1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai

83 501 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 334,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài được thực hiện thành công góp phần cung cấp thêm cứ liệu khoa học giúp đảng bộ, chính quyền và các ban, ngành tỉnh Đồng Nai có thể tham khảo trong hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất nói riêng.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT

VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN SAU THU HỒI ĐẤT

131.1 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

1.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau

thu hồi đất ở một số địa phương và bài học rút ra đối với

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO

ĐỘNG NÔNG THÔN SAU THU HỒI ĐẤT Ở ĐỒNG NAI

372.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Đồng Nai ảnh

hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất

37

2.2 Kết quả và hạn chế trong giải quyết việc làm cho lao động

Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIẢI

QUYẾT CÓ HIỆU QUẢ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN SAU THU HỒI ĐẤT Ở ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN TỚI

70

3.1 Những quan điểm cơ bản nhằm giải quyết có hiệu quả việc

làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai trong thời gian tới

70

Trang 2

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết có hiệu quả việc

làm cho lao động nông thôn ở Đồng Nai trong thời gian tới

75

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế - xã hội có tính toàn cầu, là mối quan tâm của rất nhiều quốc gia trên thế giới Ngày nay, quan niệm về phát triển được hiểu đầy

đủ là: tăng trưởng phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói, giảm nghèo, giảm thiểu thất nghiệp… Điều đó cho thấy, bảo đảm việc làm cho người lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế, mà còn góp phần duy trì sự ổn định xã hội, chính trị và phát triển bền vững của các quốc gia, dân tộc

Trong những năm qua, cùng với quá trình CNH - HĐH, dân số, lao động và tỷ lệ lao động nhàn rỗi ở nông thôn nước ta có xu hướng giảm xuống, song vẫn còn giữ ở mức cao Theo

số liệu thống kê năm 2011 cho thấy, dân số nông thôn chiếm 69,4% dân số và 71,5 % lực lượng

Trang 3

lao động cả nước (32,7 triệu trong 43 triệu lao động cả nước) và tỷ lệ lao động nhàn rỗi chiếm 19,3% Con số này chứng tỏ vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn đang đặt ra yêu cầu bức thiết.

Đồng Nai là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong những địa phương có tốc độ CNH - HĐH cao của cả nước Quá trình CNH - HĐH đã đem lại những thành tựu rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó có việc thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, hiệu quả; tạo và giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động… Tuy nhiên, để quá trình tiến hành CNH-HĐH, việc hình thành nên các khu công nghiệp, các khu đô thị là một tất yếu khách quan và để có tiền đề về vị trí, đất đai xây dựng các KCN, khu đô thị này Chính quyền tỉnh đã phải thực hiện thu hồi khá nhiều đất nông nghiệp Việc thu hồi đất để xây dựng các KCN chính là điều kiện và thời cơ tốt nhất để chuyển một bộ phận quan trọng lực lượng lao động nông nghiệp - nông thôn - là khu vực

có năng suất lao động thấp, sang khu vực công nghiệp và dịch vụ Nhiều lao động đã được giải quyết việc làm với thu nhập cao hơn, ổn định hơn nhưng bên cạnh đó, người dân bị thu hồi đất, không phải tất cả mọi người đều có thể dễ dàng chuyển đổi được sang các công việc thuộc lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ như mong muốn, mà một bộ phận khá lớn người dân bị thu hồi đất là những người nông dân thuần túy lâu đời, khi bị thu hồi đất, đất canh tác bị thu hẹp, không hoặc khó có thể tiếp tục với hoạt động nông nghiệp nhưng bị hạn chế là rất nhiều lao động đã ở vào độ tuổi không năng động để có thể được đào tạo nghề phù hợp trong lĩnh vực công nghiệp hoặc dịch vụ, khả năng chuyển đổi nghề mới và tìm việc làm trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ còn gặp nhiều khó khăn Hiện nay, số lao động bị thu hồi đất chủ yếu chỉ được hỗ trợ bằng hình thức đền

bù đất

Mặc dù vậy, giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh nói chung, việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất nói riêng còn tồn tại những bất cập, hạn chế Điều đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ việc nhận thức và các giải pháp thực hiện còn thiếu hiệu quả Bởi vậy, việc tiếp tục luận giải làm rõ những vấn đề lý luận thực tiễn làm cơ sở để xác định các giải pháp, nhằm giải quyết có hiệu quả việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Với lý do đó, tác giả lựa chọn vấn

đề “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đề tài

Việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi vậy, đã có nhiều công trình, bài viết của các tác giả nghiên cứu, đề cập trên các khía cạnh khác nhau về việc làm và giải quyết việc làm Trong đó, đáng chú ý một số công trình tiêu biểu sau:

- Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp của PGS Nguyễn Quang Hiển, Nxb

Thống kê, Hà Nội, 1995 Tóm tắt: Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng

và yêu cầu bức xúc của nhân dân

- Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của PTS Nguyễn Hữu Dũng, PTS Trần Hữu

Trung, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Tóm tắt: phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề việc làm cho người lao động, chính sách tạo việc làm và chống thất nghiệp là một trong những tiêu chí bảo đảm định hướng XHCN, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

- Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và Phát triển của Thạc sĩ Nguyễn Thị Lan

Hương, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội, 2002 Tóm tắt: Đánh giá rõ hơn về thị trường lao động Việt Nam trong thời đại CNH-HĐH đất nước Định hướng để phát triển bền vững lâu dài và ổn định thị trường lao động

- Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam của PGS Trần Đình Hoan

Nxb Sự thật, Hà Nội 1991 Tóm tắt: Vai trò và tiềm năng nguồn lao động trong phát triển kinh

tế, xã hội, hiện trạng lao động và việc làm, phương hướng chủ yếu sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm có hiệu quả ở Việt Nam

- Vấn đề phân bổ và sử dụng nguồn lao động theo vùng & hướng giải quyết việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của Nguyễn Quốc Tế Nxb Thống kê, Hà nội 2003 Tóm tắt:

Lao động, việc làm, nguồn lực cơ bản cho sự phát triển xã hội Thực trạng phân bố, sử dụng hợp

lý nguồn lao động, theo vùng và vấn đề giải quyết việc làm ở Việc Nam Một số biện pháp nhằm phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lao động theo vùng và giải quyết việc làm ở giai đoạn 2001-2010

Trang 5

Hầu hết các tác giả đều cho rằng, vấn đề việc làm cho người lao động và thất nghiệp là một trong những vấn đề có vai trò thực tiễn, do đó cần đề ra phương pháp tiếp cận tổng quát về chính sách việc làm, hệ thống khái niệm về lao động, việc làm, đánh giá thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam Nội dung của các công trình đã đề xuất hệ thống các quan điểm, phương pháp giải quyết việc làm trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Cũng có rất nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu viết về thực trạng lao động, vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta như:

- Nguyễn Hữu Chí, “Vai trò của nhà nước trong lĩnh vực giải quyết việc làm”, 2006 - Số

1 - Tr.13-21.- Tạp chí luật học Tóm tắt: Nhà nước đóng vai trò chủ lực trong công tác giải quyết việc làm, giữ vai trò đào tạo, tuyển dụng và hướng nghiệp để xã hội phát triển theo định hướng XHCN

- Nguyễn Sinh Cúc (2003), “Giải quyết việc làm ở nông thôn và những vấn đề đặt ra” Tạp chí Con số và Sự kiện, số 8 Tóm tắt: Đưa ra phương hướng giải quyết cho tình hình việc làm tại nông

thôn Nhằm giúp giảm gánh nặng xã hội về giải quyết việc làm và giảm về tỷ lệ lao động nhàn rỗi Nêu

và giải quyết những vấn đề thực tiển cần thực hiện và giải pháp thời gian tới

- Nguyễn Hữu Dũng (2004), “Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí lao động và Xã hội, số 247 Tóm tắt: Tổng

hợp những giải pháp về lao động việc làm cho người lao động trình độ thấp, có phương hướng đạo tạo, pháp triển nguồn lực hiện có tại địa phương Đẩy mạnh phát triển toàn diện về công nghiệp hóa tại nông thôn để phát triển xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Vũ Đình Thắng (2002), “Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn”, Tạp chí kinh tế và phát triển, số 3” Tóm tắt: Thể hiện những mặc khó khăn còn vướng mắc cần thực hiện nhằm giúp người

lao động có được việc làm thích hợp với khả năng, trình độ để ổn định cuộc sống

- Bùi Văn Quán (2001), “Thực trạng lao động và việc làm ở nông thôn và một số giải pháp cho giai đoạn 2001-2005”, Tạp chí lao động và Xã hội, số chuyên đề 3 Tóm tắt: Phân tích được nhiều

khía cạnh về thực trạng nguồn lao động và việc làm khi áp dụng tại nông thôn Đề ra phương hướng và giải pháp giải quyết trong thời gian tới

- Trần Kim Thoa, “Bảo đảm an sinh xã hội gắn với giải quyết việc làm cho người lao động”, 2009 - Số 4 - tr 72-74.- Tuyên giáo Tóm tắt: Nêu sự quan tâm của Nhà nước đối với

Trang 6

người lao động Để người lao động an tâm, tập trung làm tốt công việc, mang lại lợi ích cho mình và cho xã hội.

