Đại Lộc nói chung và ở Đại Lãnh nói riêng thường gây ảnh hưởng đến cả đất sản xuất nông nghiệp và khu vực dân cư Do đó lũ lụt gây nhiều thiệt hại ở vùng này hơn Người dân ở đây nói rằng họ đã quen với bão lụt vì năm nào cũng xảy ra bão lụt
Năm nào trong huyện cũng có lụt lội Sống chung với lũ nên người dân ở đây cũng
đã quen với lụt trong cả các hoạt động sản xuất và sinh hoạt Sau khi thu hoạch, người dân cất trữ thóc ở nơi cao ráo trong nhà Hoạt động chăn nuôi như nuôi trâu
bò, hoặc lợn cũng được tính đến phương án phòng lũ Nếu báo động lũ lên tới cấp 3
Trang 28hoặc cao hơn, dân sẽ di dời gia súc lên nơi cao hơn Người dân xây các chuồng lợn cao hơn so với mặt đất Mỗi hộ đều có phương án đối phó với lũ riêng của mình để sống chung với lũ
(Cán bộ huyện Đại Lộc, Quảng Nam)
Đại Lãnh là một xã miền núi nằm giữa sông Côn và sông Vu Gia Độ dốc của địa hình khiến cho người ta khó giữ nước vào mùa khô và khó tiêu thoát nước vào mùa mưa Thiếu nước cho thủy lợi vào mùa hè và lụt lội vào mùa mưa cũng là hai loại thiên tai thường gặp ở xã này Vào mùa mưa, mực nước các sông dâng cao rất nhanh khi có mưa lớn, gây ra lụt trên diện rộng Nếu mưa trong một ngày thường gây lụt khiến đường giao thông trong xã bị tắc nghẽn, khiến xã bị cô lập Người dân được phỏng vấn ở xã Đại Lãnh (Quảng Nam) trả lời rằng trung bình mỗi năm nhà của họ bị ngập trong khoảng 11 ngày
Cơn bão số 6 năm 2006 (Xangsane) kèm theo lũ quét đã làm ngập ¾ số nhà trong xã, ngập đến tận mái khoảng một nửa số nhà, và cuốn trôi rất nhiều gia súc gia cầm như lợn, gà, vịt và các tài sản khác Có một căn nhà hoàn toàn biến mất sau lũ
Bão kèm theo lũ quét năm 2006 là cơn bão lịch sử Mặc dù nước lên không cao lắm như nước lũ năm 2009 nhưng sức tàn phá rất lớn Tôi cảm thấy bất lực trước sức gió lớn Tất cả các cửa của ủy ban xã mặc dù đã khóa cũng vẫn bị gió làm tung, mái tôn
bị thổi bay như máy bay, cửa kính cũng bị cuốn đi, cây bị bật gốc, rất khủng khiếp Trận lụt năm 2006 đi kèm với sóng lớn, cuốn trôi tất cả mọi thứ trên đường đi Tôi đứng ở đây nhìn thấy một ông ôm hai con vịt ở đằng kia, thấy sóng đến ông ấy quẳng con vịt đi và cố chạy nhưng không kịp vì gió lớn quá Tôi trông thấy cảnh đó nhưng bất lực và không thể làm gì Trong hoàn cảnh đó khó mà có thể làm gì để giúp đỡ người đó
(Lãnh đạo xã Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam)
Một trong những thiên tai nặng nề nhất ở xã Đại Lãnh trong vòng 10 năm trở lại đây là cơn bão số 9 vào ngày 28 tháng 9 năm 2009 Bão kèm theo mưa lớn đã gây lụt nặng nề, mực nước dâng cao hơn so với mực nước lũ năm 2006 là 1,4m, gây lụt cho hầu hết các nhà trong
xã (ước tính khoảng 95% nhà trong xã bị lụt năm 2009), và khoảng 1/3 số nhà trong xã ngập đến tận mái 21 người bị thương, tổng thiệt hại về vật chất ước tính khoảng 27,5 tỷ đồng (UBND xã Đại Lãnh 2011) Ở vùng trũng, mực nước lên tới 4m so với sàn nhà
