1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tổng quan thị trường đường trên thế giới

28 356 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 404,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cùng thời điểm, Trung Quốc và ấn Độ,những nước xuất khẩu đường lớn và có thời gian dài dựa vào cung cấp chonhững thị trường lớn trên thế giới không còn giữ một vị trí số 1 trên thị

Trang 1

TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG THẾ GIỚI

Trần Công Thắng - 2004

I Sản xuất đường của các nước trên thế giới.

Trong những năm gần đây, thị trường đường thế giới có nhiều biếnđộng.Braxil là nước có sự phát triển mạnh trở thành người chi phối mạnh nhấttrên thị trường đường thế giới Trong cùng thời điểm, Trung Quốc và ấn Độ,những nước xuất khẩu đường lớn và có thời gian dài dựa vào cung cấp chonhững thị trường lớn trên thế giới không còn giữ một vị trí số 1 trên thịtrường thế giới nữa

Theo báo cáo của F.O.Licht, niên vụ 2002/2003, sản lượng đường của Brazilđạt 23,6 triệu tấn chiếm 17% sản lượng đường trên thế giới Tiếp theo Brazil

là Ấn Độ với 21,6 triệu tấn chiếm 15% sản lượng đường trên thế giới

Úc cũng là nước sảnxuất đường lớn trênthế giới Sản lượngđường niên vụ2002/2003 của Úcđạt 5,3 triệu tấn,chiếm 4% tổng sảnlượng đường trênthế giới

Khu vực EU cũng làvùng sản xuất đườnglớn Sản lượngđường của các nước

EU chiếm 13% tổngsản lượng đườngtrên thế giới

Thái Lan, nước cónhiều khả năng gây

áp lực cạnh tranh lớn với Việt Nam khi thực hiện cắt giảm thuế quan AFTA(hiện đường vẫn là mặt hàng trong đanh mục nhạy cảm đến năm 2010) hay ranhập WTO cũng có sản lượng đường rất lớn so với quy mô dân số Niên vụ2002/2003, sản lượng đường của Thái Lan đạt 7.6 triệu tấn, chiếm 5% sảnlượng đường thế giới, trong khi dân số Thái Lan thấp hơn Việt Nam.Đây lànước có tỷ trọng xuất khẩu đường lớn trên thế giới

Sản lượng đường một số nước sản xuất chính 2002/03

Trang 2

(cho tiếp phần nhờ Lan Anh đánh vào)

Mặc dù Brazil và Ấn Độ là hai nước sản xuất lớn trên thế giới nhưng Úc vàThái Lan lại là hai nước sản xuất đường định hướng xuất khẩu rất mạnh Niên

vụ 2002/2003, tỷ trọng xuất khẩu đường của Thái Lan lên tới xấp xỉ 75%chiếm 5,4 triệu tấn trong tổng sản lượng 7,3 triệu tấn của cả nước Úc là nước

có tỷ trọng xuất khẩu cao nhất, chiếm 80%.Còn lại một số nước khác nhưTrung Quốc, Ấn Độ, Indonesia hay Paskistan thì chủ yếu phục vụ nội tiêu

II Thị trường đường thế giới

Tỷ trọng phân bổ kinh doanh nội địa và xuất khẩu

Trang 3

Kết quả của sự phát triển này (và những phát triển khác) đã ảnh hưởngđến nền kinh tế đường toàn cầu, với giá đường có cơ chế chuyển giao chủyếu Một số kết quả hiện tại là đạt giá đường thô 10 cents/lb hoặc hơn Rấtđáng ngạc nhiên, là giá trung bình hàng tháng chỉ vượt qua mức này ba lầntrong suốt 5 năm qua

Mục đích của bài viết này là đánh giá mối quan hệ mật thiết giữa sựphát triển của thị trường đường thế giới với những nhà sản xuất đường chínhtại khu vực châu á