- Đàm Hữu Đắc, “Phương hướng giải quyết việc làm cho thanh niên đến năm 2015”,

2009 - Số 353 - tr 10-12.- Tạp chí Lao động và Xã hội Tóm tắt: Thực trạng nguồn lao động dồi dào của nước ta còn chưa phát triển đúng hướng, đúng ngành nghề Để định hướng chính xác phát triển tối ưu nguồn lao động cần đề ra kế hoạch, phương hướng để thanh niên tìm được việc làm thích hợp nhất

- Đỗ Thị Xuân Phương, “Phát triển thị trường sức lao động giải quyết việc làm”, LATS

Kinh tế: 5.02.05, Hà Nội 2000 Tóm tắt: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc hình thành thị trường sức lao động ở Việt Nam Thực trạng, quan điểm, giải pháp giải quyết việc làm, phát triển thị trường sức lao động ở Hà Nội

- Hoàng Kim Ngọc, “Phát triển doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động và giải quyết việc làm trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, LATS Kinh tế: 5.02.05, Hà Nội 2003 Tóm tắt: Một số vấn đề cơ bản về phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn và vai trò của nó trong việc giải quyết việc làm Thực trạng và giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn

- Phí Thị Hằng, “Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở Từ Liêm, Hà Nội” Tóm tắt: Nêu và phân tích vấn đề việc làm, giải pháp thực hiện đối với

chủ trương phát triển xã hội chung của Nhà nước một phần ảnh hưởng đến đời sống công việc của người dân, nhìn nhận để rút ra giải pháp tốt nhất

- Nguyễn Đình Đức, “Hà Nội đẩy mạnh giải quyết việc làm trong bối cảnh suy giảm kinh tế” Tóm tắt: Phân tích nhiều khía cạnh của việc làm trong nền kinh tế suy giảm, để tìm ra giải

pháp tối ưu nhằm khôi phục lại nền kinh tế cũng như giảm tối đa tỹ lệ thất nghiệp trong xã hội

- Lê Minh Tùng, “An Giang đẩy mạnh công tác dạy nghề và giải quyết việc làm giai đoạn 2006-2010”, 2006 - Số 300 - Tr.16-17,24.- Tạp chí Lao động và Xã hội Tóm tắt: Công

tác đào tạo nghề là định hướng đúng đắng nhằm tạo việc làm cho xã hội Nhưng nó phải phù hợp với tư duy khả năng của nguồn lao động cần đào tạo

- Nguyễn Thắng Lợi, “Một số vấn đề giải quyết việc làm ở nông thôn (Qua thực tế tỉnh Thái Bình)”, 2005 - Số 5 - tr.53-55.- Lịch sử Đảng Tóm tắt: Giải pháp hiện tại và phương

Trang 7

hướng để tạo nguồn lực lao động nhàn rổi thành nguồn lao động chính để theo kịp sự phát triển của đất nước.

- Đỗ Tuấn Sơn, “Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động có đất thu hồi tại tỉnh Bắc Ninh”, 2009 - Số 8 (149) - tr 28-31.- Giáo dục lý luận Tóm tắt: Công tác bồi

thường, giải tỏa và tái định cư là vấn đề nóng trong xã hội Đưa ra được những vấn đề thực tế của người dân khi bị thu hồi đất và tìm được giải pháp để hạn chế và khắc phục những thiệt thòi, ảnh hưỡng đến người dân

- Bích Thuận, “Đồng Nai với công tác chăm sóc và giải quyết việc làm cho người khuyết tật”, 2009 - Số 364 - tr 37-38.- Tạp chí Lao động và Xã hội Tóm tắt: Thể hiện tốt tính an sinh xã

hội của Nhà nước, sự quan tâm, chăm lo đến đời sống của người lao động, đặc biệt là người khuyết tật Tạo điều kiện để họ hòa nhập với xã hội

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận giải về việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động trên các góc độ khác nhau, song đến nay chưa có công trình nào đề cập đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích: Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn về giải quyết việc làm

cho lao động nông thôn sau thu hồi đất, từ đó đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết có hiệu quả việc làm cho đối tượng này ở Đồng Nai trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu: Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở

Đồng Nai

Trang 8

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận chung về việc làm, giải quyết

việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất; thực trạng giải quyết việc làm và quan điểm, giải pháp giải quyết việc làm trên địa bàn các địa phương ở Đồng Nai

- Về không gian: Lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai.

- Về thời gian: Các số liệu điều tra, khảo sát được thực hiện chủ yếu năm 2005 đến

nay

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài

sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị Mác - Lênin: trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

- Đề tài được thực hiện thành công góp phần cung cấp thêm cứ liệu khoa học giúp đảng

bộ, chính quyền và các ban, ngành tỉnh Đồng Nai có thể tham khảo trong hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất nói riêng

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác - Lênin

7 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài kết cấu thành 3 chương, 6 tiết

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

NÔNG THÔN SAU THU HỒI ĐẤT

Trang 9

1.1 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất

1.1.1 Khái niệm về lao động, lao động nông thôn và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất

1.1.1.1 Khái niệm về lao động và lao động nông thôn

* Khái niệm lao động

Khái niệm “lao động” tùy theo góc độ nghiên cứu mà các nhà khoa học đưa ra các quan niệm

về “lao động” tương ứng Tuy nhiên, các quan điểm đều tập trung vào hai khía cạnh: Thứ nhất, coi lao động là hoạt động, là phương thức tồn tại của con người Thứ hai, coi lao động chính là bản thân con người, là sự nỗ lực vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người Dựa vào quan niệm lao động là hành động xã hội, người ta phân biệt năm yếu tố cơ bản tạo nên cấu trúc của lao động: đối tượng lao động, mục đích lao động, công cụ lao động, điều kiện lao động và chủ thể lao động

Theo giáo trình Phân tích lao động xã hội của khoa Kinh tế lao động, Trường Đại học Kinh tế quốc dân: Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người Khái niệm này nhấn mạnh nhiều vào hoạt động sản xuất vật chất tạo của cải vật chất cho sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, chưa phản ánh được hết các hoạt động lao động của con người.

Trong giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người Trong Bộ luật Lao động của nước ta chỉ rõ: Lao động là

hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh

thần của xã hội.

Thực tiễn cho thấy, hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức quan trọng Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của con người, giúp con người nâng cao được trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên và nâng cao kiến thức về xã hội và nhân cách đạo đức Lao động là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển xã hội.

Trang 10

Để lao động, trước hết con người phải có sức lao động, đó là là toàn bộ thể lực, trí lực và tâm lực tồn tại trong con người Thể lực, trí lực và tâm lực đó đem ra vận dụng trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất và những giá trị tinh thần của xã hội.

* Khái niệm lao động nông thôn

Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn,

có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn Điểm đáng lưu ý của lao động nông nghiệp là mọi hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp đều gắn liền với đối tượng cây trồng, vật nuôi; là những cơ thể sống với những đặc điểm riêng biệt, không thể xóa bỏ, lao động nông nghiệp mang sắc thái riêng, không giống với lao động trong một số ngành kinh tế khác Đặc biệt tính chất thời vụ của lao động nông nghiệp, làm cho lao động nông nghiệp lúc thì căng thẳng, lúc lại nhàn rỗi; tình trạng thiếu việc làm tạm thời là khá phổ biến.

Lao động nông thôn: là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn.

- Đặc điểm của lao động nông thôn:

+ Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng Đặc điểm này làm cho việc tổ chức hiệp tác lao động và việc bồi dưỡng đào tạo, cung cấp thông tin cho lao động nông thôn là rất khó khăn.

+ Lao động nông thôn có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn so với thành thị Lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế

hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là

Trang 11

chính Bởi vậy, đây là khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn.

+ Lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông Điều này dẫn đến việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến

+ Khả trong năng tiếp cận, tham gia thị trường, nắm bắt, xử lý thông tin thị trường, hạch toán của lao động nông thôn hạn chế

1.1.1.2 Việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất

*Khái niệm việc làm

Có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm, song Theo Bộ luật Lao động

của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc làm được xác định: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận

là việc làm Khái niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao

động và việc làm hang năm của Việt Nam và được cụ thể hóa thành ba dạng hoạt động sau:

- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật.

- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.

- Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.

