1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI VÀ NHỮNG HÌNH MẪU ĐIỂN HÌNH CỦA KINH TẾ VĨ MÔ

37 625 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 636,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA BỘ 3 BẤT KHẢ THI VÀ NHỮNG HÌNH MẪUĐIỂN HÌNH CỦA KINH TẾ VĨ MÔ Chúng tôi cũng mô tả những chỉnh hợp các chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế xét về mặt hiện tượng bên ngoài c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

CỦA KINH TẾ VĨ MÔ

Giảng viên HD : ThS.ĐINH THỊ THU HỒNG

Trang 2

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 4

1.Giới thiệu 6

2 Công cụ đo lường sự ổn định 7

3 Dữ liệu và tính ổn định của tổng thể 9

4.Phương pháp có liên quan và thực nghiệm 12

4.1 Độc lập tiền tệ 12

4.2 Sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô 15

4.3 Chính sách khoảng chệch 16

4.4 Mẫu 17

5 Hồi quy dữ liệu bảng 22

5.1 Những nền kinh tế có thu nhập thấp 24

5.2 Những nền kinh tế có thu nhập trung bình và có thu nhập cao 24

5.3 Những nền kinh tế mới nổi 25

6 Kết luận 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 3

TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA BỘ 3 BẤT KHẢ THI VÀ NHỮNG HÌNH MẪU

ĐIỂN HÌNH CỦA KINH TẾ VĨ MÔ

Chúng tôi cũng mô tả những chỉnh hợp các chính sách kinh tế vĩ mô quốc

tế xét về mặt hiện tượng bên ngoài cho đến những chính sách điển hình đáng tincậy, và chúng tôi sử dụng giả thiết hạn chế của bộ ba bất khả thi để đưa ra mộttiêu chuẩn đánh giá mới về tính độc lập của chính sách tiền tệ

Áp dụng những phương pháp đo lường này dựa trên những dữ liệu củaBretton Woods, chúng tôi nhận ra rằng sự kết hợp chính sách kinh tế vĩ mô quốc

tế ổn định kém nhất là sự kết hợp giữa chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt và thịtrường tài chính mở Chúng tôi cũng nhận thấy rằng hầu hết các quốc gia thể hiệnmức độ độc lập của chính sách tiền tệ cao hơn trước Tiêu biểu là những đất nướcpha trộn mức độ trọng yếu của chính sách tiền tệ độc lập với cả hai chính sách tỷgiá hối đoái cố định và chính sách tài chính mở (Mở rộng ra, hầu hết các quốc giađều chọn kết hợp các chính sách ở mức trung bình.) Thêm nữa, chúng tôi tìm rarằng, nắm giữ chính thức dự trữ ngoại tệ lớn cũng tương tự tính ổn định lớn hơncủa các chính sách tại những nước có thu nhập thấp Tuy nhiên, tính chất ổn địnhthì không tăng giống như vậy ở những nước thu nhập trung bình có chính sách ổnđịnh kém, hoặc là ở những nước giàu

Từ khóa: Bộ ba chính sách không thể thực hiện cùng lúc (Bộ ba bất khả thi), Chế

độ tỷ giá hối đoái ngoại tệ, Qũy dự trữ quốc tế, Chính sách tài chính mở, Nỗi lo

sợ thả nổi, Chính sách tiền tệ độc lập.

Chúng tôi chân thành cảm ơn sự hỗ trợ của Học viện Anh Quốc Chúng tôi chân thành cảm ơn sự đóng góp chân thành của các cá nhân : Craig Burnside, Yu-chin Chen, Kris Mitchener, William Sundstrom, Lucio Sarno, Gabriel Talmain cùng các tập thể :

Khoa Kinh tế, Đại học Santa Clara, Santa Clara, CA, 95053, Mỹ Email:

Trang 5

1.Giới thiệu

Theo bộ ba bất khả thi trong nền kinh tế mở cổ điển, một quốc gia khôngthể đồng thời đạt được sự ổn định tỷ giá, thị trường vốn mở và chính sách tiền tệđộc lập Mỗi quốc gia phải phải đánh đổi giữa những mục tiêu này Trong khi lýthuyết bộ ba bất khả thi cho chúng ta biết cần phải thực hiện sự lựa chọn thì lịch

sử gần đây lại cho thấy vẫn chưa có sự lựa chọn cuối cùng đựơc đưa ra Trườnghợp của Trung Quốc cho chúng ta thấy rằng độc lập trong chính sách tiền tệ có thểdần bị mất tác dụng, trường hợp Brazil nhắc chúng ta rằng, tự do dòng vốn có thể

bị hạn chế do các rào cản mới được dựng lên và những vấn đề mới ở châu Âu chochúng ta thấy rằng thậm chí một liên minh tiền tệ cũng có thể bị phá vỡ Các nướclựa chọn và sau đó họ lại tiếp tục lựa chọn một lần nữa Trong bài báo này, chúngtôi nghiên cứu tính ổn định của những sự lựa chọn đó Chúng tôi đưa ra các câuhỏi, ví dụ, liệu tỷ giá hối đoái cố định và kiểm soát dòng vốn thì có đạt được sự

