1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội

96 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 201,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh toán quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ ( TDCT) là một hoạt động phổ biến và được sử dụng nhiều nhất trong TTQT bởi tính tiện lợi và những lợi ích nó mang lại hơn hẳn những phương thức khác. Song không vì thế mà phương thức này có ít hơn rủi ro so với các phương thức khác. Hiểu biết về những rủi ro trong TTQT bằng phương thức TDCT là một đòi hỏi cấp thiết trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hiện nay.

Trang 1

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

2.1 Cơ cấu tổ chức OCB – Hà Nội

2.2 So sánh thị phần L/C xuất khẩu của một số ngân hàng

2.3 Tỷ trọng L/C nhập trong tổng doanh số thanh toán hàng nhập2.4 So sánh thị phần L/C nhập khẩu của một số ngân hàng

Trang 2

2.1 Tình hình huy động vốn qua các năm 2011- 06/2014

2.2 Tình hình huy động vốn qua các năm 2011- 06/2014

2.3 Kết quả hoạt động dịch vụ của OCB - Hà Nội

2.4 Doanh số TTQT hàng xuất tại OCB Hà Nội

2.5 Giá trị L/C được mở qua giai đoạn 2011 – 06/2014

2.6 Tình hình nợ quá hạn L/C tại OCB Hà Nội

3.1 Mục tiêu phát triển hoạt động TTQT đến năm 2020

LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Tính tất yếu của đề tài nghiên cứu

Là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của NHTM, TTQT ra đời

và phát triển không ngừng như là một tất yếu khách quan Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình, hoạt động TTQT không chỉ đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế mà còn phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro, tổn thất trực tiếpcho đất nước, cho các NHTM, cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu

Trang 3

Thanh toán quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ ( TDCT) là một hoạt động phổ biến và được sử dụng nhiều nhất trong TTQT bởi tính tiện lợi và những lợi ích nó mang lại hơn hẳn những phương thức khác Song không vì thế mà phương thức này có ít hơn rủi ro so với các phương thức khác Hiểu biết về những rủi ro trong TTQT bằng phương thức TDCT là một đòi hỏi cấp thiết trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hiện nay.

Ngân hàng TMCP Phương Đông mặc dù mới gia nhập vào thị trường cho vay xuất nhập khẩu, tuy nhiên ngân hàng đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, để có thể cạnh tranh được với các “ông lớn” trong ngành, đòi hỏi ngân hàng cần phải nâng cao năng lưc chuyên môn và quản trị thật tốt bởi đây là một lĩnh vực tiềm ẩn rất nhiều rủi ro do có sự tham gia của yếu tố nước ngoài Sau thời gian dài thực tập tại Chi nhánh OCB Hà Nội, em đã có cơ hội tìm hiểu thêm về hoạt động TTQT, mà cụ thể hơn là hoạt động TTQT theo phương thức TDCT tại đây Vì vậy,

trong chuyên đề nghiên cứu của mình, em xin viết về đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức Tín dụng chứng từ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông chi nhánh Hà Nội”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau:

- Cơ sở lý thuyết của hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ và những rủi ro trongphương thức tín dụng chứng từ

- Hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàngTMCP Phương Đông OCB giai đoạn 2011 – 06/2014

- Tổng hợp những loại rủi ro có thể xảy ra đối với các ngân hàng khi tham giaphương thức thanh toán theo tín dụng chứng từ khi là : Ngân hàng phát hành, ngân hàngthông báo, ngân hàng xác nhận, chiết khấu thư tín dụng

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong phương thức

Trang 4

thanh toán tín dụng chứng từ tại OCB Chi nhánh Hà Nội.

1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro trong thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vị không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Phương Đông chi

nhánh Hà Nội

- Phạm vi thời gian: Đề tài được nghiên cứu từ năm 2011 - 6/2014

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Các số liệu trong bài nghiên cứu được cung cấp bởi phòng kế toán tổng hợp củaOCB Chi nhánh Hà Nội, bao gồm Bảng kết quả hoạt động kinh doanh, các báo cáo tổnghợp hoạt động thanh toán quốc tế, các thông tin về lịch sử và quá trình hình thành pháttriển…Ngoài ra, đề tài còn sử dụng thông tin từ các nguồn khác như sách, báo, tạp chíkinh tế, website…

Các số liệu trong bài được xử lý bằng phương pháp so sánh bằng số tương đối,tuyệt đối, so sánh số liệu năm tính với số liệu các năm trước, so sánh tốc độ tăng trưởngcủa các chỉ tiêu giữa các năm nhằm đưa ra nhận xét về sự tăng trưởng của hoạt độngthanh toán tín dụng chứng từ Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp đồ thị,phương pháp phân tích tỷ lệ, phương pháp thống kê mô tả nhằm đưa ra các đánh giá tổnghợp về đối tượng trong đề tài nghiên cứu

1.5 Kết cấu của nghiên cứu

Ngoài lời mở đầu, mục lục và các danh mục tài liệu, luận văn được kết cấu thành 3chương:

Chương 1: Tổng quan về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín

dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín

dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội

Trang 5

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo

phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG

THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I.1 Tổng quan về thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

I.1.1 Khái niệm, đặc điểm

I.1.1.1 Khái niệm phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit)

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, trong đó, theoyêu cầu của khách hàng (nhà nhập khẩu), một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) sẽ

Trang 6

phát hành một bức thư theo đó ngân hàng cam kết trả một số tiền nhất định cho ngườikhác (nhà xuất khẩu) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi sốtiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp vớinhững quy định đề ra trong thư tín dụng.

Điều 2 trong UCP 500 của Phòng Thương Mại Quốc Tế đưa ra một định nghĩa hoàn

chỉnh hơn, theo đó, tín dụng chứng từ là: Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả

thuận trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng(người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (ngườihưởng lợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trongphạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán

phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.:

- Thanh toán cho, hoặc theo lệnh của người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận

và thanh toán hối phiếu do người thụ hưởng ký phát

- Ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối phiếu ; hoặc

- Cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong thư tín dụng, với điềukiện chúng phù hợp với tất cả điều khoản và điều kiện của thư tín dụng

Từ khái niệm trên ta thấy rằng tín dụng thư hay thư tín dụng là văn bản quan trọngnhất trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Thư tín dụng (letter of credit) gọitắt là L/C là văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng sẽđứng ra cam kết sẽ trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định nếu người này xuấttrình bộ chứng từ phù hợp với những quy định đã nêu trong văn bản

I.1.1.2 Đặc điểm của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

L/C là hợp đồng kinh tế hai bên

L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là ngân hàng phát hành và người thụhưởng Mọi yêu cầu và chỉ thị của người xin mở L/C không được thể hiện trong L/C

L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa

L/C được hình thành trên cơ sở hợp đồng ngoại thương nhưng sau khi được thiếtlập nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này Một khi L/C đã được mở và được các bên

Trang 7

chấp nhận, thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay khôngcũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C.

L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ

Chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng về việcgiao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hóa đã được giao Do đó chúng trởthành căn cứ để ngân hàng trả tiền, để nhà nhập khẩu hoàn trả tiền cho ngân hàng, làchứng từ đi nhận hàng của nhà nhập khẩu v.v…

Có thể nói trong phương thức tín dụng chứng từ, người nào nắm chứng từ sở hữuhàng hóa thì người đó là người có quyền sở hữu đối với hàng hoá Vì chỉ cần nắm chứng

từ là có thể đi nhận hàng Trong phương thức tín dụng chứng từ, các bên giao dịch cũngchỉ căn cứ vào chứng từ để xem rằng xuất trình đó đã phù hợp hay chưa? để quyết địnhviệc có thanh toán hay chấp nhận thanh toán không? Chính các chứng từ xuất trình là căn

cứ duy nhất để các ngân hàng quyết định trả tiền hay từ chối thanh toán cho người hưởnglợi, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất để người nhập khẩu hoàn trả hay từ chối trả tiềncho ngân hàng Nếu người xuất khẩu xuất trình được các chứng từ thể hiện trên bề mặtcủa chúng là phù hợp với các quy định của thư tín dụng thì sẽ được ngân hàng trả tiền Ngân hàng không có lý do gì để từ chối thanh toán tiền hàng khi người xuất khẩuxuất trình bộ chứng từ hợp lệ Bởi vì như đã nói ở trên, phương thức tín dụng chứng từ làcam kết trả tiền của ngân hàng phát hành thư tín dụng đối với người xuất khẩu khi họxuất trình bộ chứng từ phù hợp với quy định trong thư tín dụng Ngân hàng không chịutrách nhiệm về tên hàng, số lượng, trọng lượng, chất lượng, trạng thái, bao bì, việc giaohàng, giá trị hay sự hiện hữu của hàng hoá mà bất cứ chứng từ nào đại diện Cũng tương

tự như vậy, nếu bộ chứng từ ngân hàng xuất trình để đòi tiền người nhập khẩu hợp lệ thìngưòi nhập khẩu sẽ trả tiền cho ngân hàng, còn nếu không thì người nhập khẩu có quyền

từ chối thanh toán Trong trường hợp đó, rủi ro sẽ hoàn toàn thuộc về ngân hàng Vì vậy,ngân hàng cần phải kiểm tra kỹ bộ chứng từ xuất trình trước khi chấp nhận thanh toáncho nhà xuất khẩu

Trang 8

Như vậy, trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng từ có một tầm quan trọng

to lớn, nó tượng trưng cho giá trị hàng hoá mà người xuất khẩu đã giao và là căn cứ chongười xuất khẩu đòi ngân hàng thanh toán tiền hàng, đồng thời nó cũng là căn cứ duynhất để nhà nhập khẩu dựa vào đó quyết định thanh toán hay từ chối thanh toán đối vớingân hàng phát hành

L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ

Đây là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C để được thanh toán người xuất khẩu phảilập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chawtj chẽ các điều khoản và điều kiện của L/Cbao gồm: số loại, số lượng mỗi loại và nội dung chứng từ phải đáp ứng được chức năngcủa chứng từ có liên quan

I.1.2 Thư tín dụng

I.1.2.1 Khái niệm thư tín dụng

L/C là hình thức phổ biến hiện nay, đây là hình thức mà Ngân hàng thay mặt Ngườinhập khẩu cam kết với Người xuất khẩu/Người cung cấp hàng hoá sẽ trả tiền trong thờigian qui định khi Người xuất khẩu/Người cung cấp hàng hoá xuất trình những chứng từphù hợp với qui định trong L/C đã được NH mở theo yêu cầu của người nhập khẩu.Thư tín dụng được ra đời trên cơ sở hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa ngân hàngphát hành và người nhập khẩu Thư tín dụng hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán,nhưng sau khi ra đời lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán Thậm chí trong trườnghợp thư tín dụng có dẫn chiếu đến hợp đồng mua bán thì các ngân hàng cũng không coihợp đồng mua bán như là một bộ phận cấu thành nên thư tín dụng Do vậy, các ngânhàng thường khuyên khách hàng của mình không nên dẫn chiếu hợp đồng mua bán vàothư tín dụng Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng để làm đơn yêu cầu phát hành thưtín dụng Người xuất khẩu căn cứ vào các điều kiện của thư tín dụng tiến hành giao hàng

và lập chứng từ trên cơ sở yêu cầu của thư tín dụng Do đó người xuất khẩu khi nhậnđược thư tín dụng phải kiểm tra kỹ các điều khoản của thư tín dụng, nếu có điều khoảnnào chưa phù hợp phải yêu cầu người nhập khẩu tiến hành sửa đổi thư tín dụng cho phù

Trang 9

hợp trước khi thực hiện giao hàng Người xuất khẩu phải lập đầy đủ các chứng từ phùhợp với yêu cầu của thư tín dụng và xuất trình cho ngân hàng trong thời hạn quy định.Sau khi kiểm tra chứng từ, nếu thây hoàn toàn phù hợp với các quy định của thư tín dụng,ngân hàng phát hành thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu.