Trang 12

Điều này cho thấy thị trường việc làm đã được mở rộng, bao gồm tất cả các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và không bị giới hạn

về không gian.Người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự

do thuê mướn lao động theo luật pháp để tạo việc làm cho mình và xã hội

Từ quan niệm trên về việc làm, có thể hiểu được thiếu việc làm hay bán thất nghiệp Người thiếu việc làm là những người có việc làm nhưng do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn, mà họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định, hoặc làm những công việc có thu nhập thấp không đủ sống, muốn tìm thêm việc làm để bổ sung

Việc làm thường được phần làm hai loại: Việc làm thường xuyên và việc làm không thường xuyên Người có việc làm thường xuyên là những người hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua có số ngày làm việc thực tế lớn hơn hoặc bằng tổng số ngày có nhu cầu làm thêm Người không có việc làm thường xuyên gồm những người thuộc bộ phận hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua có tổng số ngày làm việc thực tế nhỏ hơn tổng số ngày có nhu cầu làm thêm.

Như vậy, lao động nông thôn chủ yếu thuộc bộ phận dân số không có việc làm thường xuyên, hay còn gọi là thiếu việc làm hoặc bán thất nghiệp

* Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm

- Nhân tố điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một thành phố, một địa phương đã có sẵn, ngoài ý muốn chủ quan của con người Đó có thể là đất đai màu

mỡ hay không màu mỡ, phù hợp với loại cây trồng nào; hay điều kiện khí hậu, thủy văn thuận lợi hay bất lợi cho phát triển các loại cây trồng, vật nuôi; các nguồn tài nguyên khoáng sản nhiều hay ít, địa hình bằng phẳng hay không bằng phẳng, thuận lợi phát triển ngành sản xuất nào, tạo ra bao nhiêu chỗ làm việc mới….Trên

Trang 13

thế giới có rất nhiều nước giàu tài nguyên thiên nhiên, đất đai rộng lớn thuận lợi cho phát triển các ngành sản xuất và thu hút lao động Còn đối với những nước không được thiên nhiên ưu đãi, đất đai chật hẹp, nghèo tài nguyên, họ có vốn, có công nghệ kỹ thuật hiện đại, máy móc tiên tiến, phương pháp quản lý tiên tiến nên

đã tạo ra được nhiều việc làm mới và việc làm có chất lượng cao.

- Nhân tố kinh tế - xã hội

+ Vốn đầu tư

Vốn đầu tư có ý nghĩa to lớn đối với việc làm của người lao động Vốn dùng

để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc, thiết bị, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ, hơn nữa hoạt động trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, tính rủi ro cao Có vốn lớn đem lại lợi thế cho doanh nghiệp và người sản xuất, thực tế là muốn phát triển một ngành nào đó đều cần phải có một lượng vốn đầu tư tương ứng cho một chỗ làm mới

+ Đô thị hóa

Đô thị hóa làm giảm diện tích đất canh tác, đất canh tác bình quân trên một người lao động trong nông nghiệp giảm, làm cho lao động nông nghiệp thiếu việc làm gia tăng.

Quá trình đô thị hóa là quá trình gia tăng và lớn lên của hệ thống đô thị, quá trình biến từng vùng nông thôn thành đô thị là nguyên nhân cơ bản làm giảm đất canh tác trong nông nghiệp Trong xu thế phát triển của nền kinh tế, các cơ sở hạ tầng ngày càng được phát triển: đường giao thông, bến cảng, trung tâm thương mại…Cũng góp phần làm giảm đất canh tác trong nông nghiệp, nông dân mất dần ruộng đất Với các nước đang phát triển, công nghệ ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp còn chậm chạp và khá lạc hậu, phương thức canh tác theo lối truyền thống vẫn là chủ yếu, do vậy đất đai là yếu tố hết sức cơ bản và cần thiết đối với sản xuất nông nghiệp và khả năng tạo việc làm cho người lao động Nhiều đất khả năng tạo

Trang 14

việc làm cho lao động nông nghiệp lớn, ít đất đai khả năng tạo việc làm cho lao động nông nghiệp sẽ giảm đi.

Đô thị hóa đã đẩy nhanh quá trình phân công lao động, tạo cơ sở hạ tầng thuận lợi cho sản xuất phát triển, tuy nhiên các nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, tay nghề của người lao động thấp, không đủ khai thác những thuận lợi của quá trình đô thị hóa tạo ra, để giải quyết công ăn việc làm cho mình Do vậy, quá trình đô thị hóa ngày càng diễn

ra nhanh chóng nguy cơ thất nghiệp và thiếu việc làm trong nông nghiệp, nông thôn ngày càng gia tăng.

+ Dân số

Quy mô dân số tăng, nhu cầu về lượng hang hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng lên Để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng tăng lên đó đòi hỏi phải mở rộng sản xuất, đa dạng hóa các ngành nghề hoạt động Điều đó dẫn đến nhiều ngành nghề mới ra đời, dẫn đến số chỗ làm việc mới cũng được tạo ra nhiều hơn, cơ cấu việc làm cũng biến đổi theo.

Cơ cấu dân số quyết định cơ cấu tiêu dùng Mỗi độ tuổi, giới tính, ngành nghề, tôn giáo, dân tộc….đều có tâm lý, sở thích tiêu dùng khác nhau, nhu cầu về tiêu dùng về số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa, dịch vụ cũng khác nhau

Để thỏa mãn đầy đủ nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng đó tất yếu phải mở rộng, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng chủng loại hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm; thay đổi cơ cấu ngành nghề Số lượng việc làm được tạo

ra nhiều hơn, phát triển đa dạng hơn.

Chất lượng lao động được đánh giá trên các mặt về sức khỏe, trình độ, phẩm chất Vấn đề được nói đến nhiều khi đề cập đến chất lượng lao động là trình độ của người lao động Kinh tế ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng một tiên tiến, đòi hỏi người lao động phải có trình độ nhất định đáp ứng yêu cầu công

Trang 15

việc Người lao động có trình độ càng cao thì cơ hội tìm được việc làm càng dễ dàng Hầu hết những người thất nghiệp chủ yếu là những người có trình độ thấp, không đáp ứng được yêu cầu của những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Do đó, người lao động muốn kiếm được việc làm và nhất là việc làm có thu nhập cao, phù hợp cần phải có các thông tin thị trường lao động, biết các cơ hội việc làm và đặc biệt là đầu tư vào vốn con người cả về thế lực và trí lực.

- Nhân tố thuộc về cơ chế, chính sách

Với xuất phát điểm thấp, bản thân nông nghiệp và những người lao động nông nghiệp không đủ khả năng để tự giải quyết công ăn việc làm cho chính mình trong quá trình đô thị hóa, để góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động nông nghiệp cần thiết phải có sự hỗ trọ của nhà nước trên nhiều mặt Vai trò của nhà nước ảnh hưởng tới việc làm của người lao động nông nghiệp thông qua việc xây dựng chiến lược phát triển đất nước, quy hoạch phát triển đô thị.

Qua quy hoạch phát triển các ngành, quy hoạch phát triển các vùng mà các ngành, các vùng xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, vùng mình, xây dựng đội ngũ người lao động cho phù hợp Nếu quy hoạch đô thị gắn với quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn, gắn với chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nông thôn các ngành sẽ hỗ trợ nhau và tạo điều kiện cho nhau phát triển, tạo nhiều việc làm cho người lao động

Ngoài ra, thông qua các chính sách, các chương trình, các dự án của mình nhà nước đã tác động tới việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, hướng dẫn, khuyến khích người lao động phát triển ngành nghề, tạo việc làm, tạo vốn cho đầu tư phát triển ngành nghề, qua đề bù đất, qua vay ưu đãi, qua luật đầu

tư, qua tạo lập môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý ổn định, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước…

* Khái niệm về thu hồi đất

Trang 16

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai nhằm sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế…

* Quan niệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất

Giải quyết việc làm cho người lao động là tổng thể hoạt động của nhà nước, người sử dụng lao động và bản thân người lao động trong việc tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng, chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế - xã hội khác để kết hợp với

tư liệu sản xuất và sức lao động

Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất chính là tạo cho người lao động ở nông thôn - những người có đất bị thu hồi phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội có việc làm và thu nhập dể đảm bảo cuộc sống

Trên cơ sở quan niệm về giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, có thể quan

niệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình CNH-HĐH ở tỉnh Đồng Nai: là tổng thể hoạt động của Đảng bộ, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, các chủ doanh nghiệp,

cơ sở sản xuất và bản thân người lao động tỉnh Đồng Nai trong việc tạo ra số lượng, chất lượng

tư liệu sản xuất; số lượng, chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế - xã hội khác ở khuc vực nông thôn để kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động trong quá trình CNH-HĐH của tỉnh, nhằm tạo việc làm, bảo đảm thu nhập cho những lao động sau thu hồi đất, góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra

Quan niệm trên chỉ rõ:

