ĐẶT VẤN ĐỀ Nghị quyết 04-NQ/HNTW ngày 14 tháng 10 năm1993 của Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII đã chỉ rõ: “Công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội” [17]. Nghị quyết 47 – NQ/TW ngày 23 tháng 3 năm 2005 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số và Kế hoạch hoá gia đình đã tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục quán triệt và cương quyết thực hiện các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII, phấn đấu sớm đạt được mục tiêu về ổn định quy mô dân số, đồng thời nâng cao chất lượng dân số Việt Nam” [6]. Thực hiện Công tác kế hoạch hoá dân số là trách nhiệm của toàn xã hội, của nam nữ công dân, trước tiên là trách nhiệm về chỉ đạo thường xuyên của các Bộ, Uỷ ban Nhân dân các cấp [25]. Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho sự phát triển bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội trực tiếp, gián tiếp và rõ rệt [49]. Sau 5 năm triển khai thực hiện Quyết định 147/2000/QĐ-TTg, cùng với thực hiện tốt công tác chăm sóc sinh sản, tỉnh Hậu Giang đã có nhiều nỗ lực để đạt được mục tiêu của chiến lược chung của cả nước. Tính đến năm 2007, quy mô dân số của tỉnh 802.979 nguời, tổng tỷ suất sinh là 1,98, tỷ lệ tăng dân số 12,39%o, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại 69,32%. Do ảnh hưởng chung về tình hình phát triển dân số của cả nước từ sau năm 2003 đến nay kết quả thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình chững lại. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở mức 10,16 % và có xu hướng gia tăng ở hầu hết các địa phương; có 11,8% cặp vợ chồng trong độ tuổi 15 - 49 chưa thực hiện biện pháp tránh thai, tỷ lệ nạo/phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt 11,74 %. Tình hình này đã gây khó khăn khi thực hiện chính sách về Dân số - kế hoạch hoá gia đình, ảnh hưởng đến việc duy trì mức sinh thay thế, làm cản trở phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, làm chậm quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đặt cho tỉnh Hậu Giang trước nguy cơ phải tiếp tục đối mặt với những thử thách, có thể có những điều quy định của các giải pháp về dân số, kế hoạch hoá gia đình chưa được thực hiện tốt [10], [11], [40]. Để phát huy thành quả đạt được và khắc phục những mặt tồn tại, thiếu sót. Cần có các giải pháp để can thiệp hữu hiệu, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu Chiến lược quốc gia về Dân số vào năm 2010. Do vậy, tiếp tục đẩy mạnh chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách của tỉnh Hậu Giang trong thời gian tới. Do vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình thực hiện kế hoạch hoá gia đình tại tỉnh Hậu Giang năm 2008” nhằm hướng đến các mục tiêu như sau: 1. Nghiên cứu tình hình sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49 tuổi); 2. Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch hóa gia đình và các yếu tố liên quan tại tỉnh Hậu Giang năm 2008.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
PHAN THANH TÙNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH
TẠI TỈNH HẬU GIANG NĂM 2008
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
HUẾ - 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả trong Luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Người cam đoan
Phan Thanh Tùng
Trang 3KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BPTT : Biện pháp tránh thai
BPTTHĐ : Biện pháp tránh thai hiện đại
BPTTTT : Biện pháp tránh thai hiện đại
CBYT : Cán bộ y tế
CPR : Tỷ lệ cặp vợ chồng sử dụng các biệh pháp tránh thaiCSSK : Chăm sóc sức khoẻ
CSSKSS : Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
CSSKSS-KHHGĐ : Chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đìnhCSTS : Chăm sóc thai sản
DCTC : Dụng cụ tử cung
DS-KHHGĐ : Dân số và kế hoạch hoá gia đình
HĐHKN : Hút điều hoà kinh nguyệt
DVKHHGĐ : Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình
HĐND : Hội đồng nhân dân
KHHGĐ : Kế hoạch hoá gia đình
NHS : Nữ hộ sinh
UBDS,GD&TE : Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em
UBND : Ủy ban nhân dân
UNFPA : Ủy Ban Dân số Liên hợp quốc
TCYTTG : Tổ chức Y tế thế giới
Trang 4MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 CÁC KHÁI NIỆM 3
1.1.1 Khái niệm KHHGĐ 3
1.1.2 Lịch sử của tránh thai và KHHGĐ 3
1.1.3 Lợi ích của KHHGĐ 4
1.1.4 Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ 5
1.1.5 Các biện pháp tránh thai 6
1.2 PHÁT TRIỂN DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH 11
1.2.1 Phát triển dân số trên thế giới 11
1.2.2 Phát triển dân số ở Việt Nam 13
1.2.3 Tình hình thực hiện dân số - KHHGĐ 15
1.2.4.Tình hình thực hiện Công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam 20
1.2.5 Tình hình phát triển DS-KHHGĐ của địa bàn nghiên cứu 25
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 31
2.1.1 Tiêu chí lựa chọn 31
2.1.2 Tiêu chí loại trừ 31
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 31
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cở mẫu 31
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 33
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu 39
2.2.5 Kiểm soát sai lệch 40
2.2.6 Công cụ thu thập thông tin 41
Trang 52.2.7 Y đức 41
2.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU 41
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI 43
3.1.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 43
3.1.2 Tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình 45
3.1.3 Hiện trạng sử dụng các biện pháp tránh thai 47
3.2 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KHHGĐ 52
3.2.1.Các yếu tố liên quan đến biện pháp tránh thai 52
3.2.2 Các yếu tố liên quan đến sinh con thứ 3 trở lên 54
Chương 4: BÀN LUẬN 62
4.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI 62
4.1.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 62
4.1.2 Tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình 63
4.1.3 Hiện trạng sử dụng các biện pháp tránh thai 68
4.2 YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KHHGĐ 77
4.2.1.Các yếu tố liên quan đến biện pháp tránh thai 77
4.2.2 Các yếu tố liên quan đến sinh con thứ 3 trở lên 79
KẾT LUẬN 89
1 Thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai 89
2 Các yếu tố liên quan đến kế hoạch hóa gia đình 89
KIẾN NGHỊ 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cả nước 22
Bảng 1.2.Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai 26
Bảng 1.3 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 27
Bảng 1.4 Tỷ lệ nạo, phá thai của phụ nữ 15-49 tuổi 28
Bảng 3.1 phân bổ các ngành nghề 43
Bảng 3.2 Trình độ học vấn 44
Bảng 3.3.Tỷ lệ kết hôn theo nhóm tuổi 45
Bảng 3.4 Tuổi kết hôn trung bình theo vùng sinh sống 45
Bảng 3.5 Tỷ lệ các nguồn truyền thông về KHHGĐ 46
Bảng 3.6 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai theo năm 47
Bảng 3.7 Thời gian áp dụng BPTT 48
Bảng 3.8 Số con hiện có của cặp vợ chồng 49
Bảng 3.9 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai theo tuổi 50
Bảng 3.10 Tỷ lệ sử dụng các BPTT theo số con hiện còn sống 51
Bảng 3.11 Lý do không sử dụng BPTT 51
Bảng 3.12 Tỷ lệ thất bại của các biện pháp tránh thai 52
Bảng 3.13 Tỷ lệ sử dụng BPTT theo nơi sinh sống 52
Bảng 3.14 Tuổi trung bình sử dụng biện pháp tránh thai 53
Bảng 3.15 Tuổi kết hôn trung bình với việc sử dụng BPTT 53
Bảng 3.16 Số con trung bình với việc sử dụng BPTT 53
Bảng 3.17 Sử dụng BPTT với việc sinh con thư 3 trở lên 54
Bảng 3.18 Tuổi sinh con lần đầu với việc sinh con thứ 3 trở lên 55
Bảng 3.19 Tỷ lệ hiểu biết các BPTT của phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên 56
Bảng 3.20 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo dân tộc 57
Bảng 3.21 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo tôn giáo 58
Bảng 3 22 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo nơi sinh sống 58
Bảng 3.23 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo nghề nghiệp 59
Bảng 3.24 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo kinh tế hộ gia đình 59
Bảng 3.25 Lý do sinh con thư 3 trở lên 60
Bảng 3.26 Người quyết định sinh con thứ 3 trở lên trong hộ gia đình 60
Bảng 3.27 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên do vỡ kế hoạch 61
Bảng 3.28 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo khoảng cách từ nhà đến trạm y tế xã 61
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 3.1 Phân phối đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 43
Biểu đồ 3.2 Tình trạng kinh tế hộ gia đình 44
Biểu đồ 3.3 Hiểu biết biện pháp tránh thai 46
Biểu đồ 3.4 Khách hàng chọn dịch vụ KHHGĐ 47
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ 48
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ số con đã có khi bắt đầu sử dụng BPTT 49
Biểu đồ 3 7 Tỷ lệ nữ Tỷ lệ các BPTT đã được áp dụng 50
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ sử dụng các BPTT theo trình độ học vấn 54
Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên theo nhóm tuổi kết hôn 55
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên chia theo số con 56
Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ sinh con thứ 3 theo trình độ học vấn 57
45.23
19.26
5.97
0.23
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghị quyết 04-NQ/HNTW ngày 14 tháng 10 năm1993 của Hội nghị lần thứ
tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII đã chỉ rõ: “Côngtác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận của chiến lược phát triển đấtnước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu
tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn
xã hội” [17] Nghị quyết 47 – NQ/TW ngày 23 tháng 3 năm 2005 của Bộ Chính trị
về đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số và Kế hoạch hoá gia đình đã tiếp tụckhẳng định: “Tiếp tục quán triệt và cương quyết thực hiện các quan điểm cơ bảncủa Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII, phấn đấusớm đạt được mục tiêu về ổn định quy mô dân số, đồng thời nâng cao chất lượngdân số Việt Nam” [6]
Thực hiện Công tác kế hoạch hoá dân số là trách nhiệm của toàn xã hội, củanam nữ công dân, trước tiên là trách nhiệm về chỉ đạo thường xuyên của các Bộ, Uỷban Nhân dân các cấp [25] Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho sự phát triểnbền vững và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội trực tiếp, gián tiếp và rõ rệt [49]
Sau 5 năm triển khai thực hiện Quyết định 147/2000/QĐ-TTg, cùng vớithực hiện tốt công tác chăm sóc sinh sản, tỉnh Hậu Giang đã có nhiều nỗ lực để đạtđược mục tiêu của chiến lược chung của cả nước Tính đến năm 2007, quy mô dân
số của tỉnh 802.979 nguời, tổng tỷ suất sinh là 1,98, tỷ lệ tăng dân số 12,39%o, tỷ lệ
sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại 69,32%
Do ảnh hưởng chung về tình hình phát triển dân số của cả nước từ sau năm
2003 đến nay kết quả thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình chữnglại Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở mức 10,16 % và có xu hướng gia tăng ở hầu hếtcác địa phương; có 11,8% cặp vợ chồng trong độ tuổi 15 - 49 chưa thực hiện biệnpháp tránh thai, tỷ lệ nạo/phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt 11,74 % Tình hìnhnày đã gây khó khăn khi thực hiện chính sách về Dân số - kế hoạch hoá gia đình,ảnh hưởng đến việc duy trì mức sinh thay thế, làm cản trở phát triển kinh tế - xã hội
Trang 9và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, làm chậm quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá và đặt cho tỉnh Hậu Giang trước nguy cơ phải tiếp tục đối mặt vớinhững thử thách, có thể có những điều quy định của các giải pháp về dân số, kếhoạch hoá gia đình chưa được thực hiện tốt [10], [11], [40]
Để phát huy thành quả đạt được và khắc phục những mặt tồn tại, thiếu sót.Cần có các giải pháp để can thiệp hữu hiệu, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêuChiến lược quốc gia về Dân số vào năm 2010 Do vậy, tiếp tục đẩy mạnh chínhsách dân số, kế hoạch hoá gia đình gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội là mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách của tỉnh Hậu Giang trong thời giantới
Do vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình thực
hiện kế hoạch hoá gia đình tại tỉnh Hậu Giang năm 2008” nhằm hướng đến các
mục tiêu như sau:
1 Nghiên cứu tình hình sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49 tuổi);
2 Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch hóa gia đình và các yếu tố liên quan tại tỉnh Hậu Giang năm 2008.