ổn định hơn trong việc thực hiện chính sách linh hoạt tiền tệ và thị trường vốn mởkhông? (câu trả lời là có), liệu dự trữ ngoại hối có liên quan đến sự ổn định chínhsách ổn định không? (có, đến mức độ nào, ngoại trừ giữa những nước nghèo) Đểkiểm tra những điều này và các câu hỏi liên quan này, chúng tôi giới thiệu mộtphương pháp mới đo lường sự ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô theo thời gian

Phương pháp mới của chúng tôi bắt đầu với các dạng hình học đơn giảncủa bộ ba bất khả thi Chúng ta có thể xem xét những chính sách kinh tế vĩ môquốc tế của một quốc gia theo những vị trí trong không gian ba chiều, 3 chiều đóđược xác định gồm : tỷ giá hối đoái cố định, tự do tài chính và chính sách tiền tệđộc lập Theo đó, sự thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế của một quốcgia được đo lường bằng sự di chuyển (khoảng cách) từ điểm này đến điểm kháctrong không gian chính sách ba chiều Ở đây, chúng tôi đánh giá mức độ ổn địnhchính sách kinh tế vĩ mô của một quốc bằng cách sử dụng mức độ thay đổi theothời gian Cụ thể, cả tính ổn định hay không ổn định đều được đo lường bằngkhoảng cách giữa những vị trí liên tục trong không gian chính sách Một chínhsách kinh tế vĩ mô quốc tế ổn định được xác định là một sự dịch chuyển tương đối

Trang 6

nhỏ trong không gian chính sách, trong khi sự dịch chuyển lớn trong không gianchính sách đại diện cho chính sách không ổn định.

Chúng tôi cũng cung cấp một phương pháp đo lường mới về sự độc lậptrong chính sách tiền tệ Phương pháp đo lường mới này xuất phát từ hạn chế của

bộ ba bất khả thi : bộ ba bất khả thi hạn chế tính độc lập trong chính sách tiền tệ

để đổi lấy sự ổn định tỷ giá và công khai tài chính Đưa ra biện pháp giúp ổn định

tỷ giá và tự do tài chính, hạn chế của bộ ba bất khả thi sinh ra một cách đo lườngngầm về tính độc lập trong chính sách tiền tệ Phương pháp đo lường mới nàycung cấp một lựa chọn khác so với các phương pháp đo lường chuẩn hiện nay,dựa trên sự tương quan giữa lãi suất của một quốc gia và lãi suất của một quốc gia

cơ sở

Trong phần tiếp theo của bài viết này, chúng tôi giới thiệu một phươngpháp lường mới về tính ổn định Sau đó chúng tôi sử dụng cách đo lường này đểđánh giá sự ổn định của chính sách bộ ba bất khả thi của 177 nền kinh tế trongthời kỳ hiện đại (theo Bretton Woods) Bằng cách này, sự đo lường này sẽ có độtin cậy khi áp vào tính độc lập của chính sách tiền tệ (cách đo lường này chỉ rarằng hầu hết các quốc gia thể hiện sự độc lập trong chính sách tiền tệ nhiều hơntrước đây) Cuối cùng, chúng tôi sắp xếp những quốc gia theo những mẫu chínhsách điển hình trong mỗi năm, chúng tôi đánh giá tính ổn định của mỗi chính sáchhình mẫu và kiểm tra mối liên hệ giữa sự ổn định, hình mẫu và dự trữ

2 Công cụ đo lường sự ổn định

Để đánh giá sự ổn định kinh tế vĩ mô quốc tế, chúng ta bắt đầu với 3 tiêuchuẩn của bộ ba bất khả thi Chúng tôi biểu thị chế độ về chính sách hiện hành củanước thứ i trong khoảng thời gian t như Ri, t, trong đó :

Ri;t = (Si;t; Fi;t;Mi;t)

và Si; t đại diện cho sự ổn định tỷ giá hối đoái, Fi; t đại diện cho tự do tàichính, và Mi; t đại diện cho chính sách tiền tệ độc lập Si; t, Fi, t, và Mi; t, đượcchuẩn hóa để nhận giá trị từ 0 đến 1, và giá trị của 1 thì đại diện cho việc cố định

tỷ giá hối đoái, cố định thị trường tài chính hoàn toàn mở và chính sách tiền tệhoàn toàn độc lập Vì vậy, khi cố định hoàn toàn biến thị trường tài chính mở là:

Ri, t = (1, 1, 0); cố định hoàn toàn sự độc lập của chính sách tiền tệ Ri, t = (1, 0,

Trang 7

1), và thị trường vốn hoàn toàn mở và tính độc lập trong chính sách tiền tệ thì là

Ri, t = (0, 1, 1)

Trong khuôn khổ này, một sự thay đổi trong chính sách của một quốc giatừng giai đoạn tiếp theo chỉ đơn giản là véc tơ nối hai điểm liên tiếp trong khônggian chính sách :

ri;t = Ri;t - Ri;t-1

= (si;t; fi;t;mi;t) = (Si;t - Si;t-1; Fi;t -Fi;t-1;Mi;t -Mi;t-1):

Figure 1: Indonesia 1996-97

Dùng vecto này để đo lường về sự thay đổi của chính sách, | | r i , t | |

1.Chúng tôi có thể đo lường sự thay đổi rõ ràng trong tổng thể của chính sách khidùng quy tắc vectơ này Khi sử dụng các quy tắc này, chúng ta định nghĩa, cách

đo lường đơn biến để điều chỉnh mức giảm giữa số không và một :

Quy tắc điều chỉnh này được áp dụng trong phạm vi sự thay đổi bộ ba bấtkhả thi của chính sách kinh tế vĩ mô

Hình này minh họa phương pháp đo lường sự ổn định của chính sách Con

số hiển thị hai điểm dữ liệu cơ bản dưới một quan sát đơn của các chỉ tiêu điềuchỉnh, ni, t Các mẫu quan sát được lấy từ Indonesia tại thời điểm cuộc khủnghoảng châu Á (i = Indonesia, và t = 1997), và các dữ liệu cơ bản là từ Aizenman,

Trang 8

Chinn và Ito (2010), mà chúng tôi thảo luận chi tiết hơn trong phần tiếp theo Nhưđược biết đến, Indonesia đã trải qua một sự giảm đáng kể trong sự ổn định tỷ giáhối đoái và giảm nhỏ trong tự do hóa tài chính trong cuộc khủng hoảng, trong khi

đó có sự tăng một cách đáng kể trong sự độc lập của chính sách tiền tệ Nhữngthay đổi này được chỉ báo bởi các vector thể hiện ở các quan sát trong năm 1996

và cho năm 1997 Chiều dài của vectơ được chuẩn hóa để đo lường sự thay đổitrong tổng thể của bộ ba bất khả thi Sự thay đổi trong

1 Chúng tôi sử dụng chaaurn Euclidean (Sau đây, trong bài nghiên cứu này gọi là “chuẩn”)

2 Cung cấp một đánh giá đơn biến của sự thay đổi đa biến trong chính sách, phương pháp đo lường mới của chúng tôi theo Girton và Roper (1997) đo lường “áp lực của thị trường ngoại tệ” Trong khi các biện pháp cổ điển thiếu chuẩn rõ ràng, giải thích hình học, nó cung cấp ban đầu, hỗn hợp đơn biến của chính sách ngoại hối.

3 Nghiên cứu này sử dụng điểm mới của chúng tôi, biện pháp tiềm ẩn về tính độc lập của tiền

tệ, cũng được mô tả dưới đây.

4 Tọa độ DesCart (Si;t; Fi;t;Mi;t) là (0.66, 0.94, 0.4) trong năm 1996 và (0.11, 0.88, 1.0) trong năm 1997 Nên ni;t = 0:578.

tổng thể chính sách của bộ ba bất khả thi năm 1997 là khoảng năm lần so với giátrị của Indonesia hồi đầu thập kỷ và nó vượt quá (bằng lãi đáng kể) 95% của giátrị trong mẫu

Nhìn chung, quy tắc vectơ này tóm tắt những thay đổi tổng thể trong cácchính sách kinh tế vĩ mô quốc tế khi áp dụng bộ ba bất khả thi Dưới đây, chúngtôi sử dụng tiêu chuẩn (điều chỉnh giảm giữa không và một) để kiểm tra sự ổnđịnh của các loại chính sách khác nhau và để đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự

ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô và dự trữ ngoại hối

3 Dữ liệu và tính ổn định của tổng thể

Trong phần này, chúng tôi tính một phương pháp ổn định mới, mỗi nămdùng 1 mẫu của 177 nước với dữ liệu hàng năm từ 1970 – 2008 Chúng tôi bắt đầuvới sự ổn định tỷ giá hối đoái thực tế và các biện pháp về tính độc lập của tiền tệđược cung cấp bởi Aizenman, Chinn, and Ito (2010), được cập nhật phiên bản mớinhất phương pháp công khai tài khoản tài chính hợp pháp của Chinn và Ito (2008)

Trang 9

Sau đó chúng tôi tính toán lại phương pháp về sự ổn định này với việc dùng mộtthước đo thay thế khác về tính độc lập của tiền tệ.