- Chủ thể giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn trong quá trình CNH - HĐH tỉnh Đồng Nai chính là Đảng bộ, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, các chủ doanh nghiệp,

cơ sở sản xuất và chính bản thân người lao động nông thôn bị thu hồi đất;

- Cách thức tiến hành: tạo ra các điều kiện cần thiết cho việc kết hợp giữa tư liệu sản xuất

và sức lao động

- Mục đích: Nhằm tạo việc làm, bảo đảm thu nhập cho người lao động, góp phần thực

hiện có hiệu quả mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra

Trang 17

1.1.2 Sự cần thiết và nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất

* Sự cần thiết giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất

ở Đồng Nai

- Do tác động của quá trình CNH – HĐH

Trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn, việc thu hẹp diện tích đất nông nghiệp để xây nhà máy, các khu chế xuất và dịch vụ là điều tất yếu Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn tại Hội thảo “Nôngdân bị thu hồi đất - Thực trạng và giải pháp”, cho thấy:

trong 5 năm, từ năm 2001- 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% đấtnông nghiệp đang sử dụng) Trong đó, diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xâydựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha Các vùng kinh tế trọngđiểm là khu vực

có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diệntích đất thu hồi trên toàn quốc

Đồng Nai là tỉnh đi đầu trong xây dựng, phát triển và dẫn đầu cả nước về số lượng KCN với 30 KCN tổng diện tích 9.573 ha và 43 cụm công nghiệp, thu hút 1.130 dự án từ 35 quốc gia

và vùng lãnh thổ như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản…, có tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD và hơn 31.600 tỷ đồng, thu hút hơn 375 ngàn lao động đang làm việc tại các KCN, trong đó hơn 60% là người ngoài tỉnh Tỉnh đã quy hoạch 21 cụm công nghiệp với tổng diện tích 620 ha trên địa bàn các huyện, thành phố Biên Hòa và thị xã Long Khánh

Bảng 1.1: Quy hoạch phát triển một số KCN lớn của tỉnh Đồng Nai

Trang 18

(Nguồn: Website: www.dongnai.gov.vn)

Tình trạng phân bố các KCN trong tỉnh chưa đều đã ảnh hưởng đến phân bố lao động trên địa bàn Đa số dự án thu hút nhiều lao động được tập trung chủ yếu trong các KCN trên địa bàn thành phố Biên Hòa Trong tổng số 190.000 người làm việc trong các KCN, số lao động làm việc trong các KCN ở thành phố Biên Hòa là: 101.000 người (chiếm 54%); số lao động nhập cư ước khoảng: 113.000 người (chiếm đến 60% trên tổng số lao động) Lao động nhập cư là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải về cơ sở hạ tầng như: nhà ở, bệnh viện, trường học, nạn kẹt xe vào mỗi giờ ra, vào ca, các tệ nạn xã hội, vi phạm trật tự an ninh trên địa bàn… Số lượng lao động có tay nghề trong các KCN còn thấp, chưa tạo ra được cán bộ quản lý chủ chốt, chưa tập trung vào việc đào tạo ra đội ngũ công nhân có tay nghề

Trang 19

Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đến cuối năm 2010 đạt 53%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 40% Ngoài ra, tỉ lệ người tốt nghiệp đại học, công nhân tay nghề bậc cao còn thấp so với bình quân chung cả nước Công nghiệp phát triển nhanh nhưng nhân lực chất lượng cao không đáp ứng kịp Tính đến cuối năm 2008 mới có 19.751 người tốt nghiệp đại học, đang công tác trong các thành phần kinh tế hoặc đã nghỉ hưu Trong số này số tốt nghiệp từ hệ đào tạo không chính qui (chuyên tu, tại chức, chuẩn hóa, từ xa) chiếm đến 44,2%

Chỉ tính riêng Đồng Nai, diện tích đất thu hồi cũng lên đến19.752 ha Giảm bớt đất canh tác nông nghiệp, thay đổi cơ cấu lao động ở nông thôn, chuyển lao động thuần nông sang lao động phi nông nghiệp tạo ra nhiều giá trị sản phẩm và giá trị gia tăng hơn, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế.v v., là những việc cần làm Tuy nhiên, việc thu hẹp diện tích đất canh tác nông nghiệp để công nghiệp hoá và đô thị hoá ồ ạt như mấy năm gần đây ở nước ta, đã tạo nên những ảnh hưởng tốt và không tốt đến đời sống người dân ở nông thôn, nhất là những người nông dân

Việc thu hồi đất cho công nghiệp hóa đã tác động trực tiếp đến việc làm và đời sống của các hộ nông dân trước mắt cũng như lâu dài.Việc mất đất, thiếu việc làm, không tự chủ về lương thực là tình trạng phổ biến của các hộ nông dân vùng công nghiệp hóa Vì một phần lớn diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp, đô thị hóa và xây dựng

cơ sở hạ tầng, số hộ nông dân mất đất phải chuyển đổi việc làm tăng lên nhanh chóng Mặc dù các cấp chính quyền trung ương và địa phương đã có nhiều lỗ lực trong GQVL cho lao động nông thôn nói chung và lao động bị thu hồi đất nói riêng, song tình trạng thiếu việc làm vẫn không hề thuyên giảm Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cho các cấp lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu phải tìm giải pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho lao động nông thôn

có việc làm thường xuyên, đảm bảo ổn định cuộc sống

- Từ vai trò của việc làm và yêu cầu của phát triển bền vững;

Một quốc gia muốn phát triển bền vững thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển linh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ

Trang 20

trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh.

Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2013 nhấn mạnh vai trò của tăng trưởng dựa vào một khu vực kinh tế tư nhân mạnh trong quá trình tạo việc làm và nêu bật cách thức mà việc làm có thể giúp cho phát triển thúc đẩy một chu trình đúng đắn Báo cáo nhận thấy nghèo đói sẽ giảm xuống khi con người phấn đấu thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn và khi việc làm giúp phụ nữ đầu tư nhiều hơn cho con cái Hiệu suất tăng lên khi người lao động làm việc giỏi hơn, khi các công việc có năng suất cao xuất hiện và các công việc năng suất thấp dần dần biến mất Xã hội phát triển khi việc làm thúc đẩy sự đa dạng và mang lại nhiều lựa chọn để giải quyết mâu thuẫn “Một công việc tốt có thể làm thay đổi cuộc sống một cá nhân và những công việc phù hợp có thể chuyển đổi cả xã hội Chính phủ các nước phải đưa việc làm trở thành trọng tâm của việc thúc đẩy sự thịnh vượng và chống đói nghèo”, "Điều quan trọng là chính phủ các nước phải kết hợp tốt với khu vực tư nhân, nơi tạo ra 90% tổng số việc làm Vì vậy, phải tìm ra cách tốt nhất giúp các doanh nghiệp và nông trại nhỏ phát triển Việc làm là hy vọng Việc làm là hòa bình Việc làm có thể làm cho các nước dế bị tổn thương trở nên vững mạnh."

- Từ đặc điểm lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai;

Đồng Nai là một tỉnh công nghiệp, cơ cấu ngành nông nghiệp chỉ chiếm tỉ trọng 6,8%, nhưng nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng, với hơn 60% dân cư sống vùng nông thôn Với nhận thức đó, Đồng Nai luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi

Trang 21

đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm

an ninh, quốc phòng Tính đến năm 2013, Đồng Nai có 15/136 xã đạt chuẩn nông thôn mới và dự kiến đến cuối năm 2014 sẽ có thêm 6 xã hoàn thành Với kết quả này, Đồng Nai đang dẫn đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới Người lao động

ở nông thôn chủ yếu làm việc tại các trang trại trồng nấm,nuôi gà, trồng cam, quýt…, các xưởng hàn điện

Trong những năm gần đây, Hội Nuôi ong tỉnh Đồng Nai đã xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa người nuôi ong và doanh nghiệp qua hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm, song song với việc cập nhật hóa thông tin về kinh tế, kỹ thuật cho người nuôi ong Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 250 đến 300 ngàn đàn ong và phát triển theo nhiều dạng: nuôi hộ gia đình, nuôi ong bán chuyên nghiệp và nuôi ong chuyên nghiệp Sản lượng trung bình hàng năm từ 6000 đến 8000 tấn mật ong và các sản phẩm khác từ ong như: sáp ong, phấn hoa, sữa ong chúa…Nuôi ong đã thu hút và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động nông thôn trong tỉnh, trong đó

có hơn 500 người nuôi ong chuyên nghiệp Lợi nhuận bình quân khoảng 200 triệu đồng mỗi năm cho một người nuôi ong với quy mô 250 đàn

Một cái khó của các địa phương miền núi là chính quyền, đoàn thể các xã chưa hiểu và chưa cùng vào cuộc với huyện trong tuyên truyền, vận động bà con học nghề Bà con không đi học nghề cũng vì chưa được giải thích các chế độ chính sách rõ ràng Với lao động là đồng bào dân tộc thiểu số, học nghề đã khó, sống bằng nghề đã học càng khó, ngay cả các nghề đặc thù của địa phương như đan lát, dệt thổ cẩm, mây tre cũng khó triển khai đào tạo Bởi, bà con sau học nghề làm

ra sản phẩm chẳng biết bán cho ai Trong khi đó, đào tạo các nghề phi nông nghiệp như nề, may, mộc thì học viên tốt nghiệp ít được các chủ cơ sở tiếp nhận do tay nghề không đạt yêu cầu, ý thức lao động không cao.

- Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai.

Trang 22

Kể từ khi Đề án 1956 được thực hiện, Đồng Nai đã đào tạo gần 3.000 cán bộ công chức cấp xã, trong đó có gần 90% phục vụ trực tiếp cho công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn Để tạo thuận lợi cho lao động nông thôn đi học nghề, mới đây, Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh đã bổ sung thêm hai đối tượng được vay vốn học nghề là bộ đội xuất ngũ và lao động nông thôn Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sách tạo thuận lợi như hỗ trợ tiền ăn, ở, đi lại khi lao động nông thôn tham gia học nghề sẽ tạo hiệu quả để công tác dạy nghề cho lao động nông thôn thực sự có chất lượng.

Sau 05 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X), tình hình nông thôn trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực: nông nghiệp phát triển ổn định, cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, phù hợp xu thế phát triển chung của tỉnh; giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân trên một đơn vị diện tích tăng khá cao và đạt 85,58 triệu đồng/ha vào năm 2013 Bên cạnh đó, xuất hiện nhiều loại hình tổ chức sản xuất kinh tế tập thể, kinh tế trang trại, tổ hợp tác và doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp Đời sống vật chất, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn được nâng lên và đạt 32 triệu đồng/người/năm Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khu vực nông thôn từng bước được đầu tư nâng cấp Trong đó, hệ thống trường học, trạm y tế, văn hóa ngày càng khang trang đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn, nhất là hệ thống đường giao thông nông thôn ngày càng được hoàn thiện đã tạo điều kiện cho người dân đi lại, vận chuyển, lưu thông hàng hóa, phát triển sản xuất ngày càng thuận lợi Công tác an sinh xã hội được quan tâm, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể; công tác phát triển ngành nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tạo việc làm tại chỗ được chú trọng.

Trong những năm qua và thời gian tới, Đồng Nai sẽ tiếp tục thực hiện đề án nhưng tập trung vào những nghề mà nông dân đang sinh sống, hỗ trợ họ kiến thức,

kỹ năng để làm nghề và sống được bằng nghề Tỉnh tập trung vào các nghề trọng

Trang 23

điểm như trồng trọt, chăn nuôi gà thả vườn, nuôi dê, may công nghiệp vừa phục

vụ tại chỗ, vừa cung cấp nguồn lao động dịch chuyển cho doanh nghiệp Đồng thời,tỉnh cũng hạn chế những nghề không phù hợp với khu vực nông thôn để nâng cao hiệu quả của đề án, gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới Một trong

19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới là tăng thu nhập, nhất là đối tượng nghèo.

* Nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai

- Mở rộng và đa dạng hoá các loại hình sản xuất, kinh doanh trong nông thôn; Sản xuất

ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá với tỷ suất hàng hoá cao, tận dụng triết để các lợi thế so sánh của các hộ, các vùng, trước hết là nguồn lực đất đai, lao động và các điều kiện tự nhiên ưu đãi

để đáp ứng yêu cầu tại chỗ và góp phần tham gia vào các quá trình phân công và hợp tác kinh tế trong nội bộ hộ gia đình nông dân cũng như trong phạm vi rộng

- Thực hiện chính sách đất đai và hỗ trợ tín dụng cho sản xuất, kinh doanh của người lao động trên địa bàn nông thôn; tích tụ ruộng đất, dồn điền đổi thửa để có những cánh đồng mẫu lớn, làm bàn đạp tiến lên sản xuất lớn giúp giảm chi phí, hạn chế rủi ro trong sản xuất cho nông dân, đồng thời giảm chi phí và thuận tiện các tổ chức tín dụng cho vay NNNT, kết hợp cho vay sản xuất và vay tiêu dùng

- Hỗ trợ đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn; Đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu thực sự của người nông dân; gắn với quy hoạch sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi

- Ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nông thôn; Nâng cao kiến thức cho đội ngũ cán bộ để tăng hiệu quả tuyên truyền cho người dân về tầm quan trọng của khoa học – công nghệ, tăng nguồn kinh phí hỗ trợ

- Thực hiện chương trình quốc gia về việc làm v.v… Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn như đầu tư làm công nghiệp, làm dịch vụ trên địa bàn nông thôn, qua đó góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, chuyển dịch lao động trực tiếp làm nông nghiệp sang làm dịch vụ, làm công nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho lao động nông thôn Tạo sự liên kết chặt chẽ, hình thành chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm

Trang 24

1.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở một

số địa phương và bài học rút ra đối với Đồng Nai

Thành phố Hồ Chí Minh

Theo thống kê cho thấy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có gần 49.000 hộ dân với hàng trăm ngàn lao động đã di dời tái định cư, trên 40% tái định cư ở các chung cư Tình trạng việc làm của người dân sau tái định cư ở thành phố theo điều tra của Viện kinh tế thành phố; việc làm ổn định chiếm: 37,8% , việc làm bấp bênh: 15,8%, không có việc làm: 23,2%, còn đi học:18,3%, nội trợ: 4,9% Có đến 37,7% về nơi ở mới cho răng tình trạng việc làm của các thanh niên trong gia đình xấu hơn so với trước tái định cư; ý kiến cho rằng việc làm tốt hơn chỉ chiếm 11% và phần lớn cho rằng việc làm cũng vậy chiếm: 52,3%

Vấn đề ổn định việc làm, ổn định thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân sau khi tái định cư luôn được Thành Ủy, Ủy Ban Nhân Dân thành phố quan tâm chủ trương chỉ đạo Tuy nhiên trong thực tế sau khi tái định cư ở địa phương mới, đa số người lao động của hộ sau tái định cư gặp nhiều khó khăn trong việc làm và tìm việc làm mới ổn định, theo khảo sát thực tế có nhiều nguyên nhân cụ thể ;

- Về đặc điểm : Người dân sau khi tái định cư chủ yếu là người nghèo, trên 80% có trình

độ học vấn và trình độ chuyên môn thấp, việc làm đơn giản không ổn định, nghề nghiệp của họ

đa số là công việc lao động phổ thông, cá thể hoặc nhóm sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ như : công nhân ngành tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, cắt tóc, uốn tóc, chạy xe vận chuyển, bán hàng rong, bốc xếp…, nên việc định cư ở một chung cư cao tầng và các khu dân cư mới hầu hết các cơ hội việc làm không nhiều, khó thay đổi việc làm mới, khó tìm lại công việc như trước đó

ở nơi định cư mới, dù công việc trước đó đơn giản nhưng đã nuôi sống họ Từ đó đã ảnh hưởng đến việc làm, có nhiều người dân sau khi di dời vẫn quay về chổ củ để làm ăn, tốn nhiều chi phí

đi lại, và các chi phí khác, kể cả những hộ có người lao động đã là công nhân viên chức ở các công ty với việc làm, thu nhập ổn định khi di chuyển chổ ở mới, cũng bị ảnh hưởng giảm sút thu nhập Điều đáng quan tâm nhất là có 40% người dân cho rằng việc làm của họ sau khi tái định cư gặp nhiều tình trạng khó khăn nhiều hơn, trong đó trên 20% đã lâm vào cảnh thất nghiệp, nhiều

hộ dân phải bán nhà tái định cư để đến các khu vực có nhiều cơ hội tìm được việc làm hơn để sinh sống

Trang 25

- Về việc thực hiện các giải pháp chính sách hổ trợ việc làm thì cũng có nhiều hạn chế, chưa đạt kết quả tốt, vì:

+ Các cơ quan chức năng ở địa phương trước ,sau tái định cư và các Trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm chưa thực hiện được việc tư vấn nghề nghiệp – việc làm cho người dân Thông tin hướng nghiệp, thị trường lao động không được chuyển tải đầy đủ, người dân không biết định hướng nghề nghiệp, học nghề, chuyển đổi nghề nghiệp nào là phù hợp nơi ở mới, phù hợp với năng lực sở trường

+ Chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề không phù hợp với việc làm và không thể đáp ứng đầy đủ các ngành nghề đa dạng của thị trường lao động nơi ở mới , đồng thời do trình độ hạn chế người dân khó tiếp cận học nghề ở các trường chính quy mà thường học nghề trong các cơ sở sản xuất, dịch vụ nên khó vào làm việc trong các doanh nghiệp ở các KCX – KCN, các ngành công nghiệp, các ngành kinh tế , dịch vụ cần lao động lành nghề, cần kỹ năng làm việc, tác phong công nghiệp

