Đề tài được tiến hành thông qua các hoạt động: Tìm hiểu thực trạng dạy – học của giáo viên và học sinh, tham dự giờ lên lớp, gửi phiếu khảo sát tình hình học tập môn Công nghệ 10 đối với
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM VĂN TỈNH
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC TRONG GIẢNG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG THPT LÊ MINH XUÂN -
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : GIÁO DỤC HỌC - 601401
Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM VĂN TỈNH
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC TRONG GIẢNG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG THPT LÊ MINH XUÂN -
Trang 3LÝ LỊCH KHOA HỌC
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Địa chỉ: 86 – Đường 18 – Kp.6 – P.Linh Trung – Q.Thủ Đức – Tp.HCM
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:
Đại học:
- Hệ đào tạo: Chính qui
- Thời gian đào tạo từ 09/2003 đến 07/2007
- Nơi học: Đại học Nông Lâm Tp.HCM
- Ngành học: Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp
- Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp: Xây dựng bài giảng tập huấn kỹ
thuật chăn nuôi dê cho bà con nông dân
- Ngày & nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp: Ngày 10 tháng 05 năm
2007, Trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM
- Người hướng dẫn: GVC.ThS Lưu Thủ Nghị
III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC:
2007 - 2008 THPT Phước Long – H Phước
2008 - 2010
THPT DL Nguyễn Bỉnh Khiêm –
2010 - 2011 THPT Lê Minh Xuân – Bình
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2011
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian tham gia học lớp giáo dục học khoá 17B từ năm 2009 -
2011, tôi thấy mình đã có những bước phát triển trong nhận thức và phương pháp nghiên cứu khoa học một cách rõ rệt Để đạt được thành quả này, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo nhà trường, thầy cô, bạn cùng lớp và nhiều đồng nghiệp
Trước tiên, xin được gửi lòng biết ơn chân thành tới cô hướng dẫn, TS Nguyễn Thị Diệu Thảo đã tận tình chỉ bảo và định hướng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Tôi chân thành cảm ơn ban giám hiệu, phòng quản lý khoa học - quan hệ quốc tế & sau đại học và khoa sư phạm trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá học
Lời chân thành cảm ơn của tôi cũng xin gửi tới quý thầy cô, những người đã tham gia giảng dạy lớp cao học ngành giáo dục học khóa 17B, đã truyền lại cho tôi những kinh nghiệm quý báu, để tôi có được nguồn động lực quyết tâm theo đuổi sự nghiệp giáo dục trong tương lai
Xin cảm ơn ban giám hiệu và các giáo viên trường THPT Lê Minh Xuân đã tạo mọi thuận lợi cho tôi có được thời gian đi học cũng như giảng dạy ở trường, tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian tiến hành thực nghiệm đề tài
Lời cảm ơn của tôi cũng xin gửi tới các anh chị cùng lớp, đồng nghiệp, đã cùng tôi chia sẻ và gắn bó trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Xin ghi nhớ
Phạm Văn Tỉnh
Trang 6Đề tài được tiến hành thông qua các hoạt động: Tìm hiểu thực trạng dạy – học của giáo viên và học sinh, tham dự giờ lên lớp, gửi phiếu khảo sát tình hình học tập môn Công nghệ 10 đối với học sinh của trường THPT Lê Minh Xuân và đạt được những kết quả như sau:
Hoạt động dạy-học của giáo viên và học sinh đã đạt được kết quả khả quan như: Học sinh tích cực tham gia hoạt động học tập trên lớp, việc chuẩn bị bài học trước khi đến lớp cũng được thực hiện Vì vậy, kết quả học tập và hạnh kiểm của học sinh đã được nâng lên đáng kể
Qua kết quả thực nghiệm, cho thấy các giải pháp đề xuất trong đề tài đã đáp ứng được mục tiêu về chất lượng giảng dạy môn Công nghệ lớp 10 theo hướng tích cực hóa học sinh tại trường THPT Lê Minh Xuân Tp HCM
Người nghiên cứu đề tài Phạm Văn Tỉnh
Trang 7Le Minh Xuan high school, Ho Chi Minh City"
This study was conducted through the following activities: Research the situation teaching-learning of the teacher and students, attend class, send status survey studying of subject "technology" grade 10 for students, and achieved the following results:
Teaching-learning activities of teachers and students have achieved positive results such as students actively engaged in learning in the classroom, preparing lessons before coming to class Therefore, learning outcomes and student behavior has been significantly improved
Through experimental results, show that the solutions proposed in the thesis has met the requirements for quality teaching subjects “Technology” garde 10 towards active learning in Le Minh Xuan high school, Ho Chi Minh City
The author Pham Van Tinh
Trang 8MỤC LỤC
LÝ LỊCH KHOA HỌC I LỜI CAM ĐOAN IV LỜI CẢM ƠN V TÓM TẮT LUẬN VĂN VI ABSTRACT VII MỤC LỤC VIII DANH SÁCH CÁC HÌNH X DANH SÁCH CÁC BẢNG XI DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT XII
MỞ ĐẦU 1
1.LÝDOCHỌNĐỀTÀI 1
2.MỤCTIÊUVÀNHIỆMVỤNGHIÊNCỨU 2
3.ĐỐITƯỢNGVÀKHÁCHTHỂNGHIÊNCỨU 3
4.GIẢTHUYẾTNGHIÊNCỨU 3
5.PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 3
6.GIỚIHẠNPHẠMVINGHIÊNCỨU 4
7.KẾHOẠCHNGHIÊNCỨU 4
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC 6
1.LỊCHSỬVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 6
2.PHƯƠNGPHÁPDẠYHỌCTÍCHCỰC 7
2.1 Phương pháp dạy học 7
2.2 Khái quát về phương pháp dạy học tích cực 14
2.3 Tính tích cực học tập 20
2.4 Những biện pháp nhằm tích cực hóa dạy học 21
3.MỘTSỐPHƯƠNGPHÁPDẠYHỌCTHEOHƯỚNGTÍCHCỰCHÓA 23
3.1 Phương pháp vấn đáp (đàm thoại) 23
3.2 Phương pháp thảo luận nhóm 28
3.3 Phương pháp nêu vấn đề 30
3.4 Phương pháp dạy học bằng tình huống 31