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1 Khái niệm kế hoạch hoá gia đình
Theo định nghĩa của Tố chức Y tế thế giới (TCYTTG) thì kế hoạch hoá gia đình(KHHGĐ) bao gồm những vấn đề để thực hiện giúp cho các cá nhân hay cặp vợ chồng đểđạt được những mục tiêu: tránh những trường hợp sinh không mong muốn; điều hoàkhoảng cách giữa các lần sinh; chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp tuổi của bố mẹ
Theo Pháp lệnh Dân số Việt Nam năm 2003: “KHHGĐ là sự nỗ lực của Nhànước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng tự nguyện quyết định số con, thời giansinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm đảm bảo sức khoẻ, nuôi dạy con cótrách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình”
Như vậy, KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điềuchỉnh số con và khoảng cách sinh con KHHGĐ không những chỉ bao hàm việc lựachọn các biện pháp để tránh thai (BPTT) mà còn là những cố gắng của các cặp vợchồng để có thai và sinh con [67], [82]
1.1.2 Lịch sử của tránh thai và KHHGĐ
Trong suốt quá trình lịch sử, nam giới và phụ nữ luôn quan tâm đến việctránh thai (có nghĩa là "chống lại việc thụ thai"), hay tránh có thai bằng cách ngănkhông cho tinh trùng kết hợp với trứng Từ thời cổ đại, người Ai Cập đã đặt phân cásấu vào trong âm đạo của người phụ nữ để ngăn không cho tinh dịch di chuyển qua
cổ tử cung; người Do Thái sử dụng biện pháp phá vỡ sự liên tục của giao hợp
(coitus interruptus) (rút dương vật ra khỏi âm đạo trước khi xuất tinh); đến ngày
nay con người có các thuốc tránh thai dạng uống, triệt sản Tóm lại, con ngườiluôn tìm cách để tránh thụ thai Trong những thập niên gần đây, các nhà khoa họcmới phát triển các phương pháp đáng tin cậy hơn để tránh mang thai Tuy nhiên,hàng năm ở Mỹ vẫn có hơn 3 triệu nữ thanh thiếu niên và phụ nữ mang thai không
có chủ ý
Trang 11Có nhiều phương pháp tránh thai, một số phương pháp trong những phươngpháp này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các bác sĩ Không phải tất cả các phương pháptránh thai đều thuận tiện, an toàn và có hiệu quả như nhau; có nhiều sự khác biệt giữaphương pháp này với phương pháp kia Trên thực tế, trừ khi không có bất kỳ hoạtđộng tình dục nào với bạn tình, còn không thì chẳng có phương pháp tránh thai nào là
có hiệu quả 100% cả Hơn nữa, tránh thai thất bại thường là do sử dụng sai cách, sử
dụng không kiên định, hay không sử dụng những phương pháp và DCTT [67]
do tỷ lệ trẻ sơ sinh chết cao, tuổi thọ của con người thấp do bệnh tật, dịch bệnh, vệsinh kém, thiếu ăn, thiếu các phương tiện chăm sóc sức khỏe Nhưng khi các tiến
bộ về y học phát triển rộng khắp trên thế giới, dân số trên trái đất “bùng nổ” Trênthực tế, cứ 35 năm thì số lượng con người trên trái đất tăng lên gấp hai, dân số tănglên này chủ yếu tập trung ở những nước đang phát triển Do sự khủng hoảng về dân
số này, chính phủ nhiều nước như Trung Quốc đã quyết định quy định số trẻ emđược sinh ra cho mỗi gia đình
KHHGĐ cũng đóng vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ sức khỏe thểchất của cả mẹ lẫn con Đối với hầu hết phụ nữ, trong những năm sinh sản đầu(khoảng từ 20 đến 39 tuổi) mang thai và sinh con là việc khá an toàn Nhưng đốivới những phụ nữ lớn hơn hay nhỏ hơn tuổi đó, hay những phụ nữ sinh con dày(có nghĩa ít hơn 2 năm lại sinh một lần), thì nguy cơ gặp tai biến sản khoa là khácao: tử vong ở trẻ sơ sinh, gây tử vong ở mẹ Ví dụ, trẻ em do phụ nữ trên 40tuổi hay dưới 19 tuổi sinh ra có nguy cơ nhẹ cân cao, và do đó chúng dễ bị các
Trang 12khiếm khuyết khác nhau khi sinh, thậm chí có thể bị tử vong Ở trường hợp sau(phụ nữ sinh con khi chưa được 19 tuổi), ước tính ở Mỹ có khoảng gần 1 triệu nữthanh thiếu niên mang thai mỗi năm, và tỷ lệ em bé sinh ra bởi những người mẹnày có cân nặng dưới 2,5 kg là rất nhiều Tuy nhiên, không phải tất cả các phụ
nữ trên 40 tuổi và dưới 19 tuổi mang thai đều dẫn đến những vấn đề này màchúng tôi chỉ muốn nói nguy cơ gặp vấn đề này cao
KHHGĐ cũng có thể giúp đảm bảo sức khỏe tâm lý cho bà mẹ và các thànhviên khác trong gia đình Cả việc sinh con lẫn trở thành cha mẹ đều là những vấn đềquan trọng và căng thẳng trong cuộc sống Hơn nữa, làm cha mẹ là một sự cam kếtlâu dài về mặt tình cảm, xã hội và tài chính Chọn thời điểm thích hợp để có con làviệc làm quan trọng nhất mà hai vợ chồng có thể làm để giảm bớt những căng thẳng
về tình cảm liên quan đến việc mang thai và làm cha mẹ
Theo tuyên bố UNFPA nhân Ngày Dân số Thế giới năm 2008 đã khẳngđịnh: “Lợi ích của KHHGĐ không chỉ bó gọn trong cuộc đời của chúng ta mà còncho cả gia đình và dân tộc” và đưa ra 3 lý do phải KHHGĐ đó là: (1) KHHGĐ cứusống sinh mạng con người, là biện pháp can thiệp có tác động lớn giúp nâng cao sứckhỏe phụ nữ (2) KHHGĐ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo quyền năng chophụ nữ và bình đẳng giới (3) KHHGĐ là biện pháp hiệu quả trong cuộc chiến chốngđói nghèo, cha mẹ có thể có kế hoạch cho tương lai và dành nhiều nguồn lực củamình hơn cho giáo dục và sức khỏe của từng đứa con, và điều đó có lợi cho giađình, cộng đồng và quốc gia Trong các yếu tố quyết định mức sinh, thì thực hiệnKHHGĐ và tỷ lệ đang sử dụng BPTT là yếu tố tác động mạnh nhất đối với việc
giảm mức sinh (nó giải thích tới 75% sự thay đổi mức sinh) [58], [67]
1.1.4 Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ
Sử dụng dịch vụ chăm sóc thai sản, KHHGĐ không chỉ là cung cấpphương tiện, kỹ thuật y tế trong chăm sóc thai sản, kế hoach hoá gia đình không
mà còn phải sát hợp với nhu cầu của đối tượng Khái niệm dịch vụ là một thịtrường, sự tồn tại của dịch vụ phụ thuộc vào 2 nhóm chủ yếu: người cung cấpdịch vụ và người sử dụng dịch vụ Trong chăm sóc thai sản, sử dụng dịch vụ vô
Trang 13cùng quan trọng quyết định con số chết mẹ do tai biến sản khoa và các thươngtổn khác do mang thai và sinh đẻ
Dịch vụ chăm sóc thai sản, KHHGĐ không bao gồm cung cấp dịch vụ cơbản theo chức năng các tuyến chăm sóc bao gồm chăm sóc trước, trong và sau sinh
và hỗ trợ các biện pháp KHHGĐ phù hợp với tùng đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ
Tiêu chuẩn của TCYTTG về chất lượng dịch vụ chăm sóc thai sản,KHHGĐ không phải chỉ sẵn có gần nơi phụ nữ cư trú càng tốt, dịch vụ được phụ
nữ chấp nhận sử dụng, có đầy đủ trang thiết bị, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ toàndiện gắn liền với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản khác, cung cấp chăm sócliên tục và theo dõi đầy đủ, đội ngũ cán bộ cán bộ y tế phải được cộng đồng tôntrọng, và họ phải đáp ứng nhu cầu của phụ nữ, cán bộ y tế phải cung cấp cho phụ
nữ các thông tin qua quá trình tư vấn và tạo điều kiện cho phụ nữ trong việc raquyết định Các dịch vụ này cũng cần phải có hỗ trợ xã hội và kinh tế cho cán bộ y
* Biện pháp hàng rào: tạo một hàng rào ngăn cản sự hoạt động của tinh trùng:
- Bao cao su: dành cho nam giới sử dụng, bên cạnh việc ngăn tinh trùng xâmnhập vào đường sinh dục nữ trong hành động giao hợp, còn góp phần ngăn chặn sựlây truyền các bệnh lây truyền qua đường tình dục Bao cao su thế hệ mới còn đượctẩm thêm hóa chất diệt tinh trùng, góp phần nâng cao khả năng ngừa thai
- Hóa chất diệt tinh trùng: cho tới hiện nay, phổ biến nhất vẫn là
Nonoxynol-9, với nhiều loại dạng sản phẩm như kem bôi, viên đặt âm đạo, miếng xốp (sponge)hay tấm phim Hóa chất này khi vào âm đạo sẽ tạo một môi trường dịch sệt, có tácdụng làm đông tinh dịch, bất hoạt khả năng của tinh trùng Rải rác, vẫn có trường
Trang 14hợp có thụ thai sau khi sử dụng hóa chất diệt tinh trùng (do cách dùng sai hay dochất lượng sản phẩm không đảm bảo) Tuy nhiên, các quan sát đều cho thấy chưa cótình trạng bất thường nào của thai nhi được phát hiện Biện pháp này khá hiệu quả
và tiện lợi, kèm theo khả năng diệt một số tác nhân bệnh lây truyền qua đường tìnhdục Tuy nhiên, có số ít người có khả năng dị ứng với các hoá chất sử dụng Một sốhóa chất khác cũng đang trong vòng nghiên cứu như Carraguard, PRO2000,Buffergel, Dextrin 2 sulfate… nhưng có vẻ tác dụng diệt khuẩn trội hơn so với tácdụng ngừa thai
Một số biện pháp khác không phổ biến như bao cao su dành cho nữ giới, mũche (màng chắn) âm đạo…
Hiệu quả tránh thai của biện pháp hàng rào từ 75 – 85%
* Biện pháp nội tiết:
Hai nội tiết tố nữ chính là Estrogen (E) và Progesterone với đặc điểm:
- Trong nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt, chỉ có estrogen (do buồng trứng tiếtra) với nồng độ tăng dần; estrogen có vai trò tăng sinh lớp nội mạc tử cung (về sốlượng – độ dày)
- Trong nửa sau chu kỳ, có cả estrogen và progesterone (do buồng trứng, saukhi đã rụng trứng, tiết ra; có vai trò giúp nội mạc tử cung phát triển về chất lượng(nhiều mạch máu nuôi, nhiều dinh dưỡng)
- Sự sút giảm đột ngột nồng độ các nội tiết tố này sẽ dẫn đến việc xuất huyếtlòng tử cung giống như kinh nguyệt
Việc sử dụng một nồng độ E và các progestin (P- chất tổng hợp có tác dụnggiống progesterone), kết hợp hay đơn thuần, thường xuyên có tác dụng ngăn chặn sựrụng trứng tự nhiên Do đó, khi dùng biện pháp nội tiết, hiện tượng rụng trứng tạmthời bị gián đoạn; bên cạnh đó, dịch nhầy cổ tử cung và lớp nội mạc tử cung cũng cómột số thay đổi không thuận lợi cho việc thụ tinh và thụ thai Đây là biện pháp cóhiệu quả nhất
Có nhiều dạng sản phẩm với nhiều dạng sử dụng trong biện pháp này:
- Thuốc viên ngừa thai: Loại kết hợp E+P hay chỉ có P đơn thuần (viên thuốc
Trang 15dành cho người cho con bú), dạng vỉ 21 viên hay 28 viên (thêm 7 viên bổ sung sắt),cách dùng một viên mỗi ngày.