1 Xu hướng của giá đường thế giới

Biểu đồ 1 vẽ sự chuyển động của giá đường thô thế giới từ giữa những năm

1990 và cho thấy một xu hướng quen thuộc với hầu hết các độc giả Để nhấnmạnh sự ảnh hưởng của xu hướng này, biểu đồ dưới đây bao gồm trung bìnhhai giai đoạn, được biểu thị bằng những đường gẫy nằm ngang Những đườngnày biểu diễn giá đường thô thế giới trung bình 7.5 cents/lb trong ba vụ trồngđầu tiên của thập kỷ này, chỉ giảm 2 cents, hoặc 20% giá trung bình trong 5

vụ mùa trước

Trang 4

Biểu đồ 1: Sự phát triển của thị trường đường thế giới từ giữa những năm 1990

5 6 7 8 9 10 11 12

Trang 5

Giá đường thô và đường trắng trên thị trường thế giới

Triển vọng thị trường đường thế giới

-Hỗ trợ nội địa nhiều hơn

-Sản lượng đường cao hơn ở Brazil và Thái Lan, Trung Quốc và ấn Độ-Vốn nhiều nhất

-Giảm tiêu thụ ở các nước phát triển

-Tăng tiêu thụ ở các nước đang phát triển đặc biệt là ở Châu á

Trang 6

Vai trò của Brazil trong thị trường đường thế giới, trong suốt giai đoạnnày rất rõ nét: sản xuất đường đã tăng 5 triệu tấn, trong khi xuất khẩu tănghơn 8 triệu tấn (Biểu đồ 2) Hơn thế nữa, đường của Brazil ngày nay đã tìmđược đường tới mọi ngõ ngách trên thế giới, và giành được thị phần ở một sốthị trường nhập khẩu chính ở Đông và Đông Nam á, đặc biệt là ở Malaysia vàĐài Loan-và khu vực biển Đỏ/vịnh Trung Đông (Biểu đồ 3 và 4).

Biểu đồ 2: Sản xuất và xuất khẩu đường của Brazil

Trang 7

Biểu đồ 4:Thị phần nhập khẩu của U c, Brazil và Thái Lan ở khu vực biển Đỏ/vịnh Trung Đông

Hưởng ứng cung

Một trong những nguyên nhân gây lên sự suy sụp giá đường thế giới là quátrình tăng sản lượng ở hầu hết các ngành công nghiệp đường dẫn đầu ở khuvực Châu á, Úc Hầu hết các nước sản xuất chính khác đã tăng sản lượng mộtcách rõ rệt

Kết quả được tổng kết ở bảng 1, trình bày sản xuất đường và xuất khẩuròng (xuất khẩu trừ nhập khẩu) theo nhóm sản xuất này trong nửa cuối củathập kỷ 90 và trong ba vụ đầu của thập kỷ này

Bảng 1: Sản xuất và xuất khẩu ròng của các nước sản xuất đường hàng đầu ở khu vực châu á, 2000/01-2002/03

Sản xuất trung bình Giá trị xuất khẩu ròng trung bình

Trang 8

Số liệu trong Bảng 1 cho thấy:

• Sản lượng của các nước tăng trên 6 triệu tấn và, mặc dù lượng tăng này

đã được tiêu dùng nội địa, nhưng lượng xuất khẩu ròng vẫn tăng 1,5triệu tấn, tức khoảng 25%

• Ấn Độ, nước sản xuất lớn nhất trong khu vực, đã thay đổi tình hìnhthương mại của họ từ nước nhập khẩu nay thành nước xuất khẩu