Như vậy thư tín dụng là cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành đối với ngườixuất khẩu Nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng cơ sở Điều 4a UCP600 nêu rõ: “Về bảnchất, tín dụng là một giao dịch riêng biệt với các hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồngkhác mà các hợp đồng này có thể làm cơ sở của tín dụng Các ngân hàng không liên quanđến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, thậm chí ngay cả trong tín dụng có bất

cứ sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng như thế Vì vậy sự cam kết của một ngân hàng đểthanh toán, thương lượng thanh toán hoặc thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào khác trong tíndụng không phụ thuộc vào các khiếu nại hoặc các biện hộ của người yêu cầu phát sinh từquan hệ của họ với ngân hàng phát hành hoặc người thụ hưởng.”

I.1.2.2 Nội dung thư tín dụng

Một thư tín dụng phải gồm có các nội dung sau:

(1) Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C

* Số hiệu của L/C: Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó Tác dụng của số hiệu

là dùng để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C Số hiệu của L/Ccòn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan trong bộ chứng từ thanh toán của L/

C, đặc biệt là tham chiếu khi lập hối phiếu đòi tiền

* Địa điểm mở L/C: Là nơi ngân hàng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi.

* Ngày mở L/C: là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực về sự cam kết của ngân hàng mở

L/C đối với người thụ hưởng.Ngày mở L/C là ngày bắt đầu tính thời hạn của L/C

và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu có thực hiện việc

mở L/C đúng thời hạn như trong hợp đồng không

(2) Loại thư tín dụng

Trang 10

Mỗi loại L/C đều có tính chất, nội dung khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ củanhững người liên quan tới thư tín dụng cũng khác nhau Do đó, khi mở thư tín dụng,người có nhu cầu cần phải xác định cụ thể loại thư tín dụng nào cần mở.

(3) Tên, địa chỉ của những người liên quan

- Người yêu cầu mở thư tín dụng: Còn gọi là người mua người, người nhập khẩu ,người

mở L/C ,người phải trích tài khoản để thanh toán, người uỷ thác

- Người hưởng lợi: Là người xuất khẩu, người bán hay người ký phát hối phiếu….được

hưởng thư tín dụng do người nhập khẩu mở Người xuất khẩu chỉ giao hàng khi biết L/C

đã được mở đúng theo yêu cầu của mình như đã thỏa thuận trong hợp đồng ngoại thương.Sauk hi giao hàng, người bán phải lập đầy đủ các chứng từ theo yêu cầu của L/C và nộpcho ngân hàng trong thời hạn hiệu lực của L/C Người bán chỉ nhận được tiền thanh toánkhi bộ chứng từ mà họ xuất trình đáp ứng được yêu cầu phù hợp về mặt hình thức quyđịnh của L/C

- Ngân hàng mở thư tín dụng: Ngân hàng mở thư tín dụng hay ngân hàng phát hành là

ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của người nhậpkhẩu Đây là ngân hàng thường được hai bên mua bán thỏa thuận lựa chọn và quy địnhtrong hợp đồng, nêu chưa có sự quy định trước thì người nhập khẩu có quyền lựa chọn

- Ngân hàng thông báo: Là ngân hàng có trách nhiệm thông báo cho người xuất khẩu

biết rằng người nhập khẩu đã mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng

- Ngân hàng trả tiền (nếu có): Có thể là ngân hàng mở L/C hoặc một ngân hàng được

ngân hàng mở L/C uỷ thác trả tiền cho người bán Nếu mở L/C tại nước của người xuấtkhẩu thì ngân hàng thanh toán thường là ngân hàng thông báo Sau khi đã kiểm tra tínhphù hợp của bộ chứng từ hàng xuất, ngân hàng này sẽ quyết định thanh toán hay không

- Ngân hàng xác nhận (nếu có): là ngân hàng theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C đứng

ra xác nhận cho L/C được mở Thường thì ngân hàng xác nhận là ngân hàng có uy tíntrên thị trường quốc tế Khi một ngân hàng mở L/C yêu cầu một ngân hàng khác xácnhận cho mình thì sẽ làm giảm uy tín của nó Muốn xác nhận ngân hàng mở L/C phải trả

Trang 11

thủ tục phí rất cao và đôi khi còn phải ký quỹ, mức ký quỹ có thể đạt 100% trị giá của thưtín dụng.

(4) Số tiền của thư tín dụng

Đây là một nội dung rất quan trọng Số tiền phải được ghi cả bằng số và bằng chữ,đồng thời phải ghi rõ đơn vị tiền tệ

(5) Thời hạn hiệu lực của L/C

Là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếungười xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó và phù hợp vớinhững điều đã quy định trong L/C Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/

C đến ngày hết hiệu lực của L/C

(6) Thời hạn trả tiền của L/C

Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn có hiệu lực của L/C hoặc có thể nằmngoài thời hạn hiệu lực của L/C Trong trường hợp này phải lưu ý là hối phiếu có kỳ hạnphải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng

(7) Thời hạn giao hàng

Thời hạn giao hàng được ghi trong thư tín dụng và cũng do hợp đồng thương mạiquy định Đây là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khithư tín dụng có hiệu lực Thời hạn giao hàng có liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lựccủa thư tín dụng Nếu hai bên thoả thuận kéo dài thời gian giao hàng thêm một số ngàythì ngân hàng mở thư tín dụng cũng sẽ hiểu rằng thời hạn hiệu lực của thư tín dụng cũngđược kéo dài thêm một số ngày tương ứng

(8) Điều khoản về hàng hóa

Là điều khoản chỉ ra những quy định có liên quan đến hàng hóa, bao gồm tênhàng, số lượng và trọng lượng, giá cả…

(9) Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa

Trang 12

Điều kiện, cơ sở giao hàng (FOB, CIF, …), nơi gởi hàng, nơi giao hàng,… cũngđược ghi vào L/C Thông thường điều kiện giao hàng tùy thuộc vào khả năng cung ứnghàng của người xuất khẩu, khả năng nhận hàng của người nhập khẩu…

(10) Các chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình

Yêu cầu về việc ký phát và xuất trình các loại chứng từ cần phải được nêu rõ ràng,

cụ thể và chặt chẽ trong L/C Các loại chứng từ phải xuất trình, căn cứ theo yêu cầu đã

được thoả thuận trong hợp đồng thương mại Thông thường một bộ chứng từ gồm có:Hối phiếu thương mại (Commerial Bill of Exchange); Hoá đơn thương mại (CommercialInvoice); Vận đơn hàng hải (Ocean Bill of Lading); Chứng nhận bảo hiểm (InsurancePolicy); Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin); Chứng nhận trọng lượng (Certificate

of qulity); Danh sách đóng gói (Packing list); Chứng nhận kiểm nghiệm (InspectionCertificate) Ngoài ra còn có số lượng bản chứng từ thuộc mỗi loại và yêu cầu về việc kýphát từng loại chứng từ

(11) Cam kết trả tiền của ngân hàng mở thư tín dụng

Là nội dung thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C đối với L/Cnày

(12) Những điều kiên đặc biệt khác

Những điều kiện khác có thể liệt kê như: ai trả phí ngân hàng, những hướng dẫnđối với ngân hàng chiết khấu, số UCP mà hai bên thống nhất áp dụng,…

(13) Chữ ký của ngân hàng mở L/C

Nếu mở L/C bằng thư Nếu gởi bằng telex, swift thì không có chữ ký, khi đó căn

cứ vào mã khóa của L/C

I.1.2.3 Phân loại thư tín dụng

Căn cứ vào công dụng của L/C

Thư tín dụng có thể huỷ ngang (revocable L/C): Là loại thư tín dụng mà sau khi L/C

được mở thì người nhập khẩu có thể yêu cầu ngân hang sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ bất

Trang 13

cứ lúc nào mà không cần có sự đồng ý của người hưởng lợi L/C Thư tín dụng có thể huỷngang hầu như không được sử dụng trong thực tế mà chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết.

Thư tín dụng không thể huỷ ngang (irrevocable L/C): Là loại thư tín dụng mà sau

khi được mở thì người yêu cầu phát hành thư tín dụng sẽ không được tự ý sửa đổi, bổsung hay huỷ bỏ những nội dung của nó nếu không được sự đồng ý của người hưởng lợithư tín dụng Để đảm bảo được tính chất và tác dụng của thư tín dụng, ngày nay hầu hếtthư tín dụng được mở theo hình thức không huỷ ngang

Căn cứ vào tính chất của thư tín dụng

Thư tín dụng chuyển nhượng: Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ trong đó quy

định quyền được chuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền L/C cho một hay nhiềungười theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên, nhưng chỉ được phép chuyển nhượng mộtlần mà thôi

Thư tín dụng tuần hoàn: Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ trong đó quy định

rằng khi L/C sử dụng hết kim ngạch hoặc sau khi hêtài sản hạn hiệu lực của L/C thì nó tựđộng có giá trị như cũ và cứ như vậy cho đến khi hoàn tất giá trị hợp đồng

Thư tín dụng giáp lưng: Là loại L/C không thể huỷ bỏ được mở ra căn cứ vào một L/

C khác làm đảm bảo Theo L/C này, người xuất khẩu căn cứ vào thư tín dụng của ngườinhập khẩu, yêu cầu ngân hàng mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu khác hưởng

Thư tín dụng dự phòng: Để đảm bảo quyền lợi cho người nhập khẩu, trong trường

hợp người xuất khẩu không giao hàng theo đúng hợp đồng, người nhập khẩu yêu cầungười xuất khẩu mở một thư tín dụng dự phòng, trong đó quy định rằng nếu người xuấtkhẩu không thực hiện đúng hợp đồng, ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toántiền đền bù thiệt hại cho người nhập khẩu

Thư tín dụng đối ứng (reciprocal L/C): Là loại L/C không thể hủy bỏ trong đó quy

định nó chỉ có hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó đượ mở ra Điều đó có nghĩa là tổchức xuất khẩu khi nhận được L/C do tổ chức nhập khẩu mở thì phải mở lại L/C tương

Trang 14

ứng thì nó mới có giá trị L/C này được sử dụng trong giao dịch hàng đổi hàng và giacông hàng xuất khẩu Cả 2 bên đều là người mua , người bán của nhau

Căn cứ vào thời hạn thanh toán của L/C

Thư tín dụng trả ngay: Là loại L/C không thể hủy ngang và phải thanh tóan ngay khi

hối phiếu đuợc xuất trình.Rủi ro trong loại thư tín dụng này là thương fphải thanh tóantrứoc khi nhận hàng,vì hối phiếu và bộ chứng từ thường đến trước khi hàng nhập cảng

Thư tín dụng trả chậm: Là loại L/C không thể hủy ngang trong đó quy định ngân

hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ

số tiền của L/C vào thời hạn cụ thể ghi trên L/C sau khi nhận được chứng từ và khôngcần có hối phiếu

Thư tín dụng với điều khoản đỏ (Red clause L/C): Là loại thư tín dụng có điều khoản

đặc biệt(trước dây điều khoản này được ghi bằng mực đỏ), người mở L/C cho phép tổchức xuất khẩu được quyền tháo khoán trước một số tiền nhất định trước khi giao hàngthay vì nói một cách đơn giản khi giao hàng Vì thế nó còn gọi là thư tín dụng ứng trước

I.1.3 Quy trình thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

Sơ đồ 1.1 Quy trình TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ

Trang 15

(1) Người nhập khẩu, căn cứ vào hợp đồng mua bán, làm đơn xin mở thư tín dụng tạingân hàng phục vụ mình cho người xuất khẩu được hưởng.