+ Chính sách hổ trợ học nghề cho người dân tái định cư trước đây ( 1 triệu đồng/người/lượt ) không đủ trang trải trong thời gian học nghề

Tính chung 5 tháng đầu năm 2014, có trên 122.000 lao động được giải quyết việc làm, giảm 1.361 lượt lao động so với cùng kỳ Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, trong 5 tháng đầu năm, thành phố cũng đã phê duyệt 147 dự án vay vốn sản xuất kinh doanh từ Quỹ hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố, giải quyết việc làm cho 1.093 lao động với số tiền là 9,152 tỷ đồng, hỗ trợ học phí giáo dục, đào tạo nghề và sinh hoạt phí cho 171 lượt học với số tiền 488 triệu đồng Quỹ giảm nghèo hiện đang trợ vốn cho 150 cơ sở sản xuất kinh doanh thu nhận 1.687 lao động nghèo

Thành phố cũng cấp 5 giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề và 12 giấy chứng nhận đăng ký bổ sung hoạt động dạy nghề, đào tạo nghề ngắn hạn cho 347 lao động nghèo, đưa

6 lao động đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài và giới thiệu việc làm cho 1.065 lao động nghèo

Tỉnh Bình Dương

Trang 26

Những năm đầu, Bình Dương rất lúng túng trong công tác tổ chức điều hành nguồn vốn hỗ trợ cho lao động nông thôn Các ngành chức năng làm nhiều nhưng kết quả không đạt được bao nhiêu.

- Dù án nhiều nhưng chất lượng thấp, chủ yếu là để đối phó về mặt thủ tục Vì vậy khi tiến hành thẩm định không đạt kết quả Không có dự án khả thi để giải ngân

- Công tác khảo sát chọn lọc đối tượng chưa thực hiện tốt, thiếu sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với ngành chức năng, cũng như với các Đoàn thể dẫn đến chọn hộ vay trùng lặp, không đúng đối tượng, không đạt mục tiêu chương trình đề ra

- Công tác triển khai vốn chậm, thiếu định hướng, thường được thực hiện vào những tháng cuối năm

- Dù án của các tổ chức đoàn thể sử dụng chỉ tiêu do tỉnh phân bổ thường cho vay nhỏ,

lẻ, có nhiều hộ tham gia và rải rác trên nhiều địa bàn Do đó phải kéo dài thời gian thẩm định, dẫn đến nhiều trường hợp thay đổi nhu cầu do phải chờ lâu

Để khắc phục tình hình này, tỉnh đã thực hiện một số biện pháp:

- Tập trung quản lý nguồn vốn theo kênh phân bổ là UBND huyện, thị Mỗi huyện, thị thành lập một ban chỉ đạo giải quyết việc làm Thực hiện phân cấp xét duyệt dự án cho cấp huyện Tăng cường tổ chức tập huấn hàng năm cho các cán bộ cấp huyện thị tham gia chương trình, tổ chức tập huấn cho UBND, đoàn thể xã, phường để cùng tham gia quản lý chương trình

- Chọn dự án hộ kinh doanh: Thông qua phỏng vấn trực tiếp để chọn các phương án vay phù hợp với yêu cầu của chương trình và định hướng ưu tiên của tỉnh để giải quyết việc làm

- Chọn dự án hộ gia đình: UBND xã, phường chọn hộ gia đình thông qua sự phối hợp các đoàn thể cơ sở nhằm giải quyết nhu cầu vay vốn trong hội viên các đoàn thể, tránh trùng lặp, đầu tư tập trung tạo thuận lợi cho công tác quản lý điều hành vốn

- Ban hành quy chế thực hiện, quy định rõ nhiệm vụ chức năng của các cấp, các ngành

để đảm bảo quá trình triển khai được thông suốt và đúng định hướng

- Tăng cường công tác tuyên truyền về chương trình qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cán bộ làm công tác thẩm định ở cơ sở

Trang 27

Với hàng loạt các giải pháp nói trên, từ năm 1996 trở lại đây, công tác cho vay từ quỹ quốc gia để giải quyết việc làm trên địa bàn về cơ bản đã đi vào nề nếp Quá trình tổ chức thực hiện được khai thông, công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành chặt chẽ, đồng bộ

Qua 7 năm thực hiện, với số vốn trên số vốn cho vay của tỉnh đạt khoảng 40 tỷ đồng

Dư nợ giữ ở mức từ 85 đến 90% so với nguồn vốn Cho vay 944 dự án (trong đó 549 dự án hộ kinh doanh), giải quyết 24.678 lượt lao động có việc làm (trong đó hơn 7.000 lao động có việc làm mới), đầu tư cải tạo trên 3.500 ha vườn cây chuyên canh và trên 10.000 gia súc Tỷ lệ đầu tư vào trồng trọt là 60%, chăn nuôi 20% sản xuất tiểu thủ công nghiệp 20%

Thông qua nguồn vốn vay từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm nhiều ngành nghề truyền thống như dệt chiếu, dệt thảm, sản xuất chỉ sơ dừa, kìm kéo, bánh tráng, bánh phồng, đan giỏ cọng dừa được kích thích phát triển

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Bà Rịa- Vũng Tàu là một tỉnh có tiềm năng kinh tế về nhiều mặt, lại nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế của các tỉnh phía Nam Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của đất nước, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp Đặc biệt

là công nghiệp đã có sự phát triển nhanh chóng.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh, số lượng doanh nghiệp trong tỉnh đã tăng lên rất nhanh, nhất

là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và tư nhân, tập trung chủ yếu vào các ngành như: công nghiệp chế biến nông - lâm - khoáng sản, hóa chất, xây dựng, điện tử, may, giày da, bao bì Sự tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp đã thu hót một lực lượng lớn lao động nông nghiệp chuyển sang lao động công nghiệp Với số lượng các doanh nghiệp phát triển rất nhanh, chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp và có thiết bị hiện đại, sử dụng công nghệ tiên tiến nên đòi hỏi một số lượng lớn lao động có tay nghề, trong khi ở tỉnh hiện nay chỉ có 23 cơ sở dạy nghề, hàng năm đào tạo và dạy nghề, cao nhất cũng chỉ đạt gần 8.000 người (trong đó đào tạo chính quy dài hạn chiếm 25%, còn lại đào tạo ngắn hạn và cấp tốc)

Về cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện dạy nghề của các cơ sở dạy nghề phần lớn đã cũ, lỗi thời, không phù hợp với các thiết bị, máy móc hiện đang được sử dụng trong các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 28

Về nội dung, chương trình đào tạo của các trường đều theo các chương trình cũ do Tổng cục dạy nghề ban hành từ năm 1985 Vì vậy, công tác đào tạo nghề ở Đồng Nai trong những năm tới cần phải phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng quy mô đào tạo, đào tạo phải gắn liền với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo gắn với sử dụng và với thị trường lao động

Đi đôi với đào tạo nghề phải gắn bó với giáo dục phẩm chất đạo đức, tác phong công nghiệp, xây dựng đội ngò giai cấp công nhân có đạo đức nghề nghiệp có tay nghề phục vụ cho nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Để đạt được phương hướng và mục tiêu nói trên, Đồng Nai đã tiến hành một số biện pháp như sau:

(1) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục trong nhân dân, nhất là trong thanh niên nhận thức đúng về giá trị nghề nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay Giỏi nghề là một trong những phẩm chất đạo đức của người lao động, là cơ sở vững chắc để có việc làm và thu nhập ổn định Thông qua tuyên truyền giáo dục nghề nghiệp tạo thành phong trào mọi người "học nghề

để lập nghiệp", học nghề để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

(2) Hoàn thành việc điều tra khảo sát về nhu cầu lao động có kỹ thuật và tay nghề trong các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ nay đến năm

2010, làm cơ sở cho xây dựng chương trình mục tiêu đào tạo nghề mới và đào tạo lại, để phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế hiện nay và những năm tiếp theo

(3) Nghiên cứu ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích những doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và những người có khả năng để đầu tư mở các cơ sở dạy nghề, các trường để đào tạo nghề cùng với Nhà nước tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

(4) Tiến hành điều tra khảo sát nắm chắc lại các ngành nghề hiện có và sự phát triển các ngành nghề trong những năm tới, làm cơ sở cho việc quy hoạch hệ thống các trường, các trung tâm, các cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề gắn với thị trường lao động

(5) Tiến hành xây dựng quy hoạch hệ thống trường, các trung tâm, các cơ sở dạy nghề trong tỉnh, đồng thời có kế hoạch đầu tư về cơ sở vật chất, thiết bị cho các trường, các trung tâm dạy nghề để đảm bảo được nhiệm vụ đào tạo nghề Trong lúc nguồn ngân sách còn khó khăn, tổ

Trang 29

chức vận động một số doanh nghiệp có kỹ thuật công nghệ cao cùng tham gia đào tạo nghề cho công nhân.