• Úc và Thái Lan, hai nước chiếm phần lớn lượng xuất khẩu trong khuvực Như thấy ở Biểu đồ 4, hiện nay Úc sản xuất và xuất khẩu đường íthơn trong nửa cuối thập kỷ 90, trong khi Thái Lan thì ngược lại Thực

tế, Thái Lan hiện đóng vai trò nổi bật hơn trong thị trường đường thếgiới hơn Úc

Thay đổi cung của nhóm những nước sản xuất này thật đáng ngạc nhiên khimột phía mong đợi giá đường thế giới thấp dẫn tới sự thu hẹp diện tích trồng

xuất và xuất khẩu của nhóm nước này là một phần do giá đường thế giới thấp.Hoặc, rất rõ ràng là nông dân ở hầu hết các nước này không hưởng ứng vớigiá đường thế giới thấp bởi phải chuyển sang các cây trồng xen Trong thực

tế, các dự án sản xuất đường cho niên vụ 2003-04 sắp tới có thể đạt mức sảnxuất cao ở Trung Quốc và Thái Lan, và mức sản lượng không thay đổi ở tất cảcác nước khác

Để hiểu tại sao lại như vậy, cần phải nhìn vào sự ảnh hưởng của giáđường thế giới thấp tới lợi nhuận của các nhà sản xuất

Biểu đồ 5: Sự phát triển sản xuất và xuất khẩu đường của úc và Thái Lan

2 ảnh hưởng của việc giá đường thế giới giảm đối với giá của người sản xuất

Trang 9

Sự ảnh hưởng của giá đường thế giới giảm đối với giá bán trung bình củangười sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

-Phân bổ việc kinh doanh của ngành giữa thị trường nội địa và xuất khẩu-Mối quan hệ giữa giá thị trường nội địa và giá đường thế giới

-Bản chất của hệ thống thanh toán mía đường, quyết định sự liên kết giữa giámía và giá bán trung bình

Phân bổ kinh doanh mía đường

Sự phân bổ của mỗi hoạt động kinh doanh được nêu bật ở biểu đồ 5 Điều nàycho thấy rằng ngoài úc và Thái Lan (cả hai nước này đều định hướng xuấtkhẩu rất mạnh), hầu hết các nước khác đều bán đường cho thị trường nội địa

Biểu đồ 6: Phân bổ kinh doanh đường ở thị trường nội địa và xuất khẩu

Giá đường

Giá nội địa

Biểu đồ 6 vẽ giá đường trung bình nội địa ở mỗi nước trong mỗi hai giaiđoạn Các loại giá là cho đường trắng, trừ úc và Philipine, là giá cho đườngthô Đối với úc, các nhà máy ở Queensland (bang sản xuất đường chủ đạo củaúc) phải thực hiện theo Chính phủ để bán tất cả đường thô ở Philipine, chúng

ta chỉ biểu diễn giá đường thô vì hệ thống chia sẻ lợi nhuận được dựa trênviệc kinh doanh đường thô

Trang 10

Biểu đồ 7: Giá đường nội địa

Mặc dù các nước có chính sách giá nội địa khác nhau, đạt kết quả vớicác mức giá khác nhau, giá ở hầu hết các nước được liên kết, hoặc trực tiếphoặc lỏng lẻo với giá trên thị trường thế giới Kết quả là, giá ở hầu hết cácnước giảm giữa hai giai đoạn, phản ánh mức giảm của giá đường thế giới Chỉ

có một nước duy nhất có giá thị trường nội địa cố định là Thái Lan Tuynhiên, mặc dù giá hầu như không thay đổi tính theo tiền địa phương từ nhữngnăm đầu 1980, nhưng đã giảm mạnh tính theo ngoại tệ (USD) khi đồng bahtmất giá vào năm 1997

Giá bán đường trung bình

Biểu đồ 7 cho thấy tỷ lệ thay đổi của giá bán trung bình trong mỗi ngành kinhdoanh giữa hai giai đoạn tham khảo Để cho phép sự ảnh hưởng của thay đổitiền tệ và lạm phát, phân tích này được thực hiện tính theo đồng USD và đồngtiền địa phương của mỗi nước