- Thuốc tiêm ngừa thai: Là dạng P có tác dụng kéo dài, một mũi tiêm cho tácdụng trong 3 tháng
- Thuốc cấy ngừa thai: Cũng là dạng P có tác dụng kéo dài, que cấy vào da
và tác dụng trong 3 năm
- Các dạng P đơn thuần có thể gây vô kinh hay kinh ít, lấm tấm và kéo dàitrong lúc đang sử dụng, thời gian trở lại bình thường (kinh nguyệt cũng như khảnăng sinh sản) có thể hơi lâu hơn loại thuốc kết hợp
Các dạng mới hiện nay: Thuốc dán ngừa thai một miếng dán cho tác dụngtrong 1 tuần (E+P), thuốc tiêm ngừa thai hàng tháng (E+P), vòng có tẩm nội tiết vàdùng đặt trong âm đạo – tác dụng hàng tháng (E+P)
Hiệu quả tránh thai bằng nội tiết từ 92 – 98%
* Biện pháp dụng cụ: Dụng cụ tử cung (DCTC)
Là dụng cụ đặt trong lòng tử cung, có vai trò như một dị vật, với tác dụngkêu gọi các bạch cầu đến lòng tử cung và góp phần tiêu diệt tinh trùng, ngăn tinhtrùng xâm nhập lòng tử cung; đồng thời cũng làm biến đổi nội mạc tử cung khôngcòn thuận lợi cho việc thụ thai Có các loại vòng: vòng trơ, vòng có kim loại (việcthêm kim loại, thường là đồng, sẽ làm gia tăng hoạt tính của vòng), vòng có nội tiết(là các progestin, góp phần làm biến đổi nội mạc tử cung)
Hiệu quả tránh thai bằng dụng cụ khảng 99%
* Biện pháp ngừa thai vĩnh viễn:
- Triệt sản nam: Thắt ống dẫn tinh, đây là thủ thuật đơn giản, hầu như không
gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng Ống dẫn tinh chỉ có vai trò dẫn tinh trùng
từ nhà máy sản xuất là tinh hoàn đến túi tinh dự trữ và phóng thích ra ngoài tronglần giao hợp Khi thắt ống dẫn tinh, tinh trùng sản xuất ra sẽ không có đường thoát
và sẽ tự tiêu biến đi, các chất nội tiết do tinh hoàn tiết ra vẫn giữ nhịp độ sản xuấtnhư trước, vẫn sẽ được thấm vào máu và phát huy tác dụng giúp người nam vẫn cóđầy đủ các đặc điểm giới tính nam
Trang 16- Triệt sản nữ: Thắt ống dẫn trứng, là đường thông từ lòng tử cung ra buồng
trứng, khi bị thắt, tinh trùng không còn đường gặp trứng Buồng trứng vẫn hoạtđộng bình thường, nội tiết tố nữ vẫn được tiết ra đều đặn, vẫn có trứng rụng hàngtháng, người phụ nữ vẫn còn kinh nguyệt và những đặc điểm giới tính nữ như trướckhi áp dụng triệt sản
Phẫu thuật nhằm nối các ống dẫn tinh hay ống dẫn trứng là những phẫu thuậtkhó (thuộc loại vi phẫu), hơn nữa, các tổ chức mô sau thời gian dài triệt sản thường đã
bị xơ hóa, khả năng sinh sản sau phẫu thuật khôi phục lại thường không đạt trọn vẹn
Hiệu quả tránh thai của phương pháp ngừa thai vĩnh viễn 99%
* Biện pháp tự nhiên (truyền thống):
Là cách theo dõi chu kỳ rụng trứng của người phụ nữ, nhằm duy trì hoạtđộng tình dục trong giai đoạn không rụng trứng, để không có khả năng thụ thai.Thông thường, với người có vòng kinh đều đặn 28 - 32 ngày, rụng trứng thườngxảy ra khoảng ngày 14 - 15, giai đoạn nguy hiểm thường là 1 tuần xung quanhgiai đoạn này Dịch cổ tử cung thường nhiều, dai vào quanh ngày rụng trứng,thân nhiệt gia tăng và giữ ở mức này kéo dài từ sau rụng trứng đến khi có hànhkinh Việc theo dõi các dấu hiệu này sẽ giúp người phụ nữ tìm ra khoảng thíchhợp trong chu kỳ để giao hợp Biện pháp này hầu như không can thiệp vào tựnhiên sinh lý của người phụ nữ, tuy nhiên đòi hỏi sự hiểu biết và khả năng tự chủcủa cặp vợ chồng [21], [97], [102]
1.1.5.2 Chọn lựa một biện pháp ngừa thai thích hợp
Mỗi biện pháp ngừa thai đều có chỉ định và chống định khác nhau, cũng nhưđều có tỷ lệ thất bại (do dùng đúng hay không đúng cách) Ngay như biện pháp vĩnhviễn, hiệu quả nhất, vẫn có tỷ lệ thất bại khoảng 0,1%, do người làm thủ thuật làmsai kỹ thuật, chưa thắt hết hay chưa thắt đúng “cái cần thắt”, cũng có khi do cơ địangười dùng, vết thương đã tự hàn gắn lại những “chia cắt” của thủ thuật [97]
Các tác dụng phụ của các biện pháp ngừa thai nói chung được xếp vào cácnhóm sau:
- Tác dụng trên chu kỳ kinh nguyệt: Làm kinh nguyệt điều hòa (thuốc ngừa
Trang 17thai viên kết hợp dạng uống) hay gây rối loạn kinh nguyệt (vô kinh trong thuốctiêm ngừa thai).
- Tác dụng trên chuyển hóa: Gây giữ nước, tăng cân hay rối loạn chuyển hóa
đường, mỡ hoặc có lợi khi có kèm hoạt tính kháng androgen (chống mụn); tìnhtrạng loãng xương hay thiếu hụt canxi trên người dùng ngừa thai dạng P kéo dài
- Tác dụng trên hiện tượng viêm nhiễm: Ngăn ngừa bệnh lây qua đường tình dục.
- Nguy cơ ung thư phụ khoa: Ngăn ngừa ung thư hay có khả năng thúc đẩy
một số dạng ung thư phụ khoa trên cơ địa một số nhóm người đặc biệt
Việc chọn lựa một biện pháp ngừa thai phải do bản thân người sử dụng, saukhi có những thông tin rõ ràng, chính xác do người trong ngành y tế tư vấn, cânnhắc và chọn lựa tuỳ theo điều kiện sức khoẻ, gia đình, văn hoá, kinh tế của bảnthân mình, để có một biện pháp thích hợp nhất.
Sự chọn lựa này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như:
- Hiệu quả của biện pháp ngừa thai
- Giá thành của biện pháp
- Sự sẵn có của phương pháp
- Các tác dụng phụ có lợi hay không có lợi của phương pháp [66], [28], [98].