Trang 29Ảnh: Trưởng Phòng khám đa khoa khu vực (liên xã) ở xã Đại Lãnh chỉ vào biển đồng đánh dấu mức nước lụt năm 2009
Ảnh: Mực nước lụt năm 2009 vẫn còn để lại rõ dấu vết trên tường căn nhà này
Trang 30Ảnh: Một phụ nữ xã Đại Lãnh mô tả mực nước lũ năm 2009
Lũ lụt còn gây nguy hiểm hơn vì nước cuốn theo cây gỗ, đất cát, vật liệu xây dựng từ thượng nguồn theo dòng nước mạnh chảy xuống (từ đường Hồ Chí Minh và các công trình thủy điện phía Tây Bắc), nhà cửa và tài sản của người dân từ vùng thượng nguồn bị lũ cuốn trôi Điều này khiến cho nước lũ càng nguy hiểm hơn khi đến vùng hạ lưu
Nếu nhà không kiên cố thì sẽ bị cuốn trôi trong lũ nếu bị chỉ một cái cây đổ hay một đống rơm cuốn theo nước va phải
(Lãnh đạo xã Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam)
Xói lở đất dọc theo bờ sông cũng là một loại thiên tai khác gây ảnh hưởng đến người dân sinh sống bên bờ sông Khoảng 5km sông Vu Gia chảy qua xã gây ra xói lở ở rất nhiều khu vực Hàng năm hiện tượng xói lở lấy mất khoảng 5-10m sâu phía bờ dọc theo dòng sông, làm mất diện tích vài chục hécta Xói lở lấy mất đất nông nghiệp, đe dọa an toàn cho cuộc sống của người dân và các công trình công cộng dọc bờ sông Các di sản của nền văn hóa Sa Huỳnh trong xã bị phá hủy nặng nề bởi hiện tượng xói lở Các công trình văn hóa khác cũng đang phải đối mặt với nguy cơ bị phá hủy Hiện tại, có 39 hộ cần di dời đi nơi khác vì nằm trong vùng nguy hiểm của sạt lở đất Khoảng 60 hộ khác nằm trong vùng dễ gặp thiên tai cũng cần được di dời đi nơi khác (tổng cộng có khoảng 100 hộ cần được tái định cư) Quá trình tái định
cư rất khó khăn vì các chính sách tái định cư chỉ đưa ra mức đền bù thấp, nguồn lực địa phương có hạn, không đủ đảm bảo cơ sở vật chất cho địa điểm di dời (thảo luận nhóm cán bộ địa phương)
3.2.2 Nghiên cứu trường hợp Đà Nẵng
Ở Đà Nẵng trong khoảng từ 1997-2009 thiên tai đã làm chết và mất tích 219 người, làm bị thương 277 người Tổng thiệt hại về vật chất do thiên tai trong thời gian này ước tính khoảng 8327,5 tỷ VND Trong vòng 10 năm trở lại đay, bão lụt nặng nhất ở Đà Nẵng xảy ra năm
Trang 312006 và 2009, gây thiệt hại nặng nề về người và của Trận bão số 6 (Xangsane) đổ bộ vào Quảng Nam, cũng đồng thời đổ bộ vào Đà Nẵng Trận bão này đã làm chết 32 người (gồm 2 người mất tích), làm bị thương 61 người, phá hủy 14.138 ngôi nhà, làm sập 42.691 ngôi nhà
và làm hư hỏng 65.271 ngôi nhà khác Trận bão này cũng phá hủy nhiều tàu/thuyền, làm bật gốc nhiều cây và rừng, gây ngập lụt diện tích lớn ruộng lúa và phá hủy nhiều nhiều công trình
hạ tầng (2760 lớp học, 605 tòa nhà công, nhiều trạm điện và đường dây) Tổng thiệt hại vật chất do cơn bão này ước tỉnh khoảng 5.290 tỷ ( BCH phòng chống lụt bão TP Đà Nẵng 2007)
Bảng 3.2.2.1 Thiệt hại về người và vật chất do bão lụt từ năm 1997-2009 ở Đà Nẵng Năm Số người chết Số người mất
tích
Số người bị thương
Thiệt hại vật chất (tỷ đồng)
* Nguồn: Số liệu từ BCH phòng chống lụt bão Đà Nẵng
