Đây là một hình thức dạy học màtrong đó người giảng viên tìm mọi biện pháp để đưa sinh viên vào các tình huống cóvấn đề, hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên phát huy tính sáng tạo và tính
Trang 1LÝ LỊCH KHOA HỌC
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ và tên: Đinh Thị Quyền Giới tính: Nữ
Địa chỉ: 03 Đường 14, Kp2, P.Linh Chiểu, Q Thủ Đức, Tp.HCM
Email: thanhquyenhus@gmail.com
Điện thoại: 0908292697
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:
Hệ đào tạo: Đại học Thời gian đào tạo: từ 09/2002 đến 05/2007Nơi học: Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Tp.HCM
Ngành học: Bảo hộ lao động
Tên đồ án: Thực trạng công tác bảo hộ lao động tại Công ty giày da 30-4Trảng Bàng, Tây Ninh
Người hướng dẫn: Nguyễn Văn Hưng
III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2013
Đinh Thị Quyền
Trang 3Xin cám ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố
Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành học tập và nghiên cứu đề tài này.
Xin cám ơn quí Thầy – Cô, cùng các bạn sinh viên Khoa Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu.
Đặc biệt, tôi xin chân thành biết ơn Thầy TS Nguyễn Toàn đã tận tình
giúp đỡ và hướng dẫn trực tiếp cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Xin cám ơn gia đình và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn khoa học này.
Tác giả
Đinh Thị Quyền
Trang 4TÓM TẮT
Trong những năm gần đây cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế Thế Giới vàcác nước trong khu vực đã tạo tiền đề thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam đi trên conđường công nghiệp hoá đất nước Để làm tốt điều này Đảng và nhà nước ta đãkhông ngừng quan tâm đến giáo dục và phát triển giáo dục Quá trình toàn cầu hóa
và sự phát triển của nền kinh tế tri thức đòi hỏi người lao động phải có tiềm năng trítuệ, năng động sáng tạo, có năng lực tự tìm tòi và giải quyết vấn đề Để đáp ứngđược nhu cầu đòi hỏi của xã hội, sự nghiệp giáo dục nước ta phải đổi mới mạnh mẽ,toàn diện và đồng bộ, trong đó đổi mới phương pháp dạy học ở mọi cấp học có tầmquan trọng đặc biệt
Trường ĐH TDTT Tp.HCM trong những năm qua đã coi trọng việc đổi mớiphương pháp dạy học ở tất cả các bậc học, ngành học, môn học Tuy nhiên trướcyêu cầu này nhiều giảng viên đã và đang đổi mới cách dạy, tích cực áp dụng cácphương pháp dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực của người học Tuy nhiên,trên thực tế vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa thực sự nắm bắt đầy đủ bản chất vàcách thức vận dụng các phương pháp dạy học cụ thể nhằm phát huy tính tích cựchoạt động của người học
Thực tiễn dạy học môn giáo dục học cho thấy: Mặc dầu đã cố gắng nhiềutrong việc thay đổi cách dạy và học, song phần nhiều vẫn thiên về phương pháp dạyhọc truyền thống nên hiệu quả học tập chưa cao Hơn nữa đây là môn nặng về lýluận, trong khi thực tiễn dạy học lại vô cùng phong phú, nếu bài dạy không gắn vớithực tiễn sẽ trở nên khô khan, cứng nhắc, giáo điều, khó tiếp thu
Với những đặc điểm nêu trên đòi hỏi người giảng viên khi dạy học các bộmôn khoa học xã hội phải có năng lực sư phạm, có trình độ chuyên môn cao, đặcbiệt phải biết vận dụng sáng tạo những phương pháp dạy học để phát huy tính tíchcực nhận thức của sinh viên Dạy học nêu và giải quyết vấn đề là một trong nhữngphương pháp dạy học cơ bản đáp ứng yêu cầu trên
Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề là một trong những phươngpháp dạy học được nhiều người đánh giá là có hiệu quả cao, nhất trong là trong quátrình dạy học ở bậc cao đẳng, đại học Sử dụng phương pháp dạy học này sẽ
Trang 5kích thích tính chủ động, tích cực, sáng tạo và tăng cường độ làm việc của cả giảngviên và sinh viên trong suốt quá trình lên lớp Đây là một hình thức dạy học màtrong đó người giảng viên tìm mọi biện pháp để đưa sinh viên vào các tình huống cóvấn đề, hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên phát huy tính sáng tạo và tính tích cực cánhân để giải quyết các vấn đề được đặt ra nhằm đạt mục đích cuối cùng là giúp sinhviên nắm được tri thức mới hoặc cách thức hành động mới khi họ tích cực tham giavào quá trình dạy học nêu vấn đề Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học
môn học nên tác giả chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học môn Giáo dục học tại trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh”.
Dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của luận văn, tác giả đã đề xuất quytrình dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, tiến hành thực nghiệm sưphạm có đối chứng nhằm đánh giá tính hiệu quả của đề xuất Kết quả nghiên cứucho thấy việc vận dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề trong quá trình dạyhọc đã có tác dụng rõ rệt, đã phát huy được tính tích cực của người học và góp phầnnâng cao chất lượng kết quả học tập môn GDHĐC tại trường ĐH TDTT Tp.HCM
Trang 6In recent years, the growth of the world and the countries’economy in theregion have established the important premise of promoting Vietnam's economy tothe orientation of industrialization and modernization.To do this well, educationand educational development have been concerned by the Communist party and theState.The process of globalization and the development of knowledge-basedeconomy require workers to have self-motivated, creative and intellectualpotentials, capability of self-exploration and problem solving To meet thedemanding needs of society, our national education system must be innovatedstrongly, comprehensively, including innovation methods in teaching and process
in all educational levels
For all educational levels, ologies, subjects, Ho Chi Minh University of Sporthas attached special importance to an innovation of teaching methods in theserecent years.However, to meet this request, many teachers have innovated methods
in teaching, and actively applied new teaching methods to improve learners’activeness.However, some teachers still show some lackness about how to applythe appropriate teaching and learning methods that improve learners’ activenessfully
Our national pedagogical system is still traditional, so learning process is noteffective So, If the modern methods are not well applied appropriately, oureducational system will remain dry, rigid and dogmatic
The informations mentioned above require the national education systemteachers to be creative so as to promote students `active awarness So the moderneducational system of teaching needs qualified teachers in social sciences able tochange the dogmatic traditional methods teaching in our country
New teaching strategies have to be implemented in order to solve issuesrelated to pedagogical implications By doing so, our learners will develop amindset of creativity This is to help our students to shift from one level to another