1.1.5.3 Những phép đo cơ bản về KHHGĐ
- Tỷ lệ căp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai (SDBPTT): Là tỷ lệ
phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 – 49) có chồng đang sử dụng (hoặc chồng của họđang sử dụng) một hoặc nhiều BPTT nào đó (dụng cụ tử cung, bao cao su, các loạithuốc tránh thai, triệt sản, hoặc các loại tránh thai khác) trên tổng số phụ nữ từ 15 –
49 tuổi hiện đang có chồng thuộc khu vực nào đó trong một thời gian xác định Tỷ
lệ này cũng có thể tính riêng cho từng biện pháp
Số PN có chồng từ 15 – 49 tuổi dùng BPTT
Tỷ lệ SDBPTT = x 100 Tổng số PN có chồng từ 15 – 49 tuổi
Phụ nữ có chồng là những người được luật pháp hoặc phong tục thừa nhận,bao gồm cả những phụ nữ sống chung với người khác như vợ chồng
Trang 18- Tỷ số hút điều hoà kinh nguyệt (hoặc nạo thai, sẩy thai) so với trẻ đẻ ra sống: là số lần hút điều hoà kinh nguyệt tính trung bình cho một trẻ đẻ sống Chỉ số
này rất quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác kế hoạch hoá gia đình
Số lần HĐHKN (hoặc nạo thai, sẩy thai)
Tỷ số HĐHKN = x 100 Tổng số trẻ đẻ sống
- Tỷ lệ bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên: là tỷ lệ các bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên
1.2 PHÁT TRIỂN DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH
1.2.1 Phát triển dân số trên thế giới
1.2.1.2 Quy mô dân số, những thử thách và cam kết đến 2050
Ngày 13/3/2007 Liên Hợp quốc (UN) đã công bố về dự báo dân số: cho thấydân số thế giới đang già hoá và sẽ vượt quá con số 9 tỷ người vào năm 2050 Cáckết quả cung cấp cơ sở để đánh giá các xu hướng ở cấp toàn cầu, khu vực và quốcgia và làm dữ liệu đầu vào để tính nhiều chỉ tiêu chủ yếu trong hệ thống Liên hợpquốc Báo cáo này kết hợp những kết quả của hầu hết các cuộc tổng điều tra dân sốquốc gia gần đây và nhiều cuộc điều tra mẫu về dân số chuyên sâu được tiến hànhtrên khắp thế giới
Theo Báo cáo năm 2006, dân số thế giới có thể tăng thêm 2,5 tỷ người trongvòng 43 năm tới, từ 6,7 tỷ lên đến 9,2 tỷ vào năm 2050 Số dân tăng này tươngđương với tổng dân số thế giới năm 1950 và đa số là ở những khu vực kém pháttriển nhất, dân số ở những khu vực này dự tính tăng từ 5,4 tỷ năm 2007 đến 7,9 tỷvào năm 2050 Ngược lại, dân số ở những vùng phát triển dự tính không thay đổivẫn giữ ở mức 1,2 tỷ và sẽ giảm, nếu không có di cư từ các nước đang phát triển
Trang 19đến các nước phát triển, dự tính hàng năm khoảng 2,3 triệu người.
Theo PRB năm 2008 world population: đến năm 2050, 10 nước có dân sốtăng: Ấn độ, Nigeria, Mỹ, Cộng hoà Công Gô, Pakistan, Trung Quốc, Indoxia,Uganda, Ethiopia, Bangladesh và 10 nước có dân số giảm: Nhật Bản, Nga,Ukraina, Đức, Phần Lan, Bắc Triều Tiên, Rumani, Đài Loan, Bulgaria, Tây BanNha [88], [89]
Việc những dự báo này trở thành hiện thực còn tuỳ thuộc vào việc đảm bảomức sinh tiếp tục giảm ở các nước đang phát triển Theo Báo cáo năm 2006, nhìnchung mức sinh ở các nước đang phát triển giảm từ 2,75 con/1 phụ nữ trong giai đoạn
2005 – 2010 xuống còn 2,05 vào giai đoạn 2045 – 2050 Thậm chí việc giảm ở nhóm
50 nước đang phát triển nhất còn rõ nét hơn: từ 4,63 con/1 phụ nữ xuống còn 2,50con/1 phụ nữ Để đạt được mức giảm này, điều cốt yếu là KHHGĐ càng được mởrộng ở những nước nghèo nhất Vấn đề cấp bách để thực hiện được các mức giảmsinh như dự tính cần nêu bật vấn đề là nếu mức sinh vẫn giữ nguyên ở các mức dựtính cho giai đoạn 2000 – 2005, dân số ở các khu vực kém phát triển sẽ tăng tới 10,6
tỷ thay vì 7,9 tỷ như dự tính giảm mức sinh Nếu mức sinh không giảm mạnh hơnnữa, dân số thế giới có thể tăng nhiều gấp hai lần số dân đang sống năm 1950
Về tốc độ và quy mô tiềm năng dân số thành thị cảnh báo loài người sẽ trảiqua một cuộc “cách mạng trong suy nghĩ”, để giải quyết vấn đề dân số thành thịtăng gấp đôi ở Châu Phi và Châu Á vào năm 2030, trong báo cáo tình trạng dân sốthế giới năm 2007, UNFPA khẳng định trong vòng 30 năm nữa dân số thành thị ởChâu Phi và Châu Á tăng thêm 1,7 tỷ người con số này lớn hơn dân số Trung Quốc
và Mỹ cộng lại Theo báo cáo năm 2008, hơn một nửa trong 6,7 tỷ dân số thế giớisống ở các thành phố, mặc dù các siêu đô thị (hơn 10 triệu dân) tiếp tục tăng lênnhưng hầu hết người dân sẽ sinh sống tại thành phố 500 ngàn dân hoặc ít hơn
Sự di cư từ nông thôn lên thành thị và kết hợp với sự gia tăng tự nhiên đangdẫn đến một sự gia tăng không phù hợp cho sự phân bố dân cư ở thành thị, đặc biệt
ở những nước kém phát triển [19], [94]
Cần phải có sự quan tâm về chính sách trước sự gia tăng dân số với những khó
Trang 20khăn thách thức và gây ảnh hưởng bởi đói nghèo Phần lớn các nghiên cứu cho thấy
xu hướng nhân khẩu học là thật sự quan trọng Tuy nhiên, tiềm năng lợi ích của dân
số phát triển chậm phụ thuộc vào thời gian và sự thay đổi về nhân khẩu học, kinh tế
xã hội, tình trạng phụ nữ và các loại hình tập trung vào các chính sách kinh tế.KHHGĐ sẽ không nhất thiết làm giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển Mặtkhác, chậm tỷ lệ tăng dân số, kết hợp với công bằng phát triển kinh tế và giảm bấtbình đẳng giới tính, xuất hiện ngày càng có khả năng để đạt được mục tiêu đó [90]
1.2.2 Phát triển dân số ở Việt Nam
1.2.2.1 Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh
Theo Tổng cục Thống kê năm 2005, Việt Nam có khoảng 83,12 triệu người,
là nước đông dân thứ 13 trên thế giới Năm 2005, chỉ có 4 nước (Ấn Độ, Nhật Bản,Banglades, Philippines) có dân số đông hơn và mật độ dân số cao hơn nước ta.Theo Liên Hợp quốc, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1 km2, chỉ nên có từ 35
- 40 người Như vậy, ở Việt Nam, mật độ dân số đã gấp khoảng 6 - 7 lần “mật độchuẩn” so với mật độ dân số Trung Quốc (136 người/km2, năm 2005) cũng gần gấpđôi còn so với các nước đã phát triển thì gấp trên 10 lần ! Căn cứ vào chỉ báo này,
có thể khẳng định rằng Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số rất lớn Mặc dù vậy,dân số nước ta vẫn tăng mạnh
Dân số tăng nhưng diện tích canh tác không tăng đã làm giảm diện tích canhtác trên đầu người Dù rằng có nhiều tiến bộ trong nông nghiệp nhưng sản lượnglương thực thực phẩm tăng không phù hợp với tỷ lệ tăng dân số Các dịch vụ phục
vụ đời sống tăng cả về khối lượng lẫn chất lượng đòi hỏi nhà nước phải tăng chi phíphúc lợi sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế chung, mức độ ô nhiễm môi trường tăng vàchất lượng cuộc sống bị giảm sút Vì vậy việc khống chế gia tăng dân số tự nhiên làmột nhiệm vụ cấp bách và thường xuyên để hưởng ứng cho sự gia tăng dân số theo
kế hoạch phù hợp với phát triển của nền kinh tế - xã hội
1.2.2.2 Mức sinh giảm mạnh nhưng chưa ổn định, còn khác nhau giữa các vùng
Tỷ suất sinh thô của Việt Nam có xu hướng giảm, đặc biệt giảm nhanh từnăm 1993 trở lại đây Việc mỗi phụ nữ, từ chổ sinh đẻ 6 - 7 con đến chỉ đẻ 2 con,
Trang 21chắc chắn có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến sức khoẻ, học vấn, việc làm, thunhập, địa vị xã hội của họ mà còn ảnh hưởng tích cực tới việc nuôi, dạy con cái,hạnh phúc gia đình, sự phát triển của cộng đồng và xã hội Xu hướng giảm sinhkhông ổn định, từ năm 2003 đến nay, mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 “nhích lên”đôi chút Mặt khác, mức sinh có sự khác biệt lớn giữa nông thôn, thành thị, giữa cácvùng địa lý kinh tế, các tỉnh và giữa các nhóm xã hội [52].