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO GIẢNG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 10 33
1.ĐẶCĐIỂMCỦAHỌCSINHTHPT 33
2.CÁCYẾUTỐLIÊNQUANĐẾNGIẢNGDẠYMÔNCÔNGNGHỆ10 34
Trang 93 THỰCTRẠNGDẠY HỌCMÔNCÔNGNGHỆ10TẠITRƯỜNGTHPTLÊ
MINHXUÂN 38
3.1 Giới thiệu về trường THPT Lê Minh Xuân 38
3.2 Thực trạng nhận thức về PPDH tích cực trong quá trình dạy học môn Công nghệ 10 ở trường THPT Lê Minh Xuân 39
3.3 Nguyên nhân của thực trạng 40
4.VẬNDỤNGPPDHTÍCHCỰCVÀODẠYHỌCMÔNCÔNGNGHỆ10 42
4.1 Các giải pháp đổi mới PPDH môn Công nghệ 10 theo hướng tích cực hóa người học 42
4.2 Tổ chức dạy học môn Công nghệ 10 theo hướng TCH người học 47
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 55
1.MỤCĐÍCHTHỰCNGHIỆM 55
2.NỘIDUNGTHỰCNGHIỆM 55
3.QUÁTRÌNHTHỰCNGHIỆM 56
4.KẾTQUẢ 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1.KẾTLUẬN 74
2.KIẾNNGHỊ 75
3 HƯỚNG ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨUTIẾPTHEOCỦAĐỀTÀI 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 78
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.2: Tỉ lệ lưu giữ thông tin trong trí nhớ học sinh 13
Hình 2.3: Quy trình vận dụng PPDH theo hướng TCH người học 48
Hình 2.4: Quy trình thiết kế bài giảng theo hướng TCH người học 53
Hình 4.1: Biểu đồ chuẩn bị kế hoạch học tập 57
Hình 4.2: Biểu đồ mức độ yêu thích môn học 58
Hình 4 3: Biểu đồ mức độ tiếp thu bài 59
Hình 4.4: Biểu đồ khảo sát về không khí tổ chức lớp học 59
Hình 4.5: Biểu đồ kỹ năng trình bày trước tập thể của HS 60
Hình 4.6: Biểu đồ kỹ năng hỏi và trả lời câu hỏi 61
Hình 4.7: Biểu đồ vận dụng kiến thức vào thực tiễn 62
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nội dung xây dựng bài giảng theo PPDH tích cực hóa người học 45
Bảng 2.2: Nội dung phân công trong dạy học môn Công nghệ 10 46
Bảng 3.1: Khảo sát kế hoạch học tập 56
Bảng 3.2: Khảo sát mức độ yêu thích học tập môn Công nghệ 10 57
Bảng 3.3: Khảo sát mức độ tiếp thu bài 58
Bảng 3.4: Khảo sát không khí lớp học 59
Bảng 3.5: Khảo sát kỹ năng trình bày trước tập thể 60
Bảng 3.6: Khảo sát kỹ năng hỏi và trả lời câu hỏi 61
Bảng 3.7: Khảo sát vận dụng kiến thức vào thực tiễn 61
Bảng 4.1: Điểm thi học kỳ của lớp 10C3 năm học 2010 - 2011 63
Bảng 4.2: Điểm thi học kỳ của lớp 10C14 năm học 2010 - 2011 63
Bảng 4.3: Điểm thi học kỳ của lớp 10C3 năm học 2010 - 2011 63
Bảng 4.4: Điểm thi học kỳ của lớp 10C12 năm học 2010 - 2011 664
Bảng phân phối tần số (Số học sinh fi, đạt điểm Xi) 69
Bảng tần suất (% số HS fi, đạt điểm Xi), fi (%) 69
Trang 13MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu cấp bách trong nhà trường hiện nay Trước tình hình đó, ở nhiều nước trên thế giới, các phương pháp dạy học mới dựa trên quan điểm phát huy tính tích cực của người học, đề cao vai trò tự học của người học, kết hợp với sự hướng dẫn của thầy đang được áp dụng rộng rãi Với phương pháp giảng dạy mới “lấy người học làm trung tâm” người thầy tạo cho học sinh một không khí học tập sôi nổi, kích thích được tính chủ động và sáng tạo của học sinh Trong văn kiện chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 – 2020 (dự thảo lần thứ 14) về định hướng phát triển giáo dục (GD), các mục tiêu chiến lược giai đoạn 2009 – 2020 trong giải pháp 5: “Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh
giá kết quả học tập, kiểm định và đánh giá các cơ sở giáo dục”, có nội dung như
sau:
- Thực hiện cuộc vận động toàn ngành đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, biến quá trình học tập thành quá trình tự học có hướng dẫn và quản lý của giáo viên Xây dựng lại những tài liệu đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập cho các giáo viên từ mầm non đến giáo dục nghề nghiệp và đại học, ….Tăng cường thanh tra về đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá Đảm bảo đến năm 2020 có 100% giáo viên, giảng viên từ mầm non đến đại học được đánh giá là áp dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học mới
- Môn Công nghệ 10 có tính liên thông giữa GD phổ thông và GD nghề nghiệp,
là cầu nối các môn học khoa học với cuộc sống thực tiễn hằng ngày Nhiệm vụ của
bộ môn là GD nhân cách toàn diện cho HS, góp phần định hướng cho HS chọn nghề phù hợp với khả năng của mình Công nghệ 10 là môn học chính khoá được xây dựng và đưa vào giảng dạy ở các trường trung học phổ thông từ năm 2002 của chương trình đổi mới GD THPT năm 2002 Trong thời gian đưa vào giảng dạy đã xuất hiện một số vấn đề như sau:
Trang 14- Về đội ngũ giáo viên (GV): Nhìn chung GV dạy môn CN 10 đa số chưa qua đào tạo chuyên ngành; số GV phân công giảng dạy môn CN 10 có đào tạo chuyên môn đúng chuyên ngành đại học sư phạm kỹ thuật nông nghiệp chiếm tỉ lệ còn ít, số còn lại là các GV được đào tạo Sư phạm từ các ngành sư phạm sinh học được phân công giảng dạy môn học CN 10
- Về cơ sở vật chất: Giảng dạy ở phổ thông chủ yếu tập trung vào các môn kiến thức khoa học, chưa quan tâm đúng mức đến việc hướng nghiệp cho HS, nên thực hiện chương trình dạy nghề cho HS chỉ dừng lại ở mức độ hình thức cũng như việc đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí mua vật liệu thực hành phục vụ cho môn công nghệ 10 còn nhiều bất cập Do đó, việc triển khai dạy môn Công nghệ 10 ở các trường THPT hiện nay gặp nhiều khó khăn
- Về phương pháp dạy học (PPDH): Do nguyên nhân về chuyên môn của đội ngũ GV không đúng chuyên ngành, nên GV không nắm vững PPDH đặc trưng của dạy môn công nghệ 10 Đồng thời, cấp lãnh đạo ít quan tâm nên bộ môn rất ít tổ chức dự giờ tổ chuyên môn, không được tham gia tập huấn bồi dưỡng hướng dẫn đổi mới PPDH, …so với các môn khác Đây là một trong những yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy môn công nghệ 10