Aizenman et al đã xây dựng các biện pháp về sự ổn định tỷ giá hối đoáihàng năm, Si;t, sử dụng độ lệch chuẩn tỷ giá hối đoái theo tháng của một quốc gia

cơ sở Như một số nhà nghiên cứu trước, họ kế thừa Giáo sư Shambaugh (2004)trong việc xây dựng các biện pháp về tính độc lập của tiền tệ, Mi;t, sử dụng sựtương quan giữa lãi suất thị trường tiền tệ của mỗi nước và của nước cơ sở Cuốicùng, phương pháp hợp pháp của Chinn và Ito, Fi;t, về cơ bản là trung bình cótrọng số của chỉ số hạn chế trao đổi của IMF

Bảng 1 tóm tắt các chỉ tiêu điều chỉnh, ni;t, được tính toán dựa trên những

dữ liệu này Bảng cũng cung cấp những thống kê tóm tắt loại thu nhập được lấy từdanh sách các nền kinh tế tháng 1/2011 của World Bank

5 Như những người khác, Aizenman, Chinn và Ito đã áp dụng một ngưỡng các phương pháp độ lệch chuẩn để thấy được sự ổn định của những đồng tiền trong những khoản hẹp, và họ cũng cho phép phá giá và nâng giá mang tính cá nhân Các quốc gia cơ sở bao gồm Úc, Bỉ, Pháp, Đức,

Ấn Độ, Malaysia, Nam Phi, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ

6 Đặc biệt, Phương pháp công khai tài chính của Chinn và Ito với thành phần chủ yếu đầu tiên của các chỉ số nhị phân từ IMF về việc hạn chế các giao dịch tài khoản vãng lai và tài khoản vốn, tỷ giá hối đoái nhiều cấp (chú thích thêm multiple exchange rate: khi 1 nước sủ dụng đồng thời tỷ giá hối đóai cố định và tỷ giá hối đóai thả nổi cùng 1 lúc Khi đó thị trường sẽ được chia thành nhiều cấp khác nhau với các tỷ giá tương ứng), và sự hủy bỏ theo yêu cầu của tiền thu được từ xuất khẩu Đây cũng là biện pháp sau đó được sử dụng bởi Aizenman et al Miniane (2004) cung cấp chỉ số de jure trên cơ sở dữ liệu của IMF về hạn chế tài khoản vốn, nhưng dữ liệu của Miniane chỉ có giá trị tại ba mươi quốc gia Một sô nước khác có liên quan, chỉ số de jure đã phát triển nhưng không có sự kết họp giữa sự giải thích dễ dàng và phạm vi rộng mà Chinn và Ito cung cấp Thay thế tự nhiên là sử dụng dòng vốn thực tế như phương pháp de facto

và các biện pháp tài chính mở rộng Tuy nhiên, dòng chảy thực tế là khá ổn định từ kỳ này sang

mà chúng tôi quan tâm ở đây.

Trang 10

Table 1: Trilemma Stability: Initial Adjusted Norm Mean Max Min St Dev Obs Ho

All (Low, Middle and

Ghi chú : Ở đây, ổn định Bộ Ba bất khả thi được tính cho 177 quốc gia 1971-2008 sử dụng dữ liệu từ Aizenman, Chinn và Ito (2010), những người đã sử dụng biện pháp tiền tệ của Shambaugh (2004) Nhóm thu nhập được lấy từ Ngân hàng Thế giới (1/ 2011), tại www.worldbank.org, và nhóm mới nổi lấy từ Chỉ số thị trường vốn quốc tế mới nổi Morgan Stanley (không kể Đài Loan do dữ liệu không có sẵn) Cột cuối cùng cho thấy giá trị t-statistic , giả định rằng mức trung bình của nhóm thu nhập có lien quan bằng với phần còn lại của thế giới Ba dấu hoa thị chỉ ra rằng kiểm định thống kê là có ý nghĩa không thể biểu thị ở dạng %