1.2.2.3 Sức khoẻ sinh sản đang đứng trước những thách thức mới, gay gắt
Bộ Y tế đánh giá số ca nạo phá thai hàng năm bằng số ca sinh Riêng số canạo phá thai tại các cơ sở y tế Nhà nước như sau: Năm 1992: 1,33 triệu; 1993: 1,20triệu; 1994: 1,25 triệu; 1995: 1,20 triệu và 1996: 1,22 triệu Nước ta được xếp vàonhóm nước có mức nạo phá thai cao nhất trên thế giới Những năm gần đây số canạo phá thai tại các cơ sở y tế nhà nước đã giảm Tuy nhiên, cần chú ý rằng tỷ lệsinh của nước ta cũng giảm Vì vậy, tỷ số giữa số ca nạo phá thai và số ca sinh vẫncao, đặc biệt là số ca nạo phá thai ở tuổi vị thành niên và thanh niên trẻ
Tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh sản ở nữ nông thôn, dao động từ 32,8% đến70,56% Một nghiên cứu mới đây tại Bệnh viện phụ sản tỉnh Thanh Hoá cho thấy:66% phụ nữ đến khám và quản lý thai nghén ở đây bị viêm đường sinh dục dưới
Tỷ lệ này ở Bệnh viện phụ sản Trung ương là 72% Đặc biệt là số nhiễm HIV/AIDSlớn và đang tăng nhanh Trong điều kiện mại dâm, ma tuý phát triển, các bệnh lâytheo đường tình dục, trong đó có HIV/AIDS là một hiểm họa lớn cho đất nước Hầuhết những người nhiễm HIV/AIDS trong độ tuổi lao động Vì vậy, đây là tổn thấtlớn về cả phương diện kinh tế và xã hội [23]
1.2.2.4 Chất lượng dân số có cải thiện nhưng vẫn chưa cao
Chỉ số phát triển con người (The Human Development Index - HDI) có thểcoi là một chỉ báo về chất lượng dân số Chỉ số này cao nhất là 1, thấp nhất là 0.Muốn tăng HDI lên thêm 0,010, thì thường GDP bình quân đầu người lên 18%, tuổithọ trung bình lên thêm 1,8 năm và tỷ lệ các cấp lên 3% Theo xếp hạng GDP đầungười dân thì nước ta đứng thứ 114 Chỉ số HDI nước ta năm 2005 là 0,704 xếphạng 108/177 nước Như vậy, HDI của nước ta không ngừng tăng lên, tuy nhiên so
Trang 22với thế giới, thứ hạng vẫn còn rất thấp [36]
Về thể lực: Trên phạm vi toàn quốc, theo Điều tra y tế quốc gia 2002, tỷ lệtrẻ sơ sinh nặng dưới 2500 gram là 5,6%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thuộc diện thấpcòi 33%; trẻ em có cân nặng theo tuổi thấp (25,7%), béo phì (1,3%) Năm 2004, tỷ
lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao ở mức 26,6%, đặc biệt là ởkhu vực Tây Nguyên, Tây Bắc Ngược lại, ở khu vực thành thị lại có tỷ lệ trẻ embéo phì Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2003, có 4,9% số trẻ từ
4 - 6 tuổi tại Hà Nội và 6% trẻ dưới 5 tuổi; 22,7% trẻ đang học cấp I ở thành phố
Hồ Chí Minh bị thừa cân, béo phì Ngoài ra, năm 2005 cả nước còn 5,3 triệungười tàn tật, bị mắc bệnh bẩm sinh, bị ảnh hưởng chất độc màu da cam, chiếm6,34% dân số, ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi
Về trí lực: 1,5% dân số thiểu năng về thể lực và trí lực Năm 2003, lao độngcủa Việt Nam có: 4,5% mù chữ, 47% mới chỉ có trình độ tiểu học (TH), 30% tốtnghiệp trung học cơ sở (THCS) và 18,5% tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT).79% lao động từ 15 trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật Khu vực nôngthôn, tỷ lệ này lên tới 87%, trong khi đó những lao động có trình độ cao đẳng (CĐ)trở lên chỉ chiếm 1,58%
Về tâm lực: tội phạm, tiêu cực xã hội có xu hướng gia tăng Trong đó, trẻ emlàm trái pháp luật tăng lên - Nỗi nhức nhối của gia đình và xã hội Theo thống kê,trên cả nước, số trẻ em vào trường giáo dưỡng và số bị khởi tố hình sự có xu hướngkhông ngừng tăng lên [1], [81]
1.2.3 Tình hình thực hiện DS - KHHGĐ
1.2.3.1 Thực hiện chính sách về DS - KHHGĐ
* Thực hiện chính sách về DS – KHHGĐ trên thế giới
Tại Hội nghị Quốc tế Dân số và Phát triển (ICPD) họp tại Cairô năm 1994,
đã nhất trí cách tiếp cận một cách toàn diện về chăm sóc sức khoẻ sinh sản(CSSKSS), bao gồm KHHGĐ và sức khoẻ tình dục Hội nghị ICPD đặt mục tiêu tớinăm 2015 sẽ phổ cập khả năng tiếp cận các thông tin và dịch vụ đa dạng vềCSSKSS Các đại biểu cũng nhất trí rằng SKSS và sức khoẻ tình dục là một quyền
Trang 23con người, một quyền lực cấu thành của chăm sóc y tế
Tháng 5 năm 2004, Đại hội đồng y tế thế giới lần thứ 57 thông qua chiếnlược đầu tiên của TCYTTG về SKSS nhằm đẩy mạnh quá trình các mục tiêu pháttriển thiên niên kỷ và các mục tiêu SKSS của ICPD và theo dõi 5 năm thực hiệnchương trình Chiến lược xác định 5 khía cạnh ưu tiên của sức khoẻ sinh sản và sứckhoẻ tình dục: cải thiện chăm sóc tiền sản, chăm sóc sinh nở, chăm sóc hậu sản vàchăm sóc sức khoẻ sơ sinh; cung cấp dịch vụ KHHGĐ chất lượng cao, bao gồm cảdịch vụ triệt sản; loại bỏ việc phá thai không an toàn; chống lại các bệnh lây nhiễmqua đường tình dục, trong đó có HIV, các bệnh nhiễm trùng đường sinh sản, ungthư cổ tử cung và bệnh phụ khoa khác; thúc đẩy sức khoẻ tình dục [67]
* Chính sách về DS - KHHGĐ ở Việt Nam
Cách đây 47 năm, đúng vào ngày dân số thế giới đạt tới 3 tỷ người và dân sốViệt Nam vượt qua con số 30 triệu người thì Chính phủ Việt Nam ban hành Quyếtđịnh số 216/CP ngày 26/12/1961 về việc sinh đẻ có hướng dẫn với mục đích “Vìsức khoẻ bà mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận trong gia đình để nuôi dạy con cái đượcchu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn chu đáo” Ngày 26/12 trởthành một mốc lịch sử quan trọng của chương trình dân số Việt Nam, ngày được coi
là Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia chương trình dân số toàn cầu (vì vậy màngày 26/12 hàng năm được lấy là ngày Dân số Việt Nam) [29]
Cùng với xu thế phát triển chung trên thế giới, chính sách dân số của ViệtNam không ngừng được bổ sung Phạm vi chính sách dân số của Việt Nam lànhững vấn đề có liên quan đến mức sinh, mức chết, di dân và các phân bố đặc biệtảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, chất lượng và sự phân bổ dân cư
- Chỉ thị số 99/TTg ngày 16/10/1963 của Thủ tướng Chính phủ “về công táchướng dẫn sinh đẻ”
- Quyết định số 94/CP ngày 13/5/1970 của Hội đồng Chính phủ “về cuộcvận động sinh đẻ có kế hoạch”
- Chỉ thị số 265/HĐBT ngày 19/10/1978 của Hội đồng Chính phủ “Đẩymạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong phạm vi cả nước”
Trang 24- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V năm 1981: Chỉ tiêu vận động là đẻ ít (từ2-3 con), để muộn (từ 22 tuổi trở lên), đẻ thưa (cách nhau từ 3 - 5 năm).
- Nghị quyết 04-NQ/HNTW ngày 14 tháng 01 năm 1993 của Hội nghị lầnthứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII về chính sách
DS - KHHGĐ “Công tác DS - KHHGĐ là một bộ phận quan trọng trong chiến lượcphát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của đấtnước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, từng giađình và xã hội”…“Đầu tư cho công tác DS – KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu quảkinh tế trực tiếp rất cao Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác DS -KHHGĐ, đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợcủa quốc tế”
- Quyết định số 162/HĐBT ngày 18 tháng 10 năm 1998 của Hội đồng Bộtrưởng “về một số chính sách Dân số - kế hoạch hóa gia đình”
- Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX xác định “ Chính sách dân số nhằmchủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phù hợp với những yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinhsản- kế hoạch hoá gia đình; giải quyết tốt mối quan hệ giữa phân bố dân cư hợp lývới quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực”
- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản ViệtNam xác định những định hướng cơ bản về chính sách và kế hoạch dân số tronggiai đoạn 2006 - 2010 xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu là: “Thực hiện tốtchính sách DS - KHHGĐ, giảm tốc độ tăng dân số Tiếp tục duy trì kế hoạch giảmsinh và giữ mức sinh thay thế, bảo đảm quy mô, cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chấtlượng dân số”[18]
- Pháp lệnh dân số (PLDS) quy định về phạm vi điều chỉnh là: “Pháp lệnhnày quy định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bổ dân cư, chất lượng dân số,các biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số”
- Chiến lược dân số Việt Nam (CLDSVN) xác định mục tiêu toàn diện, baogồm quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bổ dân cư, chất lượng dân số và định
Trang 25hướng đồng bộ hệ thống các giải pháp để thực hiện công tác dân số, quản lý nhànước về dân số Đồng thời CLDSVN xác định phương thức tổ chức thực hiện chiếnlược và trách nhiệm của các Bộ, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội và Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tổ chức thực hiện Chiến lược [71].
- Quyết định số 03/2001/QĐ-UB ngày 20/7/2001 của Uỷ ban Quốc gia Dân
số và kế hoạch hóa gia đình về “Chiến lược truyền thông giáo dục chuyển đổi hành
vi về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình giai đoạn 2001 – 2005” [73]
1.2.3.2 Tình hình sử dụng dịch vụ kế hoạch hoá gia đình (DVKHHGĐ)
* Tình hình sử dụng DVKHHGĐ trên thế giới
Sử dụng DVKHHGĐ cũng đang gặp vấn đề khó khăn, hàng năm có khoảng700.000 phụ nữ chết do thiếu các dịch vụ tránh thai; 120 – 150 triệu phụ nữ khôngđược giải quyết nhu cầu dịch vụ tránh thai; 75 triệu trường hợp thai nghén ngoài ýmuốn và khoảng 70.000 phụ nữ chết do phá thai không an toàn (WHO -1997) Theobáo cáo của UNFPA năm 2004 trên thế giới vẫn còn 350 triệu cặp vợ chồng chưađược tiếp cận đầy đủ DVKHHGĐ [37]
Ở Châu Phi trung bình có 5,5 con/một phụ nữ, cao gấp 2 lần Châu Á và gấp
4 lần so với Châu Âu Chỉ có khoảng 16% phụ nữ Châu Phi thực hiện các BPTTtrong khi ở Châu Á 60% và Châu Âu là 80% Về nhu cầu thì có 1/5 cặp vợ chồng
từ 15 – 49 tuổi muốn có ít nhất là 2 con và có 1/3 trong số họ muốn thực hiệnKHHGĐ nhưng chưa được đáp ứng [99]
* Tình hình sử dụng DVKHHGĐ ở Việt Nam
Ngày nay người ta càng nhận thức được tầm quan trọng của việc chăm sócsức khỏe phụ nữ Điều quan trọng là góp phần không nhỏ trong thành tựu của côngtác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em - KHHGĐ, sức khỏe của phụ nữ là sự liên quanmật thiết với các yếu tố trong xã hội như điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội
Sử dụng DVKHHGĐ cũng có nhiều vấn đề vì công tác này chưa thật sự gắnliền với việc chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, một số nơi lại chạy theo thành tích vàchỉ tiêu giảm sinh mà không gắn với chất lượng dịch vụ Tỷ lệ chấp nhận các BPTTnói chung là cao 79% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ Song có hơn 10% là sử
Trang 26dụng các BPTT hiệu quả thấp như xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh và đó chính
là nguyên nhân dẫn đến tình trạng có thai ngoài ý muốn Một nghiên cứu phối hợp giữa
Bộ Y tế với UNFPA và WHO năm 1994 tại 7 vùng trọng điểm cũng nhận ra vấn đề sựtham gia cộng đồng trong sử dụng dịch vụ chăm sóc thai sản, KHHGĐ còn thấp
Từ kết quả trên cho thấy, tỷ lệ phụ nữ chấp nhận và và sử dụng dịch vụ y tếcòn thấp, đặc biệt là những vùng khó khăn Sự mất cân đối giữa nhu cầu sử dụng vàcung cấp dịch vụ y tế đã làm giảm tiếp cận sử dụng hiệu quả dịch vụ y tế nói chung.Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tồn tại vấn đề trên là chất lượng dịch vụ y tế cơ sởchưa tốt, không gây sự thu hút hấp dẫn cho các bà mẹ, cơ sở vật chất, trang thiết bịcòn thiếu, không đáp ứng nhiệm vụ được giao; điều kiện kinh tế xã hội, trình độ vănhóa, phong tục tập quán còn lạc hậu nên chưa phù hợp với nhu cầu chăm sóc sứckhoẻ tốt cho các bà mẹ; đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu nghiêm trọng nhất là y tế cơ
sở Hiện nay có khoảng 30% trạm y tế không có nữ hộ sinh và Y sĩ sản nhi, chưa cónguồn lực để thực hiện chương trình phòng chống bệnh lây qua đường tình dục;ngoài ra sự suy thoái về đạo đức của cán bộ y tế và trong giao tiếp của cán bộ y tếthiếu thân thiện [72].
