1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

19 10,1K 66

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 101 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự với tư cách chủ thể, cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự nghĩa là phải được pháp luật thừa nhận có quyền dân sự và nghĩa vụ dân s

Trang 1

CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

I Lời nói đầu

Con người là chủ thể đầu tiên và cơ bản trong tất cả các mối quan hệ xã hội Nhà nước ra đời với bản chất gia cấp đồng thời cũng mang bản chất xã hội Bản chất xã hội của nhà nước thể hiện bằng việc thông qua các cơ quan quyền lực của mình, nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ chủ yếu và quan trọng xã hội Nói như vậy

có nghĩa là nhà nước điều chỉnh con người trong xã hội thông qua việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội

Nói riêng về các mối quan hệ trong xã hội dân sự, luật pháp nước ta chia làm hai mảng chính: quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân nhưng điều đó không nói lên rằng quan hệ dân sự thiếu tính đa dạng mà chính là thể hiện sự phức tạp của vấn đề

Tham gia vào các mối quan hệ pháp luật dân sự, con người thể hiện những tư cách chủ thể khác nhau

Ví dụ: A bán cho B vòng vàng với giá 500 nghìn đồng

Xét về tư cách tham gia quan hệ xã hội này : giả sử A, B > 18 tuổi , có đầy đủ năng lực hành vi,tư cách chủ thể tham gia của A và B được xét như sau:

+ A và B tham gia với tư cách là cá nhân - một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

Trang 2

+ A với tư cách là pháp nhân ( chủ tiệm vàng ) , B với tư cách là cá nhân

Qua sự phân tích về tư cách tham gia mối quan hệ pháp luật dân sự, có thể thấy tùy vào tính chất, sự đại diện chủ thể mà A và B tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự

có thể với tư cách là chủ thể này hoặc chủ thể khác

Tại sao phân chia tư cách chủ thể? Một lý do có thể thấy: trong dân sự các chủ thể tham gia với mong muốn đó là sự giao dịch này phải có đảm bảo được độ tin cậy, người tham gia làm sao thoả mãn được ý chí của mình ( có thể giao dịch hoặc không thể giao dịch ) Luật dân sự có quy định riêng cho mỗi chủ thể tham gia, tính bảo đảm tư cách chủ thể được luật dân sự đảm bảo về quyền và nghĩa vụ: cá nhân tham gia có quyền, nghĩa vụ khác với quyền và nghĩa vụ pháp nhân tham gia

Vì những vấn đề trên, chúng ta sẽ nghiên cứu con người với tư cách chủ thề trong quan hệ pháp luật dân sự Và vấn đề nghiên cứu đề cập trong bài nghiên cứu này là: con nguời tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân - một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

II Nội Dung

1 Khái niệm về cá nhân _ chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự theo quan điểm của các nhà làm luật

Trước hết chúng ta làm rõ thế nào là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự và những ai được coi là chủ thể đó?

Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là những người tham gia vào các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản do luật Dân sự điều chỉnh

Trang 3

Các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm: cá nhân , pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, Nhà nước và các loại chủ thể khác

Trong các loại chủ thê nêu trên thì con người, những thành viên của xã hội có vai trò quan trọng nhất Trong khoa học pháp lý hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về việc xác định khái niệm cá nhân hay thể nhân để nói về chủ thể là con người trong quan hệ pháp luật dân sự

Con người là chủ thể được xác định trong quan hệ pháp luật thuộc nhiều ngành luật, trong đó có luật dân sự Tuy nhiên khái niệm "con người" là chủ thể thường được xác định trong quan hệ pháp luật mang tính chính trị_ pháp lý Còn công dân

là khái niệm dùng để xác định tư cách chủ thể của cá nhân trong quan hệ với Nhà nước

Hiện nay trên thể giới những nước như Liên bang Nga sử dụng khái niệm "công dân" cùng với khái niệm "thể nhân" trong luật dân sự để chỉ chủ thể tham gia là người nước ngoài và người không quốc tịch Luật dân sự Đức thì lại không sử dụng khái niệm "công dân" mà sử dụng khái niệm "thể nhân" để chỉ chủ thể là cá nhân trong luật dân sự Bên cạnh đó thì bộ luật dân sự Pháp lại sử dụng khái niệm

"cá nhân" để phân biệt với chủ thể là "pháp nhân"

Ở Việt Nam chúng ta khái niệm "thể nhân" chưa được sử dụng để phân biệt với chủ thể là pháp nhân trong quan hệ pháp luật dân sự

Cá nhân là chủ thể chủ yếu và thường xuyên tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự Nhưng để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự với tư cách chủ thể,

cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự nghĩa là phải được pháp luật thừa nhận

có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Vậy năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là gì?