in accordance with standard edutional system in the world Based on these details, I
Trang 7have selected the theme: "The Application of problem solving method on
teaching general pedagogics at Ho Chi Minh City University of Sport"
In order to deal with the theme correctly, the author proposes the teachingprocess according to the teaching method of problem – solving The pedagogicalexperiment observed led us to evaluate the effectiveness of the new educationalsystem if well implemented The results of this research paper have promoted thelearner's activeness and contributed to the improvement of teaching and learningprocess at the Ho Chi Minh University of Sport.MỤC LỤC
Trang 8LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xii
DANH SÁCH CÁC BẢNG xiii
DANH SÁCH CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ xvi
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 4
PHẦN II: NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 8
1.3 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 9
1.3.1 Một số quan điểm về phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề 9
1.3.2 Bản chất của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề 10
1.3.3 Tình huống có vấn đề và cách tạo tình huống có vấn đề 11
1.3.4 Các kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề 17
1.3.5 Quy trình dạy học nêu và giải quyết vấn đề 19
1.3.6 Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề 24
1.3.7 Điều kiện vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề 25
Trang 9Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐH TDTT TP.HCM 29
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG ĐH TDTT TP.HCM 29
2.1.1 Lịch sử hình thành 29
2.1.2 Về cơ sở vật chất 29
2.1.3 Đội ngũ cán bộ viên chức 30
2.2 CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN TDTT CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TẠI TRƯỜNG ĐH TDTT TP.HCM 31
2.2.1 Mục tiêu đào tạo 31
2.2.2 Khối lượng kiến thức tối thiểu và thời gian đào tạo theo thiết kế 31
2.2.3 Phạm vi áp dụng của chương trình khung 32
2.2.4 Khái quát chương trình môn GDHĐC trong chương trình đào tạo đại học chuyên ngành GDTC tại trường ĐH TDTT Tp.HCM 32
2.3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐH TDTT TP.HCM 33
2.3.1 Tổ chức khảo sát 33
2.3.2 Kết quả khảo sát 33
2.3.2.1 Về mục tiêu dạy học 33
2.3.2.2 Về nội dung 38
2.3.2.3 Về phương pháp giảng dạy 39
2.3.2.4 Về phương tiện dạy học 45
2.3.2.5 Hình thức kiểm tra - đánh giá 47
2.3.2.6 Kết quả góp ý, đánh giá giờ giảng 48
2.3.2.7 Kết quả họp tọa đàm chuyên môn sau môn học 49
2.4 NGUYÊN NHÂN VỀ HIỆU QUẢ DẠY VÀ HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐH TDTT Tp.HCM 51
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 51
2.4.2 Nguyên nhân khách quan 51
Trang 102.5 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC VẬN DỤNG PPDH NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN GDHĐC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ
THAO TP.HCM 52
Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO TP.HCM 56
3.1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ, MỤC TIÊU, NỘI DUNG PHẦN LÝ LUẬN GIÁO DỤC TRONG MÔN GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG 56
3.1.1 Vị trí, vai trò của phần LLGD trong môn GDH đại cương 56
3.1.2 Mục tiêu dạy học phần LLGD 56
3.1.3 Nội dung dạy học phần LLGD 57
3.2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY PHẦN LÝ LUẬN GIÁO DỤC MÔN GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG 58
3.3 KIỂM NGHIỆM – ĐÁNH GIÁ 65
3.3.1 Phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng 65
3.3.1.1 Mục đích 65
3.3.1.3 Đối tượng 65
3.3.1.4 Nội dung 65
3.3.1.5 Cách thức tiến hành 65
3.3.1.6 Kết quả kiểm nghiệm 66
3.3.2 Kết luận rút ra từ kết quả thực nghiệm 81
Kết luận chương 3 83
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
I KẾT LUẬN 86
II KIẾN NGHỊ 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 11PPDH nêu và GQVĐ Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
TRAN G
1 Bảng 1.1: Các mức độ của dạy học nêu và giải quyết vấn đề 23
2 Bảng 2.1: Kết quả học tập môn GDHĐC của SV K31, K32, K33
Trang 12trong giờ học GDHĐC (phụ lục 8)
5 Bảng 2.4: Sự hứng thú của SV đối với môn GDHĐC 36
6 Bảng 2.5: Mức độ hài lòng của SV về môn GDHĐC theo từng
8 Bảng 2.7: Bảng số liệu thống kê mức độ phù hợp của nội dung
với trình độ tiếp thu của sinh viên
38
9 Bảng 2.8 : Bảng thống kê về tính thực tiễn của môn học 38
10 Bảng 2.9: Kết quả khảo sát SV về vai trò của môn GDHĐC 38
11 Bảng 2.10: Kết quả điều tra về mức độ sử dụng các PPDH trong
giờ học GDHĐC
40
12 Bảng 2.11: Mức độ sử dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn
đề trong giờ dạy môn GDHĐC
41
13 Bảng 2.12: Vận dụng PPDH nêu và GQVĐ vào dạy những loại
bài học trong giờ GDHĐC
41
14 Bảng 2.13: Mức độ vận dụng PPDH nêu và GQVĐ trong hình
thức tổ chức dạy học
42
15 Bảng 2.14: Vận dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề kết
hợp với những PPDH khác trong giờ GDHĐC
42
16 Bảng 2.15: Đánh giá của GV về mức độ tích cực của sinh viên
khi sử dụng PPDH nêu và giải quyết vấn đề
20 Bảng 2.19: Bảng thống kê mức độ sử dụng phương tiện dạy học
mà GV sử dụng theo đánh giá của SV
46
21 Bảng 2.20: Bảng thống kê về sử dụng tài liệu tham khảo của SV 47
22 Bảng 2.21: Bảng thống kê mức độ sử dụng các tiêu chí vào kiểm
24 Bảng 2.23: Bảng số liệu thống kê về mức độ chính xác của kết
quả kiểm tra môn GDH đại cương
48
25 Bảng 2.24: Bảng thống kê về mức độ sử dụng hình thức thi, kiểm 48
Trang 1326 Bảng 2.25: Tổng hợp kết quả góp ý, đánh giá giờ giảng môn
GDHĐC của GV (phụ lục 8)
22
27 Bảng 3.1: Mức độ nhận thức của sinh viên lớp TN và ĐC về vai
trò của môn GDHĐC sau thực nghiệm
67
28 Bảng 3.2: Tự đánh giá thái độ học tập môn GDHĐC của sinh
viên GDTC lớp TN và ĐC sau thực nghiệm
67
29 Bảng 3.3: Sự hứng thú của sinh viên lớp TN và ĐC đối với môn
Giáo dục học đại cương
68
30 Bảng 3.4: So sánh mức độ hứng thú của sinh viên các lớp TN,
ĐC với SV khóa trước đối với môn GDHĐC
69
31 Bảng 3.5: So sánh mức độ hài lòng của SV các lớp thực nghiệm
và đối chứng với SV các khóa Đại học trước về môn GDHĐC
71
32 Bảng 3.6: Phân bố tần số, tần suất, tần số lũy tích bài kiểm tra lần
1
75
33 Bảng 3.7: Các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 1 75
34 Bảng 3.8: Các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 2 77
35 Bảng 3.9: Phân bố tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra
Trang 14DANH SÁCH CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
ST
TRAN G
1 Hình 1.1: Sơ đồ quy trình dạy học nêu và giải quyết vấn đề 22
2 Biểu đồ 2.1: Kết quả học tập môn GDHĐC của SV K31, K32,
4 Biểu đồ 2.3: Mức độ sử dụng hình thức kiểm tra đánh giá 47
5 Biểu đồ 2.4: Tổng hợp kết quả góp ý, đánh giá giờ giảng môn
7 Biểu đồ 3.2: So sánh mức độ hứng thú của sinh viên các lớp TN,
ĐC với SV khóa trước đối với môn GDHĐC sau thực nghiệm