- Tính tất yếu của vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai và kinh nghiệm thực tiễn từ các tỉnh Bình Dương, T.p Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trong đó, vấn đề tuyên truyền cho người lao động về giá trị nghề nghiệp

và vai trò của các cấp chính quyền trong hỗ trợ vốn và đào tạo nghề là những điểm mà Đồng Nai cần chú ý trong việc giải quyết việc làm cho nông dân sau thu hồi đất trên địa bàn tỉnh

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN SAU

THU HỒI ĐẤT Ở ĐỒNG NAI 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Đồng Nai ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý

Đồng Nai là tỉnh vừa nằm ở khu vực Đông Nam bộ, có tọa độ địa lý: 10031’17’’

đến 11034’49’’vĩ độ bắc và từ 106041’45’’đến 107034’50’’ kinh độ Đông Đồng Nai vừa thuộc vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng lân cận thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM); Trung tâm vùng Đông Nam Á, cửa ngõ ba vùng kinh tế quốc gia Diện tích tự nhiên 5.907,236 km2 chiếm khoảng 1,8% diện tích của cả nước và 19,43% diện tích của vùng TP Hồ Chí Minh (vùng KTTĐPN) Bao gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện: Thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh vả các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất, Trảng Bom, Xuân Lộc, cẩm Mỹ, Long Thành, Nhơn Trạch; Trong đó thành phố Biên Hòa là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa xã hội của tỉnh Dân số toàn tỉnh năm 2011

là 2.665.079 người với 40 dân tộc anh em cùng chung sống trên địa bàn.

Sơ đồ 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai

Trang 31

(Nguồn: Website: www.dongnai.gov.vn)

Đồng Nai tiếp giáp vói 6 tỉnh, thành phố: Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phía Tây và Tây Nam giáp Bình Dương và TP

Hồ Chí Minh.

Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết

Trang 32

mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.

Dạng địa đồi lượn song có độ cao từ 20 đến 200m Bao gồm các đồi bazan, Bề mặt địa hình rất phẳng, thoải, độ dốc từ 30 đến 80 Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa

cổ Đất phân bổ trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám.

Dạng địa hình núi thấp bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao thay đổi từ 200 – 800m Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía bắc của tỉnh thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyện Định Quán, Xuân Lộc Tất cả các núi này đều có độ cao (20– 300), đá mẹ lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét.

Nhìn chung đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc < 8o, 92% đất có độ dốc dưới 15o và phân bố tập trung, hình thành các tiểu vùng địa hình, thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, đa dạng

Trang 33

hóa cây trồng, hình thành các vùng cây chuyên canh, phù hợp với điều kiện địa hình, đất đai của tỉnh.

- Khí hậu thủy văn

Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa) với nền nhiệt độ cao đều quanh năm, thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp.

Mùa mưa tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 Lượng mưa bình quân từ 114 –

149 mm, tổng lượng mưa là 1.800 – 2.508 mm/năm Lượng mưa lớn, phân bố theo vùng và theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp trong toàn tỉnh, gây nên tình trạng ngập úng cục bộ ở một số vùng có địa hình thấp và vùng ven sông như một số xã huyện Tân Phú (Đắc Lua, Tả Lài, Núi Tượng, Nam Cát Tiên….)

Nhiệt độ trung bình năm 25,9oC, trung bình năm cao nhất 27,3oC, trung bình năm thấp nhất là 24,3oC Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao Vì thế Đồng Nai đã sớm hình thành những vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày, những vùng cây ăn quả nổi tiếng, cùng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển.

- Tài nguyên thiên nhiên

+ Tài nguyên nước:

Nước mặn: Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km2, song phân phối không đều Phần lớn sông suối tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây nam Tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m3/năm, trong

đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%.

Trang 34

Sông Đồng Nai: Sông Đồng Nai chảy vào tỉnh Đồng Nai ở bậc địa hình thứ 3

và là vùng trung lưu của sông Đoạn từ ranh giới Đồng Nai - Lâm Đồng đến cửa sông Bé Tân Uyên sông chảy theo hướng tây bắc – đông nam Địa hình lưu vực đoạn trung lưu từ 100-300 m, đoạn từ Tà Lài đến Trị An có nhiều thác ghềnh Đoạn sau Trị An sông chảy êm đềm, lòng sông mở rộng và sâu Các phụ lưu lớn của sông Đồng Nai có sông La Ngà, Sông Bé.

Sông La Ngà: Đoạn sông La Ngà chảy trong tỉnh Đồng Nai dài 55 km, khúc khuỷu, nhiều ghềnh thác (ví dụ: thác Trời cao trên 5m) Đoạn này sông La Ngà hẹp, có nhiều nhánh đổ vào, điển hình là suối Gia Huynh và suối Tam Bung Suối Gia Huynh có lưu vực 135 km2, mô đun dòng chảy 91/s km2 vào mùa khô và 47,41/s km2 vào mùa mưa, bắt nguồn từ vùng Quốc Lộ 1, ranh giới Đồng Nai - Bình Thuận Suối Tam Bung có diện tích lưu vực 155 km2, bắt nguồn từ phía bắc cao nguyên Xuân Lộc, mô đun dòng chảy 101/s km2vào mùa khô và 651/s km2 vào mùa mưa Sông La Ngà đổ vào hồ Trị An một lượng nước khoảng 4,5x109

m3/năm, chiếm 1/3 tổng lượng nước hồ, mô đun dòng chảy năm 351/s km2.

Sông Lá Buông: Bắt nguồn từ phía tây cao nguyên Xuân Lộc, chảy theo hướng

từ đông sang tây, độ dốc lưu vực đạt 0.0035 Độ dài sông tính theo nhánh dài nhất khoảng 40 km, sông có lượng nước dồi dào so với các sông nhỏ trong tỉnh với tổng lượng nước trung bình 0,23 x 109 m3 /năm, mô đun dòng chảy năm 27,61/s km2 Sông Ray: Lưu vực sông chiếm gần 1/3 diện tích phía Nam của tỉnh Sông bắt nguồn từ phía nam, đông nam cao nguyên Xuân Lộc, đổ thẳng ra biển, chảy theo hướng bắc nam, độ dốc lưu vực khá lớn (0,004), do vậy nếu không có đập chặn giữ thì nước sông sẽ tập trung nhanh ra biển, trong mùa khô thường cạn kiệt nước Tổng lượng nước sông khá lớn 0,634 x 109 m3 /năm trong đó mùa mưa chiếm 79% Sông Ray nếu được sử dụng hợp lý có thể giải quyết vấn đề khô cạn cho vùng Đông Nam của tỉnh.

Trang 35

Sông Xoài và sông Thị Vải: Đây là 2 sông thuộc vùng phía Tây Nam của tỉnh, bắt nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc và đổ thẳng ra biển Sông Thị Vải ở phía thượng lưu gồm các suối nhỏ và dốc, phần hạ lưu (phía duới Quốc Lộ 51 đi Vũng Tau) là sông nước mặn, lòng sông mở rộng Sông Xoài có 2 nhánh chính là Châu Pha và Suối Dun, các suối ngắn và hẹp Diện tích lưu vực 184 km2, tổng lượng nước trung bình 0,1015 x 109 m3 /năm, mô đun dòng chảy năm 17,51/s km2, sông Xoài có ý nghĩa to lớn đối với vùng sản xuất nông nghiệp Châu Thành và cấp nước ngọt cho Vũng Tàu Hạ lưu sông Xoài là vùng nước mặn, độ mặn có thể đạt tới độ mặn của nước biển.

Tỉnh Đồng Nai có nhiều công trình hồ và đập chứa nước, trong đó đáng chú ý là

Hồ Trị An với diện tích trên 285km2, dung lượng khoảng 2,452 tỷ m3 nước, không chỉ cung cấp nước, năng lượng thủy điện mà còn quyết định đến chế độ thủy văn

và cân bằng hệ sinh thái của vùng Ngoài ra còn có hồ Sông Mây, hồ Đa Tôn, đập Suối Cà, suối Vọng….vừa có tác dụng cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, vừa là nguồn lợi thủy sản rất lớn.

