Hiệu quả kinh tế gắn với những điều kiện sao cho thặng dư xã hội đạt mức tối đa. Lợi ích xã hội biên = Chi phí xã hội biên Thặng dư xã hội đạt mức tối đa khi thị trường cân bằng 1
Trang 1THUẾ HIỆU QUẢ
1 TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ
Khi xem xét chính sách thuế thì gánh nặng phụ trội thường là một trong những đặc tính cơ bản để các nhà kinh tế phân tích tính hiệu quả của thuế Tính hiệu quả của thuế thể hiện gánh nặng phụ trội do thuế tạo ra phải ở mức thấp nhất Gánh nặng phụ trội là phần tổn thất phúc lợi xã hội vượt quá số thuế mà chính phủ thu được Gánh nặng phụ trội còn gọi là chi phí phúc lợi xã hội hoặc phần mất trắng
Có thể xác định tổn thất do thuế = (thặng dư tiêu dùng + thặng dư sản xuất + thặng
dư xã hội) trước khi đánh thuế - (thặng dư tiêu dùng + thặng dư sản xuất + thặng dư xã hội) sau khi đánh thuế
Để phân tích sự hình thành tổn thất do thuế, chúng ta hãy xem xét sự thay đổi của các thặng dư trước và sau khi có thuế Trước hết làm rõ một số khái niệm
1.1 Một số khái niệm:
Thặng dư tiêu dùng (CS): phần chênh lệch giữa giá sẵn lòng chi trả và giá thực tế phải trả
Thặng dư sản xuất (PS): chênh lệch giữa doanh thu và chi phí
Hình 1: Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất
Thặng dư xã hội (SS): là tổng thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất
PS CS
Trang 2 Hiệu quả kinh tế gắn với những điều kiện sao cho thặng dư xã hội đạt mức tối đa.
Lợi ích xã hội biên = Chi phí xã hội biên
Thặng dư xã hội đạt mức tối đa khi thị trường cân bằng
1.2 Đánh thuế và tác động của thuế
Thuế làm thay đổi đường giới hạn ngân sách và kéo theo thay đổi tiêu dùng của xã hội Hiệu quả xã hội là tối đa hóa ở mức cân bằng thị trường Vì vậy khi đánh thuế vào thị trường dẫn đến tổn thất xã hội
Để xem xét sự ảnh hưởng của thuế ta hãy xét ví dụ:
Hình 2: Tổn thất xã hội do thuế gây ra
Điểm cân bằng ban đầu A với lượng tiêu thụ 100 gallon, giá bán $1.5 Đường cung phản ánh chi phí biên của xã hội (SMC) Đường cầu phản ánh lợi ích biên của xã hội (SMB) và SMC = SMB Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, khi đánh thuế 0.5$/gallon
sẽ làm tăng chi phí sản xuất, làm giảm sản lượng xuống mức Q2 = 90 gallon và giá bán
Trang 3tăng lên mức P2 = $1.8 Lúc này điểm cân bằng mới là điểm B Việc giảm lượng tiêu thụ
và tăng giá bán đã tạo ra tổn thất theo diện tích BAC
Việc tăng giá từ $1.5 lên $1.8 khiến người tiêu dùng giảm lượng tiêu thụ từ 100 tỷ gallon xuống còn 90 tỷ gallon Điều này làm cho thặng dư tiêu dùng bị giảm xuống bằng với diện thích BAD vì không mua 10 tỷ gallon nữa.Đánh thuế 0.5$/gallon khiến cho nhà sản xuất không kiếm được lợi nhuận đối với 10 tỷ gallon giảm xuống Do đó, thặng dư của người sản xuất giảm xuống bằng với diện tích DAC
Tổng cộng mức giảm thặng dư của người sản xuất của người tiêu dùng chính là tổn thất xã hội: BAD + DAC = BAC
Tổn thất xã hội đo lường sự không hiệu quả của việc đánh thuế Mức tổn thất quyết định bởi sự thay đổi số lượng hàng hóa khi đánh thuế