Và nó cũng cung cấp số liệu thống kê cho một loại thị trường mới nổi đượclấy từ chỉ số thị trường vốn quốc tế các nước mới nổi của Morgan Stanley Cộtđầu tiên của báo cáo cho thấy giá trị trung bình của mỗi loại Như nhóm các nướcgiàu nhất có các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định nhất trung bình ở đây, như ởhàng thứ 3 là 0.11 (Hãy nhớ rằng duy trì một sự thả nổi có thể là một phần củachính sách "ổn định", mặc dù thực tế là tỷ giá hối đoái có biến động) Dòng cuốicùng là số liệu thống kê của nền kinh tế các nước mới nổi, Với mức điều chỉnhtrung bình là 0,16, nền kinh tế các nước mới nổi có các chỉ tiêu lớn nhất Cho thấyrằng, những các nước giàu có chính sách ổn định nhất là các nền kinh tế mới nổi(Không như những nước nghèo có chính sách bất ổn nhất)

Các đồ thị Hình 2 là các chỉ tiêu điều chỉnh theo thời gian Các đường đứtnét trong các đồ thị phù hợp với các biện pháp tính đến nay, đã được tóm tắt trongbảng 1 Đường liền nét trong các đồ thị tương ứng với cột thứ hai - phương pháp

ổn định có liên quan chặt chẽ nhất (đã thay thế phương pháp hàm ý về tính độc

Trang 11

lập của tiền tệ (Được miêu tả dưới đây) cho phương pháp Shambaugh màAizenman, Chinn và Ito đã dùng.

4.Phương pháp có liên quan và thực nghiệm

4.1 Độc lập tiền tệ

Như đã nói ở trên, năm 2004, cách tiếp cận của Shambaugh để tính tính độclập của tiền tệ là sử dụng sự tương quan giữa lãi suất ngắn hạn trong nước của mộtquốc gia với một quốc gia cở sở đã được giả định, thường là Mỹ Sự tương quan ởmức cao được xem là dấu diệu của sự phụ thuộc tiền tệ

Low Income Economies Middle Income Economies

High Income Economies Emerging Economies

Figure 2: Norms by Income GroupMean Norm Implied by the Trilemma - Mean Norm using Shambaugh (2004)

Có nghĩa là họ đang xem xét về tính độc lập của tiền tệ một cách chưa đầy

đủ Nhược điểm của cách tiếp cận giá trị này là, ngoài việc phản ánh sự phụ thuộctiền tệ, các biện pháp cũng phản ánh mối tương quan giữa các trường hợp cơ bản

mà chính sách tiền tệ độc lập có thể đáp ứng Canada là một ví dụ về vấn đề của

Trang 12

phương pháp này, mặc dù tính độc lập của tiền tệ có thể chứng minh như Canada,nhưng lãi suất lại có liên quan chặt chẽ với cư dân Mỹ Do giá trị danh nghĩa nêncách tiếp cận này sẽ dẫn đến sai lệch rằng Ngân hàng Canada bị hạn chế bởi cácchính sách của Cục Dự trữ Liên bang Các nhà nghiên cứu khác, chẳng hạn nhưFrankel, Schmukler, và Serven (năm 2004), cùng thời với Giáo sư Shambaugh),

và Reade và Volz (2008), cung cấp các biện pháp liên quan về tính độc lập củatiền tệ cho phép những liên kết động giữa các mức lãi suất của các nước Tuynhiên, ngay cả những biện pháp tổng quát hơn, cuối cùng cũng phụ thuộc vào lãisuất thả nổi, vì vậy họ có thể có những hạn chế tương tự (7)

đề Duburcq và Girardin (2010) cho phép các điều kiện tiền tệ trong nước có ý nghĩa cho một nghiên cứu của tám nước Mỹ Latinh hơn mười một năm Bluedorn và Bowdler (2010) tách các thành phần về kỳ vọng và không dự đoán được trong sự thay đổi lãi suất của quốc gia cơ sở (ở đây là Mỹ)

Ở đây, chúng tôi giới thiệu một biện pháp thay thế tính độc lập của tiền tệ

mà không bị những hạn chế này, và chúng tôi sử dụng các biện pháp mới về tínhđộc lập để điều chỉnh các tiêu chuẩn đo lường về sự ổn định, ni;t Biện pháp mớicủa chúng ta về tính độc lập bắt đầu bằng cách lấy Bộ Ba bất khả thi một cáchnghiêm túc, chúng tôi giả định rằng Bộ Ba bất khả thi có giá trị Với giả định đó,các biện pháp hiện của sự ổn định tỷ giá, Si, t, và công khai tài chính, Fi, t, giúpchúng ta có một biện pháp tiềm ẩn về tính độc lập của tiền tệ, Mi; t Đặc biệt, cácbiện pháp tiềm ẩn về tính độc lập của tiền tệ là :