Biểu đồ này cho thấy tất cả các ngành kinh doanh đường lớn đã vấpphải sự giảm giá mạnh khi biểu diễn lạm phát đồng USD Tuy nhiên, khi biểudiễn tiền tệ địa phương, giá ở hầu hết các nước giảm hơn, bởi phần lớn tỷ giáhối đoái của các nước này đã giảm so với đồng USD với tỷ lệ nhanh hơn lạmphát nội địa Trường hợp ngoại lệ đó là Trung Quốc, nước có đồng tiền ổnđịnh so với đồng USD giai đoạn này, và Ấn Độ, nước có tỷ giá hối đoái phảnánh xu hướng lạm phát nội địa

Trang 11

Biểu đồ 8: Tỷ lệ thay đổi của giá bán đường trung bình giai

và tiếp tục tiến hành như thế cho đến khi họ kiểm soát được chi phí tiền mặtcho sản xuất của họ

Trong số những nước được phân tích đến trong bài viết này, có nhiềunước thực hiện kiểu hiệp định chia sẻ lợi nhuận, ở đó người trồng mía nhậnđược giá mía có sự liên kết với giá bán cuối cùng của đường Úc, Inđônêsia,Philippine và Thái Lan đang thực hiện những hiệp định như thế này, mặc dùngười sản xuất ở Thái Lan nhận được thanh toán bổ xung trong những nămgần đây theo hình thức vốn vay của chính phủ, khi sự chia sẻ lợi nhuận của

họ không đủ để trả các chi phí Mặc dù việc chia sẻ lợi nhuận hiện nay đangphát triển ở nhiều nơi của lĩnh vực mía đường Trung Quốc, giá mía đượcquyết định bởi chính phủ cho nhiều năm đã được điều chỉnh từ mùa này sangmùa khác phản ánh sự thay đổi giá đường nội địa

Tuy nhiên, giá mía được quyết định một cách độc lập với giá đường ở

ấn Độ và Pakistan, và do đó quá trình đưa ra quyết định của người nông dânngắn hơn, nếu có, liên quan tới giá bán đường cuối cùng Thay vào đó, quyếtđịnh giá đường là một vấn đề chính trị với giá được thiết lập bởi chính quyềnbang hoặc liên bang Dựa vào số lượng lớn người dân liên quan đến việctrồng mía ở cả hai nước, không ngạc nhiên khi các nhà chính trị hăng háitham gia vào việc thiết lập giá đường để làm tăng thêm uy tín của họ (Biểu đồ8) Giá cả ở những nước này do đó không làm tăng giá đường thế giới

Trang 12

Biểu đồ 9: Thay đổi giá mía thực tế ở ấn Độ và Pakistan

3 Kết luận

Hưởng ứng của những nhà sản xuất đường ở khu vực châu á đối với sự giảmgiá thế giới đã là một việc khó giải quyết Thái độ không tán thành này có thểphải tìm nguyên nhân từ rất nhiều yếu tố

-Một liên kết mạnh mẽ giữa giá đường thế giới và giá mía, cộng với sự khôngủng hộ hoặc ủng hộ ít của giá nội địa, đã dẫn tới sự giảm sản xuất đường ở úc

và Inđônêsia

-ở Trung Quốc và Philipine, mặc dù giá mía phản ánh các xu hướng của giáđường, lợi nhuận của ngành kinh doanh này thu được từ thị trường địaphương, ở đó giá làm giảm tiền lãi đáng kể từ giá trị thị trường thế giới Mặc

dù lợi nhuận của ngành kinh doanh này đã giảm ở cả hai nước, họ rõ ràng là

có khả năng khuyến khích việc tăng sản xuất mía đường

-ở Thái Lan, tình trạng này càng phức tạp hơn Mặc dù ngành kinh doanhđường Thái Lan đã bán với giá đường thế giới, và giá mía được liên kết vớigiá bán đường, phần bổ xung của giá mía được chính phủ cung cấp trongnhững vụ mùa gần đây đã ngăn cản họ chuyển đất không trồng mía sang cáccây trồng xen khác

-ở ấn Độ và Pakistan, giá mía không có mối quan hệ nào với giá đường thếgiới Trong thực tế giá mía được thiết lập bởi chính phủ tăng/ổn định đã

Trang 13

khuyến khích sản xuất nhiều hơn vào thời điểm giá đường thế giới giảmmạnh.