Độ co giãn cung và cầu quyết định sự phân phối gánh nặng thuế, thì chúng cũng quyết định tính không hiệu quả của việc đánh thuế.Độ co giãn càng cao thì những thay đổi càng lớn về số lượng và tổn thất xã hội càng lớn
Hình 3: Tổn thất xã hội gia tăng theo độ co giãn
(a) Cầu ít co giãn (b) Cầu co giãn
Hình 3: Minh họa thuế đánh vào người sản xuất (người sản xuất nộp thuế)
Trang 4Nếu đường cầu không co giãn, có sự thay đổi về giá cả thị trường rất lớn nhưng lượng tiêu dùng gần như không thay đổi, dẫn đến người tiêu dung chịu thuế nhiều hơn.Vì vậy, tổn thất xã hội trong trường hợp này rất nhỏ
Nếu đường cầu co giãn, giá cả thị trường thay đổi rất nhỏ nhưng lượng tiêu dùng thay đổi rất lớn, dẫn đến người sản xuất chịu thuế nhiều hơn Vì vậy, tổn thất xã hội trong trường hợp này rất lớn
Sự không hiệu quả của việc đánh thuế được quyết định bởi việc người sản xuất và người tiêu dùng sẽ thay đổi hành vi như thế nào để tránh thuế Mức tổn thất được quyết định bởi sự thay đổi về số lượng hàng hóa trao đổi hiệu quả của xã hội nhưng không được thực hiện Tổn thất bị gây ra do người tiêu dùng và người sản xuất quyết định sản xuất và tiêu dùng không hiệu quả nhằm tránh thuế
2 ĐO LƯỜNG TỔN THẤT XÃ HỘI
2.1 Tính toán tổn thất xã hội
- Tổn thất xã hội: ( Hình 2)
- Độ co giãn của cầu:
- Trong đó:
- ∆Q = ᵑ s−ᵑ d ᵑ s ᵑ d x t x Q P
Thay vào (1), ta có:
DWL = x ∆Q x t (1)
=> ∆Q/Q =
s x ∆P/P
∆P = x t
Trang 5 Khi co giãn đường cung là vô cùng:
Nếu là thuế tỷ lệ t^ với t^ = t/p thì công thức là:
Phương trình:
Nhận xét:
- Tổn thất xã hội gia tăng theo độ co giãn của cầu
- Tổn thất xã hội gia tăng theo bình phương thuế suất t.
2.2 Tổn thất xã hội biên
Là sự gia tăng tổn thất xã hội trên một đơn vì thuế gia tăng thuế
Hình 4: Tổn thất xã hội biên gia tăng theo thuế suất
DWL = - 12 x x t2 x
DWL = - d x t2 x
DWL = - d x t^2 x P x Q
Trang 6Diễn giải
- Ban đầu thị trường cân bằng tại điểm A (số lượng Q1 và giá cả P1)
- Sau đó chính phủ đánh thuế 0.10$ vào người sản xuất dẫn đến đường cung thay đổi, dịch chuyển từ S1 đến S2: nghĩa là người sản xuất phải gánh chịu chi phí trên một đơn vị sản xuất cao hơn Lúc này điểm cân bằng mới là B (số lượng Q2 và giá P2) Đánh thuế tạo ra tổn thất xã hội là tam giác BAC
- Sau đó chính phủ tiếp tục đánh thuế 0.10$ thứ hai vào người sản xuất dẫn đến đường cung tiếp tục dịch chuyển lên trên bên trái đến S3 Điểm cân bằng mới là D với số lượng Q3 và giá mới P3 Tổn thất xã hội tiếp tục tăng thêm từ đánh thuế đơn vị thứ hai là diện tích DBCE, tất nhiên là lớn hơn diện tích BAC ban đầu Như vậy, tổn thất biên xã hội tự đánh thuế đơn vị thứ hai 0.10$ lớn hơn nhiều tổn thất biên từ đơn vị thuế 0.10$ đầu tiên Tính chung cho cả hai đơn vị thuế, tổn thất xã hội từ đánh thuế 0.20$ là diện tích DAE
Thị trường càng di chuyển ra xa điểm cân bằng, thì càng làm hạn chế thương mại (trong khi thương mai càng cao thì thặng dư xã hội càng lớn) Điều này hàm ý khoảng cách giữa cung và cầu càng giãn ra, tổn thất xã hội càng lớn.