70
8 Biểu đồ 3.3: So sánh mức độ hài lòng của SV các lớp TN, ĐC với
SV khóa trước
72
9 Biểu đồ 3.4: So sánh mức độ hài lòng của SV các lớp TN, ĐC với
SV khóa trước đối với môn GDHĐC theo đánh giá tổng hợp
73
10 Biểu đồ 3.5: Biểu thị tần suất bài kiểm tra lần 1 76
11 Biểu đồ 3.6: Biểu thị tần suất tích lũy bài kiểm tra lần 1 76
12 Biểu đồ 3.7: Biểu thị tần suất bài kiểm tra lần 2 78
13 Biểu đồ 3.8: Biểu thị tần suất tích lũy bài kiểm tra lần 2 78
14 Biểu đồ 3.9: Biểu thịtần suất lũy tích trung bình 2 lần kiểm tra 80
15 Biểu đồ 3.10: Biểu đồ tần suất lũy tích trung bình 2 lần kiểm tra 80
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 16PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lịch sử nhân loại đã bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của thông tin,tri thức Thông tin và tri thức được coi là tài sản vô giá, là quyền lực tối ưu của mỗiquốc gia Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã dẫn đến
sự gia tăng nhanh chóng khối lượng tri thức của nhân loại cũng như tốc độ ứngdụng vào đời sống xã hội tạo nên sự đa dạng của thế giới Ngày nay, giáo dục đượcxem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia tiến bước vào tương lai, là ngànhsản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể đong đếm được Giáo dục không chỉ cóchức năng chuyển tải những kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệsau, mà quan trọng là trang bị cho mỗi người phương pháp học tập, tìm cách pháttriển năng lực nội sinh, phát triển tư duy nội tại, thích ứng được với một xã hội họctập thường xuyên, học tập suốt đời Để giúp người học đáp ứng được những yêu cầu
đó, việc cải cách, đổi mới giáo dục là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách,trong đó, đổi mới phương pháp dạy học là khâu then chốt nhất trong quá trình đạtđến mục tiêu đổi mới giáo dục
Kết luận của Hội nghị giữa Hội đồng Giáo dục Australia và các Bộ trưởngGiáo dục – Đào tạo –Việc làm (9/1992): năng lực giải quyết vấn đề là một trong bảynăng lực then chốt người lao động cần phải có Như vậy, việc hình thành cho sinhviên kỹ năng giải quyết vấn đề khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một việc làm hếtsức cần thiết góp phần không nhỏ vào sự thành công cho họ sau này và cho cả sựphát triển của quốc gia Để làm được điều này đòi hỏi ngành giáo dục cần phải có tưduy mới, phù hợp với xu hướng của thời đại Trong đó một yếu tố rất quan trọngquyết định sự thành công của giáo dục, đào tạo đó là phương pháp giảng dạy củagiáo viên sao cho người học sau khi ra trường phải thích ứng ngay với môi trườnglàm việc, chấp nhận và vượt qua mọi khó khăn, thử thách
Mục tiêu của giáo dục đại học nước ta đã được Luật Giáo dục xác định:
“Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” [3]
Trang 17Hội nghị lần thứ 2 của BCH TW Đảng CSVN khóa 7 đã nhấn mạnh “Đẩy mạnh phương pháp giảng dạy ở tất cả các cấp, các bậc học Áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại để bồi dưỡng cho sinh viên năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Nếu chúng ta vẫn cứ duy trì lối dạy học theo kiểu thầy đọc
trò ghi, thì đây là một thiệt thòi lớn không chỉ cho người học mà còn cho cả đấtnước vì như thế sẽ làm mai một đi sự sáng tạo, hạn chế khả năng tự giải quyết vấn
đề của biết bao con người Cho nên, việc đổi mới phương pháp giảng dạy là mộtviệc làm hết sức cần thiết nhất là vào thời điểm này
Trong những năm qua việc giảng dạy môn Giáo dục học ở các trường đại học
và cao đẳng đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn chưa đáp ứng được yêucầu ngày càng cao việc nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục học theo đúngtính chất của một môn học nghề
Giáo dục học với tư cách là một bộ môn khoa học nghiệp vụ, có vai trò quantrọng trong việc hình thành và phát triển trình độ văn hóa sư phạm cho những người
GV tương lai Cụ thể, nó cung cấp những hiểu biết cơ bản về các vấn đề giáo dụcnhư mục đích, tính chất cũng như nhiệm vụ của nền giáo dục Việt Nam, cung cấpcho họ những hiểu biết cơ bản về hoạt động nghiệp vụ của người GV, rèn luyện cho
họ hệ thống những kĩ năng sư phạm cơ bản (dạy học, giáo dục) và giúp họ hìnhthành lí tưởng đạo đức và tình cảm nghề nghịêp Do có tầm quan trọng như vậy, nênviệc không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng dạy và học môn GDH trong nhàtrường sư phạm nói chung và trường ĐH TDTT Tp.HCM nói riêng là một yêu cầutất yếu
Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề khơi gợi tư duy độc lập củasinh viên, qua đó đảm bảo sự chú ý và sự tiếp thu tích cực, có chủ đích của sinhviên Phương pháp này đặt ra một vấn đề nào đó cần giải quyết, nhưng không đưa racách giải quyết trực tiếp mà kích thích học sinh tìm tòi lời giải đáp Đây là phươngpháp cho phép áp dụng phương pháp nghiên cứu và cách thức để thu lượm tri thức,phát huy tính độc lập trí tuệ thực sự của người học Qua đó nâng cao chất lượng họctập của sinh viên nói riêng và chất lượng học tập của nhà trường nói chung
Trang 18Xác định được tầm quan trọng của môn học và phương pháp dạy học trên,
nên tác giả chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn
đề trong dạy học môn Giáo dục học tại trường ĐH TDTT Tp.HCM”.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Áp dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học mônGiáo dục học nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập, nâng cao chấtlượng dạy và học tại trường ĐH TDTT Tp.HCM
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học môn giáo dụchọc cho sinh viên trường ĐH TDTT Tp.HCM
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn giáo dục học ở trường ĐH TDTT Tp.HCM (Áp dụngtrên sinh viên đại học chuyên ngành Giáo dục thể chất khoá 34)
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong dạy họcmôn GDH sẽ phát huy được tính tích cực, tính tự lực nhận thức, tính tự giác củasinh viên trong học tập, hình thành ở họ năng lực độc lập giải quyết vấn đề, gópphần nâng cao được chất lượng dạy học môn GDH tại trường ĐH TDTT Tp.HCM
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Với đề tài này tác giả thực hiện các nhiệm vụ sau:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề 5.2 Khảo sát thực trạng việc sử dụng các PPDH và phương pháp dạy học nêu
và giải quyết vấn đề trong dạy học môn GDH tại trường ĐH TDTT Tp.HCM
5.3 Vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong quá trìnhdạy học môn giáo dục học cho sinh viên trường ĐH TDTT Tp.HCM
5.4 Kiểm nghiệm đánh giá
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do thời gian có hạn nên tác giả chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu vận dụngphương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học Phần Lý luận giáo dục
Trang 19(Chương 6: Quá trình giáo dục và chương 8: Phương pháp giáo dục) thuộc mônGDHĐC thông qua khảo sát việc dạy và học ở trường ĐH TDTT Tp.HCM.