Nước ngầm: Nguồn nước ngầm phong phú, phân bổ không đồng đều, chủ yếu tập trung ở

phía Tây của tỉnh và thị xã Long Khanh, chất lượng nước khá tốt, có thể khai thác sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất Tuy trữ lượng nước dưới đất tỉnh Đồng Nai phong phú, nhưng phân bố không đều, các tháng mùa khô không có mưa, nhu cầu khai thác lại lớn, vì vậy khai thác nước dưới đất phải theo qui hoạch, khai thác hợp lý

+ Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản của tỉnh khá đa dạng, phong phú về chủng loại với 5 nhóm chính như than bùn, kim loại, không kim loại, đá quý, nước khoáng Trong

đó, nguyên vật liệu xây dựng và nước khoáng là quan trọng nhất Tuy nhiên, việc khai thác khoáng sản cần có kế hoạch hợp lý để vừa đảm bảo nhu cầu hiện nay, vừa có thể khai thác lâu dài đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái Tài nguyên

Trang 36

khoáng sản chủ yếu là Vàng, Nhôm, Thiếc, Lao lin, Sét màu, Đá vôi, Đá xây dựng…

cà phê, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày như thuốc lá, bông vải…

Bảng 2.1 Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Đồng Nai đến năm 2020

Trang 37

1.2 Đất trồng cây lâu năm 204,047 43,35 179,463 41,49

2.5 Đất cho hoạt động khoáng

Trang 38

5 Đất khu bảo tồn thiên nhiên 136,479 136,479

Ấn Độ - Mã Lai, có những đặc trưng của một khu hệ động vật nhiệt đới với nhiều loại chim, thú quý hiếm thuộc nhiều loại, họ, bộ khác nhau.

+ Tài nguyên nhân văn

Đồng Nai là một vùng đất có bề dày lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, có nhiều di chí của nền văn hóa của người Việt trong quá trình khai phá đất Nam Bộ Tài nguyên nhân văn đa dạng với nhiều di tích văn hóa lịch sử, công trình tôn giáo nổi tiếng như khu Văn Miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, lăng mộ Trịnh Hoài Đức…là những điểm du lịch hấp dẫn, thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước.

Tài nguyên văn hóa phi vật thể phong phú như lễ hội Kỳ Yên, lễ cúng thần Lúa của người Chơ ro, lễ hội đâm trâu của người Mạ…Nghệ thuật văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của các dân tộc, các vùng miền như dân ca miền Bắc, miền Trung, quan họ, ca Huế, ví dặm, múa dân gian của người Chơ ro…

+ Tài nguyên du lịch sinh thái

Trang 39

Đồng Nai có vùng cảnh quan sinh thái phong phú, đa dạng với các hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái rừng, hồ và các dòng sông, vùng cửa sông là cơ sở quan trọng để phát triển cảnh quan đô thị và ngành du lịch.

Các điểm du lịch sinh thái của Đồng Nai như Vườn Quốc Gia Cát Tiên, khu du lịch Cù Lao Phổ, thác Giang Điền…Tuy nhiên, phần lớn điểm đến chưa được đầu

tư quy mô về cơ sở hạ tầng và dịch vụ.

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Kinh tế

Giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2013 tăng 11,5% so với năm 2012 Trong đó, ngành công nghiệp, xây dựng tăng 11,6%; ngành dịch vụ tăng 14,1%; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,4% Đáng chú ý là GRDP bình quân đầu người đạt 48,7 triệu đồng (2.318 USD), vượt mục tiêu Nghị quyết

Về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực công nghiệp xây dựng chiếm 56,9%; dịch vụ chiếm 36,8%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 6,3% Giá trị sản xuất công nghiệp là 160.274 tỷ đồng, tăng 14,1%

so với năm 2012 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản là 8.874 tỷ đồng, tăng 3,8% so với năm 2012 Giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ là 13.433,4 tỷ đồng, tăng 14,1% so với năm 2012 Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 39.540 tỷ đồng, chiếm 29,1% GRDP, vượt mục tiêu Nghị quyết

Năm 2013, thu hút đầu tư nước ngoài của tỉnh Đồng Nai cũng đã đạt 1,64 tỷ USD (bao gồm đăng ký mới và dự án tăng vốn), vượt mục tiêu Nghị quyết Trong đó dự án công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ chiếm 56% tổng vốn đầu tư cấp mới, phù hợp với định hướng ưu tiên thu hút đầu

tư của tỉnh Thu hút vốn đầu tư trong nước là 8.000 tỷ đồng Doanh nghiệp trong nước đăng ký kinh doanh là 9.000 tỷ đồng Tổng kim ngạch xuất là 10,9 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm 2012

và tổng thu ngân sách là 32.600 tỷ đồng

+ Về nông lâm thủy sản

Cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp vả thủy sản chuyển dịch theo hướng giảm trồng trọt, tăng chăn nuôi Ngành nông nghiệp đã có hướng phát triển theo hình thức bền vững, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất.

Trang 40

Hỉnh thành và phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung như : cây điều tại các huyện Xuân Lộc, Định Quán, Trảng Bom; cây tiêu tại Xuân Lộc, Cam

Mỹ, Định Quán; cây cao su tại cẩm Mỹ, Long Thảnh, Thống Nhất, Trảng Bom, Xuân Lộc, Long Khánh; cây cà phê tại Long Khánh, Cam Mỹ; cây xoài tại Vĩnh Cửu, Định Quán, Xuân Lộc; cây sầu riêng tại Long Khánh, Tân Phú, Thống Nhất Các loại cây trồng chính là: điều, cả phê, cao su, tiêu, bưởi, xoài, sầu riêng, chôm chôm đối với cây công nghiệp lâu năm, cây ăn trái và lúa, bắp đối với cây lương thực.

Ngành chăn nuôi có sự phát triển, tuy nhiên sự phát triển chưa được ổn đinh,

do ảnh hưởng của dịch bệnh nên việc tăng đần bị hạn chế Hình thức chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình, chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ và vừa, các loài vật nuôi chính là heo, gả,

Phát triển vùng nuôi tràng thủy sản nước ngọt (cá chép, rô phi, mè, , ) ở Tân Phú, Vĩnh Cửu, Định Quán, Trảng Bom ; nuôi trồng thủy sản nước lợ tập trung ở

xã Phước An, Long Thọ, Phước Khánh, Phú Hữu, Phú Đông (huyện Nhơn Trạch), Phước Thái, Long Phước (huyện Long Thành) Triến khai áp dụng thí điếm mô hỉnh GAP trong nuôi tôm tại huyện Long Thành, Nhơn Trạch.

+ Công nghiệp – xây dựng

Có 9 ngành công nghiệp chủ lực có mức tăng khá cao và ổn định, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của tỉnh, như : khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, đồ uống, dệt may, giày dép, chế biển gỗ, tre, giấy, hóa chất, cao su, nhựa, cơ khí, điện - điện tử, sản xuất điện, nước Đồng Nai luôn nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút dự án vốn FDI, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh.

Ngày đăng: 05/04/2015, 08:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang Hiển (1995), “Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp”, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Quang Hiển
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1995
2. PTS. Nguyễn Hữu Dũng, PTS. Trần Hữu Trung “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
3. Thạc sĩ. Nguyễn Thị Lan Hương (2002), “Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và Phát triển”, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và Phát triển
Tác giả: Thạc sĩ. Nguyễn Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2002
6. Phan Sĩ Anh (2011), “Mục tiêu và những định hướng chủ yếu để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Đồng Nai”, tham luận tại Hội thảo Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai và những vấn đề đặt ra, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu và những định hướng chủ yếu để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Phan Sĩ Anh
Năm: 2011
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Lê Thu Hoa (2007), "Phát triển các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội và vấn đề việc làm cho các lao động có đất bị thu hồi", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội và vấn đề việc làm cho các lao động có đất bị thu hồi
Tác giả: Lê Thu Hoa
Năm: 2007
11. Nguyễn Thị Thương (chủ nhiệm) (2012), Thị trường lao động ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Thương (chủ nhiệm)
Năm: 2012
12. Quyết định 4611/KH-UBND Kế hoạch “Thực hiện dự án điều chỉnh, bổ sung dự án tổng thể xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tỉnh Đồng Nai năm 2009 – 2010 định hướng đến năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực hiện dự án điều chỉnh, bổ sung dự án tổng thể xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tỉnh Đồng Nai năm 2009 – 2010 định hướng đến năm 2015
4. PGS. Trần Đình Hoan (1991), Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam”, Nxb Sự thật Khác
5. Nguyễn Quốc Tế (2003), Vấn đề phân bổ và sử dụng nguồn lao động theo vùng &amp; hướng giải quyết việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của Nxb Thống kê Khác
10. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Bình (2008), Báo cáo đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 – 2008 và phương hướng phát triển đến năm 2010 Khác
14. Chương trình và quỹ giải quyết việc làm tỉnh Đồng Nai năm 2013DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 1. Bảng 1.1. Quy hoạch phát triển một số KCN lớn của tỉnh Đồng Nai 2. Sơ đồ 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Quy hoạch phát triển một số KCN lớn của tỉnh Đồng Nai - Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai
Bảng 1.1 Quy hoạch phát triển một số KCN lớn của tỉnh Đồng Nai (Trang 17)
Bảng 2.1. Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 - Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai
Bảng 2.1. Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w