3 TỔN THẤT XÃ HỘI VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG THUẾ HIỆU QUẢ
3.1 Tính hiệu quả của hệ thống thuế bị chi phối bởi sự bóp méo của thị trường trước đó
Sự bóp méo của thị trường trước đó là sự thất bại của thị trường như ngoại tác, cạnh tranh không hoàn hảo…xảy ra trước khi chính phủ đánh thuế
Trang 7Hình 5: Vấn đề bóp méo tồn tại trước đó
Trong thị trường thứ nhất hình (a) không có ngoại tác, điểm cân bằng ban đầu ở điểm A, tương ứng sản lượng Q1
Trong thị trường thứ hai hình (b) có ngoại tác tích cực dẫn đến chi phí xã hội biên (SMC) ở dưới chi phí cá biệt (S1-PMC) Các công ty chọn sản xuất tại điểm E, với sản lượng Q2 (cung cầu bằng nhau) nhưng thặng dư xã hội được tối đa hóa tại điểm D, ở đó SMC bằng với đường cầu, với mức sản lượng Q1 Như vậy do các công ty sản xuất dưới mức tối ưu của xã hội, nên tổn thất xã hội là EDF Nghĩa là có một số lượng sản phẩm từ Q2 đến Q1 không được giao dịch trên thị trường
Giả sử chính phủ đánh thuế đơn vị 1 đôla trên 1 đơn vị sản phẩm vào người sản xuất trong cả hai thị trường Thuế đã làm dịch chuyển đường cung hướng vào trong từ S1 đến S2 (cả 2 hình) dẫn đến người sản xuất cắt giảm sản suất đến Q2 trong hình (a) và Q3 trong hình (b) Đối với thị trường trong hình (a), không có ngoại tác, thuế tạo ra mức tổn thất rất nhỏ, diện tích BAC Đối với thị trường trong hình (b) thị trường có một tổn thất tồn tại trước khi đánh thuế (ngoại tác gây ra) và thuế làm gia tăng thêm tổn thất, diện tích hình thang GEFH Diện tích hình thang lớn hơn nhiều diện tích tam giác BAC Như vậy đánh thuế làm giảm sản lượng sản xuất, làm cho thị trường sản xuất dưới mức tiềm năng
C
Trang 8là do: (i) chi phí người sản xuất gia tăng; (ii) một số sản lượng sản phẩm không được giao dịch trên thị trường
Điều này cũng hàm ý cho thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và thị trường độc quyền Đối với thị trường không hoàn hảo các công ty sản xuất sản phẩm dưới mức tiềm năng so với cân bằng cạnh tranh Đánh thuế vào công ty gây ra tổn thất xã hội lớn hơn nhiều so với trước khi đánh thuế
3.2 Thiết kế hệ thống thuế hiệu quả
3.2.1.1 Mở rộng cơ sở thuế:
Tổn thất xã hội không chỉ xảy ra đối với thuế đánh vào hàng hóa mà còn xảy ra đối với thuế đánh vào thu nhập Một hàm ý khác của quy tắc này về tổn thất xã hội đó là có thể chi phí hiệu quả lớn di chuyển từ hệ thống thuế tỉ lệ (thuế suất trung bình đánh cho tất
cả các đối tượng) sang hệ thống thuế lũy tiến (thuế suất trung bình càng cao đối với người giàu)
Chuyển sang thuế suất lũy tiến nghĩa là làm thu hẹp cơ sở đánh thuế (phần thuế áp dụng cho người giàu chỉ bị đánh thuế dựa vào cơ sở thu nhập hẹp của người giàu) Nói chung đánh thuế vào tất cả đối tượng ở mức thuế suất bằng nhau (thuế tỉ lệ) hiệu quả hơn
so với việc loại trừ một vài cá nhân không đánh thuế và đánh thuế vào các cá nhân có thu nhập cao hơn với thuế suất cao để bù lại sự mất nguồn thu thuế (thuế lũy tiến) Hiệu quả
bị mất đi bằng việc đánh thuế vào một nhóm cá nhân có cơ sở thuế lớn là lớn hơn hiệu quả giành được bằng việc loại trừ không đánh thuế một vài cá nhân có cơ sở thuế nhỏ
Trang 9Hình 6: Đánh thuế thấp trên diện rộng làm thu hẹp tổn thất xã hội.