M i,t = 2 – Si,t – Fi,t

Hình 3 cung cấp các biểu đồ mô tả cả hai biện pháp này : Biện pháp tiềm

ẩn về tính độc lập của tiền tệ (các đường liền), cùng với các biện pháp Shambaugh(các đường đứt nét) Nhìn chung, biện pháp tiềm ẩn cho thấy một mức độ thôngdụng về tính độc lập của tiền tệ hơn các biện pháp hiện tại của Shambaugh Ví dụ,

sử dụng biện pháp mới về tính độc lập của tiền tệ, các quan sát mới nhất củaCanada (năm 2007 và 2008) là 0,75 và 0,81, trong khi các biện pháp của

Trang 13

Shambaugh với những năm tương tự lại nhỏ hơn nhiều: 0,25 và 0,31 Kể từ khibiện pháp mới về tính độc lập của tiền tệ đo lường Bộ Ba bất khả thi, chúng tôikhông thể sử dụng nó để kiểm tra tính hợp lệ của Bộ Ba bất khả thi, đó là những gìAizenman, Chinn và Ito (2010) thử nghiệm Tuy nhiên, chúng ta có thể sử dụngcác biện pháp tiềm ẩn để khám phá ra điều mà chúng ta quan tâm ở đây: chínhsách ổn định Bộ Ba bất khả thi.

Bảng 2 cung cấp một bản tóm tắt sự ổn định chính sách dùng các chỉ tiêuđiều chỉnh được tính toán với biện pháp tiềm ẩn và biện pháp mới của chính sáchtiền tệ Như đã được thể hiện trong hình, các chỉ tiêu trung bình tổng thể hiện nay

là thấp hơn Tuy nhiên, sự ổn định tương đối của các nhóm thu nhập vẫn khôngthay đổi và sự khác biệt lớn vẫn còn mang ý nghĩa thống kê: các nước có thu nhậpcao lại thể hiện các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định nhất, trong khi các nền kinh

tế mới nổi thể hiện các kết quả chính sách thiếu ổn định nhất

Low Income Economies Middle Income Economies

High Income Economies Emerging Economies

Figure 3: Measures of Monetary SovereigntyMean Monetary Sovereignty (Implied by the Trilemma)

Trang 14

- - - Mean Monetary Sovereignty (Shambaugh, 2004)

Trong suốt các phần còn lại của bài báo, trừ khi có những giả định khác,chúng tôi đã tính toán các chỉ tiêu sử dụng phương pháp mới và phương pháp tiềm

ẩn Bộ Ba bất khả thi về sự ổn định tiền tệ

4.2 Sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô

Sử dụng tiêu chuẩn tiềm ẩn, Bảng 3 đã khảo sát liệu một số thay đổi độngtrong sư ổn định được nêu ra trong hình 2 có ý nghĩa thống kê hay không Đặc biệtbảng này còn cung cấp các thử nghiệm liệu các định mức điều chỉnh trung bìnhvẫn không đổi sau khi một số cuộc khủng hoảng quan trọng xảy ra trong mẫu haykhông : cuộc khủng hoảng Mexico (1994), cuộc khủng hoảng Đông Nam Á(1997), và cuộc khủng hoảng Argentina (2002) Bảng này cũng chỉ ra rằng cácnhóm thu nhập khác nhau có kinh nghiệm rất khác nhau về vấn đề này Đối vớicác nước có thu nhập thấp, thể hiện trong dòng đầu tiên, chỉ có một số bằng chứngnhỏ của một sự gia tăng nhỏ trong sự bất ổn sau cuộc khủng hoảng Mexico Đốivới các nhóm còn lại, tất cả những thay đổi đáng chú ý đi theo hướng ngược lại:theo hướng ổn định lớn hơn (giảm trong định mức) Nhìn chung đối với các nướcthu nhập trung bình, thể hiện trong dòng thứ hai, có một số bằng chứng cho thấymột sự gia tăng nhỏ trong sự ổn định kể từ khi cuộc khủng hoảng Argentina

Table 2: Norm using the Trilemma-Implied Monetary Sovereignty Measure

Mean Max Min St Dev Obs

H0

All (Low, Middle and

Ghi chú: Ở đây, quy tắc điều chỉnh được tính toán bằng cách sử dụng mới, hàm ý đo lường mức

độ độc lập tiền tệ cho mỗi quốc gia trong 177 quốc gia từ năm 1971-2008 Sự phân loại nhóm thu nhập các nước lấy nguồn từ Ngân hàng Thế giới (Tháng 1/2011), có sẵn tại www.worldbank.org, và nhóm các nước mới nổi lấy nguồn từ chỉ số thị trường vốn quốc tế mới nổi của Morgan Stanley (ngoại trừ Đài Loan do dữ liệu không có sẵn) Cột cuối cùng báo cáo