Chính vì các nguyên nhân nêu trên đã thúc đẩy người nghiên cứu tiến hành
nghiên cứu đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học trong giảng dạy môn Công Nghệ 10 tại trường THPT Lê Minh Xuân – Tp.HCM” nhằm tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy
môn Công nghệ 10 Từ đó, đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn và có tính khả thi, khắc phục các nhược điểm đang tồn tại, góp phần đổi mới PPDH một cách đồng bộ và có hiệu quả theo định hướng của Đảng và Nhà nước đã đề ra, cả nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở khảo sát thực trạng và thực nghiệm phương pháp giảng dạy môn Công nghệ lớp 10 tại trường THPT Lê Minh Xuân thành phố Hồ Chí Minh, đề tài
Trang 15đề xuất các biện pháp vận dụng một số phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa người học phù hợp với môn Công nghệ lớp 10
2.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu lý luận dạy học về các PPDH tích cực hóa người học
- Khảo sát mục tiêu, nội dung chương trình môn CN 10, PPDH, thiết bị phương tiện và đồ dùng dạy học, các hình thức đánh giá môn CN 10
- Khảo sát thực trạng về trình độ của đội ngũ GV, về PPDH, về cơ sở vật chất, trang thiết bị ở trường THPT Lê Minh Xuân tại thành phố Hồ Chí Minh để phân tích và đánh giá thực trạng việc giảng dạy môn CN 10
- Đề xuất một số giải pháp như: Thiết kế nội dung dạy học, cách sử dụng PTDH, vận dụng PPDH phù hợp, thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá môn học phù hợp với đặc thù của môn học, đặc điểm dạy học, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho GV nhằm phát huy tính tích cực chủ động học tập của HS
- Thực nghiệm PPDH tích cực tại trường THPT Lê Minh Xuân thành phố Hồ Chí Minh, nhằm kiểm chứng giải pháp đã đề xuất
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Các biện pháp vận dụng PPDH tích cực và cách thức tổ chức hoạt động dạy học môn học CN 10 của GV ở trường THPT Lê Minh Xuân tại huyện Bình Chánh - Tp
Hồ Chí Minh
- Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học Môn CN 10 ở trường THPT Lê Minh Xuân tại huyện Bình Chánh - Tp HCM
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học phụ thuộc vào tính tự giác, tích cực của người học Nếu vận dụng “phương pháp dạy học tích cực” trong dạy học bộ môn Công nghệ 10 sẽ phát huy được tính tích cực, tính tự lực nhận thức, tính tự giác của học sinh trong học tập, hình thành ở người học năng lực độc lập giải quyết vấn đề góp phần nâng cao được chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục, đào tạo
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 165.1 Phương pháp quan sát
Tiến hành dự giờ tham lớp của các giáo viên giảng dạy môn Công nghệ 10 tại trường
5.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập tài liệu trên sách, báo, tạp chí giáo dục, internet để lập cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
5.3 Phương pháp chuyên gia
Phỏng vấn các chuyên gia là những giáo viên dạy môn CN10 để làm rõ thực trạng công tác giảng dạy của môn học này
Xin ý kiến các chuyên gia về các bài giảng đã được biên soạn theo PPDH tích cực hóa người học
5.4 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm các bài giảng đã được biên soạn dựa trên các cơ sở lý luận về dạy học theo PPDH tích cực hóa người học
5.5 Phương pháp thống kê toán học
Dùng các phương pháp thống kê toán học để tổng hợp, phân tích câu hỏi trắc nghiệm dùng trong quá trình thực nghiệm bài giảng Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS để rút ra kết luận về giả thuyết nghiên cứu
6 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do hạn chế về thời gian cũng như khả năng, đề tài nghiên cứu việc giảng dạy môn CN 10 ở trường THPT Lê Minh Xuân – huyện Bình Chánh - Tp Hồ Chí Minh
7 KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành đề tài, người nghiên cứu tiến hành thực hiện qua các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Thu thập tài liệu, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, hoàn thành đề cương nghiên cứu
- Giai đoạn 2: Viết cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Giai đoạn 3: Phân tích nội dung sách giáo khoa môn Công nghệ lớp 10, biên soạn bài giảng theo PPDH tích cực hóa người học
Trang 17- Giai đoạn 4: Thực nghiệm các bài giảng và phân tích các câu hỏi trắc nghiệm
để nhiệm thu bài thực nghiệm
- Giai đoạn 5: So sánh kết quả học tập của mẫu đối chứng với mẫu thực nghiệm, rút ra kết luận về giả thuyết nghiên cứu
- Giai đoạn 6: Viết và hoàn chỉnh luận văn
Trang 18NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
HÓA NGƯỜI HỌC
1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
PPDH hiện đại xuất hiện ở các nước phương Tây (ở Mỹ, ở Pháp ) từ đầu thế kỷ
XX và được phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ, có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Hiện nay, PPDH tích cực được nghiên cứu rất nhiều, ở các lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên, đối với môn Công nghệ lớp 10 thì những nghiên cứu đi sâu vào PPDH tích cực có thực nghiệm hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều và chưa kĩ
Sau đây là một số luận văn mà người nghiên cứu đã tham khảo:
- Luận văn: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy học phần “lí luận dạy học Địa Lí” nhằm phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm Địa lí (2008), người thực hiện Đậu Thị Hòa - Trường
Đại học Sư phạm – Đại Học Đà Nẵng
Tác giả đã khảo sát và đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại trường Đại học