(2) Căn cứ vào yêu cầu xin mở thư tín dụng của người nhập khẩu và các chứng từ có liênquan Nếu đồng ý, ngân hàng trích tài khoản của người nhập khẩu ( thường là ngân hàngyêu cầu người nhập khẩu ký quỹ 100%trị giá thư tín dụng trong trường hợp thanh toánngay hoặc x% trị giá thư tín dụng trong trường hợp thanh toán có kỳ hạn ).Sau đó, ngânhàng lập thư tín dụng gửi cho người bán thông qua ngân hàng thông báo tại nước củangười bán Việc mở thư tín dụng qua bên bán có thể được thực hiện bằng đường hàngkhông bưu chính hoặc L/C băng điện tín

(3) Khi ngân hàng thông báo nhận được thư tín dụng của ngân hàng mở L/C gửi đến,tiến hành kiểm tra, xác nhận điện báo mở L/C rồi chuyển bản chính L/C cho bên bán dướihình thức văn bán nguyên văn ( nhận thế nào gửi thế đó) Nếu gửi băng thư thì kiểm trachữ ký, gửi bằng điện thì kiểm tra mã quy

(4) Khi nhận được bản L/C chi tiết các điều khoản,người bán tiến hành giao hàng sau khi

đã kiểm tra nội dung L/C và đối chiếu với hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký trước

Trang 16

đây.Sau khi kiểm tra chặt chẽ L/C,nếu đồng ý thì tiến hành giao hàng cho người nhậpkhẩu, nếu không đồng ý thì đề nghị người nhập khẩu điều chỉnh hoặc bổ sung cho đếnkhi hoàn chỉnh thì mới giao hàng

(5) Sau khi tiến hành việc giao hàng,người bán lập bộ chứng từ và các điều khoản liênquan (nếu có) để nộp vào ngân hàng phục vụ mình chờ thanh toán Có thể xin ứng trướctiền hàng bằng cách vay thế chấp bộ chứng từ hoặc thương lượng chiết khấu bộ chứng từchờ ngân hàng trả tiền báo Có

(6) Ngân hàng phục vụ người bán kiểm tra các chứng từ so với các điều kiện quy địnhtrong thư tín dụng và sự phù hợp lẫn nhau giữa các chứng từ Nếu đúng thì tiến hành đòitiền ngân hàng mở L/C

(7) Khi nhận được điện và bộ chứng từ đòi tiền của ngân hàng phục vụ người bán, ngânhàng mở L/C phải kiểm tra tính chính xác phù hợp của các chứng từ Nếu chấp nhận thìlập lệnh trả tiền theo chỉ thị của họ và báo cho họ biết Nếu phát hiện thấy sai sót phảiđiện báo ngay cho ngân hàng thông báo, chờ xử lý và báo cho người mở L/C biết

(8) Nhận được điện báo Có về khoản thanh toán bộ chứng từ hàng xuất, ngân hàngthông báo báo Có cho người bán hoặc thông báo hối phiếu có kỳ hạn đã được chấp nhậnthanh toán và cũng có thể nhận được thông báo về sự từ chối của ngân hàng mở L/C (9) Đối với bộ chứng từ được người mua chấp nhận thanh toán, ngân hàng mở chuyểngiao toàn bộ chứng từ thanh toán và giấy báo về phí tổn nghiệp vụ ngân hàng cho ngườimua để họ đi lấy hàng đồng thời thu hồi số tiền đã trả cho người bán

(10) Người mua sau khi nhận được bộ chứng từ từ phía ngân hàng mở L/C, sẽ cầm bộchứng từ để đi lấy hàng hoá Người mua có quyền từ chối thanh toán và báo cho ngânhàng mở biết nếu thấy chứng từ không phù hợp

I.1.4 Các văn bản pháp lý liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ

I.1.4.1 Quy tắc thống nhất về thực hành tín dụng chứng từ (UCP-DC)

UCP-DC (Uniform Customs Practice - Documentary Credit): dịch sang tiếng ViệtNam là Quy tắc thống nhất về thực hành tín dụng chứng từ - dùng cho thanh toán bằng L/

Trang 17

C (Letter of Credit) UCP do phòng Thương mại quốc tế ICC (International CommerceChamber) phát hành ICC được thành lập vào năm 1919 có trụ sở tại Pa-ri (Pháp) Vớimục tiêu ban đầu là thúc đầy thương mại quốc tế vào thời điểm mà chủ nghĩa quốc gia vàchủ nghĩa bảo hộ đe dọa nghiêm trọng hệ thống thương mại thế giới Trên tinh thần đó,UCP được ban hành lần đầu tiên vào năm 1933 (UCP số 82) nhằm thống nhất nhữngquan niệm trong thực hành Thư tín dụng (L/C) giảm thiểu sự xung đột pháp luật giữa cácgiới thương nhân các quốc gia với nhau và giữa họ với ngân hàng trong vấn đề thanh toánliên quan đến L/C Đến nay đã có trên 180 nước trên thế giới và khu vực áp dụng UCPcho thấy sự thành công của quy tắc này UCP là quy tắc của một tổ chức quốc tế phichính phủ (ICC), chứ không phải là luật pháp quốc tế hay luật pháp quốc gia.

UCP là cẩm nang giúp doanh nghiệp NK mở L/C chính xác, kiểm tra chứng từthanh toán của người XK để nhập được hàng theo nguyện vọng nhập hàng của mình.Giúp doanh nghiệp XK lập chứng từ thanh toán đúng với yêu cầu của L/C để được ngânhàng thanh toán tiền hàng UCP còn là tài liệu giúp cho các doanh nghiệp giám sát cácdịch vụ ngân hàng đối với mình UCP còn là căn cứ để doanh nghiệp kiện, khiếu nại vềthanh toán làm ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp mình

Từ khi ra đời năm 1993, ngay từ lần công bố đầu tiên UCP đã được chấpnhận rộng rãi và thể hiện vai trò to lớn của nó Cho đến nay ICC đã tiến hành 5 lần sửađổi UCP vào các năm : 1951, 1962 (UCP 222), 1974 (UCP 290) 1983 (UCP 400), vàmới đây là 1993 (UCP 500) Như vậy, cứ 10 năm ICC lại tiến hành sửa đổi UCP một lần,tuy nhiên việc sửa đổi UCP không phải tiến hành theo định kỳ mà căn cứ vào nhucầu thực tế của giao dịch TDCT với mục tiêu phù hợp với trình độ phát triển về côngnghệ, thông tin liên lạc cũng như thương mại trên thế giới Đến nay đã hơn 10 năm, hầuhết các nội dung vẫn còn nguyên giá trị, tuy nhiên, một số nội dung đã bộc lé yếu điểmđang được ICC nghiên cứu chỉnh sửa Năm 1974, UCP 290 ra đời là bản sửa đổi củaUCP 222 đã tạo ra những thay đổi về chứng từ và thủ tục Những thay đổi này nhằmmục đích đáp ứng sự phát triển của cuộc cách mạng trong vận tải đường biển, đặc biệt làcuộc cách mạng container hoá(containeration) và sự phát triển của vận tải đa phương

Trang 18

thức Bản sửa đổi năm 1983 (UCP 400) cũng chú ý đặc biệt đến những đặc điểm mới cuảthực tiễn: cuộc cách mạng trong vận tải và thông tin liên lạc liên quan đến một giao dịchbằng các phương thức xử lý dữ liệu điện tử (Electronic data processing EDP); quyềnlợi và ảnh hưởng ngày càng tăng trong buôn bán quốc tế của các quốc gia kém pháttriển

Với những lần sửa đổi như vậy, tuy nhiên có hai văn bản UCP đáng chú ý nhất, đó là:

UCP 500

UCP500 hay UCP 500 là thuật ngữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Uniform Customsand Practice for Documentary Credits do Phòng thương mại quốc tế (ICC) phát hànhnăm1993 bản sửa đổi lần thứ 500 Nó được dịch ra tiếng Việt là Quy tắc và thực hànhthống nhất về tín dụng chứng từ hay Tập quán và thông lệ thống nhất về tín dụng chứng

từ lần sửa đổi thứ 500 năm 1993 Nó gồm 49 điều, được chia thành 7 phần (từ A tới G)

và đề cập tới các vấn đề có liên quan đến tín dụng chứng từ mà từ năm 1993 cho đến hiệnnay (thời điểm năm 2005) vẫn đang được áp dụng trong thanh toán quốc tế các chứng

từ thương mại

UCP 500 ra đời với mục đích chính là đơn giản hoá các quy tắc của UCP 400

và phối hợp thực tiễn ngân hàng quốc tế, đồng thời giải quyết các vấn đề của điều kiệnphi chứng từ, tăng cường tính đúng đắn và tin cậy của sự cam kết trong TDCT thông quatính vững chắc của sự không thể huỷ bỏ được và làm sáng tỏ trách nhiệm chủ chốtkhông chỉ của NHPH mà ngân hàng xác nhận UCP 500 có hiệu lực từ ngày01/01/1994, so với 55 điều khoản của UCP 400 thì 49 điều khoản cuả UCP 500 thể hiệnnhững bổ sung và sửa đổi nhằm đáp ứng sự phát triển không ngừng của thực tiễn.Trong thực tiễn đã xảy ra một số tranh chấp về việc áp dụng trong hợp đồng mua bánhoặc tín dụng thư Cũng như các văn bản luật khác của phòng thương mại quốc tế, UCPkhông là văn bản có tính chất pháp lý bắt buộc với các hội viên mà chỉ có tính chất pháp

lý tuỳ ý nên khi áp dụng các bên tham gia giao dịch phải dẫn chiếu trong TTD và( hoặc)hợp đồng mua bán

Trang 19

UCP 500 cũng như các văn bản khác của ICC và các bản Quy tắc và Thực hànhthống nhất về tín dụng chứng từ trước đây đều mang tính chất pháp lý tùy ý.Các bêntham gia giao dịch có quyền lựa chọn việc áp dụng hay không áp dụng UCP 500 để điềuchỉnh những hoạt động liên quan đến TTD UCP 500 cũng chỉ rõ: một khi các bên liênquan thoả thuận áp dụng UCP 500 bằng cách dẫn chiếu trên TTD: “Thư tín dụng nàytuân thủ UCP 500” có nghĩa là đồng ý tuân thủ 49 điều khoản quy định của UCP

500 (trong chuẩn mực các điều khoản đó có thể vận dụng được) thì văn bản pháp lý nàytrở thành bắt buộc áp dụng, ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả các bên liênquan Đây là điểm tích cực của UCP 500 so với các bản quy tắc trước đó, nó bác bỏ nhậnthức mơ hồ của người mở TTD và người hưởng lợi là UCP 500 chỉ là quy tắc của cácngân hàng còn họ giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng

UCP 600

Sau 03 năm soạn thảo và chỉnh lý, ngày 25 tháng 10 năm 2006 Uỷ ban Ngân hàngcủa Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) đã thông qua Bản Quy tắc thực hành thống nhất vềtín dụng chứng từ mới (UCP 600) thay thế cho Bản Quy tắc thực hành thống nhất về tíndụng chứng từ cũ (UCP 500) UCP 600 này sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007.UCP 600 giảm thiểu nhiều trùng lắp về mặt ngôn từ không cần thiết trong UCP 500

và lược bỏ lời văn rườm rà Cấu trúc câu thường là câu trực tiếp, logic và đơn giản Ngônngữ sử dụng trong UCP 600 được coi là thân thiện với người sử dụng hơn hẳn UCP 500.UCP được bố cục lại với 39 điều khoản (thay vì 49 điều khoản như UCP500), trong đó bổsung nhiều định nghĩa và giải thích nhiều thuật ngữ vẫn còn gây tranh cãi trong UCP500.Điều 2 định nghĩa của UCP600 là một dẫn chứng cụ thể Lần đầu tiên các thuật ngữ như:ngân hàng thông báo (advising bank), người yêu cầu (applicant), xuất trình (presentation)

… được định nghĩa một cách cụ thể trong một bản UCP

UCP600 loại bỏ những nội dung không thuộc đối tượng áp dụng của UCP 600, ví

dụ những nội dung liên quan đến yêu cầu mở thư tín dụng, các chỉ thị không rõ ràng (điều12); huỷ bỏ một thư tín dụng (điều 8), tín dụng có thể huỷ bỏ và không thể huỷ bỏ (mộtphần điều 6); lệnh phát hành, sửa đổi một thư tín dụng (điều 5); chứng từ vận tải do

Trang 20

người giao nhận phát hành (điều 30), các chứng từ khác (điều 38) UCP600 điều chỉnh

cả thư tín dụng dự phòng (standby L/C) Điều này được thể hiện rõ trong Điều 1UCP600 UCP600 đã cập nhật một số điều khoản mới Có thể kể đến ở đây đó là:

Điều 2: Định nghĩa (definitions)

Điều 3: Giải nghĩa (interpretations)

Điều 9: Thông báo tín dụng và các sửa đổi (Advising of credits and amendments)

Điều 12: Sự chỉ định (nomination)

Điều 15: Xuất trình phù hợp (complying presentation)

Điều 17: Các chứng từ gốc và bản sao (original documents and copies)

UCP 600 giảm thiểu những mâu thuẫn giữa các điều khoản với nhau Có thể dẫnchiếu đến ở đây như là điều 13(a) và điều 13(c) UCP 500 UCP đã đưa ra khoảng thờigian cụ thể cho việc chấp nhận hoặc từ chối bộ chứng từ không hợp lệ là 5 ngày làm việcngân hàng (banking day) thay vì 7 ngày làm việc trước đây quy định trong UCP500 UCP

600 đã loại trừ việc sử dụng những từ, cụm từ mơ hồ, khó hiểu, thường dẫn đến hiểu lầm

và xảy ra tranh chấp trong UCP500 như là: Khoảng thời gian hợp lý, sự cần mẫn hợplý…

Mặc dù có nhiều thay đổi nhưng điều quan trọng, UCP No.600 quy định những vấn

đề cơ bản về phương thức thanh toán bằng L/C bao gồm: Các đối tượng kinh doanh XNKliên quan đến thanh toán L/C; Các ngân hàng, vai trò của nó; Các thuật ngữ thanh toáncần được các bên thống nhất; Thủ tục mở L/C; Quy định về các chứng từ, cơ quan lập,nội dung các chứng từ; số lượng chứng từ, các thuật ngữ trong các chứng từ, chứng từthanh toán hợp lệ, không hợp lệ; Chứng từ của các phương thức vận tải; Trị giá thanhtoán; Vận dụng tập quán trong thanh toán bằng L/C v.v

I.1.4.2 ISBP 745

Các tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ là một bộ các quy tắc(rules) áp dụng cho bất cứ loại L/C nào (bao gồm cả Tín dụng dự phòng trong chừng mực

Trang 21

có thể áp dụng) Các quy tắc của UCP được quy định trong các Điều khoản (Articles) củaUCP, trong đó bao gồm các quyền và nghĩa vụ của các ngân hàng có liên quan và ngườithụ hưởng L/C trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ Do UCP chỉ bao gồm nhữngđiều khoản rất cơ bản, ngắn gọn chứa đựng các quy tắc điều chỉnh L/C, cho nên trongứng dụng đã phát sinh các cách hiểu khác nhau làm nảy sinh các tranh chấp không cầnthiết Trước khi ISBP ra đời, có tới 60-70% lần xuất trình chứng từ đầu tiên đòi tiền theoL/C bị từ chối thanh toán, vì vậy ICC thấy cần thiết ban hành một tập quán quốc tế đểdiễn giải và hướng dẫn áp dụng các điều khoản của UCP Đó chính là bản quy tắc Tậpquán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụngchứng từ (International Standard Banking Practice for the examination of documentsunder documentary credits – gọi tắt là ISBP) ISBP đầu tiên ra đời năm 2002 mang sốhiệu 645 áp dụng cho việc kiểm tra chứng từ theo tín dụng chứng từ đã tạo ra một hànhlang pháp lý cho các ngân hàng kiểm tra chứng từ theo L/C, nhờ đó đã giảm thiểu rấtnhiều các tranh chấp Sau khi ban hành bản sửa đổi UCP600, ICC đãxuất bản ấnphẩm ISBP681 2007 thay cho ấn phẩm cũ ISBP 645 2002 ISBP 681 đưa ra các quy tắckiểm tra chứng từ nhằm giúp đỡ các ngân hàng trong việc quyết định bộ chứng từ có phùhợp hay không Từ đó ISBP 681 được áp dụng đương nhiên cùng với phiên bản UCP600.

Tuy nhiên, sau gần 7 năm áp dụng, trong chừng mực nào đó ISBP681 đã bộc lộnhiều thiếu sót và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế về kiểm tra chứng từ theo L/C, dovậy, mới đây vào tháng 4 năm 2013 Ủy ban Ngân hàng của ICC đã thông qua bản ISBPsửa đổi với tên gọi mới là ISBP745 (International Standard Banking Practice for theExamination of Documents under UCP600 - ISBP 2013 ICC Publication No 745)

ISBP745 được đổi tên: là “Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm trachứng từ theo UCP600” (International Standard Banking Practice for the Examination ofDocuments under UCP600 - ISBP745 2013 ICC) thay vì tên cũ “Tập quán ngân hàng tiêuchuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo tín dụng chứng từ” (International Standard

Trang 22

Banking Practice for the Examination of Documents under Documentary Credits ISBP681 2007 ICC).

-Mục đích của ISBP 745 là nhằm diễn giải và hướng dẫn áp dụng các điều khoảncủa UCP600, trong phạm vi của các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng hoặc bất

cứ các sửa đổi thư tín dụng kèm theo “The practices described in this publicationhighlight how the articles of UCP 600 are to be interpreted and applied, to the extent thatthe terms and conditions of the credit, or any amendment thereto” Ngoài UCP 600, ngânhàng căn cứ vào ISBP 745 để kiểm tra chứng từ và có thể trích dẫn các điều khoản thíchhợp của ISBP 745 để làm cơ sở quyết định thanh toán hay từ chối nếu các chứng từ xuấttrình phù hợp hay không phù hợp với điều kiện và điều khoản của L/C và các sửa đổi L/Ckèm theo có dẫn chiếu đến UCP600

ISBP745 không sửa đổi hay hủy bỏ các điều khoản của UCP600: “The practices

do not expressly modify or exclude an applicable article in UCP 600” Điều này hàm ýmục đích ban hành ISBP của ICC chỉ nhằm diễn giải và hướng dẫn áp dụng các điềukhoản của UCP600 mà không sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ các điều khoản của UCP600

ISBP 745 2013 đã bổ sung nội dung cho một số điều khoản của UCP 600 2007

- Quy tắcC10 ISBP 745 bổ sung điều khoản 18aiv UCP 600 về việc hóa đơn không cầnthiết phải ghi ngày phát hành

- Quy tắc D32, E28, G26 ISBP 745 bổ sung các điều khoản 19, 20, 22 của UCP 600

2007 về vấn đề giải tỏa hàng hóa nhiều chứng từ vận tải

- Quy tắc D17a, E13a, G12a ISBP 745 bổ sung các điều khoản 19, 20 và 22 UCP 600

2007 về quy định người gửi hàng ký hậu chứng từ vận tải

- Quy tắc D26, E22, G20, F20, H22 và J17 ISBP 745 bổ sung các điều khoản 19, 20,

21, 22, 23, 24 UCP 600 2007 về mô tả hàng hóa trên các chứng từ vận tải

- Quy tắc K5 ISBP 745 bổ sung điều khoản 28 UCP 600 2007 về ký đối chứng trongchứng từ bảo hiểm vv và vv…

I.1.4.3 Quy tắc thực hành Tín dụng dự phòng quốc tế (ISP98)

Trang 23

ISP98 là bản quy tắc có tính chuyên biệt đầu tiên điều chỉnh tín dụng thư dự phòngtrên phạm vi quốc tế, là công trình của một nhóm làm việc của ICC do cố vấn kỹ thuậtcủa Ủy ban ngân hàng Garry Collyer chỉ đạo hợp tác cùng Viện thực hành và luật thươngmại quốc tế IIBLP cùng sự hỗ trợ của Hiệp họi tài chính quốc tế IFSA Đây là kết quảcủa dự án kéo dài trong 5 năm với sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức sau nhiều cuộcgặp mặt tại 11 quốc gia trên 4 châu lục trên thế giới.

ISP98 ra đời không nhằm đưa ra một bản giới thiệu về tín dụng thư dự phòng haycác tác dụng của nó mà nhằm tới việc thực hành sử dụng tín dụng thư dự phòng hàngngày ISP98 được soạn thảo phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về bảo lãnh độc lập

và tín dụng thư dự phòng và luật pháp các quốc gia Đây là bộ quy tắc hết sức cụ thể vàthực tế Cũng như UCP, ISP98 đơn giản hóa tiêu chuẩn háo và thuận lợi hóa giao dịch dựphòng nhằm góp phần giúp các bên giao dịch tiết kiệm thời gian, chi phí đàm phán vàthẩm phán trong quá trình soạn thảo các điều kiện, đồng thời cũng là chỉ dẫn cho các luậtgia trong việc diễn giải tập quán sử dụng và giải quyết tranh chấp có lien quan tới giaodịch tín dụng thư dự phòng

ISP98 có thể áp dụng cho các bảo lãnh độc lập khác Nó cảnh bảo cho người xin

mở về những rủi ro trong bất cứ L/C nào, chi tiết hóa những vấn đề mà người phát hành

có quyền tự quyết ISP điều chỉnh những vấn đề ẩn khuất liên quan tới tín dụng thư dựphòng đối ứng, đưa ra những quy tắc cơ bản cho vấn đề hoàn trả, đồng phát hành và cùngtham gia

Một đặc điểm đáng lưu ý trong các điều khoản của ISP98 là kiến nghị việc chấpnhận xuất trình chứng từ bằng các phương tiện điện tử Việc ISP đưa ra được định nghĩaquy tắc khuyến khích áp dụng những chứng từ điện tử trong các giao dịch dự phòng đãphản ánh sự bắt kịp xu thể phổ biến của thanh toán bằng xuất trình chứng từ qua mạngSWIFT trong giới tài chính quốc tế

I.2 Rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTM

I.2.1 Khái niệm

Trang 24

Rủi ro trong hoạt động TTQT của NHTM là vấn đề xảy ra ngoài ý muốn trong quátrình tiến hành hoạt động TTQT và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của NHTM.Trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một bên thamgia bị vi phạm Rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ không đượcthanh toán, mà còn được hiểu rộng ra là bất kỳ một sự chậm trễ nào trong các khâu củaquá trình TTQT Rủi ro có thể xảy ra với tất cả các bên tham gia.

Rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ là những biến cố không mong đợi cóthể xảy ra và gây thiệt hại cho các bên tham gia trong phương thức TDCT Những biến cốnày mang tính khách quan và tồn tại độc lập với ý chí của các bên tham gia vào hoạtđộng thanh toán

I.2.2 Các loại rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại NHTM

Có nhiều cách phân chia rủi ro, nhưng nếu căn cứ vào nguồn gốc của rủi ro thì cóthể phân loại các rủi ro phổ biến như sau:

I.2.2.1 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên quannhưng không có khả năng hoàn trả Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tàichính, khả năng thanh toán của các bên

- Đối với NHPH: Khi phát hành L/C, NHPH đã thực hiện việc cấp tín dụng cho nhà

nhập khẩu vì thông thường L/C đã được phát hành với mức ký quỹ dưới 100% Nhà nhậpkhẩu chưa phải trả tiền nhưng đã được nhà xuất khẩu giao hàng vì tin tưởng vào cam kếtcủa NHPH Rủi ro tín dụng đối với NHPH xảy ra khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanhtoán hoặc bị phá sản NHPH phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quyđịnh của L/C nhưng không có khả năng đòi hoàn trả từ nhà nhập khẩu

- Đối với NHCK: Khi thực hiện chiết khấu miễn truy đòi bộ chứng từ xuất khẩu,

NHCK đã thực hiện việc mua lại quyền đòi tiền của nhà xuất khẩu từ NHPH L/C NếuNHPH mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản thì rủi ro tín dụng thuộc về NHCK

Trang 25

- Đối với NHXN: Khi thực hiện việc xác nhận L/C nhưng không yêu cầu NHPH ký quỹ

100% trị giá L/C, NHXN có thể phải đối mặt với rủi ro tín dụng khi NHPH mất khả năngthanh toán hoặc bị phá sản

I.2.2.2 Rủi ro kỹ thuật

Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình thanhtoán thư tín dụng, như sai khác giữa bộ chứng từ thanh toán với thư tín dụng hoặc vớihợp đồng, hay việc các bên tham gia không thực hiện đúng một khâu nào đó trong quytrình nghiệp vụ thanh toán dẫn đến sự từ chối nhận hàng của phía bên kia

Trong phương thức tín dụng chứng từ, mỗi ngân hàng liên quan có những trách nhiệmnhất định và do vậy cũng có thể gặp những rủi ro nhất định

- Đối với ngân hàng phát hành L/C: Nội dung của L/C về cơ bản là do nhà nhập khấu

đưa ra trong yêu cầu mở L/C của mình và đó cũng là những yêu cầu của nhà nhập khẩuđối với nhà xuất khẩu trong hợp đồng đã được cụ thể hóa thành yêu cầu của NHPH đốivới nhà xuất khẩu và nó rang buộc trách nhiệm trả tiền của NHPH Do vậy, khi NHPHchuyển tải không hết hoặc không chính xác nội dung trên đơn yêu cẩu mở L/C của nhànhập khẩu vào L/C, nếu đó là vấn đề xảy ra tranh chấp thi NHPH phải chịu rủi ro khi nhànhập khẩu từ chối nhận chứng từ và thanh toán cho ngân hàng

Khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tới NHPH, NHPH có trách nhiệm kiểmtra bộ chứng từ để quyết định trả tiền nếu bộ chứng từ hoàn hảo hay từ chối nếu bộ chứng

từ có bất đồng Đây là quy trình rất quan trọng đối với NHPH, tuy nhiên cũng là nguốngốc của phần lớn các rủi ro mà chủ yếu là do không tuân thủ đúng quy trình nghiệp vụnhư:

+ Vì mối quan hệ với khách hàng, NHPH cố tình vi phậm bắt những lỗi không quan trọng

để từ chối thanh toán nhưng sự từ chối này không được NHCK công nhận

+ Việc tiến hành kiểm tra, bắt lỗi bộ chứng từ vượt quá thời hạn cho phép là 5 ngày làmviệc của ngân hàng đối với UCP600, khi đó ngân hàng sẽ mất đi quyền từ chối trả tiềntrong khi nhà nhập khẩu lại không đồng ý thanh toán do bộ chứng từ có sai sót

+ Đã chuyển bộ chứng từ cho người mở, hoặc làm mất không trả lại chứng từ cho ngườixuất trình

Trang 26

- Đối với ngân hàng thông báo: Khi nhận được L/C chuyển đến từ NHPH, NHTB có

trách nhiệm kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C (kiểm tra chữ ký ủy quyền nếu pháthành bằng thư, bằng mã khóa nếu phát hành bằng telex, hoặc bằng các mẫu điện đảm bảotính xác thực nếu phát hành bằng SWIFT trước khi thông báo cho người thụ hưởng theochỉ dẫn của NHPH

Nếu ngân hàng đã sử dụng các giải pháp nghiệp vụ nhưng không thể xác định đượctính chân thật bề ngoài của L/C thì phải có ý kiến phản hồi cho NHPH không chậm trễ và

từ chối thông báo cho người thụ hưởng Nếu NHTB không kiểm tra tính xác thực của L/C

đã thông báo cho nhà xuất khẩu để nhà xuất khẩu giao hàng nhưng không đòi được tiền

do L/C bị giả mạo, nhà xuất khẩu có quyền yêu cầu NHTB phải bồi thường Rủi ro củaNHTB lúc này không chỉ cho chính lô hàng bị mất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới

uy tín của ngân hàng

- Đối với ngân hàng thương lượng/ chiết khấu: Đây là ngân hàng phục vụ người thụ

hưởng, có trách nhiệm chiết khấu hoặc thương lượng bộ chứng từu do nhà xuất khẩu xuấttrình NHCK khi quyết định chiết khấu bộ chứng từ phải kiểm tra chứng từ một cách cẩnthận để đảm bảo rằng bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp và NHPH không thể từ chối thanhtoán Việc chiết khấu một bộ chứng từ không hoàn hảo là rất rủi ro đối với NHCK vì họ

có thể bị từ chối hoàn trả tiền từ NHPH trong khi đã thanh toán cho người thụ hưởng.Cho dù là chiết khấu có truy đồi thì việc đòi lại tiền từ người thụ hưởng cũng rất khókhăn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng

NHCK không phải ứng trước tiền cho người thụ hưởng nhưng việc ngân hàng không pháthiện ra bất đồng của chứng từ và thông báo cho người thụ hưởng chỉnh sửa kịp thời khiến

bộ chứng từ bị từ chối thanh toán cũng làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng

- Đối với ngân hàng xác nhận: NHXN có trách nhiệm kiểm tra và định đoạt đoạt tình

trạng bộ chứng từ do khách xuất trình, nếu chứng từ phù hợp thì tiến hành thanh toán chongười thụ hưởng và đòi bồi hoàn từ NHPH NHXN sẽ gặp rủi ro nếu không phát hiện ra

bộ chứng từ có bất đồng vì đã thanh toán cho người thụ hưởng nhưng không đòi bồi hoànđược từ NHPH Việc NHXN trả tiền cho người thụ hưởng là miễn truy đòi, do vậy việcxác nhận L/C cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Hơn nữa, NHXN khi tham gia xác nhận là đã tự

Trang 27

ràng buộc trách nhiệm của mình vào nghĩa vụ thanh toán L/C khi có tranh chấp xảy ra.Rủi ro đối với NHXN còn xảy ra khi không nắm vững được năng lực tài chính củaNPHN, khi có tranh chấp sẽ phải chịu trách nhiệm thanh toán thay, do NHPH thiếu thiệnchí hoặc mất khả năng thanh toán, thậm chí bị phá sản.

Qua phân tích cho thấy, những rủi ro kỹ thuật xảy ra tại các ngân hàng phần lớn là dotrình độ của cán bộ tác nghiệp Hậu quả của rủi ro tác nghiệp rất nghiêm trọng, ảnhhưởng đến uy tín và tài sản của NHTM

I.2.2.3 Rủi ro do pháp lý, chính trị

Tham gia nhiều lĩnh vực, ngành nghề, có quan hệ với nhiều đối tượng kinh tế củanhiều quốc gia, thanh toán quốc tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường kinh tế,chính trị, xã hội của các quốc gia Khi một quốc gia thay đổi các chính sách về dự trữngoại hối, chính sách quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá, lãisuất…sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thanh toán quốc tế của các bên liên quan.Trong thực tế, nhưng thay đổi này thường khiến các ngân hàng, nhà xuất khẩu, nhà nhậpkhẩu không thể thực hiện cam kết của mình, làm cho quy trình thanh toán bị ngưng trệ,thậm chí hủy bỏ gây thiệt hại cho các bên liên quan

Rủi ro do môi trường pháp lý còn liên quan đến những lệnh cấm vận của các nước đặcbiệt là lệnh cấm vận của Mỹ đối với một số nước và tổ chức Nếu thực hiện thanh toánquốc tế cho những nước nằm trong danh sách cấm vận của Mỹ bằng đồng USD qua cácngân hàng tại Mỹ, khoản tiền thanh toán đó lập tức bị phong toản Ngân hàng thực hiệnthanh toán bị mất tiền trong khi người thụ hưởng vấn chưa nhận được khoản tiền mà họđược hưởng

I.2.2.4 Rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúngnghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan Trong thươngmại quốc tế, các bên đối tác thường ở cách xa nhau, thậm chí không hề gặp nhau trongquá trình mua bán nên rất khó nắm rõ những thông tin về uy tín,đạo đức kinh doanh,

Trang 28

năng lực tài chính của đối tác Trong điều kiện như vậy, các rủi ro đạo đức rất dễ xảy ragây hậu quả nghiêm trọng đối với cả khách hàng lẫn ngân hàng

- Rủi ro đạo đức của nhà xuất khẩu: NHPH chỉ có khả năng và trách nhiệm kiểm tra

tính phù hợp của chứng từ xét trên bề mặt, mà không thể thẩm định tính xác thực củachứng từ, càng không thể kiểm tra được tình trạng của lô hàng nhập khẩu Nếu nhà xuấtkhẩu cố tình giao hàng hóa không phù hợp với quy định của L/C để đòi tiền NHPH theocam kết phải trả tiền cho nhà xuất khẩu trong khi nhà nhập khẩu không được nhận hàngtheo đúng hợp đồng Nhà nhập khẩu là người gánh chịu rủi ro cuối cùng song nếu NHPH

là người cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu thì rủi ro của nhà nhập khẩu cũng là rủi ro củangân hàng

- Rủi ro đạo đức của nhà nhập khẩu: Hầu hết các trường hợp L/C đều được phát hành

với mức ký quỹ nhỏ hơn 100% Do vậy, khi NHPH thông báo cho nhà nhập khẩu nộptiền vào để thanh toán, nếu nhà nhập khẩu vì những lý do cá nhân cố tình không thanhtoán thì NHPH bị rủi ro phải thanh toán thay

- Rủi ro đạo dức của NHPH: NHPH cũng có thể thông đồng với nhà nhập khẩu cố tình

tìm kiếm những bất đồng của bộ chứng từ để từ chối thanh toán cho nhà xuất khẩu dùnhững lỗi bất đồng đó không phù hợp với UCP và thông lệ quốc tế, hoặc đang có nhiều ýkiến tranh cái NHCK và nhà xuất khẩu có thể kiện ra Phòng thương mại quốc tế nhưngcũng mất nhiều thời gian và tốn kém

- Rủi ro đạo đức của NHCK: L/C cho phép đòi tiền bằng điện có thể bị NHCK lợi dụng

đòi tiền dù bộ chứng từ có bất đồng Khi NHPH nhận được chứng từ bà kiểm tra thấy bấtđồng thì tiền đã thanh toán cho NHCK rồi Về lý thuyết, NHPH có quyền đòi tiền lại từNHCK nhưng nếu NHCK không chịu trả lại thì NHPH sẽ phải gặp rất nhiều khó khăn để

đi khiếu kiện

Nhìn chung nguyên nhân sâu xa của rủi ro đạo đức là đối tác tham gia giao dịchkhông nắm được đầy đủ những thông tin cần thiết về đối tác Vì vậy mà đã đưa ra nhữngquyết định sai lầm gây nên rủi ro trong thanh toán

I.2.2.5 Rủi ro tỷ giá

Trang 29

Trong hoạt động thanh toán quốc tế, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu thường ở hainước khác nhau nên loại tiền tệ sử dụng trong hoạt động thanh toán quốc tế là ngoại tệđối với ít nhất một bên Khi đó sẽ xuất hiện tỷ giá hối đoái với tư cách là giá cả của mộtloại hàng hóa đặc biệt luôn biến động không ngừng do nhiều nhân tố tác động, gây ranhững rủi ro tỷ giá hối đoái cho các ngân hàng và các khách hàng tham gia.

Tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau mà các nhân tố ảnh hưởn nàythường xuyên thay đổi kéo theo sự biến động không ngừng của tỷ giá hối đoái Cho dùchỉ với một sự thay đổi nhỏ trong tỷ giá hối đoái nhưng khối lượng ngoại hối lớn thì cũng

sẽ dẫn đến rủi ro rất lớn Vì vậy các ngân hàng luôn phải tìm cách cân bằng trạng thái hốiđoái để hạn chế bớt thiệt hại

Bên cạnh rủi ro tỷ giá, các ngân hàng có thể gặp rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất haycòn goi là rủi ro tỷ lệ SWAP thường xảy ra trong trạng thái kỳ hạn Nếu trạng thái kỳ hạnkhông cân bằng có thể gặp rủi ro lãi suất Ngay cả trong trường hợp trạng thái ròng cânbằng cũng có thể gặp rủi ro lãi suất nếu như thời điểm đáo hạn của các hợp đồng mua vàbán không khớp nhau Sở dĩ như vậy là vì rủi ro đối với trạng thái kỳ hạn nằm ở lãi suấtcủa các loại ngoại tệ có mặt trong gaio dịch mua bán ngoại tệ đó Nếu trước thời điểmđáo hạn của giao dịch có sự biến động về lãi suất của một trong hai đồng tiền giao dịchnằm ngoài mong muốn thì sẽ xuất hiện rủi ro lãi suất

Như vậy rủi ro hối đoái, cho dù là rủi ro tỷ giá hay rủi ro lãi suất, đều có khả năngảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng cung cấp ngoại tệ của ngân hàng, đặc biệt alftrong tình hình thị trường ngoại hối biến động mạnh mẽ như hiện nay

I.2.2.6 Rủi ro ngân hàng đại lý

Khi triển khai hoạt động thanh toán quốc tế, các ngân hàng đều coi nhiệm vụ pháttriển quan hệ đại lý ra nước ngoài là một nhiệm vụ mang tính quyết định cho việc mở cửahoạt động của ngân hàng Việc thiết lập và phát triển rộng rãi hệ thống ngân hàng đại lýtạo lòng tin lẫn nhau, giúp cho các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tếđược thuận tiện, nhanh chóng, giảm chi phí trung gian

Đứng trên góc độ một ngần hàng A, nhưng tài khoản mà ngân hàng đó mở tại một ngânhàng khác được gọi là tài khoản Nostro Ngược lại, những tài khoản mà ngân hàng khác

Trang 30

mở tại ngân hàng A được gọi là tài khoản Vostro Mỗi ngân hàng khi tham gia hoạt độngthanh toán quốc tế đều chọn cho mình một số ngân hàng trung gian có uy tín để đảm bảo

an toàn trong thanh toán Nếu ngân hàng giữ tài khoản Nostro bị phản sản sẽ là một rủi ro

vô cùng nghiêm trọng đối với hoạt động ngân hàng, thậm chí có thể dẫn đến phá sảntheo

I.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTM

I.2.3.1 Nguyên nhân khách quan

- Khủng hoảng kinh tế, lạm phát, sự biến động của giá cả hàng hóa

Khủng hoảng kinh tế là một nhân tố quan trọng gây nên rủi ro quốc gia Các L/C docác nước có khủng hoảng kinh tế phát hành thường hay yêu cầu phải được xác nhận bởicác ngân hàng uy tín ở các nước phát triển

Lạm phát làm cho đồng tiền trong nước mất giá so với đồng tiền nước ngoài và do

đó làm giảm giá cả hàng hóa thay đổi gây nên rủi ro hàng hóa trong phương thức L/C

- Chính sách kinh tế, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật

Chính sách thương mại, các quy định về XNK của một quốc gia hay tính kém đồng

bộ của hệ thống pháp luật có ảnh hưởng nhất định đến các bên tham gia trong phươngthức TDCT Một ví dụ điển hình là việc thay đổi chính sách của Mỹ đối với Việt Namtrong việc XNK cá basa, hàng dệt may, hàng giày da gây thiệt hại lớn cho các doanhnghiệp XNK Việt Nam

- Chính sách tiền tệ

Chính sách ngoại hối thay đổi gây nên sự biến động của tỷ giá ảnh hưởng đến hiệuquả của phương án kinh doanh, từ đó gây nên rủi ro tín dụng của khách hàng và NHPH.Chính sách quản lý ngoại hối của nước XK, những quy định về chuyển ngoại tệ nhưhạn chế chuyển hay cấm chuyển ngoại tệ ra nước ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến nhàXK

Ngoài ra, các cân thanh toán bị thâm hụt, dự trữ ngoại hối thấp cũng khiến các ngânhàng, nhà XK gặp khó khăn thậm chí không thể mua được ngoại tệ để thanh toán chonước ngoài

Trang 31

I.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan

- Năng lực quản lý, trình độ chuyên môn của các bên tham gia

Đối với ngân hàng, năng lực quản lý, trình độ nghiệp vụ non kém của cán bộ nhânviên ngân hàng trong việc xét duyệt mở L/C, chiết khấu chứng từ là nhân tố khiến ngânhàng không lựa chọn được những khách hàng tốt, những dự án khả thi

Nhiều L/C được mở ra với các điều kiện mập mờ, không rõ nghĩa có thể hiể theonhiều cách khác nhau nhưng NHPH lại không đủ trình độ tư vấn cho khách hàng, NHTBlại không yêu cầu làm rõ nghĩa và đến khi bộ chứng từ xuất trình thì dẫn đến tranh chấp.Đối với doanh nghiệp XNK, năng lực quản lý, trình độ quản lý yếu kém là nhân tốquan trọng dẫn đến rủi ro tín dụng, rủi ro tác nghiệp của doanh nghiệp và theo đó là rủi rotín dụng của NHPH Đây là rủi ro được xem như phổ biến của các doanh nghiệp Nhà

NK, nhà XK không tinh thông nghiệp vụ, ngoại ngữ nên rủi ro đã phát sinh ngay từ khi

ký kết hợp đồng, lập Đơn xin mở L/C và lập chứng từ XK

- Quy trình nghiệp vụ thiếu chặt chẽ

Các quy định về nghiệp vụ không rõ ràng sẽ gây khó khăn cho các nhân viên trongviệc rào chắn rủi ro Ví dụ như các quy định về mua bảo hiểm, về tỷ lệ ký quỹ về độ rủi

ro của hàng hóa, về hạn mức mở L/C

Công tác kiểm tra, kiểm soát không chặt chẽ tạo kẽ hở cho nhân viên, lãnh đạo kết hợpnhà XK, NK lừa đảo chiếm dụng vốn của khách hàng

- Đạo đức, ý thức trách nhiệm của các bên tham gia

Nhiều doanh nghiệp XNK kinh doanh theo kiểu chụp giật, không giữ uy tín nên khigặp khó khăn sẵn sàng bỏ mặc ngân hàng tự đứng ra giải quyết và do đó dẫn đến rủi roc

ho ngân hàng

Trang 32

Ý thức trách nhiệm của các bộ ngân hàng cũng là một nhân tố quan trọng đối với rủi

ro trong phương thức L/C Nhiều cán bộ do không thẩm định kỹ năng lực tài chính,phương án kinh doanh của khách hàng, không nghiên cứu kỹ hồ sơ nên không phát hiện

ra rủi ro để tìm giải pháp phòng ngừa dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Nhiều cán bộ docẩu thả trong khâu soạn điện, khâu kiểm tra chứng từ nên không phát hiện ra những lỗinghiêm trọng, không theo dõi thời hạn thanh toán để dẫn đến tình trạng chậm thanh toáncho người XK và bị phạt chậm thanh toán…

- Thiếu thông tin

Thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động TTQT Tình trạng thiếu thôngtin, thông tin không chính xác, không đầy đủ về đối tác là nguyên nhân dẫn đến rủi ro đạođức, rủi ro hàng hóa, rủi ro quốc gia…

I.3 Kinh nghiệm và hạn chế rủi ro trong TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ

I.3.1 Kinh nghiệm của NHTMCP Ngoại thương Vietcombank

Ngân hàng Ngoại Thương là một trong những ngân hàng tồn tại ở Việt Nam khálâu, ngày càng gây được lòng tin và uy tín đối với khách hàng, cũng thực hiện nghiệp vụTTQT nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu (XNK) của doanh nghiệp

Để đảm bảo an toàn trong hoạt động xuất nhập khẩu, trong những năm qua ngânhàng Ngoại Thương đã và đang thực hiện một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro như sau:

- Kiểm tra ngay khi nhận được bộ chứng từ nhờ thu xem có phải do người xuất khẩutrực tiếp gửi hay không Nếu không có sự thỏa thuận trước thì ngân hàng Ngoại Thươngkhông nhận chứng từ do người xuất khẩu gửi trực tiếp đến Đồng thời kiểm tra ngay sốlượng chứng từ được liệt kê với chứng từ thực nhận và có đủ bản gốc chứng từ vận tảikhông để thông báo ngay cho người nhập khẩu chọn phương án xử lý là trả ngay hay trasoát ngân hàng chuyển chứng từ

- Khi giao bộ chứng từ nhờ thu cho người nhập khẩu đi nhận hàng, ngân hàngNgoại Thương yêu cầu nhân viên ngân hàng xem xét kỹ chữ ký và mẫu dấu đã đăng kýtheo lệnh thanh toán chuyển tiền của người nhập khẩu xuất trình, đồng thời có nhữngbiện pháp đảm bảo đủ tài sản để thanh toán cho nước ngoài nếu là thanh toán trả ngay

Trang 33

(hoặc thực hiện ngay việc ký quỹ hay đảm bảo thanh toán bằng tiền vay dựa trên giấynhận nợ của khách hàng) Nếu là thanh toán trả sau thì tại thời điểm người nhập khẩuchấp nhận hối phiếu để lấy bộ chứng từ đi nhận hàng thì ngân hàng cũng đã kiểm tra kỹmẫu dấu và chữ ký.

- Khi ngân hàng Ngoại Thương tiếp nhận đơn xin mở L/C của khách hàng, ngânhàng Ngoại Thương đã xem xét rất kỹ các điều kiện và điều khoản của L/C có bất lợi vàrủi ro gì cho ngân hàng và khách hàng hay không?