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu đề tài này tác giả tiến hành sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau đây:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và phân tích, hệ thống hoá, khái
quát hoá những tài liệu liên quan đến đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra bằng phiếu về thực trạng dạy
và học môn Giáo dục học đại cương tại trường Đại học Thể dục Thể thao Thànhphố Hồ Chí Minh ; thực nghiệm sư phạm có đối chứng về dạy học môn Giáo dụchọc đại cương
7.3 Phương pháp thống kê toán học: nhằm đánh giá tính khả thi của đề xuất
về dạy học theo PPDH nêu và GQVĐ trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố
Hồ Chí Minh
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị luận văn gồm 03 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề Chương II: Thực trạng dạy học môn Giáo dục học đại cương tại trường Đại
học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
Chương III: Vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong dạy
học môn giáo dục học (phần lý luận giáo dục) cho sinh viên trường Đại học Thể dụcThể thao Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 20PHẦN NỘI DUNG
Trang 21PHẦN II: NỘI DUNG
Vào những năm 70 của thế kỷ XIX, các nhà khoa học về xã hội như: M.M
Xtaxiulevct, N.A Rôgiơcôp, X.P Bantalon, M.A Rưpnicova,… và các nhà khoa học
tự nhiên như A.IA Giecđơ, B.E Raicôp, H.E Amxtơrong… đã nêu lên phương án
tìm tòi phát kiến (ơrixtic) trong dạy học nhằm hình thành năng lực nhận thức chohọc sinh bằng cách lôi cuốn các em tự lực tham gia vào quá trình hoạt động tìmkiếm tri thức, phân tích các hiện tượng, làm các bài mới mà trước đây chưa hề làm
và nội dung có chứa đựng những khó khăn nhất định Đây là một trong những cơ sở
của dạy học giải quyết vấn đề
Vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX, một số nhà giáo dục Bungari vàCộng hoà dân chủ Đức đã có các công trình nghiên cứu về dạy học nêu vấn đề
Trong thời gian đó, các nhà lý luận dạy học Liên xô (cũ) cũng đã quan tâmnhiều đến vấn đề tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh Tuy nhiên các tácgiả chỉ mới nêu nguyên tắc dạy mà chưa nêu được quy trình vận dụng dạy học nêuvấn đề Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, các nhà tâm lý học và nhà sư phạm Xô viết(cũ) đã đóng góp nhiều cống hiến lớn trong việc nghiên cứu lý luận phát huy tínhtích cực nhận thức của học sinh trong học tập như Lev Vưgotsky, S.L.Rubinstein,A.M.Machjusin, A.V.Brus-linski, B.E.Raiơkov, P.I.Pidkasistưi, M.N.Skatkin v.v
Năm 1909, quan điểm về dạy học nêu vấn đề đã đuợc nhà giáo dục nổi tiếngcủa Hoa kỳ - John Dewey trình bày trong cuốn: "Chúng ta suy nghĩ như thế nào"
Trang 22Cuốn sách này đã được viết hoàn chỉnh hơn vào năm 1933 và tái bản nhiều lần saunày [45].Trong tác phẩm này, J.Dewey đã đề ra quy trình suy nghĩ vận động củahọc sinh để đi đến làm sáng tỏ vấn đề nhận thức Học trò của J.Dewey là V.Becton
và J.W.Gefzels đã nghiên cứu và hoàn chỉnh về dạy học nêu vấn đề Các tác giả đócho rằng dạy học nêu vấn đề rất có hiệu quả trong việc tạo cho học sinh khả nănglàm việc độc lập trong giờ học [47], nhưng các tác giả đó chưa đề cập tới lý thuyếtcủa dạy học nêu vấn đề
Vào những năm giữa thế kỷ XX, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề mới
được tập trung nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc hơn ở các môn khoa học tựnhiên, khoa học xã hội và các môn kĩ thuật Một đội ngũ đông đảo những người nghiêncứu về phương pháp giải quyết vấn đề: M.N Xcatkin, A.M Macchiuskin, T.VCuđriapxep, M.I Makhơmutôp, N.A Polopnicova,…đã xuất hiện và có những đónggóp quan trọng
A.M Macchiuskin với “Các tình huống có vấn đề trong tư duy và trong dạy học” [1] đã tập trung nghiên cứu sâu vấn đề cốt lõi của dạy học giải quyết vấn đề đó
là các THCVĐ Ông đã trình bày một hệ thống các khái niệm cơ bản liên quan đếntình huống có vấn đề trong dạy học Lý thuyết của ông về các THCVĐ trong tư duy
và trong dạy học là những cơ sở lý thuyết của dạy học giải quyết vấn đề
I.IA Lecne với “Dạy học nêu vấn đề” [19] cũng đặc biệt quan tâm tớiTHCVĐ trong dạy học nêu vấn đề Ông cho rằng THCVĐ là một khâu quan trọngcủa dạy học nêu vấn đề Không có THCVĐ thì không có dạy học nêu vấn đề Ông
đã vạch ra các dạng dạy học giải quyết vấn đề và tính giải quyết vấn đề trong toàn
bộ hệ thống dạy học, định ra các chức năng và các tiêu chuẩn đánh giá của dạy họcgiải quyết vấn đề Ông cũng nêu ra những nhiệm vụ cơ bản và vai trò của GV đốivới quá trình dạy học giải quyết vấn đề
V.Okôn - nhà giáo dục học nổi tiếng của Ba Lan với “Những cơ sở của việc
dạy học nêu vấn đề” [38], đã khẳng định được tác dụng của phương pháp dạy học
giải quyết vấn đề là “kích thích học sinh tích cực suy nghĩ, chủ động tìm tòi, sángtạo để giải quyết vấn đề, đạt tới kiến thức mới một cách sâu sắc, vững chắc” Mặc
dù là người đầu tiên đạt được nhiều thành công trong việc thực nghiệm PPDH giảiquyết vấn đề nhưng V.Okôn lại chỉ nặng về việc ghi lại những thực nghiệm của mình
Trang 23trong việc áp dụng kiểu dạy học của PPDH này mà không chú trọng đến việc xây
dựng những cơ sở khoa học của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Trong số các nhà khoa học thời kỳ này không thể không nhắc đến M.IMakhơmutôp [23] Dựa vào các kết quả của những thành tựu về tâm lý học – giáo dụchọc, đặc biệt là lý luận dạy học mà M.I Macmutov đã chính thức đưa ra cơ sở lýluận vững chắc của PPDH giải quyết vấn đề – PPDH được kế thừa bởi dạy họcAlgorit hóa và Ơrixtic – và đã đưa dạy học giải quyết vấn đề trở thành một phươngpháp dạy học tích cực
1.1.2 Ở Việt Nam
Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây, ở Việt Nam đã có nhiều côngtrình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về dạy học nêu vấn đề với mục đích nângcao chất lượng dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh.Hầu hết các giáo viên đã làm quen với thuật ngữ dạy học nêu vấn đề