Bảng 3.2.2.2 cho thấy thiệt hại do trận bão và lụt lịch sử ở huyện Hòa Vang năm 2006
Bảng 3.2.2.2 Thiệt hại do bão lụt ở huyện Hòa Vang năm 2006
đồng)
Trợ giúp về tài chính (tỷ đồng) (tại thời điểm 2/2007)
Trang 32-UB huyện và xã 5
*1836 hộ được nhận 5 triệu đồng/hộ, 791 hộ không được trợ giúp gì
Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn huyện Hòa Vang, Đà Nẵng, 2011
Trong giai đoạn từ 2005 đến 2010, mỗi năm Đà nẵng giảm bình quân được 2,3%-3%, tương đương 3000-4000 hộ gia đình Thành phố thực hiện nhiều chính sách giảm nghèo khác nhau như cho vay vốn (trong 4 năm 2005-2008 cho 68.273 lượt hộ nghèo vay vốn với số tiền 480.698 triệu đồng); cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo và thoát nghèo trong hai năm (tổng 271.498 thẻ bảo hiểm, tổng giá trị 23.546 triệu đồng); miễn giảm học phí cho học sinh sinh viên nghèo (786 học sinh, tổng kinh phí 3.964 triệu đồng); trợ giúp pháp lý miễn phí cho
4199 lượt người nghèo với kinh phí 227 triệu đồng; xây mới và sửa chữa 4.137 nhà cho hộ nghèo và hộ khó khăn với kinh phí 45.461 triệu đồng; hỗ trợ lắp đặt hệ thống điện, nước, sửa chữa cho 3.502 hộ nghèo với tổng kinh phí 5.182 triệu đồng Một giải pháp mang tính thiết thực khác là đào tạo nghề và giải quyết việc làm hướng dẫn cách làm ăn cho các hộ nghèo, giúp họ thoát nghèo bền vững Trong các năm từ 2005-2008, có 3.103 người nghèo được dạy nghề miễn phí Các nội dung đào tạo bao gồm chuyển giao kỹ thuật trông trọt, chăn nuôi, chế biến hải sản, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, định hướng sản xuất kinh doanh cho người nghèo Các tổ chức tham gia các hoạt động này bao gồm Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hội Liên hiệp phụ nữ; Hội Chữ thập đỏ, Sở LĐ-TBXH
Tuy nhiên, hoạt động giảm nghèo có những khó khăn như:
Thiên tai xảy ra thường xuyên khiến nhiều hộ bị tái nghèo hoặc không thoát được nghèo: tính bền vững thấp
Chưa chủ động vươn lên thoát nghèo, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng
Việc đánh giá, nhận diện hộ nghèo, hộ thoát nghèo còn bị ảnh hưởng bởi tâm lý ngại
Tương tự như nghiên cứu trường hợp ở Quảng Nam, đánh giá xã hội được thực hiện ở cấp tỉnh và cấp hộ gia đình, và tham vấn cộng đồng được thực hiện ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang
Hòa Vang là một huyện nông thôn năm phía tây thành phố Đà Nẵng, với dân số 121.403 người sống tại 11 xã (Niên giám thống kê Đà Nẵng 2010) Hòa Vang có sông Cự Đề ở phía bắc và sông Yên (một nhánh của sông Vu Gia) phía nam, nối với sông Thụy Loan, tạo thành sông Cầu Đổ Thiên tai chủ yếu ở huyện là bão và lụt
Trang 33Hòa Tiến là một xã nằm ở phía đông nam huyện Hòa Vang, trong lưu vực sông Yên (một nhánh của sông Vu Gia) và sông Tây Tĩnh Hòa Tiến là một xã đồng bằng nằm ở độ cao 3m