Sư phạm – Đại Học Đà Nẵng từ đó đã vận dụng các PPDH tích cực nhằm phát huy tính tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên
Kết quả: Vận dụng một số phương pháp dạy học nhằm phát huy năng lực tự học và tự nghiên cứu của SV Tác giả đề xuất các phương pháp cụ thể như sau:
1 Phương pháp hướng dẫn SV tự học
- Cấu trúc nội dung kiến thức, kĩ năng của học phần thành các vấn đề theo trình tự lô gic liên kết
- Thiết kế các vấn đề lớn thành các bài tập nhận thức ở các mức độ khác nhau
- Hướng dẫn SV giải quyết các vấn đề hoặc thực hiện các bài tập nhận thức
2 Phương pháp hướng dẫn SV thảo luận nhóm
Để thảo luận có hiệu quả, giáo viên cần hướng dẫn một cách cụ thể từng bước:
- Bước 1: Chia nhóm, cử chủ tọa và thư kí
Trang 19- Bước 2: Giáo nhiệm vụ (nội dung thảo luận) cho từng nhóm
- Bước 3: Tiến hành thảo luận
3.Phương pháp hướng dẫn SV đọc tài liệu phục vụ cho môn học
- Đối với những giáo trình chính, phục vụ trực tiếp cho môn học cần phải đọc
và nghiên cứu kĩ
- Đối với những tài liệu bổ sung cho từng phần của môn học
- Đối với những tài liệu tham khảo
- Luận văn: Vận dụng “Phương pháp dạy học tích cực” trong quá trình dạy học môn giáo dục học ở trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang (2009) Nguyễn
Văn Việt - Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Kết quả của đề tài: Tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng học tập môn giáo dục học của sinh viên và nhận thức về PPDH tích cực trong quá trình dạy học môn giáo dục học của giáo viên trường CĐSP Bắc Giang, tác giả đã áp dụng hai PPDH tích cực (phương pháp động não, phương pháp thảo luận) trong khi thực nghiệm đề tài nhằm phát huy tính tích cực của người học trong dạy học môn giáo dục học tại trường
2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
2.1 Phương pháp dạy học
2.1.1 Khái niệm
Phương pháp: Phương pháp có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp “Methodos” có
nghĩa là “con đường dõi theo sau một đối tượng” Hay nói một cách khác phương pháp là hệ thống các nguyên tắc, những yêu cầu mà con người phải thực hiện trong khi vươn tới mục đích của mình, phương pháp có nghĩa là con đường, là cách thức
để đạt được những mục tiêu nhất định
Phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học được hiểu là cách thức tác
động của giáo viên trong quá trình dạy học nhằm vào người học và quá trình học tập để gây ảnh hưởng thuận lợi cho việc học theo mục đích hay nguyên tắc đã định Phương pháp giảng dạy là con đường chính yếu, cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò, trong đó thầy truyền đạt nội dung trí dục trên cơ sở đó, và
Trang 20thông qua đó, mà chỉ đạo học tập của trò, còn trò thì lĩnh hội và tự chỉ đạo việc học tập của bản thân, để cuối cùng đạt tới mục đích dạy học
Theo Nguyễn Ngọc Quang “Phương pháp giảng dạy là cách thức làm việc của thầy và trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức kĩ năng,
kĩ xảo một cách tự giác, tích cực tự lực, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa học…”
Nhưng cho đến nay, phương pháp dạy học vẫn đang là một phạm trù được các nhà lí luận dạy học quan tâm Có nhiều ý kiến khác nhau về việc định nghĩa khái niệm Tuy nhiên dù ở những phạm vi quan niệm khác nhau nhưng đều thống nhất
- Phương pháp giảng dạy phản ánh cách thức hoạt động, tương tác, trao đổi thông tin dạy học giữa thầy và trò
- Phương pháp giảng dạy phản ánh cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của thầy: Kích thích và xây dựng động cơ; tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức của sinh viên; phản ánh cách thức tổ chức, tự điều khiển, tự kiểm tra đánh giá của trò
2.1.2 Phân loại phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học rất đa dạng vì hoạt động dạy và học chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, mục tiêu, nội dung Nhìn chung mỗi cách phân loại đều dựa theo các căn cứ sau:
Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học
- Phương pháp dạy học nghiên cứu tài liệu mới, hình thành kĩ năng, kĩ xảo
- Phương pháp dạy học củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
- Phương pháp dạy học ứng dụng kiến thức kĩ năng, kĩ xảo
Trang 21- Phương pháp dạy học kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Căn cứ vào nguồn kiến thức và tính đặc trưng của sự tri giác thông tin
- Phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ
- Phương pháp dạy học trực quan
- Phương pháp dạy học thực hành
Căn cứ vào hoạt động nhận thức của học sinh
- Phương pháp dạy học giải thích minh họa, tái hiện
- Phương pháp dạy học trình bày nêu vấn đề
- Phương pháp dạy học tìm tòi
- Phương pháp dạy học nghiên cứu
Căn cứ vào mức độ tích cực, sáng tạo của học sinh
- Phương pháp dạy học lấy giáo viên làm trung tâm: Trong quá trình dạy học diễn ra hoạt động của thầy giáo là chủ yếu
- Phương pháp dạy học hướng vào người học, phát huy tính tích cực của người học,…Giáo viên đóng vai trò chỉ dẫn, học sinh chủ động nắm tri thức
Cuộc cách mạng về phương pháp dạy học đòi hỏi phải chuyển dần từ phương pháp dạy học truyền thống theo kiểu thông báo tái hiện sang các phương pháp dạy học hiện đại tích cực nhằm phát huy cao độ tính độc lập sáng tạo, tiếp cận với nghiên cứu khoa học của học sinh Có thể so sánh đặc trưng của PPDH truyền thống và PPDH hiện đại như sau:
Quan niệm
Học là quá trình tiếp thu và
lĩnh hội, qua đó hình thành kiến
thức, kĩ năng, tư tưởng, tình
cảm
Học là qúa trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin,… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất.