- Trong lĩnh vực lý luận dạy học
Nguyễn Ngọc Bảo [4]: Dạy học nêu vấn đề là một phương tiện tích cực hóahoạt động học tập của SV và giới thiệu những cách thức tạo nên THCVĐ; quá trìnhđặt vấn đề và giải quyết vấn đề và những mức độ của dạy học nêu vấn đề
Vũ Văn Tảo [28]: Nêu lên đặc trưng cơ bản của dạy học giải quyết vấn đề là
“tình huống có vấn đề, tình huống học tập”
Nguyễn Ngọc Quang [26]: Từ những kinh nghiệm dạy học tích lũy được, ông
là người sớm quan tâm nghiên cứu lĩnh vực Lý luận dạy học theo quan điểm hiệnđại Công trình Lý luận dạy học (2 tập) do ông biên soạn là một tài liệu có đóng gópđáng kể vào việc xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho ngành phương pháp dạy học
ở nhà trường nước ta
Thái Duy Tuyên [36]: Đây là công trình nghiên cứu, hệ thống hóa lý luận dạyhọc nhằm xác định sự khác nhau giữa PPDH truyền thống và hiện đại Theo quanđiểm đổi mới PPDH theo xu thế chung trên thế giới, tác giả đã giới thiệu hệ PPDHhiện đại, trong đó DHNVĐ là một khâu quan trọng Dựa trên yêu cầu của cuộc cáchmạng trong khoa sư phạm, tác giả nêu những ưu thế của DHNVĐ trong quá trình
GD đào tạo của nhà trường với những nội dung cụ thể và xem DH NVĐ là một
Trang 24“quan niệm tư tưởng dạy học” Những vấn đề nghiên cứu về PPDH của tác giả đãcập nhật được thành tựu của Lý luận dạy học trong thời gian qua
- Trong lĩnh vực dạy học hoá học, Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là người đã cónhiều nghiên cứu vận dụng dạy học dạy học giải quyết vấn đề Tiếp sau,có các tácgiả: Nguyễn Cương; Nguyễn Ngọc Bảo; Nguyễn Đình Am; Dương Tất Tốn Gầnđây, có luận án tiến sĩ của Lê Văn Năm (2001), với nhan đề "Sử dụng dạy học nêuvấn đề- ơrixtic để nâng cao hiệu quả dạy học chương trình hóa đại cương và hóa vô
cơ ở trường trung học phổ thông"
- Trong lĩnh vực dạy học toán học nghiên cứu vận dụng dạy học dạy học giảiquyết vấn đề, có các tác giả: Phạm Văn Hoàn; Nguyễn Bá Kim…
- Trong lĩnh vực dạy học vật lý các tác giả: Lê Nguyên Long; Nguyễn ĐứcThâm; Phạm Hữu Tòng… đã nghiên cứu vận dụng dạy học giải quyết vấn đề Tronglĩnh vực dạy học sinh học, Giáo sư Trần Bá Hoành là người sớm có những nghiêncứu về mặt lý luận và vận dụng thành công dạy học giải quyết vấn đề
- Gần đây, Nguyễn Kì đã đưa phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề vàonhà trường tiểu học và thực nghiệm ở một số môn như Toán, Tự nhiên– Xã hội,Đạo đức
- Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu dạy học giải quyết vấn đề vậndụng vào dạy học môn Giáo dục học
Phương pháp dạy học nêu và gải quyết vấn đề thật sự là một PPDH tích cực.Trong công cuộc đổi mới PPDH, phương pháp này là một trong những phươngpháp chủ đạo được sử dụng trong nhà trường nói chung
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Trang 25Giải quyết vấn đề
Giải quyết vấn đề là quá trình tìm ra một giải pháp thỏa mãn cho một vấn đềmới hay chí ít là một vấn đề mà người giải quyết chưa tìm ra trước đó [46]
1.3 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.3.1 Một số quan điểm về phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Một số quan điểm về dạy học nêu và giải quyết vấn đề như sau:
- Nhà giáo dục học Ba Lan V.Okôn cho rằng: “DH NVĐ là toàn bộ các hoạtđộng như tổ chức tình huống có vấn đề, biểu đạt các vấn đề, chú ý giúp đỡ cho họcsinh những điều cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết đó và cuốicùng là quá trình hệ thống hoá và củng cố các kiến thức tiếp thu được” [39, tr.103]
- I.Ia.Lecne cho rằng: “DH NVĐ là phương pháp dạy học trong đó học sinhtham gia một cách hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề và các bài toán cóvấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu học trong chương trình” [19, tr.5 - 6]
- Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo: “Dạy học nêu vấn đề là hình thức dạy họcdựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cáchsáng tạo, bao gồm sự kết hợp các phương pháp dạy và học có những nét cơ bản của
sự tìm tòi khoa học Nhờ vậy, nó đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững chắc những
cơ sở khoa học, phát triển tính tích cực, tính tự lực và năng lực sáng tạo và hìnhthành cơ sở thế giới quan cho họ” [4, tr.41]
Qua các định nghĩa của các tác giả trong và ngoài nước về phương pháp dạyhọc nêu vấn đề, mặc dù cũng có sự khác biệt nhưng các tác giả đều coi phươngpháp dạy học nêu vấn đề là việc tổ chức quá trình dạy học bằng cách sáng tạo ra cáctình huống có vấn đề, tạo ra ở học sinh nhu cầu phát hiện và giải quyết vấn đề nảysinh, lôi cuốn học sinh tự lực trong hoạt động nhận thức
Trang 26Từ những ý kiến trên, có thể nêu ra định nghĩa về phương pháp dạy học nêuvấn đề như sau: Phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học đặt sinhviên trước một nhiệm vụ nhận thức thông qua những tình huống có vấn đề do GVđặt ra, SV ý thức được vấn đề đó và kích thích ở họ tính tích cực, chủ động tự lựcgiải quyết một cách sáng tạo hoặc dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của GV, SV giảiquyết vấn đề, kiểm tra kết luận rút ra nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
1.3.2 Bản chất của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề [7]
Bản chất của dạy học nêu và giải quyết vấn đề là đặt ra trước SV một hệthống các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưabiết, chuyển SV vào tình huống có vấn đề, kích thích SV tự giác, có nhu cầu mongmuốn giải quyết vấn đề, kích thích hoạt động tư duy tích cực của SV trong quá trìnhgiải quyết vấn đề, tức là làm cho SV tích cực tự giác trong việc giành lấy kiến thứcmột cách độc lập [41]