Hiển nhiên là khi xem xét lại ảnh hưởng của sự phát triển thị trườngthế giới đối với các nhà sản xuất đường ở châu á, vì một hay nhiều lý do, giáđường thế giới giảm đã không thúc đẩy sản xuất đường ở khu vực đối với sảnlượng qui mô của họ Ngược lại, những cách khác nhau để giá đường thế giớiliên kết trở lại với người dân trồng mía đã thực sự đẩy mạnh sản xuất đường

ở khu vực cũng như thặng dư xuất khẩu ròng của nó

II QUI ĐỊNH CỦA WTO ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI ĐƯỜNG TOÀN CẦU-TÓM TẮT CHÍNH VỀ MỘT SỐ PHÁT TRIỂN GẦN ĐÂY.

1 Mở đầu

Tính phức tạp và mất cân đối cố hữu trong kinh doanh nông sản trên toàn cầuđược phản ánh rõ nét trong cách thức điều chỉnh ngành mía đường quốc tếhiện nay Mức độ tự do hoá trong kinh doanh nông nghiệp bao giờ cũng chậmtrễ hơn rất nhiều so với kinh doanh sản phẩm công nghiệp hiện đang mỗi ngàymột dễ dàng thuận tiện, đó là do ngành này đã trải qua nhiều đợt liên tục tiếnhành tự do hoá toàn cầu trong hơn 5 thập kỷ qua Nông nghiệp từ lâu đã đượccoi như một ngành kinh doanh đặc biệt trên thị trường thế giới, trong đó cácquyền lợi quan trọng, nhất là ở những nước phát triển, thường được ưu tiênhơn những nguyên tắc thiêng liêng khác về tự do thương mại công bằng.Những thành viên hàng đầu của WTO, như EU và Hoa Kỳ, cũng như các quốcgia phát triển khác là những nước cổ vũ mạnh mẽ nhất cho việc tự do hoá hơnnữa thương mại quốc tế các sản phẩm công nghiệp, áp dụng các biện pháp hạnchế chặt chẽ hơn nữa khi buộc phải mở cửa thị trường nông sản của chínhmình và đưa hoạt động kinh doanh nông sản về một sân chơi mang tính toàncầu

Kinh doanh mía đường quốc tế, một trong những mặt hàng nông sản quantrọng nhất, thường bị hạn chế rất nhiều với các nước thành viên phát triển củaWTO, dẫn đường qua các rào cản đến với thị trường và những biến dạng kháctác động trực tiếp lên cạnh tranh quốc tế Có 3 nước thành viên WTO dẫn đầutrong lĩnh vực này Nhưng trong khi người ta quy trách nhiệm đối với phầnlớn những trục trặc trên thế giới là do Hoa Kỳ và Nhật Bản, thì chính Liênminh Châu âu lại thường được coi là nổi trội như một thị trường kinh doanhđường bị bóp méo nhất, bởi vì bản chất của chính sách đường và quy mô thịtrường Chủ trương của EU là kết hợp hạn chế nhập khẩu với bảo trợ giá chocác nhà sản xuất trong nước, kết quả là thừa sản lượng đường, ngăn chặn xuấtkhẩu đường vào EU từ các nước cung cấp có giá cạnh tranh hơn, dịch chuyểnxuất khẩu vào các thị trường thứ ba và ép giá toàn cầu

Trang 14

Liên minh Châu âu đã tự biến mình từ một nhà nhập khẩu đường thành nhàxuất khẩu đường trắng lớn nhất thế giới, mặc dù chi phí sản xuất cao gấp hơn