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ
và chứng minh chân lí của giáo
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạyhọc sinh cách tìm ra chân lí
Trang 22Mục tiêu
Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo Học để đối phó
với thi cử Sau khi thi xong
những điều đã học thường bị bỏ
quên hoặc ít dùng đến
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạyphương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạycách học.
Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân
học sinh và cho sự phát triển xã hội
Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo
viên
Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế…: gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm Phương
pháp
Các phương pháp diễn giảng,
truyền thụ kiến thức một chiều
Các phươngpháp tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạyhọc tương tác.
2.1.3 Cơ sở lựa chọn phương pháp dạy học
Trong quá trình thiết kế bài giảng để dạy học, người giáo viên phải rất khó khăn
để lựa chọn PPDH cho phù hợp và có hiệu quả với nội dung bài giảng Các nhà lí luận dạy học, các nhà giáo dục học đã đưa ra lời khuyên: Mỗi PPDH có một giá trị
Trang 23riêng, không có PPDH nào là vạn năng, giữ vị trí độc tôn trong dạy học, cần phối hợp sử dụng nhiều các PPDH kết hợp với nhau Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay đang có sự đấu tranh giữa xu hướng dạy học truyền thụ một chiều hiện hành, với xu hướng chủ trương đổi mới PPDH theo hướng tích cực người học
Như vậy, cần phải tìm ra cơ sở để việc lựa chọn PPDH được tiến hành một cách thuận lợi và phù hợp với các yếu tố liên quan, đó là: Với mục tiêu dạy học; với nội dung dạy học; với nhu cầu, hứng thú, thói quen học tập của học sinh; năng lực, sở trường, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên; với điều kiện giảng dạy và học tập Dưới đây là một số cơ sở căn bản cần quan tâm khi lựa chọn PPDH:
- Chọn những PPDH có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học
Mỗi PPDH đều có những điểm mạnh, điểm hạn chế nhất định Nhưng khi xem xét việc thực hiện một mục tiêu dạy học nhất định thì có một số PPDH có khả năng cao hơn các PPDH khác Sau đây là kết quả nghiên cứu về khả năng của các PPDH trong việc thực hiện các mục tiêu (theo phân loại của Bloom và các tác giả khác):
Trang 24Bảng 1.1: Khả năng của các PPDH trong việc thực hiện các mục tiêu (theo phân
loại của Bloom và các tác giả khác)1 Nhìn vào ma trận, ta có thể thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của các nhóm PPDH với việc thực hiện mục tiêu, nhóm PPDH thuyết trình đạt được mức thang điểm đánh giá thấp nhiều về mục tiêu đạt được, việc hình thành nhân cách cho người học thì PPDH thuyết trình gần như đạt được rất ít, PPDH tích cực có tổ chức tương tác giữa người học với nhau thì việc đạt mục tiêu hình thành nhân cách cho người học Một kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy sự hạn chế của các PP dùng lời nói
và đồng thời khuyến khích tổ chức các hoạt động tự lập của học sinh phối hợp nhiều PPDH nhằm huy động đồng thời nhiều giác quan của học sinh tham gia vào quá trình tri giác các đối tượng để từ đó hình thành lên những kiến thức mới
1
PGS TS Nguyễn Hữu Chí Viện chiến lược và chương trình giáo dục
Trang 25Hình 1.2: Tỉ lệ lưu giữ thông tin trong trí nhớ học sinh2
- Lựa chọn các PPDH tương thích với nội dung học tập
Giữa nội dung và PPDH có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trường hợp quy định lẫn nhau Ở bình diện kĩ thuật dạy học, PPDH cần tương thích với nội dung dạy học Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định
- Lựa chọn PPDH cần chú ý đến hứng thú, thói quen của học sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên
Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của học sinh khi lựa chọn các PPDH
Chú ý thay đổi PPDH và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh Cần thay đổi PPDH sau 15, 20 phút
Ưu tiên lựa chọn các PPDH mà học sinh, giáo viên đã thành thạo
Với các PPDH có ưu điểm tương đương, cần ưu tiên lựa chọn PPDH mà GV
và HS đã thành thạo, bởi thực hiện dễ dàng hơn
- Lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện dạy học
2
PGS TS Nguyễn Hữu Chí Viện chiến lược và chương trình giáo dục
Trang 26 Ở đây đề cập đến PPDH diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất, đặc biệt là phương tiện dạy học (PTDH) Đương nhiên là cần phải lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện của nhà trường, của phòng thí nghiệm, của tình trạng đang có
Trong khuôn khổ điều kiện cho phép, cần chọn thứ tự ưu tiên khả năng tốt nhất
Các PTDH hiện đại không đồng nghĩa với các PTDH đắt tiền Tính hiện đại của PTDH thể hiện ở việc sử dụng các phương tiện sao cho đạt yêu cầu cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, thể hiện rõ tư tưởng sư phạm hiện đại Tóm lại, trên đây là 4 cơ sở quan trọng nhất, là căn cứ xuất phát khi tiến hành lựa chọn, lập kế hoạch sử dụng các PPDH Điều quan trọng nhất là cần xác định lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có thể giúp học sinh:
- Học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao tìm tòi khám phá
- Lĩnh hội tri thức trong các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, theo phương pháp khoa học
- Học trong tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân thiện, cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập
2.2 Khái quát về phương pháp dạy học tích cực
2.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999)
Luật Giáo dục , điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"3
3
Luật giáo dục, 2005
Trang 27Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
2.2.2 Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động,
trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"
2.2.3 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
2.2.3.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều
Trang 28mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình,
từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
2.2.3.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho
họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ
tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
2.2.3.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được
Trang 29thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng PPDH tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu
và khả năng của mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy-trò, trò-trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
2.2.3.4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều
Trang 30chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà còn cung cấp nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
2.2.4 Điều kiện áp dụng phương pháp dạy học tích cực
Giáo viên: Giáo viên vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư
phạm lành nghề, biết ứng sử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ tin vào dạy học, biết định hướng phát triển của HS theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của học sinh trong hoạt động nhận thức
Trang 31Học sinh: Phải biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách,
phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgíc, hình tượng, tư duy kĩ thuật, tư duy kinh tế…
Chương trình và sách giáo khoa: Phải giảm bớt khối lượng kiến thức tránh
nhồi nhét, tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực, giảm bớt những thông tin buộc người học phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài học giúp người học nhận thức để giải bài tập
Thiết bị dạy học: Thiết bị dạy học là điều kiện cho việc triển khai đổi mới
phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm
Đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh: Đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kĩ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Chừng nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực Theo quan điểm đổi mới đánh giá như trên việc kiểm tra, đánh giá sẽ định hướng về các
chỉ tiêu sau:
- Kiểm tra, đánh giá theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học
- Chú trọng kiểm tra năng lực độc lập, sáng tạo, năng lực tự học
- Đánh giá kết quả học tập theo các tiêu chí: Độc lập, sáng tạo
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của trò
- Thống nhất với vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục
Trách nhiệm quản lý: Tổ chức, chỉ đạo thực hiện dạy học tích cực ở trường học
là quản lý đổi mới PPDH thông qua quản lý hoạt động giảng dạy của GV, quản lý hoạt động học tập của HS, người quản lý của các trường học cần quan tâm tới:
- Quản lý việc chuẩn bị giờ lên lớp, giờ dạy trên lớp của GV
Trang 32- Tổ chức dự giờ và phân tích, đánh giá giờ dạy của GV
- Hướng dẫn giáo viên đổi mới soạn giáo án theo hoạt động
- Chỉ rõ những yêu cầu của giáo án theo hoạt động
- Quy định chất lượng giáo án đáp ứng mục tiêu dạy học tích cực
- Mỗi kết quả trong mục tiêu được diễn tả bằng một động từ hành động
Hãy phấn đấu để trong mỗi tiết học ở trường phổ thông, học sinh được hoạt
động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được
suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập
2.3 Tính tích cực học tập
2.3.1 Những đặc điểm về tính tích cực của học sinh 4
Tích cực trong lý luận dạy học được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động, nhu nhược (Active so với Passive); chứ
không liên quan đến việc đánh giá đạo đức, hành vi xã hội như tích cực và tiêu cực (Positive và Negative) Tính tích cực (TTC) nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa Hạt nhân cơ bản của TTC nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng TTC nhận thức và TTC học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không phải là một Có một số trường hợp, TTC học tập thể hiện ở hành động bên ngoài, mà không phải là TTC trong tư duy
Tính tích cực của người học thể hiện ở tính tự phát và tính tự giác:
- Tính tự phát: Là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu
kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức độ khác nhau Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển chúng trong dạy học
4
G.S TSKH Thái Duy Tuyên - Viện khoa học giáo dục
Trang 33- Tính tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó TTC tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học
2.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức
Tính TTC nhận thức của người học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu
tố bản thân người học, yếu tố nhà trường và môi trường xã hội mà người học tiếp xúc, nhìn chung các yếu tố này có tác động ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của người học theo từng thời kỳ và cường độ khác nhau
TTC nhận thức phụ thuộc vào bản thân người học ở các điểm sau:
- Đặc điểm hoạt động trí tuệ (tái hiện, sáng tạo )
- Năng lực (hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sự trải nghiệm cuộc sống )
- Tình trạng sức khỏe
- Trạng thái tâm lí (hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí )
- Điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian, tiền bạc, không khí đạo đức)
- Môi trường tự nhiên, xã hội
TTC nhận thức phụ thuộc vào yếu tố nhà trường ở các điểm sau:
- Chất lượng quá trình dạy học (nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức kiểm tra đánh giá )
- Quan hệ thày trò
- Không khí đạo đức nhà trường
Từ đó, việc phát huy TTC của HS đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội
2.4 Những biện pháp nhằm tích cực hóa dạy học
2.4.1 Cá nhân hóa dạy học
Tổ chức hoạt động học tập cho HS theo cá nhân hóa người GV cần phân công nhiệm vụ học tập và giao cho HS bằng những bài tập nhỏ sao cho phù hợp với trình
độ của cá nhân HS Bởi vì trong môi trường học tập của trường lớp được tổ chức dạy học theo các chương trình chung nhằm đáp ứng cho việc đánh giá theo những
Trang 34mục tiêu chung vì vậy mà người GV cũng cần lưu ý đến sở thích và năng lực của
HS để giúp đỡ, giám sát quá trình tiếp thu kiến thức của HS
Cá nhân hóa dạy học là biện pháp chiến lược nhằm thỏa mãn tối đa hóa bản chất
và quy luật của học tập: việc học luôn là việc riêng của cá nhân, không ai học thay được ai được, ai muốn được cái gì thì người ấy phải tự làm lấy, nhưng cũng không chỉ riêng ai đó phải học, ai cũng cần phải học và giáo viên có trách nhiệm dạy cho tất cả HS của mình học tập