1.2.3.3 Tình hình thực hiện biện pháp tránh thai (BPTT)
* Tình hình sử dụng BPTT trên thế giới
Trên thế giới ước tính vào năm 1994, số lượng người sử dụng các BPTT
khoảng 899 triệu, đã tăng từ 55% lên khoảng 61% Tỷ lệ này tăng rất ít 1% tai 68những nước có nguồn dữ liệu sẵn và có ít nhất 2% tại các nước này hoặc là khoảng57% cặp vợ chồng có nguy cơ có thai Tỷ lệ sử dụng biện pháp cụ thể như sau:
- Triệt sản nữ 17%, triệt sản nam 5%;
- Dụng cụ tử cung (DCTC) 12%, thuốc uống tránh thai 8%, bao cao su 5%
* Tình hình sử dụng BPTT ở khu vực
Giữa các khu vực có sự khác nhau đáng kể về tỷ lệ chấp nhận tránh thai và
các mô hình sử dụng biện pháp Tổng tỷ lệ sử dụng BPTT ở khu vực các nước pháttriển cao hơn nhiều so với khu vực đang phát triển (72% so với 53%) Ở khu vựcphát triển, người ta dựa nhiều hơn vào thuốc tránh thai, bao cao su (BCS) và những
Trang 27biện pháp như vật ngăn âm đạo hay BPTT tự nhiên, so với khu vực đang phát triểnngười ta tin cậy nhiều hơn vào biện pháp triệt sản và dụng cụ tử cung.
Trong các khu vực đang phát triển, tỷ lệ chấp nhận tránh thai và các mô hình
sử dụng biện pháp cũng khác nhau một cách đáng kể Tổng tỷ lệ sử dụng cao nhất làĐông Á (kể cả Trung quốc) và Mỹ La tinh, thấp nhất ở Nam Á và Châu Phi Đông
Á tin cậy rất nhiều vào triệt sản nữ, triệt sản nam và DCTC Trong khi ở Mỹ La tinhngười ta nhấn mạnh vào triệt sản nữ và thuốc uống tránh thai (TUTT) mà hầu nhưkhông dùng triệt sản nam Những khác biệt trong mô hình sử dụng BPTT giữa cáckhu vực có thể là do những yếu tố chương trình, mà cũng có thể là do yếu tố kháchhàng, như sự ưa chuộng vì lý do văn hoá chẳng hạn Ví dụ: tại nhiều khu vực, tỷ lệchấp nhận thấp trong sử dụng BCS và biện pháp thắt ống dẫn tinh có thể phần nào
là hậu quả của định kiến văn hoá đối với các biện pháp dùng cho nam giới [67]
1.2.4.Tình hình thực hiện Công tác DS - KHHGĐ ở Việt Nam
1.2.4.1 Kết quả thực hiện công tác DS - KHHGĐ
Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng trực tiếp chỉ đạo, thành lập một cơ quanchuyên trách công tác DS - KHHGĐ (Nghị định 193/HĐBT ngày 19/6/1991), tách
ra khỏi Bộ Y tế có hệ thống tổ chức hoàn chỉnh và độc lập từ Trung ương tới địaphương, thực hiện quản lý điều hành công tác DS - KHHGĐ theo chương trình,được Đảng và chính quyền các cấp quan tâm thì từ đó công tác DS - KHHGĐ đãđạt kết quả tốt, thực hiện đạt mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) sớmhơn 10 năm so với thời gian dự kiến
Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 37/TTg ngày 17/01/1997 về đẩy mạnhthực hiện Chiến lược DS - KHHGĐ đến Năm 2000, tập trung củng cố hoàn thiện hệthống tổ chức là công tác DS - KHHGĐ từ Trung ương đến cơ sở [50]
Đến 2006 mức sinh đã giảm rất nhanh, số con trung bình của một cặp vợchồng chỉ còn 2,09, tỷ lệ phát triển dân số chỉ còn 1,26% và dân số tăng từ 70 triệunăm 1990 lên 84 triệu năm 2006 Nếu không có cải cách tổ chức, bộ máy được thựchiện năm 1991 và vẫn giữ cách làm như giai đoạn 30 năm (1961 - 1990) thì dân sốnước ta năm 2006 chắc chắn không dưới 100 triệu người, như dự báo của Quỹ Dân
Trang 28số Liên Hiệp Quốc, thay vì 84 triệu Việc tránh được hơn một chục triệu người sinh
ra trong 15 năm đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao GDP bình quân đầungười, giảm bớt sức ép về dân số đối với kinh tế - xã hội, việc làm, môi trường vàxoá đói giảm nghèo
Kết quả công tác DS - KHHGĐ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế
- xã hội, tăng thu nhập bình quân đầu người dân hàng năm, xoá đói giảm nghèo và nângcao chất lượng cuộc sống nhân dân (với những thành tựu của công tác DS -KHHGĐnăm 1999, Việt Nam đã được nhận giải thưởng Dân số của Liên hợp quốc) [3]
Theo nhận định của chuyên gia (AFPPD) trong buổi họp tại Hà Nội 5/2009
đã nhận xét Kết quả về công tác dân số đã giúp cho Việt Nam loại bỏ đói, giảmnghèo Tổng tỷ suất sinh từ 3,6 năm 1990 xuống còn 2,1 vào năm 2005, dự kiến sẽđạt mức sinh thay thế vào năm 2010 ; Tỷ lệ hộ nghèo từ 51,1% năm 1990 còn24,1% năm 2004 Những thành tích này giúp Việt Nam đạt tới những thành cônghơn trong sự loại bỏ đói nghèo cũng như tăng trưởng kinh tế vững vàng hơn trongthời gian gần đây [96]
Tuy nhiên trong bối cảnh là nước nghèo, kinh tế - xã hội chưa phát triển,73% dân số nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp lại chịu ảnh hưởngnặng nề của tư tưởng nho giáo về sinh con, coi trọng con trai hơn con gái do đó kếtquả đạt được trong công tác này hiện nay là chưa vững chắc Chỉ cần lơi lỏng thìchắc chắn, tỷ lệ phát triển dân số sẽ tăng mạnh trở lại Năm 2003, Pháp lệnh Dân sốban hành, có nội dung chưa thật chặt chẽ thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trong cán bộ, Đảngviên đã tăng vọt và tỉ lệ phát triển dân số đã tăng lên 0,15% trong vòng 1 năm(1,47% năm 2003 so với 1,32% năm 2002) Năm 2007 là năm “lợn vàng”, được coi
là năm tốt theo quan niệm của người Á Đông, nên dù đã hết sức cố gắng, nhưng sốtrẻ em sinh ra đã tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2006 [32]
1.2.4.2 Tình hình sử dụng các BPTT
* Kết quả thực hiện các BPTT
Nói chung tỷ lệ sử dụng BPTT rất cao và tăng lên trong khoảng thời gian
2001 đến 2005 Có khoảng 74% phụ nữ đã từng có chồng trả lời đã từng sử dụng
Trang 29một BPTT nào đó trong năm 2001, và tỷ trọng này tăng lên 75,3% vào năm 2003
và 76,9% vào năm 2005 Tỷ lệ phụ nữ đang sử dụng BPTT hiện đại tăng từ 61,1%năm 2001 lên 65,8% năm 2005 Điều thú vị là, tỷ lệ sử dụng BPTT nói chung tăng
từ 3% thời kỳ 2001 – 2005 nhưng tỷ lệ BPTTHĐ trong thời kỳ này lại tăng lên(4%) Điều đó có nghĩa là tỷ lệ sử dụng BPTTTT đã giảm đi trong thời gian 1994đến 1997 (gần 2%)
Có thể rút ra 2 đặc điểm về cơ cấu sử dụng BPTT ở Việt Nam: ưu thế củaDCTC trong các biện pháp hiện đại và tỷ lệ sử dụng biện pháp tính vòng kinh vàxuất tinh ra ngoài trong toàn bộ các biện pháp khá cao Phương pháp được sử dụngphổ biến nhất tại thời điểm của 3 cuộc điều tra 1997, 2001 và 2005 vẫn là DCTC.Vào năm 2005 có khoảng một nữa (55,3%) phụ nữ Việt Nam đã từng có chồngtrong độ tuổi sinh đẻ họ đã từng sử dụng DCTC một lúc nào đó trong cuộc đời.Phần lớn số 3,5 % tăng về sử dụng BPTTHĐ là kết quả của việc gia tăng các BPTTkhông phải là DCTC, đặc biệt là TUTT, BCS và triệt sản nữ
* Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên
Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên giảm liên tục từ cuộc điều tra 1/4/2002đến cuộc điều tra 1/4/2006, đặc biệt là trong 12 tháng trước 1/4/2006 Tỷ lệ phụ nữsinh con thứ ba đã giảm từ 20,8% theo cuộc điều tra năm 2005 xuống chỉ còn18,5% trong cuộc điều tra năm 2006 [68]
Bảng 1.1 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của cả nước từ 2004 - 2008
Vùng
ĐT BĐDS 2004
ĐT BĐDS 2005
ĐT BĐDS 2006
ĐT BĐDS 2007
ĐT BĐDS 2008
Đông Nam bộ 17 17 14,3 13,8 14,4
Trang 30ĐB Sông Cửu Long 16 16 13,9 12,6 12,6
Nguồn số liệu điều tra biến động dân số Việt Nam 2004 – 2008 UNFPA
* Nạo/phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt (ĐHKN)
Tỷ lệ nạo/phá thai và hút ĐHKN trong 12 tháng từ 1/4/2005 đến 1/4/2006của phụ nữ có chồng trong độ tuổi 15 - 49 là 1,1%, tăng 0,1 điểm phần trăm so vớikết quả của cuộc điều tra 1/4/2005 Tỷ lệ nạo/phá thai và hút ĐHKN của cả nướctăng là do tỷ lệ này ở khu vực thành thị đã tăng tới 0,4 điểm phần trăm từ 1% theocuộc điều tra 1/4/2005 lên 1,4% sau một năm trong khi tỷ lệ này ở khu vực nôngthôn tiếp tục giảm [59].