Không có bất kỳ đánh thuế, công nhân có tiền lương thấp làm việc 1000 giờ (H1)
và kiếm được 10 đôla/giờ (W1) như hình (a) trong khi công nhân có tiền lương cao cũng làm việc 1000 giờ (H1) nhưng kiếm được 20 đôla/giờ (W1) như hình (b) Bảng 1 dưới đây minh họa thuế, giờ lao động và tổn thất trong cân bằng ban đầu và khi chính phủ đánh thuế
Giả sử chính phủ đánh thuế 20% vào tất cả tiền lương của người lao động (thuế tỉ lệ) Thuế làm giảm thu nhập mà người lao động nhận được từ lao động, điều này làm giảm đi tính sẵn lòng làm việc của họ Đường cung lao động dịch chuyển từ S1 đến S2 Đối với người lao động có tiền lương thấp, cung lao động giảm từ 1000 giờ (H1) đến 894 giờ (H2), ở mức tiền lương trước thuế cao hơn 22.36 đôla , tạo ra tổn thất xã hội bằng diện tích EDF, 231.61 đôla
Trang 10Bảng 1: Tổn thất đánh thuế Tiền lương thấp
Hình A
Tiền lương cao Hình B Thuế
suất Thấp 10,000
Thuế suất Trên 10,000
Cung lao động (giờ)
Tổn thất từ đánh thuế
Cung lao động
Tổn thất từ đánh thuế
Tổng tổn thất
Đánh
thuế
(H1)
(H1)
Thuế tỷ
lệ
(H2)
115.54 (d tích BAC)
894 (H2)
231.61 (d tích EDF)
374.15 (BAC + EDF) Thuế lũy
tiến
( H1)
(H3)
566.42 (d tích GDI)
566.42 (EDF + GEFI)
Giả sử chính phủ chuyển sang áp dụng biểu thuế lũy tiến: thuế suất 0% với phần thu nhập đầu tiên 10,000 đôla và 60% cho phần thu nhập tăng thêm Hệ thống thuế lũy tiến huy động số tiền thu thuế giống như thuế tỷ lệ với thuế suất 20% đánh vào tất cả thu nhập Tuy nhiên hai hệ thống thuế khác nhau có kết quả hiệu quả khác nhau
Như vậy tư tưởng đánh thuế thật cao vào những người có thu nhập cao đã bắt đầu lỗi thời, có thể không thúc đẩy người ta cố gắng vươn lên để có thu nhập hợp pháp cao hơn, đồng thời tìm cách gian lận thuế giữa các bậc để hưởng thuế suất thấp hơn Điều này đồng nghĩa với việc phải tăng thêm kinh phí và nhân lực cho bộ máy thuế để kiểm tra,
Trang 11tiền thuế tăng nhưng tiền thực vào ngân khố (sau khi trừ đi chi phí cho hoạt động bộ máy thuế) không tăng
Thuế chỉ đánh vào một nguồn lực, thì tổn thất xã hội tăng nhanh hơn Bằng lôgíc này, hệ thống thuế hiệu quả nhất là hệ thống thuế trải dài gánh nặng đánh thuế trên diện rộng, theo đó thuế suất và tổn thất xã hội được thu hẹp Nguyên tắc hướng dẫn cho đánh thuế hiệu quả là tạo ra “sân chơi rộng lớn” chứ không nên đánh thuế cao vào một số nhóm người hoặc nhóm hàng hóa, còn một số đối tượng thì không
Thuế đồng nhất là cách duy nhất loại bỏ tổn thất hiệu quả Khi một người đã đóng khoản thuế này dù anh ta có làm việc và kiếm thêm tiền thì thuế suất biên thu nhập vẫn là zero
3.2.1.2 Hệ thống thuế nên “bằng phẳng” thuế suất theo thời gian