Trang 4

2 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

a Khái niệm

Theo khoản 1, điều 14 BLDS năm 2005 quy định: "Năng lực pháp luật dân sự của

cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự"

Khả năng có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự là khả năng để cá nhân có thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự được pháp luật dân sự cho phép

Như vậy năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là điều kiện cần để cá nhân có thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự và trở thành chủ thể của quan hệ đó

b.Đặc điểm

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được Nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật dựa trên cơ sở pháp triển của nền kinh tế văn hóa, xã hội,

Ở nước ta năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được ghi nhận từ điều 14 đến điều

23 BLDS 2005

"Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc tính không tách rời, nó phát sinh vào thời điểm người đó sinh ra và mất đi khi người đó chết"

Trang 5

Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau (tính bình đẳng).

Tuy nhiên một số quyền gắn với nhân thân và bản chất sinh lý của con người thì

cá nhân chỉ có được khi người đó đạt đến một độ tuổi nhất định (quyền vợ chồng, cha mẹ, giám hộ) Các quyền nhân thân và tài sản của người đã thành thai được pháp luật ghi nhận và bảo vệ trong trường hợp người đó sinh ra và con sống

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là không thể chuyển giao và nó không bị hạn chế, trừ trường hợp có căn cứ pháp luật Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

là tổng thể các quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân được pháp luật quy định Điều 15 BLDS quy định:

Cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau đây:

1.Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản;

2.Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản;

3 Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó

3 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân

a Khái niệm

Theo điều 17 BLDS: năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự

Trang 6

b Đặc điểm

Năng lực hành vi dân sự gắn với độ tuổi và trạng thái sức khẻo tinh thần của cá nhân

Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người đủ mười tám tuổi trở lên

(người đã thành niên) là người có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình và ý thức được hậu quả hành vi của mình gây ra Năng lực hành vi dân sự của cá nhân thể hiện ở hai khía cạnh: khả năng giao dịch (năng lực thực hiện giao dịch) , khả năng gánh chịu trách nhiệm (độc lập chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình)

c Phân loại

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được phân định thành các mức độ sau đây:

- Người đủ từ mười tám tuổi trở lên, không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm cho người đó không có khả năng nhận thức và làm chủ được hành

vi của mình hoặc không bị toà án tuyên bố là bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền tham gia vào mọi quan hệ pháp luật dân sự, tự chịu trách nhiệm về những hành vi của bản thân và trở thành chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự mà người đó đã tham gia

- Người đủ từ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi là người có năng lực hành vi một phần, vì vậy khi người này xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự

Trang 7

phải được sự đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ các giao dịch nhằm mục đích sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi như mua sách vở, đồ dùng học tập

Trong trường hợp người đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng đủ để đảm bảo và thực hiện nghĩa vụ, thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần đòi hỏi phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định khác

- Người chưa đủ sáu tuổi là người không có năng lực hành vi dân sự, vì vậy mọi giao dịch dân sự có liên quan đến người chưa đủ sáu tuổi đều cần phải có người đại diện theo pháp luật (cha, mẹ hoặc người giám hộ) xác lập thực hiện

- Đối với người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác không thể nhận thức làm chủ được hành vi của mình, thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố người đó mất hành vi dân sự trên cơ sở giám định của các cơ quan có thẩm quyền Mọi giao dịch của người mất năng lực hành vi dân sự đều do người đại theo pháp luật xác lập, thực hiện

- Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

* Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan tổ chức hữu quan, Toà án có thể ra quyểt định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

* Người đại diện theo pháp luật của người hạn chế năng lực hành vi dân sự và vi phạm đại diện do toà án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch phục vụ sinh hoạt hàng ngày

Trang 8

* Khi không còn tuyên bố căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự

4 Quyền nhân thân

Với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, cá nhân có hàng loạt dấu hiệu

và thuộc tính tự nhiên, xã hội mà trên cơ sở đó phân biệt các cá nhân với nhau đồng thời có ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của cá nhân đó

Các thuộc tính đó là tên, quốc tịch, độ tuổi, tình trạng gia đình, giới Từ những thuộc tính này, luật quy định mỗi người tham gia vào quan hệ pháp luật với tên (họ) nhất định (nhân danh mình) với quốc tịch, độ tuổi và giới xác định Các thuộc tính này được xác định ngay từ khi khai sinh cùng với việc đăng ký khai sinh