2 lần chi phí của các nhà sản xuất đường hàng đầu thế giới khác Người tacho rằng điều này có thể xảy ra chủ yếu vì chính sách đối với đường và mứctrợ giá rất cao cho ngành này của EU Trong một vụ kiện gần đây trình lên Cơquan Giải quyết Tranh chấp của WTO (DSB), úc, Brazil và Thái Lan đã lêntiếng kiện chính sách đối với đường của EU, sẽ được trình bày rõ hơn dướiđây, cho rằng EU đã vi phạm luật WTO khi duy trì chính sách này Phánquyết cuối cùng mà DSB có thể đưa ra về nguyên nhân sâu xa của vụ kiện đó

là do tính không đồng nhất trong kinh doanh mía đường quốc tế và hy vọngđưa ra một hướng giải quyết tốt hơn về những phương thức có thể áp dụng đểkhắc phục

Trên cơ sở đó, bài viết ngắn này đưa ra tổng quan sơ bộ về những luận cứpháp lý chính liên quan đến kinh doanh đường trên thế giới, trước khi chuyểnsang phân tích chi tiết hơn về vụ kiện dính dáng đến chính sách đường của

EU Sau đó tác giả sẽ bàn đến các biện pháp khả thi để đạt được sự tự do hoáhơn nữa trong kinh doanh mía đường quốc tế, đồng thời nêu rõ những phương

án có thể sử dụng để, trên cơ sở các biên bản giải quyết tranh chấp, đảm bảotôn trọng những quy định hiện hành

2 Những quy định của WTO áp dụng cho kinh doanh đường.

2.1 Hiệp định về Nông nghiệp

Hiệp định của WTO về Nông nghiệp (AoA) đề ra những nguyên tắc và quyđịnh cơ bản cho kinh doanh đường trên thế giới và các nông sản khác Hiệpđịnh bao trùm 3 lĩnh vực chính, còn gọi là 3 cái cột, đó là Tiếp cận Thịtrường, Hỗ trợ Quốc nội, và Trợ giá Xuất khẩu

Về tiếp cận thị trường, Hiệp định quy định các thành viên WTO khôngđược tự định giá cao hơn mức giá đã thoả thuận trong Điều khoản nhânnhượng Ngoài ra, các thành viên còn phải tạo ra sự tiếp cận tối thiểu đến thịtrường của mình, thường là thông qua việc lập hạn mức giá ràng buộc Đốivới tiếp cận thị trường đường, sự bóp méo mà chủ yếu thường được phát hiện

ở các thị trường EU, Hoa Kỳ, và Nhật Bản, trước hết là do các mức giá nhậpkhẩu tổng thể cao, tăng giá (giá đường tinh chế –thường có giá trị gia tăng –cao hơn đường thô), hạn mức giá (TRQs) nhỏ, có cấm giá hạn mức và bố trítiếp cận ưu đãi

Về Hỗ trợ quốc nội, Điều khoản Nhân nhượng quy định mức trợ giá tối đacho sản xuất trong nước mà mỗi nước thành viên được phép cấp EU, Hoa Kỳ

và Nhật Bản đều trợ giá cho các nhà sản xuất đường trong nước, hoặc canthiệp bằng giá cả hoặc thông qua cơ chế lãi suất vay

Cuối cùng, trợ giá xuất khẩu cũng bị hạn chế bởi Điều khoản nhân nhượngcủa các thành viên, Hoa Kỳ và Nhật Bản không trợ giá xuất khẩu cho các nhàsản xuất đường, trong khi đó EU trợ giá cho các nhà xuất khẩu của họ bằng

Ngày đăng: 04/04/2015, 18:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng   1:   Sản   xuất   và   xuất   khẩu   ròng   của   các   nước   sản   xuất   đường   hàng đầu ở khu vực châu á, 2000/01-2002/03 - tổng quan thị trường đường trên thế giới
ng 1: Sản xuất và xuất khẩu ròng của các nước sản xuất đường hàng đầu ở khu vực châu á, 2000/01-2002/03 (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w