Nói cách khác, bản chất của dạy học nêu và giải quyết vấn đề là giới thiệucho SV một cách chính xác, đầy đủ về các vấn đề của tình huống, qua đó tạo độnglực cho việc nghiên cứu và trao đổi của SV, từ đó SV có được những nội dung kiếnthức
Như vậy, dạy học nêu và giải quyết vấn đề có 3 đặc trưng cơ bản sau đây:
1 Giáo viên đặt ra trước SV một loạt những bài toán nhận thức có chứa đựngmâu thuẫn giữa cái đã biết và chưa biết, nhưng chúng được cấu trúc lại một cách sưphạm gọi là những bài toán nêu vấn đề ơritstic
2 Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán như mâu thuẫn của nội tâmmình và được đặt vào THCVĐ, tức là trạng thái có nhu cầu bên trong bức thiếtmuốn giải quyết bằng được bài toán đó
3 Trong quá trình tổ chức giải bài toán, SV lĩnh hội một cách tự giác và tíchcực cả kiến thức cả cách giải và do đó có được tâm lý tích cực nhận thức một cáchsáng tạo [26]
Như vậy, khác với những kiểu dạy học truyền thống – SV chỉ nhằm mụcđích là giải được bài toán và ghi nhớ kiến thức đã học được, trong dạy học giảiquyết vấn đề thì việc xây dựng các bài toán nhận thức là mục đích quan trọng.Chính các bài toán nhận thức đó sẽ gây ra nhu cầu và động cơ nhận thức, thúc đẩy
Trang 27sự tìm tòi sáng tạo của SV Mục tiêu của dạy học giải quyết vấn đề là giúp SV nắmvững nội dung và có được các kĩ năng giải quyết các vấn đề có thực trong cuộcsống
1.3.3 Tình huống có vấn đề và cách tạo tình huống có vấn đề
1.3.3.1 Tình huống có vấn đề
Tình huống có vấn đề là một trong những khái niệm cơ bản trọng tâm củaPPDH nêu và GQVĐ, nó có vai trò quan trọng trong quá trình lĩnh hội tri thức vàđiều khiển quá trình tư duy Bàn về tình huống có vấn đề đã có nhiều tác giả có ýkiến khác nhau
A.M.Machiuskin cho rằng: “Một tình huống gọi là tình huống có vấn đề khixuất hiện sự không tương xứng, sự xung khắc giữa cái đã biết và cái đòi hỏi, cáchthức và những yếu tố thực hiện hành động đang đòi hỏi; hoặc khi con người gặpphải một vài độc lập mới mà không thể thực hiện hành động đã biết” [1]
Theo M.I Makhơmutôp: “THCVĐ là trạng thái tâm lý của sự khó khăn về mặttrí tuệ nảy sinh ở con người trong những tình huống khách quan khi cần giải thíchmột sự kiện mới bằng tri thức đó cũ hoặc bằng cách thức hoạt động đã biết trướcđây mà phải tìm tri thức hoặc tìm cách thức hoạt động mới” [23, tr.280]
Theo PGS TS Nguyễn Ngọc Bảo: “Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý của
sự khó khăn về trí tuệ xuất hiện ở con người khi họ trong tình huống có vấn đề mà họphải giải quyết chứ không thể giải thích một sự kiện mới bằng tri thức đã có trước đây
và họ phải tìm cách thức hoạt động mới” [4, tr.43]
Theo thuyết thông tin, tình huống có vấn đề là trạng thái của chủ thể có một
độ bất định nào đó trước việc chọn lựa một giải pháp cho tình huống trong nhiềukhả năng có thể có, mà chưa biết cái nào trong số đó sẽ xuất hiện
Tóm lại, tình huống có vấn đề là một hiện tượng chủ quan, là một trạng tháitâm lý của chủ thể, trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận thức như mộtmâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể nhận thức trong hoạt động của con người
Những đặc điểm cơ bản của tình huống có vấn đề [7]
Theo tâm lý học, một tình huống có vấn đề bao gồm những tính chất sau:
1 Có mâu thuẫn nhận thức: Vấn đề có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết
và cái phải tìm Đó có thể là tri thức mới, cách thức hành động mới, kỹ năng mới
Trang 28Chủ thể phải ý thức được khó khăn trong tư duy hoặc hành động mà vốn hiểu biếtsẵn có chưa đủ để vượt qua
2 Gây ra nhu cầu nhận thức: Khi mâu thuẫn khách quan trong bài toán nêuvấn đề chuyển hóa thành mâu thuẫn chủ quan bên trong của chủ thể sẽ gây ra nhucầu nhận thức cho chủ thể kích thích SV tìm cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra và tốtnhất là các tình huống gây cảm xúc ngạc nhiên, hứng thú, mong muốn giải quyếtvấn đề
3 Phù hợp với khả năng của SV để gây niềm tin: SV phải có khả năng về trithức và cách thức hành động đủ để giải quyết được vấn đề Nếu một tình huống dù
có hấp dẫn nhưng lại vượt quá xa so với khả năng của SV thì các em cũng khôngsẵn sàng giải quyết
Nếu vận dụng tình huống có vấn đề vào việc giảng dạy thì GV cần chú ý:
- Khi SV muốn đạt được mục đích học tập nào đó nhưng không biết làm thếnào để đạt được mục đích Khi đó xuất hiện một tình huống mâu thuẫn mà ngườihọc muốn đạt được mục đích bắt buộc họ phải động não về vấn đề cần giải quyết
- Tình huống có vấn đề là tình huống gợi cho SV những khó khăn về lý luậnhay thực tiễn mà họ thấy cần thiết phải vượt qua nhưng không phải là được ngay lậptức nhờ một quy tắc có tính chất thuật toán mà phải trải qua một quá trình suy nghĩ,hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có
Tổ chức tình huống học tập có vấn đề
Thực chất của công việc trên là tạo dựng những hoàn cảnh để SV tự ý thứcđược nhiệm vụ cần giải quyết, có nhu cầu hứng thú để tích cực giải quyết và sơ bộbiết được rằng mình có thể làm được gì và làm như thế nào
Về phía giảng viên: muốn tổ chức tình huống học tập có vấn đề cần phải chuẩn
bị thật chu đáo các công việc sau: nắm vững các vấn đề sẽ nêu ra cho SV giải quyết,phát biểu những nội dung và yêu cầu SV cần phải đạt được; nghiên cứu các phương
án giải quyết vấn đề; nắm được trình độ tư duy, vốn kiến thức của SV để dự kiếnkhả năng họ sẽ giải quyết vấn đề được cung cấp đạt đến mức độ nào; dự kiến nhữngcách giải quyết phù hợp với đối tượng cụ thể mà mình trực tiếp giảng dạy và cácđiều kiện vật chất của nhà trường; lựa chọn những tình huống có vấn đề gần gũi vớiSV; giúp sinh viên với sự chú ý nhất định thì có thể phát hiện vấn đề và những chỗ
Trang 29khó khăn của chính họ; mỗi buổi học là một chuỗi tình huống liên tiếp được sắp đặttheo một trình tự hợp lý nhằm đưa sinh viên từ chỗ chưa biết hoặc biết chưa đầy đủđến hiểu biết đầy đủ và nâng cao dần kỹ năng giải quyết vấn đề.