Các quyền nhân thân của cá nhân có thể được phân chia thành hai loại: quyền nhân thân phi tài sản không gắn với tài sản và quyền nhân thân phi tài sản có gắn với tài sản

Loại quyền thứ nhất là quyền không thể chuyển giao, còn loại quyền thứ hai là loại quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ có những quyền có thể chuyển giao

Điều 24 BLDS 2005 quy định: "Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này

là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác"

5 Hộ tịch và nơi cư trú của cá nhân

Trang 9

Hộ tịch có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung năng lực chủ thể của cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự

Hộ tịch của cá nhân là một thuật ngữ pháp lý dân sự được sử dụng lâu đời, đặc biệt

là vào thời kỳ trước và sau năm 1945, những việc dân sự và thương mại thường được gọi là "việc Hộ"

Hộ tịch và đăng ký hộ tịch là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau Hộ tịch của cá nhân

là tổng hợp tất cả các sự kiện, các thông tin cơ bản về một cá nhân với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội, mang những quyền và nghĩa vụ do luật định như các quyền và nghĩa vụ về chính trị, về tài sản, về nhân thân Nói đến hộ tịch là nói đến tình trạng, địa vị dân sự của công dân, nghĩa là chỉ rõ những sự kiện cá thể hoá cá nhân đó ( họ, tên, tên đệm, quốc tịch, giới, độ tuổi) chỉ rõ năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân đó trong các lĩnh vực dân sự, lao động và tình trạng gia đình

Như vậy, hộ tịch là tất cả những sự kiện (hành vi hoặc sự kiện) pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của chủ thể Việc xác định các sự kiện pháp lý về hộ tịch liên quan đến địa vị dân sự cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong đời sống Các sự kiện đó đựơc quy định tại điều 54 BLDS 1995, bao gồm: sinh tử kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi tên, họ, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về

hộ tịch

Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống (điều 52 BLDS 2005)

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định trên thì nơi cư trú là nơi người đó đang sống (điều 52 khoản 2 BLDS)

Trang 10

Việc xác định nơi cư trú của cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong quan hệ pháp luật dân sự Xác định nơi cư trú là cơ sở để xác định việc thực hiện quyền và nghĩa

vụ dân sự, như nơi mở thừa kế, nơi để tống đạt các giấy tờ, nơi được xác định các thẩm quyền của Toà án giải quyết các vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004,

6.Giám hộ

a Khái niệm

Điều 58 BLDS: Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan Nhà nước (gọi là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện để chăm sóc và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (gọi là người được giám hộ)

Giám hộ là một hình thức bảo vệ pháp lý, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước và xã hội đối với người chưa thành niên, đặc biệt là những trẻ em dưới mười lăm tuổi có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt và những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, đồng thời đề cao trách nhiệm giữa người thân thích và phát huy truyền thống tương thân, tương ái, "lá lành đùm lá rách" giữa các thành viên trong cộng đồng

b Người được giám hộ: Khoản 2 điều 58 BLDS 2005

Bộ luật dân sự quy định rộng rãi phạm vi những người cần được chăm sóc, bảo vệ quyền lợi và giúp đỡ về mặt pháp lý (người được giám hộ) bao gồm:

Trang 11

- Người chưa thành niên từ mười tám tuổi trở xuống mà không cón cha, mẹ; không xác định được cha, mẹ; hoặc cha mẹ đều mất khả năng dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc tuy cha mẹ còn nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên ( như cha mẹ đều đang thi hành án tù, cha, mẹ đi công tác xa nhà lâu ngày, ) và nếu cha, mẹ có yêu cầu cử người giám hộ cho con chưa thành niên của mình

- Người mất năng lực hành vi do các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác

mà không có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình cũng như người buộc phải giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự

c Người giám hộ:

Người giám hộ là người thay mặt cho người được giám hộ trong các quan hệ pháp luật dân sự và chăm sóc, giáo dục người giám hộ, vì vậy Điều 60 BLDS 2005 quy định người có đủ các điều kiện cần thiết sau đây mới có thể làm người giám hộ:

*Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

*Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;

*Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ

Người giám hộ là người đại diện theo pháp luật của người được giám hộ Bộ luật dân sự quy định nguyên tắc một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ

Ngày đăng: 04/04/2015, 16:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w