1.2.4.3 Chính sách D S- KHHGĐ đến 2010
* Về Chủ trương, chính sách của Đảng
- Nghị quyết số 04-NQ/HNTW (khoá VII), ngày 14/01/1993, quan điểm cơbản: “Công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận của chiến lược pháttriển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, làmột yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình vàtoàn xã hội” [17]
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Thực hiện mục tiêu Chiến
lược kinh tế xã hội về dân số: “Nâng cao đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI)của nước ta Tốc độ tăng dân số đến năm 2010 còn khoảng 1,1%” [16]
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Thực hiện nhiệm vụ đổi mới
cơ chế quản lý và phương hướng cung cấp các dịch vụ công cộng liên quan đến dân
số là: “Nhà nước tiếp tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cho các chương trình mụctiêu quốc gia về giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, dân số, gia đình và trẻem….” [18]
- Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 “Tiếp tục quán triệt và cươngquyết thực hiện các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấphành Trung ương khoá VII, phấn đấu sớm đạt được mục tiêu về ổn định quy mô dân
số, đồng thời nâng cao chất lượng dân số Việt Nam” [6]
- Hướng dẫn của Ban Khoa giáo TW-UBDSGĐ&TETW, thực hiện Nghị
Trang 31quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về:“Tiếp tục đẩy mạnh thựchiện chính sách Dân số - kế hoạch hóa gia đình” [4].
- Hướng dẫn số 13/HDLLBKG-BCĐDSGĐTE ngày 04/4/2005, yêu cầu “Tổchức nghiên cứu, quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và cácgiải pháp được đề ra trong Nghị quyết của Bộ Chính trị nhằm tạo chuyển biến mạnh
mẽ về nhận thức và tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể, cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân đối với công tác Dân
số - kế hoạch hóa gia đình” [70]
- Hướng dẫn số 03/BTGTW-BCSĐBYT ngày 13/5/2009 của Ban Tuyên giáoTrung ương và Ban cán sự Đảng Bộ Y tế về: “ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,chỉ đạo của cấp uỷ đảng và chính quyền nhằm thực hiện chính sách Dân số - kếhoạch hóa gia đình ở địa phương” [5]
* Chính sách pháp luật của Nhà nước
- Luật bảo về sức khoẻ nhân dân về thực hiện kế hoạch hóa gia đình [83]
- Pháp lệnh Dân số năm 2003, quy định về kế hoạch hoá gia đình [82]
- Pháp lệnh dân số sửa đổi điều 10, Pháp lệnh dân số 2003 [15]
- Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Thủ tướng Chính phủThực hiện: “Mục tiêu chính sách dân số là duy trì mỗi cặp vợ chồng có một hoặchai con để ổn định quy mô dân số, đảm bảo cơ cấu dân số và phân bổ dân cư hợp lý,nâng cao chất lượng dân số” [48], [14]
- Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg ngày 22/12/2000, về quan điểm: “Đầu tưcho công tác dân số là đầu tư cho sự phát triển bền vững và mang lại hiệu quả kinh
tế xã hội trực tiếp, gián tiếp và rõ rệt” [49]
- Quyết định số 170/2007/QĐ-TTg ngày 08/11/2007, về mục tiêu:“Tập trung
nỗ lực thực hiện mục tiêu mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chỉ có một hoặchai con, nhằm duy trì vững chắc mức sinh thay thế, tiến tới ổn định quy mô dân số ởmức hợp lý; thử nghiệm và mở rộng mô hình, giải pháp can thiệp, nhằm góp phầnnâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ và tinh thần, đáp ứngnguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá và
Trang 32phát triển bền vững của đất nước” [45].
- Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 4/8/2008, về tiếp tục thực hiện các nhiệm
vụ chủ yếu để đẩy mạnh công tác DS - KHHGĐ [47]
- Quyết định số 624/QĐ - DSGĐTE ngày 28/12/2006 về xã hội hoá hoạtđộng dân số, gia đình và trẻ em (DSGĐTE) đến năm 2010 đã xác định: “Công tácdân số, gia đình và trẻ em là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đấtnước, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, đoàn thể, gia đình và toàn xã hội Xãhội hóa hoạt động DSGĐTE là một giải pháp tích cực nhằm huy động toàn xã hộitham gia thực hiện các mục tiêu chính sách Dân số và đảm bảo sự vững chắc củacông tác dân số, gia đình và trẻ em” [72]
- Chỉ thị số 03/CT-TLĐ ngày 14/4/2005 của Tổng Liên Đoàn lao động vềviệc quy định đưa kết quả thực hiện công tác DS - KHHGĐ là một chỉ tiêu thi đua,khen thưởng trong cơ quan, đơn vị và công nhân viên chức, lao động [62]
2.2.5 Tình hình phát triển DS-KHHGĐ của địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Hậu Giang, với những đặc điểm kinh tế xãhội chủ yếu như sau:
1.2.5.1 Đặc điểm tình hình chung
* Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Tỉnh Hậu Giang là một tỉnh mới được chia tách từ ngày 01/01/2004 (từ tỉnhCần Thơ cũ), tỉnh lỵ tọa lạc tại thị xã Vị Thanh Nằm về phía Nam sông Hậu, thuộcvùng trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phíaBắc giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phíaĐông giáp tỉnh Sóc Trăng
Diện tích tự nhiên: 160.722,49 ha; diện tích rừng: 3.604,62 ha; diện tích đất
trồng lúa, màu: 86.516,32 ha; diện tích đất trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ănquả: 23.940,17 ha; diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản: 121,48 ha
* Dân số: Tổng số 802.797 người, trong đó: Nam: 393.370 người; nữ:
409.427 người; người Kinh: chiếm 96,44%; người Hoa: chiếm 1,14%; ngườiKhmer: 2,38%; Các dân tộc khác chiếm 0,04%
Trang 33Khu vực thành thị: 152.923 người; nông thôn: 650.056 người.Vùng khókhăn: 259.181 người (chiếm 31,16%).
Tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2007 là 15,66%
* Lao động: Tổng số: 470.130 người Trong đó, lao động đang làm việc
trong các thành phần kinh tế: 382.035 người; lao động dự trữ: 88.095 người
* Đơn vị hành chính:
- Đơn vị cấp huyện: Có 7, trong đó: 5 huyện (Châu Thành A, Châu Thành,
Phụng Hiệp, Vị Thủy và huyện Long Mỹ); 2 thị xã (Vị Thanh, Ngã Bảy)
- Đơn vị cấp xã: Có 71, trong đó 9 thị trấn, 8 phường, 54 xã Có 21 xã thuộcvùng khó khăn theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướngChính phủ Tổng số 524 ấp và 1.258 cụm dân cư [40]
Tỷ lệ thực hiện biện pháp tránh thai hiện đại còn tác dụng 96,22%, trong đócao nhất là vòng tránh thai (VTT) 56,13% và TUTT 18,5% Cho thấy cặp vợ chồng
có xu thế chọn ngày càng nhiều 2 phương pháp này
* Tình hình sinh con thứ 3 trở lên
Bảng 1.3 Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên của tỉnh Hậu Giang từ 2004-2009
Trang 34Đơn vị Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Thị xã Vị Thanh 9,62 9,58 8,70 6,33Huyện Vị Thuỷ 7,69 7,80 11,43 13,45Huyện Long Mỹ 8,00 7,98 12,00 12,86Huyện Phụng Hiệp 11,68 11,62 8,65 9,09
Huyện Châu Thành 25,63 14,35 18,73 17,99Huyện Châu Thành A 16,22 15,14 11,67 10,53
Nguồn số liệu điều tra biến động dân số năm 2004 -2007 Cục Thống kê Hậu Giang
Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên giảm liên tục, Hậu Giang có tỷ lệ thấphơn so với cả nước và khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ cuộc điều tra 1/4/2004đến cuộc điều tra 1/4/2007, đặc biệt là trong 12 tháng trước 1/4/2007 Tỷ lệ phụ nữsinh con thứ ba đã giảm từ 11,62% theo cuộc điều tra năm 2005 xuống chỉ còn10,16% trong cuộc điều tra năm 2007 Điều này phù hợp với mức sinh giảm dần từnăm 2004 đến năm 2007 Tuy nhiên tỷ lệ này giảm không đồng đều giữa các địaphương và có 3/7 đơn vị năm 2007 đã tăng hơn so với năm 2006 [76]
Trang 35* Tình hình nạo/phá thai
Bảng 1.4 Tỷ lệ nạo, phá thai của phụ nữ 15-49 tuổi
Thị xã Vị Thanh 16,88 11,54 13,04 7,64Huyện Vị Thuỷ 15,45 15,38 14,29 12,20Huyện Long Mỹ 15,80 12,00 10,00 7,13Huyện Phụng Hiệp 16,07 17,52 13,46 11,80
Huỵện Châu Thành 15,75 15,63 14,89 18,06Huyện Châu Thành A 14,98 12,16 15,00 14,42
Nguồn số liệu điều tra biến động dân số năm 2004 -2007 Cục Thống kê Hậu Giang
Năm 2004 tỷ lệ /phá thai và hút ĐHKN tăng lên cao nhất trong số phụ nữ
15-49 tuổi hiện đang có chồng cùng với sự tăng TFR, sau đó giảm dần tính đến năm
2007, tỷ lệ nạo đã liên tục giảm với tốc độ khá đều (mỗi năm giảm khoảng 2%) Điều này có thể nói yếu tố nạo /phá thai và hút ĐHKN đã tác động góp phầnlàm tăng mức sinh năm 2003 và làm giảm mức sinh năm 2004 trở về sau [76]
0,65-1.2.5.2 Thực hiện công tác DS - KHHGĐ tỉnh Hậu Giang
* Ban hành văn bản thực hiện công tác DS - KHHGĐ
- Chỉ thị số 10 - CT/TU ngày 18/7/2005 về tiếp tục thực hiện chính sách dân
số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời quy định xử lý nghiêm những trường hợpsinh con lần 3 trở lên [54]
- Báo cáo số 89-BC/TU ngày 08/10/2008 về thực hiện Nghị quyết đại hộiĐảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XI, mục tiêu nhiệm vụ phát triển đến 2010, về kếtquả thực hiện và nhiệm vụ công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình [55]
- Công văn số 814-CT/TU ngày 10/04/2009: “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết
số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị về chính sách Dân số - kế hoạch hóa gia đình” [56]
- Quyết định của UBND tỉnh Cần Thơ về phê duyệt Chiến lược Dân số tỉnhCần Thơ giai đoạn 2001 – 2010 [75]
- Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 23/7/2008 của UBND tỉnh HậuGiang về việc chuyển Cán bộ DS-KHHGD cấp xã về Trạm y tế [77]
Trang 36- Quyết định số 1196/2008/QĐ-UBND ngày 27/5/2008, của UBND tỉnh HậuGiang thành lập Chi cục Dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hậu Giang [78].