Trang 15

giá trị của giả thuyết thống kê t cho rằng mức trung bình thu nhập của nhóm có liên quan tương đương với phần còn lại của thế giới Ba dấu hoa thị chỉ ra rằng kiểm định thống kê ở một mức phần trăm.

trong dòng thứ hai, có một số bằng chứng cho thấy một sự gia tăng nhỏ trong sự

ổn định kể từ khi cuộc khủng hoảng Argentina Đối với các nước có thu nhập cao,thể hiện trong dòng thứ ba, thay đổi là hơn rõ ràng Đối với những quốc gia đó,thời gian gần đây hiển thị đáng kể hơn sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô quốc

tế, bất kể là cuộc khủng hoảng được sử dụng để phân chia các mẫu Đối với nhómđầy đủ các nước, thể hiện trong dòng thứ tư, chúng ta có thể có một số ý kiến bác

bỏ hoàn toàn cho rằng các giá trị trung bình hiện tại đều giống nhau như trước cảhai cuộc khủng hoảng gần đây nhất Các nước mới nổi, hiển thị trong cột cuốicùng của bảng, tiếng vang sự gia tăng ổn định như một tổng thể của thế giới,nhưng dấu hiệu thì yếu hơn

4.3 Chính sách khoảng chệch

Khi nói đến sự ổn định chính sách, đôi khi nó là những thay đổi rất lớntrong chính sách được quan tâm nhất Vì vậy, chúng tôi xem xét riêng tỷ lệ quansát lớn Bảng 4 cung cấp dữ liệu trên các thập phân vị lớn nhất của quy tắc điềuchỉnh Bảng liệt kê các số quan sát lớn trong mỗi năm, theo nhóm thu nhập và đốivới toàn mẫu Mỗi ô trong bảng, tử số cho biết số các quan sát lớn, trong khi mẫu

số cho tổng số quan sát Nhìn chung, các mô hình của chính sách lớn thay đổi theo

mô hình của trung bình Các nền kinh tế giàu nhất có ít nhất những thay đổi lớntrong chính sách bộ ba bất khả thi của họ, trong khi các nền kinh tế mới nổi cónhiều thay đổi lớn nhất Trong các hồi quy bảng sau, trước tiên chúng ta kiểm tratất cả các thay đổi chính sách - lớn và nhỏ; sau đó, chúng tôi xoay sự chú ý tới cácxác suất của những thay đổi lớn trong chính sách xác định ở đây

Trang 16

Table 3: Implicit Norm Means Before and After Recent Crises, 1994 (Mexico), 1997 Southeast Asia), 2002 (Argentina)

Ghi chú: Cột cuối cùng báo cáo giá trị của t-thống kê cho một kiểm tra giả thuyết rằng hai trung

bình (trước và sau khi các điểm dừng có liên quan) đều bằng nhau Đơn, đôi, và ba dấu hoa thị biểu hiện ý nghĩa thống kê tại các mức độ tương ứng là mười phần trăm, năm phần trăm và một phần trăm.

4.4 Mẫu

Tiếp theo, chúng tôi tìm hiểu quy tắc sắp xếp các loại kinh tế vĩ mô quốc tếkhác nhau Chúng tôi chỉ định các quan sát cho bốn loại sắp xếp dựa trên dấu hiệnbên ngoài của các quan sát thuộc một trong bốn mẫu : một mẫu là “Hồng Kong” -với sự ổn định của tỷ giá hối đoái và thị trường vốn mở; một mẫu là “TrungQuốc” - với sự ổn định của tỷ giá hối đoái và tính độc lập của tiền tệ, một mâũ là

“Mỹ” - với thị trường tài chính mở và tính độc lập của tiền tệ, và một mẫu

“Trung” - với một mức độ khiêm tốn của tất cả ba đặc điểm

Chúng tôi sử dụng hình học đơn giản của bộ ba bất khả thi để mô tả cácloại sắp xếp chính xác hơn Ký tự j = “Hồng Kông”, “Trung Quốc”, “Mỹ”,

“Trung”', chúng tôi xác định loại j là Rj chạy trên các giá trị : (1, 1, 0), (1, 0, 1),(0, 1, 1), và (2/3,2/3,2/3) Mỗi giá trị trong bốn giá trị trên của Rj đại diện cho mộtđiểm được xác định trên đường biên có thể thực hiện được của bộ ba bất khả thi

Ba điểm đầu tiên đại diện cho ba góc tương ứng với “Hồng Kông”, ''Trung Quốc”,

và “Mỹ” mô tả mẫu ở trên, và điểm cuối cùng đại diện cho mẫu “Trung” củađường biên có thể thực hiện được Sau đó, chúng tôi xác định quốc gia loại i trongthời gian bởi điểm gần với một trong bốn điểm Cụ thể hơn, chúng tôi cho :

Trang 17

Table 4: Number of Implicit Norm Values in the Last Decile by Income Group

Ghi chú: Một quy tắc giá trị lớn là một giá trị trong các phân vị thập phân cuối trong mẫu quá

0,2789 Mỗi tử số cho biết số quy tắc đặc biệt trong các phần liên quan của mẫu, trong khi các mẫu số cho biết số tương ứng của các các quốc gia.