- Quy trình nghiệp vụ thư tín dụng của ngân hàng Ngoại Thương khuyến cáo tuyệtđối không được thanh toán chứng từ nếu thanh toán L/C đổi lấy chứng từ giao hàng màchứng từ xuất trình thiếu bản gốc vận đơn bản chính hoặc không có biên lai giao nhậnhàng hoá đã được ký giữa hai bên mua bán Ngoại trừ trường hợp đặc biệt là trong nhậpkhẩu xăng dầu, thanh toán chỉ dựa trên cam kết bồi hoàn của người thụ hưởng L/C được

sự chấp nhận của ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam bằng văn bản

- Trong trường hợp người xuất khẩu là khách hàng của ngân hàng Ngoại Thương,khi biết bộ chứng từ có gì sai sót thì sẽ thường yêu cầu ngân hàng Ngoại Thương chuyểnchứng từ đi để thanh toán theo phương thức nhờ thu Việc cân nhắc này dựa trên các điềukiện: người mua và người bán tin cậy và có thiện chí với nhau

- Đối với những bộ chứng từ đòi tiền có số lượng chứng từ nhiều và lắt nhắt, ngânhàng Ngoại Thương yêu cầu kiểm tra kỹ về số tiền trên các hoá đơn với số tiền đòi thanhtoán Kiểm tra bộ chứng từ thấy phát hiện điều gì bất thường phải điện báo ngay chongânhàng nước ngoài biết ngân hàng Ngoại Thương không chấp nhận thanh toán các trườnghợp này cho dù người nhập khẩu chấp nhận và thanh toán bằng tiền của người nhập khẩu.Ngoài ra, Trung tâm Tài trợ thương mại Vietcombank cũng đi vào hoạt động từ15/7/2014 Bộ máy tổ chức của trung tâm gồm: ban giám đốc (một giám đốc, 4 phó giámđốc), 5 phòng chức năng đặt tại hội sở chính: phòng Chính sách và sản phẩm; phòngQuản lý giao dịch L/C, phòng Phát hành và thông báo L/C, phòng Xử lý chứng từ L/C,phòng Nhờ thu và bao thanh toán bộ phận tài trợ thương mại tại TP HCM Trung tâm tài

Trang 34

trợ thương mại thuộc tổ chức bộ máy của Hội sở chính Vietcombank, được thành lập trên

cơ sở hợp nhất hai phòng Tổng hợp thanh toán và Tài trợ thương mại

Trung tâm Tài trợ thương mại có các chức năng chính: là đầu mối tham mưu choBan lãnh đạo trong việc quản lý hoạt động thanh toán quốc tế - tài trợ thương mại; xâydựng chính sách, phát triển sản phẩm thanh toán quốc tế - tài trợ thương mại và cácnghiệp vụ liên quan khác cho toàn hệ thống Vietcombank; xử lý tập trung các giao dịch;phục vụ khách hàng Vietcombank, bao gồm khách hàng doanh nghiệp và các định chế tàichính Việc thành lập trung tâm Tài trợ thương mại là một bước chuyển lớn đểVietcombank tiếp tục khẳng định thế mạnh và sự bứt phá của mình trong những năm tới

I.3.2 Kinh nghiệm của NHTMCP Công thương Vietinbank

Mục tiêu của VietinBank là trở thành một ngân hàng hiện đại hàng đầu Việt Nam,tiến đến đạt trình độ tương đương các ngân hàng hiện đại trong khu vực và trên thế giới,cung cấp đa dạng sản phẩm dịch vụ (SPDV) tiện ích, tiêu chuẩn quốc tế Để thực hiện cókết quả mục tiêu đó, VietinBank luôn coi trọng và tiên phong trong ứng dụng công nghệhiện đại, thương mại điện tử, đáp ứng yêu cầu quản trị và kinh doanh VietinBank đãtriển khai thành công hai giai đoạn hiện đại hóa từ năm 2000 đến 2010 bằng việc triểnkhai hệ thống Corebanking INCAS và hệ thống quản lý ERP

Với những đột phá về công nghệ, tháng 4-2014, VietinBank được tổ chức thẻ DinerClub và Discover (DCI) đánh giá là ngân hàng tuân thủ nghiêm ngặt và đáp ứng đầy đủchương trình bảo mật dữ liệu ngành công nghiệp thẻ thanh toán (Payment Card IndustryData Security Standards), một tiêu chuẩn quốc tế về bảo mật dữ liệu thanh toán thẻ Cũngtheo đánh giá của DCI, VietinBank là ngân hàng đi đầu tại Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc

tế và đầy đủ kinh nghiệm, năng lực trong quản trị rủi ro cũng như bảo mật thông tin Đây

là ưu thế lớn của VietinBank trong việc không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ,đem đến cho khách hàng sự an toàn khi sử dụng dịch vụ

TTQT và TTTM là lĩnh vực hoạt động ngân hàng được Ban lãnh đạo VietinBankhết sức coi trọng Trong bối cảnh cạnh tranh diễn ra quyết liệt giữa các ngân hàng trongnước và nước ngoài đòi hỏi các ngân hàng phải tái cơ cấu liên tục nhằm tiết giảm chi phí

Trang 35

tối đa, cung cấp các sản phẩm một cách chuyên nghiệp với chất lượng cao… Để đáp ứngtốt nhất yêu cầu của khách hàng, VietinBank là ngân hàng Việt Nam đầu tiên và duy nhất

đã thành lập Trung tâm xử lý tập trung các giao dịch TTQT và TTTM theo chuẩn mựcquốc tế với việc thành lập Sở giao dịch từ năm 2008 Sự ra đời và đưa vào hoạt động của

Sở giao dịch thể hiện quyết tâm đổi mới và chiến lược phát triển hoạt động TTQT vàTTTM của VietinBank trong tiến trình hội nhập và phát triển Giải thưởng “Ngân hàngcung cấp dịch vụ TTTM tốt nhất Việt Nam” được trao cho VietinBank dựa trên nhữngthành tựu nổi trội mà ngân hàng đạt được trong lĩnh vực TTTM Không chỉ là ngân hàngViệt Nam duy nhất được trao giải năm nay, Vietinbank cũng là ngân hàng Việt Nam đầutiên được The Asset công nhận là ngân hàng cung cấp dịch vụ TTTM tốt nhất, đứng cùngnhiều ngân hàng uy tín của thế giới tại Châu Á như: Bank of Tokyo Mitsubishi UFJ, JPMorgan Chase, Citi Bank, Standard Chartered, HSBC…

VietinBank cũng là ngân hàng Việt Nam đi đầu trong việc phát triển và ứng dụngtất cả các sản phẩm TTTM của một ngân hàng hiện đại như bao thanh toán (factoring,forfeiting), chia sẻ rủi ro (risk participation), tài trợ chuỗi cung cấp (supply chainfinancing), UPAS LC Đây là một trong những thế mạnh của VietinBank trên thị trườngtài chính ngân hàng Bên cạnh đó, VietinBank có ưu thế lớn về khai thác các nguồn vốnngắn hạn và dài hạn từ các định chế tài chính nước ngoài để hỗ trợ cho hoạt động TTTM,

là ngân hàng tích cực và tiên phong ở Việt Nam nghiên cứu và ứng dụng các cấu trúc tàichính huy động vốn quốc tế cho hoạt động TTTM, thực hiện thành công nhiều chươngtrình, giao dịch lớn với các định chế tài chính hàng đầu thế giới như: Triển khai vay vốnvới lãi suất tốt, thời hạn dài thông qua chương trình tín dụng xuất khẩu (ECA) của cácchính phủ các nước OECD như chương trình hỗ trợ xuất khẩu của Trung Quốc(Sinosure), Thụy Sỹ (SERV), Đức (Hermes) Đây là trường hợp đầu tiên một ngân hàngthương mại Việt Nam được các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu có uy tín của cácnước bảo hiểm tín dụng mà không cần bảo lãnh của Chính phủ Việt Nam Đặc biệt, năm

2013, VietinBank thực hiện thành công giao dịch huy động 120 triệu EUR từ Ngân hàngTái thiết Đức (KFW) và Sumitomo Mitsui Banking Corporation trên cơ sở bảo hiểm tín

Trang 36

dụng của Hermes Đồng thời, VietinBank là ngân hàng Việt Nam đầu tiên thực hiệnthành công các giao dịch thuộc chương trình GSM 102 - chương trình bảo lãnh tín dụngxuất khẩu của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, được cấp hạn mức cao nhất là 90 triệu USD Bêncạnh đó, VietinBank còn là ngân hàng thương mại đầu tiên ở Việt Nam được Ngân hàngPhát triển châu Á (ADB) cấp hạn mức theo chương trình tài trợ thương mại với giá trịhiện nay là 120 triệu USD Vào tháng 6/2013, trên cơ sở đánh giá năng lực hoạt động vàkhả năng quản trị rủi ro của VietinBank trong lĩnh vực TTTM, Tổ chức Tài chính quốc tế(IFC - thành viên của World Bank đã cấp hạn mức bảo lãnh 120 triệu USD, thời hạn lêntới 3 năm cho VietinBank để tài trợ các giao dịch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp

tư nhân Việt Nam VietinBank là ngân hàng thương mại có cổ phần nhà nước chi phốiđầu tiên và duy nhất ở Việt Nam được IFC cấp hạn mức này

Xác định tầm nhìn đến năm 2018 trở thành một tập đoàn tài chính ngân hàng hiệnđại, đa năng theo chuẩn quốc tế, VietinBank đang nỗ lựa đẩy mạnh tăng trưởng, chiếmlĩnh thị trường, giữ vai trò là NHTM trụ cột hàng đầu của ngành ngân hàng, tái cấu trúctoàn diện theo hướng hiện đại, nâng cao tiềm lực tài chính, năng lực cạnh tranh, đổi mớinâng cấp mô hình tổ chức mô hình kinh doanh, quản trị điều hành phù hợp với thông lệ

và chuẩn mực quốc tế đảm bảo hoạt động của VietinBank tăng trưởng an toàn, hiệuquả, bền vững, đóng góp tích cực vào sự ổn định, phát triển của hệ thống ngân hàng vàkinh tế đất nước

I.3.3 Kinh nghiệm của Ngân hàng HSBC

Ngân hàng HSBC hiện là ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam cung cấpmột cách đầy đủ nhất về các dịch vụ thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại cũng như tàitrợ quy trình sản xuất kinh doanh, tài trợ nhập khẩu, các nghiệp vụ mua bán nợ HSBCđang cung cấp cho các khách hàng xuất nhập khẩu các dịch vụ hỗ trợ hoàn toàn miễn phínhư: thông báo L/C xuất khẩu bằng thư điện tử (Electronoc documentary CretditAdvising - EDCA) Theo đó, L/C của khách hàng chuyển qua ngân hàng HSBC theo hệthống SWIFT sẽ được thông báo ngay lập tức cho khách hàng bằng thư điện tử (email).HSBC cũng cung cấp dịch vụ theo dõi chứng từ xuất khẩu (document Tracker) giúp