Quy trình tổ chức một tình huống có vấn đề như sau:
- Giảng viên mô tả vấn đề
- Yêu cầu sinh viên mô tả vấn đề bằng chính lời lẽ của họ
- Yêu cầu sinh viên dự đoán sơ bộ vấn đề
- Giúp sinh viên phát hiện ra những chỗ không đầy đủ trong kiến thức, trongcách giải quyết và đề xuất nhiệm vụ mới
Các tiêu chí cho một tình huống tốt nên được phân thành tiêu chí về nội dung và tiêu chí về hình thức như dưới đây: [14]
Về mặt nội dung, tình huống phải:
- Mang tính giáo dục
- Chứa đựng mâu thuẫn và mang tính khiêu khích
- Tạo sự thích thú cho người học
- Nêu ra được những vấn đề quan trọng và phù hợp với người học,
Về mặt hình thức, tình huống phải:
- Có cách thể hiện sinh động
- Sử dụng thuật ngữ ngắn gọn, súc tính và ẩn danh
- Được kết cấu rõ ràng, rành mạch và dễ hiểu
- Có trọng tâm, và tương đối hoàn chỉnh để không cần phải tìm hiểu thêm quánhiều thông tin,
Phân loại tình huống có vấn đề
Một là, tình huống nghịch lý
Đây là tình huống có vấn đề mới thoạt nhìn dường như là vô lý, không phùhợp với quy luật, lý thuyết đã thừa nhận với SV, tình huống này được tạo ra bằngcách giới thiệu những sự kiện, hiện tượng trái với quan điểm thông thường, với kinhnghiệm cá nhân cách thức giải quyết ở đây là tìm và phân tích chỗ sai, chỗ chưachính xác trong cách hiểu vấn đề, từ đó mà tìm ra cách hiểu với khoa học Chínhnhờ vậy, cách giải quyết những nghịch lý tương tự trên mà có thể tạo nên lý thuyếtmới bao quát hơn so với lý thuyết cũ, thậm chí bác bỏ lý thuyết cũ đã lỗi thời
Trang 30Hai là, tình huống lựa chọn
Đó là tình huống có vấn đề xuất hiện khi đứng trước một sự lựa chọn rất khókhăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết Phương án nào cũng có lý lẽ của nó,nhưng đồng thời cũng chứa đựng những nhược điểm cơ bản, song chỉ lựa chọn mộtphương án duy nhất mà SV cho là hợp lý nhất trên cơ sở phân tích các phương án
Ba là, tình huống bác bỏ
Đó là tình huống có vấn đề khi phải bác bỏ một kết luận, một luận đề sailầm, phản khoa học Để làm được điều đó học sinh phải tìm ra những điểm yếu củaluận đề, chứng minh tính chất sai lầm của nó
Bốn là, tình huống "Tại sao"
Đây là tình huống phổ biến đồng thời xuất hiện nhiều trong khi nghiên cứukhoa học cũng như trong dạy học Tình huống này người ta gặp phải những hiệntượng, sự kiện mà con người chưa đủ tri thức để giải thích hiện tượng đó và conngười luôn thốt ra "Tại sao" [4, tr.47]
Như vậy, trong thực tiễn dạy học, điều quan trọng là phải làm thế nào để tạonên tình huống có vấn đề Tuy nhiên, để tạo được những tình huống có vấn đềngười GV cũng phải nắm được và phân biệt được các loại tình huống có vấn đềnhằm đặt ra hệ thống mâu thuẫn phù hợp với môn học và trình độ SV của mình
1.3.3.2 Tình huống có vấn đề trong dạy học môn giáo dục học
Việc phân loại các tình huống có vấn đề trong môn GDH đã được nhiều nhànghiên cứu như V.Ôcôn, A.M Machiuxkin, I J Lecne, I.F.Kharlamôp đề cập Cáctác giả đã đưa ra nhiều cách phân loại dựa trên các cơ sở khác nhau Đáng chú ý là ýkiến của M.I.Krugliac: việc phân loại tình huống nên chú ý đến tính chất của tìnhhuống, căn cứ vào nguồn tạo ra tình huống, yêu cầu đề ra cho hoạt động trí tuệ khinghiên cứu ý nghĩa của tình huống [22] Căn cứ vào ý kiến này và các kiểu tìnhhuống chung điển hình đã nêu ở trên, tác giả thấy trong dạy học môn GDH có thểtạo ra một số kiểu tình huống có vấn đề sau:
1 Các tình huống có vấn đề nêu lên mâu thuẫn trong bản thân lý luận Giáodục học.Tình huống này nảy sinh khi có mâu thuẫn giữa lý thuyết này với lý thuyếtkhác về cùng một vấn đề GDH, đòi hỏi phải phân tích, so sánh, lựa chọn, bổ sung,
Trang 31để tìm ra một quan niệm, một khái niệm giáo dục đúng Tình huống này có thể biểuhiện ở 2 dạng sau đây:
- Tình huống nảy sinh khi có sự không phù hợp giữa nhiều quan điểm lýthuyết về một vấn đề GDH
- Tình huống nảy sinh khi SV tìm hiểu một vấn đề lý luận giáo dục có mâuthuẫn với những biểu tượng, với những khái niệm cũ của học sinh, mâu thuẫn vớinhững lý luận mà SV biết về vấn đề đó
2 Các tình huống có vấn đề nảy sinh do mâu thuẫn giữa một số vấn đề lý luận
Giáo dục học với thực tiễn giáo dục, thực tiễn nhà trường phổ thông, cao đẳng vàđại học, mâu thuẫn giữa lý luận Giáo dục học mà sinh viên đã học với công tác thựchành sư phạm Để giải quyết tình huống có vấn đề này, GV gợi cho SV phân tíchmối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, giữa nguyên nhân và kết quả để rút ra ý nghĩalý luận chuẩn xác, tìm biện pháp vận dụng lý luận vào thực tiễn giáo dục một cáchsáng tạo Đồng thời thông qua thực tiễn giáo dục để kiểm nghiệm và bổ sung hoànthiện lý luận giáo dục Loại tình huống này có thể biểu hiện cụ thể sau đây:
- Tình huống có vấn đề nảy sinh do mâu thuẫn giữa lý luận giáo dục đã họcvới tình hình thực tế xã hội, thực tiễn giáo dục
- Tình huống có vấn đề nảy sinh do mâu thuẫn giữa lý thuyết GDH với kết quảcông tác thực hành có tính chất nghiên cứu của HS
3 Các tình huống có vấn đề nảy sinh do mâu thuẫn trong thực tiễn giáo dục do
mâu thuẫn giữa thực tiễn nơi này, địa phương này với nơi khác, địa phương khác về
một chủ đề giáo dục, hoặc do mâu thuẫn trong công tác thực hành của SV Để giải
quyết tình huống này, SV phải phân tích chỗ đúng, sai, tìm nguyên nhân, rút ra kếtluận đúng Từ đó nêu được quan điểm, tri thức giáo dục chính xác và tìm được cáchthức hoạt động đúng Tình huống này có thể biểu hiện như sau:
- Tình huống có vấn đề xuất hiện do sự không phù hợp giữa thực tiễn và kinhnghiệm giáo dục nơi này với thực tiễn và kinh nghiệm giáo dục nơi khác
- Tình huống có vấn đề nảy sinh khi GV trình bày theo kiểu so sánh các hiệntượng giáo dục, các phương pháp, biện pháp, các kỹ năng ứng xử vấn đề giáo dục -dạy học ở các trường phổ thông và trường sư phạm