- Quyết định số 1197/2008/QĐ-UBND ngày 27/5/2008, của UBND tỉnh HậuGiang thành lập Trung tâm Dân số - kế hoạch hóa gia đình các huyện, thị xã thuộctỉnh Hậu Giang [79]
- Công văn số 2257/UBND-NCTH ngày 16/10/2008 của UBND tỉnh HậuGiang về thực hiện biện pháp chế tài đối với trường hợp vi phạm chính sách Dân số
- kế hoạch hóa gia đình [80]
- Nghị quyết số 16/2008/NQ-HĐND, ngày 5/12/2008 về giao chỉ tiêu kinh tế
xã hội năm 2009 [34]
* Tình hình thực hiện các mục tiêu Chiến lược Dân số
Công tác DS-KHHGĐ của tỉnh Hậu Giang đã đạt được những thành tựu cơbản: Về quy mô dân số, năm 2004 có 781.005 người, đến năm 2008 là 808.047người, trung bình mỗi năm tăng thêm 6.760 người Mật độ dân số 492 người/km2.
Tổng tỷ suất sinh năm 2008 là 1,97 con giảm mạnh, tỉnh đã đạt mức sinh thay thế
sớm hơn kế hoạch đề ra Tỷ suất sinh thô nhìn chung có xu hướng giảm từ 19,95%onăm 2004 đến năm 2008 là 16,87%o, trung bình mổi năm giảm 0,77%o; tỷ suất chếtthô cũng có xu hướng giảm từ 5,7%o năm 2004 đến năm 2008 là 4,55%o Tỷ lệ tăngdân số tự nhiên giảm hàng năm từ 14,25%o năm 2004 giảm còn 12,32%o năm 2008
Tỷ lệ nạo/phá thai cũng giảm từ 15,82% năm 2004 đến năm 2008 còn 10,36% Tỷ
lệ cặp vợ chồng thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại là 69,32%.Tuổi thọtrung bình sau 5 năm thêm 2,08 tuổi, năm 2004 là 73,2 tuổi đến năm 2008 tăng lên75,34 tuổi.Thu nhập bình quân của người dân năm 2004 là 382 USD, tăng lên565,34 USD vào năm 2008
Tuy nhiên, so với mục tiêu về dân số thì Hậu Giang đang đối mặt với khókhăn thử thách đó là: mặc dù quy mô dân số của tỉnh còn nhỏ so với các tỉnh đồngbằng sông Cửu Long, tốc độ gia tăng dân số chậm lại và đang được khống chế,nhưng do những năm 80, số con trung bình của một phụ nữ trong diện sinh đẻ từ 4đến 5 con, do vậy số phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ hiện nay của tỉnh rất cao, mức
Trang 37giảm sinh chưa đồng đều giữa các xã, ấp Số cặp vợ chồng từ chối thực hiện BPTTthường ở vùng sâu, việc áp dụng các BPTTTT, kém hiệu quả vẫn còn hơn 18%.
Nhận thức về công tác DS - KHHGĐ ở một số địa phương còn hạn chế, chưađầy đủ và đúng mức về phát triển dân số và các vấn đề có liên quan nên từng lúcchưa thường xuyên tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu dân số, chưakiên quyết xử lý các vi phạm chính sách dân số, bố trí cán bộ làm công tác dân sốchưa ngang tầm với nhiệm vụ được giao Chính sách, chế độ đối với người làmcông tác dân số chậm thay đổi Nhiều địa phương chưa lồng ghép các yếu tố dân sốvào quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội [40]
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2 1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Quần thể nghiên cứu là phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng tính đến 31/12/2008(tức là phụ nữ sinh từ 1959 đến 1993 có chồng) tại tỉnh Hậu Giang
2.1.1 Tiêu chí lựa chọn
- Có địa chỉ thường trú hoặc tạm trú từ 6 tháng trở lên
- Đồng ý tham gia nghiên cứu và trả lời phỏng vấn sau khi đã được ngườiphỏng vấn, cộng tác viên dân số giải thích
2.1.2 Tiêu chí loại trừ
- Phụ nữ tạm trú ngắn hạn dưới 6 tháng tại Hậu Giang do đến địa phươnglàm ăn hay sinh hoạt
- Phụ nữ mắc bệnh tâm thần, không đủ minh mẫn để trả lời câu hỏi phỏng vấn
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên mẫu ngẫu nhiên [7]
Tại thời điểm tháng 12 năm 2008
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
2.2.2.1 Loại mẫu sử dụng
Bằng 3 giai đoạn:
* Giai đoạn 1: Dùng mẫu tầng tỷ lệ, quần thể nghiên cứu chia thành 3 tầng:
- Vùng đô thị: tổng số 17 đơn vị (có 8 phường và 9 thị trấn), dân số chiếm
19,04% = 20%
- Vùng khó khăn (theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của
Thủ tướng Chính phủ): tổng số 21 đơn vị (có 19 xã và 2 phường), dân số chiếm
31,16% = 30% [46]
- Vùng nông thôn còn lại: có 35 xã, dân số chiếm 48,68%% = 50%.
Căn cứ vào tỷ lệ số xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) của mỗi vùng,
Trang 39dùng phương pháp ngẫu nhiên đơn (bảng số ngẫu nhiên).
- Vùng đô thị: 17 phường, thị trấn x 20% = chọn 3 phường/thị trấn
- Vùng khó khăn: 21 đơn vị xã, phường x 30% = chọn 6 xã
- Vùng nông thôn: 35 xã x 50% = chọn 17 xã
Ta sẽ chọn được 26 đơn vị cấp xã
* Giai đoạn 2: Dùng mẫu hệ thống
- Chọn các đối tượng từ các xã, phường, thị trấn đã được chọn giai đoạn 1theo “bảng số ngẫu nhiên” Như vậy 26 đơn vị được rút ra từ 3 vùng có đặc điểm vềsinh thái khác nhau là đại diện cho 71 đơn vị cấp xã trong toàn tỉnh Hậu Giang đưavào nghiên cứu là hoàn toàn ngẫu nhiên
- Từ 26 đơn vị cấp xã được chọn, căn cứ vào mẫu xác xuất của mỗi vùng tiếnhành xác định cỡ mẫu của mỗi đơn vị cấp xã (Mx) bằng cách:
+ Cỡ mẫu (Mx) = số mẫu chung nhân với tỷ lệ phần trăm dân số của xã đượcchọn (của vùng được chọn)
* Giai đoạn 3: Bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống
Khi có số lượng mẫu cấp xã vừa chọn ở giai đoạn 2 (Mx) Căn cứ vào danhsách đối tượng (phụ nữ có chồng 15 – 49 tuổi) của các xã có sẵn (khung mẫu), tínhkhoảng cách mẫu, dựa vào “bảng số ngẫu nhiên” ta chọn được đối tượng đầu tiên(số 1), sau đó dựa vào khoảng cách mẫu ta chọn được đối tượng thứ 2…đến đốitượng thứ cuối cùng theo số lượng và danh sách mẫu đã có [26]
2.2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Dùng công thức tính cỡ mẫu để tính tỷ lệ điều tra ngang
Ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với một mức độ chính xác tương đối:
Trang 40Để hạn chế sai số trong nghiên cứu, mẫu điều tra sẽ được nhân thêm 1,3 và
cho tròn số Như vậy mẫu nghiên cứu chính thức 1.998 n ≈ 2.000 [87]
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
Để thu thập thông tin, chúng tôi chọn phương pháp phỏng vấn tiêu chuẩn(cấu trúc) trên cơ sở của bảng hỏi được hoàn thiện Người đi phỏng vấn sử dụng cácthông tin trong bảng hỏi đã được chọn sẵn, chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn cần thiếtcủa nghiên cứu, để đưa ra các câu hỏi ghi nhận lại các thông tin trả lời
Trong nghiên cứu này bảng các câu hỏi đã được xây dựng chặt chẽ cả về trật
tự, tính liên tục, cũng như cách thức trình bày từng câu hỏi Người phỏng vấn khôngđược tự ý thay đổi các trình tự các câu hỏi Vai trò của người phỏng vấn gắn liềnvới việc làm rõ ràng cho người trả lời những gì đã có trong bảng câu hỏi, nghe trảlời, xác định câu hỏi và ghi chép theo chỉ dẫn trong bảng hỏi
Trong quá trình phỏng vấn trực diện, cuộc phỏng vấng có người hỏi và ngườiđáp trong sự tiếp xúc mặt đối mặt (face to face) chúng tôi tuân thủ theo nguyên tắc:
* Nguyên tắc ABCD:
A (Audience: khán giả): phải xác định người mình tiếp xúc là ai? tuổi tác,
nghề nghiệp, mức sống, hoàn cảnh gia đình để có cách tiếp cận thích hợp
B (Behavior: hành vi): cần xem xét hành vi đối tượng nghiên cứu trong thời
điểm tiến hành phỏng vấn
C (Condition: điều kiện): cần xem xét điều kiện và hoàn cảnh cụ thể lúc
phỏng vấn
D (Degree: mức độ): trên cơ sở xem xét ba yếu tố trên, xác định mức độ tiếp
xúc và phỏng vấn đối với từng đối tượng nghiên cứu để đảm bảo thông tin thu thậpđược đạt một mức độ tin cậy có thể cháp nhận được
* Nguyên tắc AIDA:
A (Attention: Gây sự chú ý): làm sao cho đối tượng được được điều tra có sự
tập trung chú ý đến vấn đề nghiên cứu qua sự tiếp xúc là ban đầu của người điều tra.Muốn vậy cần phải thiết phục cho đối tượng điều tra hiểu được mục dích của điềutra và những lợi ích có thể trực tiếp hoặc gián tiếp mang đến cho bản thân họ
I (Interest: thoải mái, thú vị): trong quá trình phỏng vấn cần tạo được sự