Trang 37

khách hàng theo dõi và cập nhật thường xuyên 24/24 giờ tình trạng giao nhận của chứng

từ xuất khẩu được gửi đi trên toàn cầu qua mạng Internet Ngoài ra, để tạo điều kiện chocác doanh nghiệp có những hiểu biết nhất định trước khi tiến hành giao dịch và hạn chếđến mức tối đa rủi ro trong quá trình thực hiện giao dịch, HSBC thường xuyên tổ chứccác buổi đào tạo và tư vấn cho cán bộ quản lý và nhân viên của công ty về nghiệp vụthanh toán quốc tế tuỳ theo nhu cầu; tư vấn cho các công ty về thị trường xuất khẩu, vềđối tác nước ngoài nhờ vào mạng lưới chi nhánh của Tập đoàn HSBC trên toàn thế giới.Với dịch vụ thông báo thư tín dụng bằng email (EDCA), HSBC là Ngân hàng duy nhấttại Việt Nam cung cấp dịch vụ này Sự kết hợp giữa kỹ thuật ngân hàng điện tử tiên tiếnvới một giải pháp thực tiễn cho những nhu cầu trong xuất khẩu đã khiến cho dịch vụEDCA trở thành một dịch vụ mang tính đặc thù, đảm bảo cho nhà xuất khẩu khả năngđáp ứng thị trường nhanh nhất khi có được thư tín dụng trong tay Ngoài tính hiệu quả,tốc độ và sự thuận tiện, EDCA còn có cả tính linh động Sau khi nhận được thư tín dụngqua email, khách hàng có thể tiếp tục chuyển nội dung của nó đến các phân xưởng ở xa,sao chép thành nhiều văn bản và cắt dán những nội dung cần thiết vào những chứng từcần chuẩn bị khác

HSBC cũng nhận thấy rằng điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam là khi thanhtoán quốc tế không xem kỹ các chứng từ L/C, không hiểu biết đầy đủ các hợp đồng vàđiều khoản đi kèm; không nắm bắt được một cách đầy đủ về các thủ tục giao nhận hàng,nhận biết đơn hàng cũng như các biện pháp quản lý rủi ro về mặt chứng từ, lãi suất, tỷgiá Cứ khoảng 10 doanh nghiệp giao dịch xuất nhập khẩu qua ngân hàng HSBC thì 7phải chỉnh sửa lại L/C Trong thanh toán xuất nhập khẩu hoặc mở L/C tại HSBC, số đôngcác doanh nghiệp vẫn e ngại với thanh toán điện tử Họ ngại bởi phải thay đổi thói quen,nghi ngờ tính an toàn của thanh toán điện tử vì thiếu việc ký và đóng dấu Nếu khôngbiết rõ về tình hình kinh tế chính trị của những nước đối tác do chính sách của họ thay đổithường xuyên, doanh nghiệp xuất nhập khẩu vào thị trường đó dễ bị rủi ro Cũng cònnhiều quốc gia hiện có chính sách, luật lệ không rõ ràng Ngoài ra, còn không ít nghiệp

vụ mới đang gây tranh cãi giữa các quốc gia về thanh toán quốc tế Về việc nghiên cứu

Trang 38

thông tin liên quan đến các doanh nghiệp xin mở L/C, thì theo HSBC, những doanhnghiệp vận tải giá rẻ thường không đảm bảo uy tín trong việc giao hàng đúng và đủ nhưthoả thuận Họ phần nhiều là những doanh nghiệp không có bảo hiểm, tài chính khônglành mạnh.

I.3.4 Bài học kinh nghiệm cho NHTMCP Phương Đông

Qua kinh nghiệm về các biện pháp quản lý rủi ro tại Vietcombank, Vietinbank vàHSBC, ta có thể rút ra một số bài học về quản lý rủi ro trong phương thức TDCT đối vớiNHTMCP Phương Đông như sau:

Thứ nhất, Thành lập các Trung tâm Tài trợ thương mại nhằm huy động nguồn

ngoại tệ lớn từ các Định chế tài chính nước ngoài Nguồn vốn này góp phần giữ vữngthanh khoản ngoại tệ, tạo lợi thế cạnh tranh cho OCB so với các NHTM khác và tăng uytín cho OCB trên thị trường quốc tế Các giao dịch TTQT & TTTM là quá trình làm việcgiữa các đối tác cách nhau về không gian, thời gian, tập quán địa phương Đặc điểm nàytạo ra rủi ro khi mức độ hiểu biết lẫn nhau giữa các bên tham gia giao dịch là khôngnhiều và các hoạt động lừa đảo TMQT ngày càng tinh vi, phức tạp, nhất là trong bối cảnhsuy thoái toàn cầu như hiện nay.Việc thành lập các Trung tâm TTTM với mức độ chuyênsâu của các cán bộ và đặc điểm xử lý tập trung, OCB sẽ có đủ điều kiện, năng lực để tưvấn cho khách hàng phòng ngừa và tham gia hỗ trợ giải quyết khi các rủi ro xảy ra Trungtâm TTTM sẽ tiến hành phân tích các ngành hàng đặc thù, các khách hàng thuộc thànhphần kinh tế khác nhau (đặc biệt là khối FDI, là khối DN chiếm hơn 40% kim ngạchXNK quốc gia) để xây dựng gói sản phẩm, dịch vụ phù hợp cho từng đối tượng, tối đahóa lợi ích của từng khách hàng, qua đó tạo bước đột phá cho hoạt động TTQT&TTTMcủa OCB Nói cách khác,Trung tâm TTTM sẽ định vị được khách hàng, xác định đượckhách hàng là ai, ở đâu, có nhu cầu gì để trên cơ sở đó tìm cách tiếp cận và phục vụ tốtnhất khách hàng

Thứ hai, Áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại Để hạn chế đến mức tối đa rủi ro có

thể xảy ra trong quá trình thực hiện các lệnh thanh toán, Vietinbank, HSBC vàVietcombank đều đã tăng cường đầu tư các trang thiết bị, máy móc tân tiến nhất, kết nối

Trang 39

với hệ thống thanh toán toàn cầu nhằm tăng hiệu quả giao dịch và hạn chế đến mức tối đanhững sai sót chứng từ do đường truyền kém, hóa đơn đến chậm…

Thứ ba, Mở rộng mối quan hệ với các ngân hàng đại lý trên phạm vi toàn thế giới

sẽ làm cho thương hiệu OCB cũng như chi nhánh được tăng lên trên trường quốc tế, đápứng được nhu cầu thanh toán của khách hàng mọi lúc, mọi nơi, nâng tầm chúng ta lênngang với nhiều ngân hàng thương mại trong khu vực Với mạng lưới quan hệ đại lýđang ngày càng được phát triển, OCB sẽ nhanh chóng hơn trong việc thông báo L/C vìkhông phải thông qua nhiều ngân hàng thông báo khác Với sự hỗ trợ của mạng lưới ngânhàng đại lý khắp nơi sẽ giúp OCB nói chung cũng như chi nhánh nói riêng nắm rõ hơn

về thông tin đối tác là các ngân hàng, doanh nghiệp, tình hình kinh tế, chính trị, môitrường pháp lý của quốc gia đối tác để có thể tránh được những rủi roc ho mình Tăngcường thắt chặt mối quan hệ đại lý với các ngân hàng lớn trên thế giới để tranh thủ được

sự giúp đỡ về kinh nghiệm chuyên môn, công nghệ và vốn

Thứ 4, Nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực, xây dựng quy trình làm việc

chuyên nghiệp và ứng dụng công nghệ hiện đại Các ngân hàng lớn như VCB hay HSBCthường sử dụng các chương trình quản lý với kỹ thuật và công nghệ hiện đại để giảm bớtnhững rủi ro liên quan đến công nghệ Các chi nhánh của ngân hàng ở bất kỳ đâu đều cóthể truy cập thông tin của khách hàng, ngân hàng phục vụ cho nghiệp vụ của mình nêngiảm được những rủi ro do thiếu thông tin Ngoài ra, các ngân hàng này đều có cácchương trình đào tạo nhân sự bài bản bằng những khóa huấn luyện dài ngày ở trung tâmđào tạo của hội sở, trao đổi thông tin giữa các chi nhánh, học hỏi kinh nghiệm tổ chứcquản lý của nhau Chẳng hạn, HSBC là ngân hàng hàng đầu có đội ngũ huấn luyệnchuyên nghiệp, các nhân viên cap cấp, có chuyên viên tư vấn nghiệp vụ có thể giải đápcác tình huống phức tạp cho các chi nhánh Do vậy, nhân viên của họ làm việc chuyênnghiệp, tác phong nhanh nhẹn, thao tác thuần thục Họ luôn đặt chất lượng công việc lênhàng đầu

Thứ 5, Nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động, trước khi bắt đầu giaodịch với khách hàng nào đó, thì bộ phận tín dụng của ngân hàng phải chịu trách nhiệm

Trang 40

đánh giá, phân loại các công ty Ngân hàng sẽ xác định được những công ty có tình hìnhtài chính tốt, hoặc những công ty con có tình hình tài chính khá tốt, có bảo lãnh của công

ty mẹ tốt, được cấp hạn mức tín dụng, hạn mức chiết khấu, không phải ký quỹ khi mở L/

C Những công ty có tình hình tài chính trung bình, thực hiện ký quỹ một phần hoặc toàn

bộ khi mở L/C, sử dụng cách chiết khấu có bảo lưu Những công ty có tình hình tài chínhxấu, phải có chỉ thị của hội sở thì mới được tiến hành giao dịch chứng từ Có được bướcchuẩn bị ban đầu tốt như thế thì nagan hàng sẽ giảm thiể được rất nhiều rủi ro liên quanđến khách hàng Bên cạnh đó, phòng quan hệ quốc tế của các ngân hàng lớn thường cónhững cẩm nang về nghiệp vụ để bảo đảm các giao dịch hàng ngày luôn chính xác, hiệuquả Những cẩm nang này luôn được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đặc trưng mỗinước, mỗi chi nhánh Ngoài ra, phòng quan hệ quốc tế luôn thực hiện cảnh báo các chinhánh về các rủi ro quốc gia và rủi ro ngân hàng khi giao dịch với chính phủ, doanhnghiệp và tổ chức tài chính tại một quốc gia Tùy theo mức độ rủi ro mà các chi nhánhnên tránh hoặc chỉ giới hạn những khách hàng có tình hình tài chính tốt hoặc tuyệt đốitránh giao dịch với một nước thường có chiến tranh, xung đột chính trị, khủng hoảng kinh

tế hoặc các tổ chức tài chính hay bị phá sản, phong tỏa tài sản, đình trệ kinh doanh…

Ngày đăng: 05/04/2015, 08:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ Tên sơ đồ - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
n sơ đồ (Trang 1)
Bảng Tên bảng - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
ng Tên bảng (Trang 2)
Sơ đồ 1.1. Quy trình TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
Sơ đồ 1.1. Quy trình TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ (Trang 15)
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức OCB – Hà Nội - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức OCB – Hà Nội (Trang 43)
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn qua các năm 2011- 06/2014 - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn qua các năm 2011- 06/2014 (Trang 45)
Bảng 2.2. Tình hình huy động vốn qua các năm 2011- 06/2014 - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
Bảng 2.2. Tình hình huy động vốn qua các năm 2011- 06/2014 (Trang 46)
Bảng 2.3. Kết quả hoạt động dịch vụ của OCB - Hà Nội - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
Bảng 2.3. Kết quả hoạt động dịch vụ của OCB - Hà Nội (Trang 47)
Bảng 2.4. Doanh số TTQT hàng xuất tại OCB Hà Nội - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
Bảng 2.4. Doanh số TTQT hàng xuất tại OCB Hà Nội (Trang 50)
Bảng 2.5: Giá trị L/C được mở qua giai đoạn 2011 – 06/2014 - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
Bảng 2.5 Giá trị L/C được mở qua giai đoạn 2011 – 06/2014 (Trang 51)
Sơ đồ 2.3.Tỷ trọng L/C nhập trong tổng doanh số thanh toán hàng nhập - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
Sơ đồ 2.3. Tỷ trọng L/C nhập trong tổng doanh số thanh toán hàng nhập (Trang 53)
Hình thành các bộ phận tư vấn cho khách hàng, với đội ngũ cán bộ có trình - Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Phương Đông chi nhánh Hà Nội
Hình th ành các bộ phận tư vấn cho khách hàng, với đội ngũ cán bộ có trình (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w