so với mực nước biển Hòa Tiến có dân số 16.688 người, thuộc 3.876 hộ và 11 thôn Tỷ lệ nghèo chỉ có 4,6% Người dân Hòa Tiến chủ yếu làm nông nghiệp, với chỉ 599 hộ hoạt động phi nông nghiệp Thiên tai chủ yếu là lụt trong vòng 10 năm trở lại đây Cơn bão nghiêm trọng nhất gây lụt và thiệt hại lớn vào năm 2006 và 2009
Tại xã Hòa Tiến, người dân được phỏng vấn cho biết trung bình nhà họ bị ngập khoảng 4 ngày một năm Cơn bão số 6 năm 2006 đã gây ngập lụt cho 2.500 hộ trên tổng số 3.473 hộ trong xã Tổng thiệt hại ước tính khoảng 1.843 tỷ đồng
Cơn bão số 9 năm 2009 đã làm sập 2 ngôi nhà, gây thiệt hại nghiêm trọng cho 23 ngôi nhà,
và làm tốc mái rất nhiều ngôi nhà khác, bao gồm trường học và trạm y tế Trận bão này đã gây ngập lụt cho hầu hết các hộ trong xã (6 thôn bị ngập hoàn toàn và 5 thôn khác bị ngập một phần)
Trong 10 năm trở lại đây, thiên tai thường gặp nhất là lụt Ở đây không có lũ quét giống như các vùng khác, chỉ là nước dâng lên cao Tuy nhiên người dân ở đây chỉ có kinh nghiệm chứ không có hướng dẫn gì Kinh nghiệm thu được từ các năm trước và được truyền từ các thế hệ trước Chúng tôi cứ đối phó với từng con bão một, không chuẩn bị kỹ lắm Hầu hết các nhà đều có tầng hai Từ sau cơn bão năm 1999, chúng tôi đã rút ra bài học lớn Tất cả các nhà đều có tầng gác trong trường hợp lụt cao (PVS, nông dân, nam, Đà Nẵng)
Trang 343.2.3 Nghiên cứu trường hợp Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh có địa hình và khí hậu đa dạng, bao gồm cả vùng núi và vùng bờ biển, với 4 hệ thống sông Trong đó sông Mã là con sông lớn và có ảnh hưởng nhất trong tỉnh Sông Mã là con sông lớn thứ hai thuộc miền Bắc Việt Nam (sau sông Hồng), bao gồm gần 90 nhánh sông bao trùm một vùng hạ lưu khoảng 28.400km2
Hàng năm tại Thanh Hóa xảy ra nhiều loại thiên tai khác nhau Theo lãnh đạo tỉnh, các thiên tai nặng nhất gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân là bão, lốc, lũ quét, sạt lở hai bên
bờ sông và vùng ven biển Lốc xoáy, thời tiết lạnh bất thường, hạn hán, ngập mặn gây ít ảnh hưởng hơn, và các thiên tai như mực nước biên dâng cao, mưa đá, sấm chớp và cháy rừng ít gây ảnh hưởng nhất (UBND tỉnh Thanh Hóa 2010) Theo phỏng vấn lãnh đạo và người dân ở Thanh Hóa, bão đi kèm với lụt là thiên tai gây tàn phá lớn nhất Gần đây Thanh Hóa phải chịu các trận lụt lớn vào năm 2005, làm 16 người thiệt mạng và năm 2007 làm 26 người thiệt mạng cùng thiệt hại rất nhiều tài sản của nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Số liệu thống kê của tỉnh cho thấy trong các năm từ 1996-2009 bão lụt đã làm 324 người thiệt mạng và gây thiệt hại 3.256 tỷ đồng1
(Ban Quản lý dự án thủy lợi và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Hóa 2010)
Bảng 3.2.3.1 Thiệt hại về người và tài sản do bão lụt từ 1996-2009 tại Thanh Hóa
Năm Số người chết Thiệt hại về tài sản (tỷ đồng)