Tổn thất gia tăng theo bình phương thuế suất hàm ý chính phủ không nên gia tăng thuế khi cần tiền mà thay vào đó hãy thiết lập thuế suất dài hạn để đáp ứng nhu cầu ngân sách ở mức trung bình, sử dụng thặng dư và thâm hụt để bằng phẳng hóa những biến động ngân sách ngắn hạn Chẳng hạn, giả sử chính phủ đánh thuế với thuế suất 20% để tài trợ nhu cầu chi tiêu ngân sách Trong năm nhu cầu chi tiêu quân sự tăng lên, ước lượng tăng gấp đôi dự toán trong năm, sau đó trở lại bình thường Chính phủ không nên tài trợ nhu cầu đó bằng việc gia tăng thuế suất lên đến 40% năm sau và sau đó hạ thấp thuế suất 20% năm kế tiếp Hợp lý hơn, chính phủ nên gia tăng thuế suất với mức độ nhỏ
và kéo dài nhiều năm trong tương lai, như 1% cho 20 năm
Điều này gợi lên ý niệm đó là tổn thất biên gia tăng theo thuế suất Thuế suất 40% trong một năm và 20% trong năm tiếp theo dẫn đến tổn thất xã hội lớn hơn so với đánh thuế có thuế suất 20% được tăng dần 1% trong vòng 20 năm Tổn thất biên cùng với gia tăng thuế suất từ 20% lên 40% trong một năm lớn hơn phần tiết kiệm trong tổn thất xã hội được tạo ra do tăng thêm 1% của thuế suất 20% trong vòng 20 năm Nguyên lý này phù hợp với lý thuyết bằng phẳng háo tiêu dùng của một cá nhân Như vậy, với chính sách bằng phẳng hóa thuế suất sẽ tạo ra một hệ thống hiệu quả theo nguyên lý: cố định
Trang 12tương thuế suất cố định thời gian chứ không nên tăng thuế cao trong một khoản thời gian
và giảm thấp thuế trong khoảng thời gian khác
3.2.2.1 Vấn đề tái phân phối thu nhập và công bằng xã hội
Kinh tế ngày càng phát triển thì xã hội ngày càng có sự phân hóa thu nhập, của cải
và giàu nghèo sâu sắc hơn Vai trò của thuế là giảm sự phân hóa đó bằng cách tái phân phối lại thu nhập của xã hội, tức cũng đảm bảo tính công bằng hơn cho phát triển
Tính chất công bằng trong một chính sách thuế liên quan đến cả công bằng dọc và công bằng ngang Công bằng xã hội theo chiều ngang (horizontal justice) nghĩa là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng xã hội theo chiều dọc (vertical justice) theo nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau Chẳng hạn trong việc xây dựng chính sách thuế: những người có khả năng ngang nhau cần phải đóng một khoản thuế ngang nhau (công bằng theo chiều ngang), và những người có khả năng hay thu nhập không ngang nhau cần phải áp dụng những khoản thuế khác nhau (công bằng theo chiều dọc)
3.2.2.2 Vấn đề hiệu quả trong phân bổ nguồn lực
Thuế phải làm tăng tính hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực vốn có tính hữu hạn của nền kinh tế Do một chính sách thuế bất kỳ sẽ làm thay đổi hành vi của các thực thể trong nền kinh tế, nên việc xây dựng một hệ thống thuế hiệu quả sẽ giúp điều chỉnh lại các khuynh hướng tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế, khuyến khích việc khởi nghiệp… Thông qua các chính sách thuế, chính phủ có thể tạo ra các động cơ khuyến khích