Trang 18

j = argjmin║(Ri,t - Rj)║

typei,t = typej

Theo đó, loại của quan sát được xác định bởi giá trị nhỏ nhất trong khoảnggiữa quan sát và mẫu

Sử dụng điều này để xác định các mẫu, Hình 4 cho thấy số lượng các nềnkinh tế trong mỗi năm của từng mẫu Trong suốt thời kỳ hiện đại, việc sắp xếp phổbiến nhất là mẫu “Trung Quốc” Trong mỗi năm gần đây, hơn bốn mươi nền kinh

tế đã có mối liên quan giữa sự ổn tỷ giá hối đoái và tính độc lập của tiền tệ Sự sắpxếp phổ biến thứ hai là mẫu “Trung” Số quan sát mẫu “Trung” đã tăng đến giữathập niên chín mươi như nhiều sự nới lỏng trong việc quản lý vốn của nền kinh tếmẫu “Trung Quốc” Số lượng các nền kinh tế của mẫu `Hồng Kông đã tăng khá ổnđịnh kể từ những năm chín mươi Số lượng các nền kinh tế của mẫu “Hoa Kỳ” đãtăng trong suốt thời gian qua, mặc dù ít ổn định hơn

Hình cũng cho thấy rằng không có được sự duy trì “hollowing out of the middle -khoảng giữa của tam giác”, được xác như ở đây trong giới hạn bộ ba đầy

đủ của các chính sách bộ ba bất khả thi Chính sách “hollowing out of the middle -khoảng giữa của tam giác” lập luận rằng việc tăng tính lưu động của vốn đã làm

cho chế độ tỷ giá hối đoái trung gian không bền vững, buộc các chính phủ phải lựachọn giữa tỷ giá hối đoái ổn định đầy đủ và không Trong khi mở cửa thị trườngtài chính là trung tâm của quan điểm “rỗng” hoặc “lưởng cực”, nhiều công việchiện còn xác định những cụm từ dành riêng trong giới hạn của sự ổn định tỷ giáhối đoái Ở đây, xác định “trung” và “cực” trong giới hạn tất cả ba kích thước của

bộ ba bất khả thi, chúng tôi đã nghiên cứu không có sự chuyển đổi rõ ràng với bất

kỳ các góc của bộ ba bất khả thi Do đó, quan điểm “hollowing out – khoảng giữa” hay “polar -cực” (trước đây lưỡng cực) không được hiểu trong bối cảnh

rộng này

Bảng 5 tóm tắt cách thức đo lường tính ổn định chính sách, chuẩn mực điềuchỉnh khác nhau giữa 4 loại chỉnh hợp các chính sách Theo bảng 5, tính ổn địnhchính sách khác nhau rõ rệt theo từng loại Từng loại có thể bác bỏ mạnh mẽ giảthiết giá trị chuẩn đều giống nhau ở các nền kinh tế đang tôn tại cũng như toàn bộcác nền kinh tế Đặc biệt, những chính sách kinh tế quốc tế ổn định kém diễn rakhi những chỉnh hợp kinh tế vĩ mô quốc tế gần giống như hình mẫu của U.S,

Ngày đăng: 04/04/2015, 16:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình này minh họa phương pháp đo lường sự ổn định của chính sách. Con - TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI VÀ NHỮNG HÌNH MẪU ĐIỂN HÌNH CỦA KINH TẾ VĨ MÔ
Hình n ày minh họa phương pháp đo lường sự ổn định của chính sách. Con (Trang 7)
Bảng 2 cung cấp một bản tóm tắt sự ổn định chính sách dùng các chỉ tiêu điều chỉnh được tính toán với biện pháp tiềm ẩn và biện pháp mới của chính sách tiền tệ - TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI VÀ NHỮNG HÌNH MẪU ĐIỂN HÌNH CỦA KINH TẾ VĨ MÔ
Bảng 2 cung cấp một bản tóm tắt sự ổn định chính sách dùng các chỉ tiêu điều chỉnh được tính toán với biện pháp tiềm ẩn và biện pháp mới của chính sách tiền tệ (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w