Trang 35Yên Định là huyện đồng bằng thuộc tỉnh Thanh Hóa, nằm trong lưu vực sông Mã, cũng là huyện dễ bị ảnh hưởng bởi lụt Yên Định có 29 xã/phường, với tổng dân số là 167.968 người năm 2010 (Niên giám thống kê Yên Định 2011) Con đê dọc sông Mã trên địa bàn huyện dài 27,5km Người dân Yên Định chủ yếu sống bằng nghề nông và sinh kế của họ phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết Hàng năm thiên tai chủ yếu ở Yên Định là lụt
Xã Yên Phú có 7 thôn với tổng số dân là 4.678 người, thuộc 1.159 hộ Tỷ lệ nghèo năm 2010
là 18,6% Xã nằm trong lưu vực sông Cầu Chảy, một nhánh của sông Mã Hàng năm thường xảy ra lụt với các mức độ khác nhau Người dân Yên Phú phải hứng chịu các đợt lụt lớn năm
1975, 1978, 1986, 2005, và 2007 Trong đó trận lụt năm 2005 là lớn nhất Trong những năm gần đây, mực nước sông có thay đổi rõ rệt do tác động của biến đối khí hậu Dòng sông cạn hơn vào mùa hè và lụt nặng hơn vào mùa mưa Tháng 7/2011 một diện tích lớn đất trồng trọt của 5 trên 7 thôn đã bị ngập, gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất lúa gạo
Tại huyện Yên Định nói chung và xã Yên Phú nói riêng, mặc dù lụt diễn ra thường xuyên nhưng ít khi đe dọa nghiêm trọng đến khu dân cư Lụt ở Yên Định thường do kết quả của mưa lớn kèm theo bão và thường gây ảnh hưởng lớn đến diện tích đất trồng lúa, gây thiệt hại nặng cho sản xuất nông nghiệp Do Yên Định là vùng đất trũng của Thanh Hóa với những đặc điểm địa lý và khí hậu khác biệt so với vùng đất cao nên ở Yên Định không xảy ra lũ quét
Bảng 3.2.3.2 cho thấy thiệt hại ước tính do bão và lụt ở xã Yên Phú từ 2008-2010 Mức độ thiệt hại ở đây ít hơn nhiều so với ở Quảng Nam và Đà Nẵng Các thiệt hại này không bao
Trang 36gồm thiệt hại do ngập lụt diện tích 196 ha lúa và xói mòn 127 ha đất nông nghiệp hàng năm (số liệu của xã Yên Phú)
Bảng 3.2.3.2 Thiệt hại ƣớc tính do bão và lụt tại xã Yên Phú (nghìn đồng)
Trang 37Tóm lại, các thảo luận ở phần III cho thấy thiên tai, đặc biệt là bão và lụt, hàng năm đã gây thiệt hại nặng nề về người và của cho người dân sống trong vùng bị ảnh hưởng Do các điều kiện địa hình, địa lý đặc thù, 10 tỉnh trong vùng dự án đều dễ bị ảnh hưởng bởi bão và lụt Hàng năm các tỉnh này phải chịu các cơn bão và lụt lớn, gây thiệt hại rất nhiều về người và của Các thiên tai lớn thường kéo theo hậu quả tiêu cực cho sinh kế và sản xuất của người dân, đặc biệt là người nghèo trong vùng bị ảnh hưởng Thảo luận ở các phần sau đây cho thấy
có rất nhiều thiệt hại và mất mát đã có thể tránh được hoặc giảm nhẹ đáng kể Điều này gợi
ra rằng dự án Quản lý thiên tai Việt Nam sẽ có tác động tích cực trong việc giảm thiệt hại về người và tác động của thiên tai trong các tỉnh có dự án
Mặc dù thống kê về thiệt hại và mất mát không phải là chủ đề chính của phần này, tham khảo
số liệu về thiệt hại cho thấy sự thiếu hụt các thông tin về giới, dân tộc, và tình trạng nghèo trong hệ thống lưu trữ thông tin hiện tại về nạn nhân và thiệt hại của thiên tai Dự án cần chú ý đến việc cải thiện hệ thống thông tin có tách riêng số liệu theo giới, dân tộc, và tình trạng nghèo
Các hàm ý chính sách cho phần này bao gồm:
Các dự án/chương trình quốc gia như Dự án quản lý thiên tai Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết để giúp người dân các tỉnh bị ảnh hưởng đối phó với tình trạng các rủi ro thiên tai ngày càng gia tăng;
Dự án cũng cần chú trọng nâng cấp hệ thống thông tin với các thông tin tách riêng theo giới, dân tộc và tình trạng nghèo
Trang 38IV Công tác chuẩn bị ứng phó với thiên tai
4.1 Tổ chức
Viêtn Nam là đất nước với hàng thế kỷ đối phó với các thiệt hại do các loại thiên tai Do đó chính phủ Việt Nam rất chú trọng công tác quản lý rủi ro thiên tai, đặc biệt là phòng chống lụt bão, đối phó và khắc phục hậu quả Tại các tỉnh đều có tổ chức chặt chẽ của Ủy ban phòng chống lụt bão, Ủy ban tìm kiếm cứu nạn, được tổ chức từ tỉnh, huyện, và xã (UBND thành phố Đà Nẵng - BCH phòng chống lụt bão và TKCN 2011; UBND tỉnh Quảng Nam 2010b; UBND tỉnh Thanh Hóa 2010)
Hình 4.1.1 mô tả cấu trúc chung của BCHPCLB và TKCN tại các tỉnh Tại Thanh Hóa, chủ tịch UBND cũng đồng thời giữ chức chủ tịch BCHPCLB và TKCN; ở Đà Nẵng và Quảng Nam, phó chủ tịch UBND giữ chức chủ tịch BCHPCLB và TKCN (UBND thành phố Đà
Trang 39Nẵng 2009b; UBND tỉnh Quảng Nam 2011) Các thành viên của BCHPCLB và TKCN các các cấp thường bao gồm phó chủ tịch/phó giám đốc của các cơ quan ban ngành
Đội xung kích phòng chống lụt bão xã và thôn là lực lượng huy động tại chỗ và có vai trò quan trọng Tuy nhiên, tổ chức, chế độ đãi ngộ, và tính bền vững còn rất hạn chế
Cái đội này thành phần chủ yếu là lực lượng bộ đội và dân quân Tại vì bộ đội có lực lượng cơ động Rồi là công an cũng có lực lượng cơ động Mà đặc biệt lực lượng dân quân là nó đông hơn Mình hoạt động là chia thành mỗi đội xung kích là có hai mươi đồng chí Ở đây có hai đội xung kích mỗi đội là phục vụ cho một khu vực, hai đội là 40 đồng chí 40 đồng chí đó là trước trong và sau bão lụt đều sử dụng
(PVS, nam, chủ tịch xã, Đà nẵng)
Thường thường chủ yếu là về kinh phí Hai đội lực lượng xung kích vẫn làm, nhưng mà ngân sách không có nhiều tiền, mà cuối cùng mình hỗ trợ cho anh
em tiền ăn thôi, ăn là ăn tập trung thôi Chứ thực tế để mà bồi dưỡng cho anh
em là không có Cái điều kiện tập trung lực lượng là cũng khó Cái thứ hai là khi mà bão lũ xảy ra rồi thì, mà đặc biệt là những anh em vùng ngập lụt cũng khó, huy động anh em vùng ngập lụt cũng khó
(PVS, nam, chủ tịch xã, Đà nẵng)
Trang 40Vấn đề giới chưa được lồng ghép tốt vào cấu trúc tổ chức của BCHPCLB Chẳng hạn như, trong 25 thành viên của BCHPCLB huyện Yên Định (Thanh Hóa), chỉ có một phụ nữ (UBND huyện Yên Định 2011) Trong 26 thành viên của BCHPCLB huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam, chỉ có 2 phụ nữ (UBND huyện Đại Lộc 2011) Trong 29 thành viên của BCHPCLB tỉnh Quảng Ngãi, toàn bộ là nam giới không có phụ nữ Tình trạng cũng tương tự