có tính kinh tế để khu vực tư nhân phân bổ vốn các ngành nghề và lĩnh vực mục tiêu hơn
là các can thiệp hành chính gây méo mó các quan hệ thị trường Các dạng thị trường như thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản rất cần các chính sách thuế mới của Chính phủ để điều tiết và phân bổ lại nguồn lực thích hợp Nguyên tắc quan trọng là hệ thống thuế phải làm giảm tổn thất phúc lợi vô ích của xã hội bằng cách tạo ra một sắc thuế có mức thuế suất thấp nhưng có cơ sở thuế rộng hơn
Trang 133.3 Thực trạng hệ thống thuế tại Việt Nam:
Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung trong khuôn khổ cuộc cải cách thuế, hệ thống pháp luật về thuế cũng còn rất nhiều bất cập mà nhiều trong số đó bắt nguồn bản thân quan điểm về kinh tế thị trường và việc sử dụng các công cụ vĩ mô của nhà nước Việt Nam Cụ thể như sau:
Phạm vi mức độ tác động của các chính sách thuế đối với nền kinh tế còn thấp.
Tổng số thu nội địa năm 2004 chỉ chiếm 55,1% tổng thu Ngân sách Nhà nước, trong khi thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu và dầu thô chiếm tới 43,7%
Hệ thống chính sách thuế chưa bao quát và điều tiết hết các nguồn thu trong nền kinh tế và chưa thật sự đảm bảo bình đẳng, công bằng về nghĩa vụ nộp thuế và phù hợp với thông lệ quốc tế Trong hệ thống thuế hiện hành ở nước ta, thuế GTGT và thuế
TNDN có vị trí lớn nhất Thuế GTGT chiếm tỷ trọng cao nhất: 28,7%; thuế TNDN chiếm
tỷ trọng 22,4% tổng thu từ thuế, phí, lệ phí Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, đây là hai sắc thuế bù trừ tốt cho nhau trong các cuộc cải cách thuế lớn Do vậy, cần có sự ưu tiên đầu tư nghiên cứu sâu về chúng để có giải pháp thích hợp Trong khi các nước trên thế giới khi tính thuế giá trị gia tăng chỉ sử dụng một phương pháp tính thuế (phương pháp khấu trừ), thì ở nước ta hiện nay vẫn sử dụng hai phương pháp (khấu trừ và trực tiếp) Việc áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp đã gây ra nhiều bất hợp lý, không thể hiện tính ưu việt và thống nhất của thuế giá trị gia tăng, đồng thời gây khó khăn, giảm hiệu quả cho công tác quản lý thu thuế Thuế giá trị gia tăng vẫn bao gồm nhiều mức thuế suất (0%, 5%, 10%) tạo điều kiện cho người nộp thuế lợi dụng để, gian lận và trốn lậu thuế gây thất thu cho ngân sách nhà nước, thậm chí “chạy chọt”, hối lộ để được cán bộ ngành thuế “nương tay” Trong khi thuế TNCN là loại thuế lũy tiến, có khả năng điều tiết
xã hội cao, càng giàu, càng nộp nhiều thuế, thì ngược lại, thuế GTGT là loại thuế lũy thoái, khả năng điều tiết bảo đảm công bằng xã hội thấp Khi so sánh thu nhập và tỷ trọng thu nhập của các tầng lớp trong xã hội sẽ thấy rõ điều đó Rõ ràng, hiệu quả công bằng xã hội trong phân phối thu nhập về thuế của thuế GTGT kém hơn thuế thu nhập cá nhân