2.4.2 Phân hóa nội dung chương trình học
Trong quá trình dạy học nội dung dạy học là một thành tố quan trọng từ đó giúp cho sự đánh giá được kết quả người học, xét theo qui mô rộng thì nội dung chương trình học có thể chia thành những môn học bắt buộc, môn học tự chọn và những môn học ngoại khóa Còn ở qui mô hẹp, khi giảng dạy một môn học, người giáo viên có thể phân chia nội dung thành nhiều phần nhỏ tùy vào hệ thống mục tiêu cần đạt được của môn học và sở trường của người học: phần nào GV giảng, phần nào
HS tự nghiên cứu hoặc thực hành tham quan Tổ chức cho HS tự làm việc, hoặc thảo luận theo nhóm, rồi trả lời câu hỏi, hoặc giải bài tập để chứng minh rằng đã lĩnh hội được môn học Giải pháp này cho thấy, HS lần lượt giải quyết từng phần nội dung mà không cảm thấy nặng nề quá tải, trái lại còn thích thú và tự thỏa mãn vì nghĩ rằng mình đã hoàn thành nhiệm vụ học tập
2.4.3 Tích hợp dạy học
Bao gồm việc kết hợp một số môn học, hoặc một số nội dung bộ phận lại với nhau, tạo thành hệ thống môn học mới, giúp giảm nhẹ tính giàn trải của chương trình truyền thống, sao cho phù hợp với khả năng học tập của học sinh Trong quá trình thiết kế chương trình tích hợp cần chú ý đến sự phân hóa trình độ nhận thức của người học, chương trình chuẩn phù hợp với trình độ nhận thức của phần đông người học và phải nâng cao đáp ứng nhu cầu, năng lực cá nhân của đối tượng khá-giỏi Tích hợp dạy học cần chú ý đến tính liên thông giữa các môn học và giữa các cấp học, đảm bảo nguyên tắc kế thừa và phát triển từ các chương trình giáo dục, phù hợp với trình độ phát triển tâm – sinh lý của người học, đảm bảo các mạch kiến thức
Trang 35xuyên suốt Tích hợp chương trình của mỗi môn học đều nêu cụ thể những định hướng đổi mới PPDH, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập, chú trọng hơn tới yêu cầu phát triển kỹ năng thực hành – thí nghiệm và liên hệ vận dụng vào thực tiễn
2.4.4 Dạy học với sự hỗ trợ của phương tiện
Phương tịên dạy học được hiểu là những dụng cụ, máy móc, thiết bị, vật dụng cần thiết cho hoạt động dạy và học, giúp cho quá trình nhận biết, lĩnh hội kiến thức của người học được tốt hơn Ví dụ: Sách giáo khoa, giáo trình, bảng viết, vật mẫu, vật thật các phương tiện, dụng cụ trang bị trong các phòng thí nghiệm thực hành Trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học đã hỗ trợ rất nhiều cho công việc của giáo viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học Ngoài ra với các phương tiện dạy học mới giáo viên có thể rút ngắn được thời gian giảng giải thuyết trình để tập trung hơn vào rèn luyện phương pháp, kĩ năng cho học sinh
3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA
Theo quan điểm của đề tài nên người nghiên cứu tìm hiểu về một số PPDH để thuận tiện cho việc áp dụng trong quá trình thực nghiệm đề tài, đề tài nghiên cứu một số PPDH sau:
3.1 Phương pháp vấn đáp (đàm thoại)
3.1.1 Khái niệm
Phương pháp vấn đáp là phương pháp hỏi đáp trong dạy học, trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi, khích lệ và gợi mở để học sinh dựa vào kiến thức đã học mà trả lời nhằm rút ra những kiến thức mới hay củng cố hoặc kiểm tra
Ở phương pháp này học sinh không tiếp thu bài một cách thụ động, mà ở một mức độ tích cực sáng tạo nhất định tìm ra kiến thức mới Khi trả lời câu hỏi, học
Trang 36sinh phải nhớ lại kiến thức đã có, sử dụng các thao tác logic: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…để gia công tài liệu, tìm lời giải đáp đúng nhất
3.1.2 Đặc điểm của phương pháp vấn đáp
Phương tiện giao tiếp là lời nói, có sự hỏi đáp giữa giáo viên và học sinh, đặt câu hỏi - trả lời
Có tính khích lệ là vai trò chủ đạo của giáo viên, giúp cho học sinh hoạt động có tính tự giác, tự lực, tích cực tham gia vào quá trình đàm thoại
3.1.3 Mục đích sư phạm của phương pháp vấn đáp
Tái hiện kiến thức và củng cố kiến thức
Phát triển kiến thức mới
Liên thông với kiến thức, kinh nghiệm của học sinh
Phát triển năng lực diễn đạt
3.1.4 Phân loại phương pháp vấn đáp
Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức
đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học
Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó,
giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh
dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn
Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi
được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của
sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy
Trang 373.1.5 Những yêu cầu cơ bản trong việc sử dụng phương pháp vấn đáp
3.1.5.1 Kỹ thuật soạn thảo và đặt câu hỏi
Đặc điểm của câu hỏi tốt:
- Câu hỏi phải kích thích sự suy nghĩ, đòi hỏi học sinh phả gia công trí nhớ và vận dụng tri thức, tránh câu hỏi có/không? Đúng/sai? Nếu có giải thích lý do?
- Câu hỏi phải vắn tắt, rõ ràng, dễ hiểu và đầy đủ, mỗi lần nên hỏi một câu, nên dùng ngôn ngữ đơn giản, vừa sức trình độ học sinh, tránh những câu hỏi hai nghĩa lờ mờ, hỏi kỹ lại khi có nhiều câu trả lời
- Câu hỏi phải có mục đích, liên quan trực tiếp tới tài liệu cơ bản trong bài và đuợc đặt đúng vị trí, đúng lúc trong bài để nhấn mạnh điểm chốt
- Câu hỏi kích thích sự quan sát (đặc điểm, biện pháp)
- Câu hỏi vận dụng phương pháp logic, hướng dẫn khả năng khái quát hóa, hệ thống hóa các mối quan hệ nhân quả
- Đối với câu hỏi tái hiện, giáo viên đòi hỏi học sinh phải tích cực đưa ra nội dung tài liệu đã được lĩnh hội trước đây, vạch ra ý nghĩa cơ bản của tri thức đã học, vận dụng những tri thức đã học đó để giải quyết vấn đề mới Câu hỏi phải nêu được bản chất của những sự vật, hiện tượng hình thành và phát triển tư duy logic
- Khối lượng của những khái niệm trong câu hỏi của giáo viên không được vượt quá khả năng tìm ra câu trả lời của học sinh (câu hỏi vừa sức và để học sinh
có thời gian suy nghĩ trả lời)
3.1.5.2 Soạn câu hỏi
Tùy vào mức độ nhận thức của HS mà người giáo viên có thể soạn thảo những câu hỏi phù hợp để áp dụng trong quá trình giảng dạy để tiết dạy học trở lên sinh động hơn, người giáo viên có thể sử dụng các loại câu hỏi thông dụng sau:
- Loại xác định: Ai? Tại sao? Thế nào? Ở đâu? Bao giờ? Cách nào? Làm gì?