ở các địa phương khác ở cấp xã Không lồng ghép tốt vấn đề giới không những chỉ xảy ra ở lĩnh vực quản lý thiên tai mà cũng xảy ra ở hầu hết các cơ quan và tổ chức địa phương, ngoại trừ trong các hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ và trong các hoạt động y tế (cán bộ dân số
kế hoạch hóa gia đình)
Nói chung, BCHPCLB và TKCN ở các cấp trong các tỉnh có dự án đều hoạt động khá giống nhau, cùng theo hướng dẫn của BCHPCLB trung ương và TKCN trung ương Hoạt động PCLB va TKCN đều có kế hoạch cụ thể Ví dụ, ở Thanh Hóa có kế hoach liên ngành về quản
lý thiên tai đến năm 2020 (UBND tỉnh Thanh Hóa 2010); tại Đà Nẵng có Kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia cho Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai ở Đà Nẵng đến năm 2020 (UBND thành phố Đà Nẵng 2009b); tại Quảng Nam có Kế hoạch nâng cao nhận thức Cộng dồng và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng đến năm 2020 (UBND tỉnh Quảng Nam 2011); tại Quảng Bình kế hoạch tương tự cho phòng chống và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai đến năm 2020 được triển khai trong Quyết đinh số 1901/QD-UBND ngày 5/8/2008 của UBND, và gần đây Kế hoạch liên ngành quản lý thiên tai đến năm 2020 tại Quảng Bình được thông qua bởi quyết định 1139/QD-UBND ngày 24/5/2011
Tại các cấp thấp hơn và các tổ chức đoàn thể cũng có các kế hoạch tương tự Công tác chuẩn
bị cho mỗi mùa mưa bão thường bao gồm các hoạt động sau:
Kiểm tra an toàn các công trình xây dựng và gia cố các công trình yếu;
Nâng cấp hệ thống thoát nước để giảm nguy cơ ngập lụt, xây dựng các nơi tránh lũ an toàn cho tàu bè neo đậu để tránh thiệt hại khi có bão;
Chuẩn bị và tích trữ vật liệu xây dựng để bảo vệ các công trình (như đập, kênh mương, hồ chứa nước, các công trình công cộng) hoặc để giữ đường giao thông thông suốt trong trường hợp khẩn cấp;
Đảm bảo hệ thống thông tin liên lạc không bị gián đoạn trong mùa mưa bão;
Cảnh báo và cấm mọi hoạt động đi lại trong khu vực bị ảnh hưởng trong thiên tai, bao gồm cả cảnh báo cho tàu thuyền trên biển;
Tổ chức các "đội xung kích" giống như các đội phản ứng nhanh sẵn sàng tham gia vào công tác cứu nạn trong trường hợp cần thiết; các nhóm này thường bao gồm lực lượng bộ đội và công an địa phương và thanh niên trong xã; ―đội xung kích‖ cũng là lực lượng chính giúp người dân khắc phục hậu quả sau lũ;
Chuẩn bị các phương án sơ tán dân khỏi khu vực nguy cơ cao;
Giám sát hoạt động chuẩn bị của BCHPCLB các cấp;
Tổ chức diễn tập khi có thiên tai tại các xã trong vùng chiến lược trọng điểm (như hồ chứa nước, đập và kênh mương, v.v…);
Nâng cao năng lực quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng: tăng cường các chiến dịch truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; cung cấp hướng dẫn để nâng cao nhận thức của người dân địa phương và đưa họ tham gia vào các hoạt động chuẩn
bị đối phó với thiên tai; các hoạt động thường tập trung vào người dân sống trong vùng nguy cơ cao, như vùng hay bị lũ lụt hoặc ngư dân đánh cá trên biển