- Loại lựa chọn và giải thích
Trang 38- Loại gợi mở: Liệt kê, mô tả, chứng minh, giải thích, so sánh, phân tích, tổng hợp
- Loại đánh giá: nhận xét, phê bình, ý kiến riêng, thí dụ
- Loại gợi mở ham muốn sự hiểu biết bài mới
- Loại lôi cốn sự chú ý của học sinh không tập trung hoặc thờ ơ: “Em hãy tóm tắt các điều vừa nói xong”
- Loại gợi mở bài giảng mới, câu hỏi mạch lạc, có hệ thống, theo trình tự đã hoạch định cẩn thận trước, đi từ điều đã biết, từ dễ đến khó, từ nguyên nhân đến kết quả hoặc theo phương pháp quy nạp hay suy diễn
- Kích thích học sinh suy nghĩ tự lập theo mẫu trong sách hoặc của giáo viên
- Câu hỏi phải có đáp án kèm theo để đánh giá câu trả lời của học sinh
3.1.5.3 Kỹ thuật đặt câu hỏi và gọi học sinh trả lời
- Giáo viên đặt câu hỏi cho toàn lớp nghe và suy nghĩ (nói chậm rãi, đủ lớn để mọi người cùng nghe, không lặp lại nhiều lần), chỉ định cho học sinh trả lời Khi học sinh nào đó trả lời xong, cần yêu cầu các học sinh khác nhận xét bổ sung câu trả lời nhằm kích thích chú ý và kích thích hoạt động chung của cả lớp Giáo viên cũng tạo điều kiện cho học sinh đính chính, bổ sung Sau đó giáo viên nhấn mạnh câu trả lời đúng của học sinh
- Vấn đề gọi học sinh, nên tránh gọi một số học sinh nhiều lần và bỏ quên một
số khác Câu hỏi phải vừa sức trình độ người học, để duy trì nhịp độ cần thiết của phương pháp đàm thoại và bảo đảm tính cá biệt trong dạy học Giáo viên chuẩn bị những câu hỏi khó và câu hỏi dễ, nên dành câu hỏi khó cho học sinh giỏi Tuy nhiên, vấn đề này còn tùy thuộc vào tình huống của lớp, đôi lúc học sinh khá cũng theo dõi sự phát biểu của câu hỏi dễ và học sinh kém hiểu đuợc câu hỏi khó nhờ
sự dẫn dắt từng bước của giáo viên
Thái độ của giáo viên
Khuyến khích học sinh trả lời bằng câu hỏi phụ, nét mặt vui tươi, lắng nghe, tế nhị, không chế diễu câu trả lời sai, không khí thoải mái không có sự
Trang 39chống đối, tránh đối thoại tay đôi giữa giáo viên và học sinh hoặc nhóm riêng Giáo viên nên lắng nghe thắc mắc của học sinh, phức tạp nên để cuối bài giảng hoặc diễn trình, giáo viên sẽ giải thích
Thăm dò là một kỹ xảo thấy được suy nghĩ của học sinh để tìm ra ý tưởng đặt câu hỏi phù hợp
Đánh giá câu trả lời của học sinh
Để học sinh biết câu trả lời đúng hay sai nhiều ít bằng cách hiểu một cách khác câu trả lời của học sinh hoặc gợi mở thêm nhưng không nên thành thói quen luôn nhắc lại câu trả lời của học sinh Khi học sinh trả lời giáo viên lưu ý:
- Câu trả lời phải rõ ràng để mọi người có thể nghe thấy rõ
- Những nhận thức sai lầm hoặc những tin tức không chính xác, cần được sửa chữa, bổ sung ngay
- Không khí trong lớp thoải mái, hợp tác, không có sự chống đối giữa học sinh
- Việc quan trọng nhất phải làm là nghe câu trả lời, xem xét bốn khả năng
có thể và cách ứng xử của học sinh
(1) Trả lời đúng: Khen ngợi, thừa nhận học sinh đó
(2) Trả lời đúng một phần: Đầu tiên khẳng định phần trả lời đúng, rồi đề nghị em khác bổ sung, cải tiến phần không đúng
(3) Trả lời sai:
- Ghi nhận đóng góp của học sinh đó, sửa câu trả lời, không phải sửa học sinh
- Đề nghị những em khác trả lời
- Nếu cần làm rõ thêm, thông báo với học sinh sẽ quay trở lại
- Không phê bình học sinh
(4) Không trả lời:
- Không làm to chuyện, hỏi một học sinh khác
- Đặt lại câu hỏi dưới dạng khác
- Dùng các phương tiện nhìn để làm sáng tỏ câu hỏi rổi hỏi lại
Trang 40- Giảng lại khái niệm đó
3.1.6 Đặc điểm của phương pháp vấn đáp
- Nếu quá nhiều câu hỏi sẽ mất nhiều thời gian, ảnh hưởng kế hoạch lên lớp
- Đàm thoại có thể trở thành đối thoại giữa giáo viên và một vài học sinh, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung
3.2 Phương pháp thảo luận nhóm
3.2.1 Khái niệm
Phương pháp thảo luận nhóm trong học tập là phương pháp mà học sinh không còn làm việc cá nhân mà là làm việc chung với nhau bằng những nhóm nhỏ, thảo luận chung trong nhóm về những vấn đề do giáo viên đề ra nhằm mục đích tìm hiểu những nội dung và tự giải đáp trước khi vấn đề đó được giải quyết với sự giám sát, điều chỉnh chung của lớp học và của giáo viên
Phương pháp thảo luận nhóm có thể tiến hành :