Trang 32- Tình huống có vấn đề nảy sinh do mâu thuẫn trong một vấn đề thực tiễn giáodục hay một bài tập nhận thức, đòi hỏi SV phải tìm tòi biện pháp về cách thức xử lýthoả đáng Bài tập nhận thức có thể là một câu chuyện thực tế nóng hổi, cũng có thể
là một câu chuyện văn học mang ý nghĩa giáo dục Muốn giải quyết tình huống cóvấn đề này, SV phải nắm được lý luận khái quát đúng đắn để định hướng giải quyết
1.3.3.3 Cách tạo tình huống có vấn đề
Đã có nhiều ý kiến khác nhau về việc đưa ra các cách tạo tình huống có vấn
đề PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo đã đưa ra các cách sau:
- Tạo cho người học bắt gặp những sự kiện, hiện tượng đòi hỏi phải giảithích về mặt lý luận
- Để cho SV phân tích những sự kiện, hiện tượng làm cho họ đụng phải mâuthuẫn giữa biểu tượng đời sống và khái niệm khoa học về những sự kiện đó
- Tạo THCVĐ bằng cách đề ra giả thuyết, tính chất nghiên cứu
- Kích thích học sinh khái quát sơ bộ những sự kiện mới để tạo nên THCVĐ
- Tạo ra THCVĐ bằng cách tạo cho SV các bài tập có tính chất nghiên cứu
- Trình bày cho SV những sự kiện, thoạt đầu mới nhìn dường như không thểgiải thích được và dẫn đến việc đề xuất vấn đề khoa học trong lịch sử khoa học
- Tạo nên tình huống có vấn đề bằng cách kích thích SV so sánh, đối chiếunhững sự kiện, hiện tượng, quy tắc, hoạt động [4, tr.50]
1.3.3.4 Ý nghĩa của việc áp dụng tình huống có vấn đề trong dạy học
Bản chất của dạy học nêu vấn đề là các tình huống có vấn đề Như vậy việc tạo
ra tình huống, sử dụng các tình huống là vô cùng quan trọng, có vai trò quyết địnhđến sự thành công của giờ học
Việc tạo tình huống có vấn đề trong dạy học còn có các mục đích sau:
+ Tạo tình huống có vấn đề nhằm lôi cuốn sự chú ý của SV đối với câu hỏi,nhiệm vụ, chủ đề học tập, gây cho SV hứng thú nhận thức
+ Đặt ra trước mắt SV những khó khăn nhận thức vừa phải và sự khắc phụcnhững khó khăn để đẩy mạnh hoạt động nhận thức của SV
+ Tạo THCVĐ nhằm “phơi bày” trước mắt SV những mâu thuẫn giữa yêu cầunhận thức của SV và sự không thỏa mãn với vốn kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã có
Trang 33+ Giúp SV xác định được vấn đề cơ bản của nhiệm vụ nhận thức trong câuhỏi, trong bài tập và lập kế hoạch để giải quyết những khó khăn nhận thức đó.
+ Ngoài ra, tạo THCVĐ còn giúp SV xác định giới hạn kiến thức cần nắmvững cần thiết trước đây và chỉ ra hướng tìm kiếm con đường phù hợp hơn từ tìnhhuống có vấn đề
1.3.4 Các kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề
1.3.4.1 Trình bày nêu vấn đề
Đây là hình thức trình bày bài giảng của GV bằng thủ pháp gây tình huốngnhằm lôi cuốn sự chú ý của SV bằng cách diễn đạt vấn đề dưới dạng nghi vấn, gợi
mở hoặc đặt ra những câu hỏi
Đặc điểm của kiểu dạy học trình bày nêu vấn đề cho phép người học theo dõilogic của tiến trình bài học từ đó nảy sinh thắc mắc, hoài nghi, nhờ đó giúp SV bồidưỡng năng lực nhìn thấy vấn đề
Trong dạy học kiểu trình bày nêu vấn đề cho phép GV diễn đạt vấn đề một cáchlogic và chặt chẽ, trong quá trình học tập cho phép SV nghe hoặc dự đoán bướcnghiên cứu tiếp theo của mình hoặc theo cách khác Do đó vận dụng kiểu dạy họctrình bày nêu vấn đề là việc trình bày của GV bằng câu hỏi gợi mở, nghi vấn hướng
SV vào các THCVĐ nhằm gây ra thắc mắc hoài nghi, để giúp cho họ năng lực nhìnthấy vấn đề, kỹ năng nhìn thấy nhiều lời giải, từ đó lĩnh hội được nội dung bài học.Thực chất kiểu dạy học của PP này là: sau khi tạo ra THCVĐ, người GVchẳng những nêu lời giải cuối cùng mà còn vạch ra logic của quá trình đi đến lờigiải cùng với những mâu thuẫn, những lệch lạc và còn nêu ra nguồn gốc phát sinhnhững mâu thuẫn, lệch lạc đó Từ đó nêu ra luận cứ cho mỗi bước tiến tới lời giảicuối cùng
Sử dụng hình thức trình bày nêu vấn đề nhằm giải quyết những bài giảng khó,những vấn đề phức tạp mà học sinh không thể tự giải quyết được hoặc bước đầu giúphọc sinh làm quen và có khái niệm về dạy học nêu vấn đề
1.3.4.2 Nêu vấn đề một phần
Khi một bài học mà nội dung kiến thức của bài học đó hoặc đề cập tới vấn đềmới mà SV không thể tự lực giải quyết được, còn nội dung kiến thức của phần tiếptheo SV có thể tự giải quyết trên nền tảng kiến thức của phần trước thì áp dụng hình
Trang 34thức dạy học này là cần thiết Trong quá trình vận dụng kiểu dạy học nêu vấn đềmột phần GV trình bày bài giảng theo kiểu nêu vấn đề nhưng chỉ tập trung vào mộtphần hoặc chỉ giải quyết vấn đề đến một chừng mực nào đó, còn lại tiếp tục cho SV
tự lực giải quyết Ở đây SV bắt đầu tham gia giải quyết một phần vấn đề, giải quyếtmột hay một số bước chứ không phải toàn bộ vấn đề
Như vậy, thực chất của kiểu dạy học nêu vấn đề một phần là GV lập kế hoạchcác bước giải, lập kế hoạch cho quá trình đi đến lời giải hay làm cho quá trình đótrở nên dễ giải hơn, còn SV thì tự lực giải quyết một phần vấn đề mà thôi
1.3.4.3 Nêu vấn đề toàn phần
GV đưa ra vấn đề cùng hệ thống các câu hỏi chính, câu hỏi phụ, câu hỏi gợimở để dẫn dắt SV độc lập giải quyết vấn đề và rút ra kết luận Về thực chất là GV
tổ chức cho SV nghiên cứu nội dung khoa học của bài học một cách sáng tạo
Nêu vấn đề toàn phần là kiểu khá điển hình của dạy học nêu vấn đề Phươngthức này đảm bảo phát huy tới mức cao nhất sự phát triển khả năng tư duy sáng tạocủa SV, hình thành ở người học những tri thức, kỹ năng kỹ xảo mới, khơi dậy niềmđam mê, hứng thú
Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức nêu vấn đề toàn phần còn tùy thuộc vàonội dung kiến thức của bài học, tùy thuộc vào trình độ đồng đều của SV, vào sựchuẩn bị chu đáo cả về nội dung và phương pháp tiến hành của GV và ý thức chủđộng, tự giác của SV trong học tập
1.3.4.4 Nêu vấn đề có tính giả thuyết
Kiểu nêu vấn đề có tính giả thuyết là GV đưa vào bài học một số giả thuyết,quan điểm có tính mâu thuẫn với vấn đề đang nghiên cứu nhằm xây dựng THCVĐthuộc loại giả thuyết Kiểu nêu vấn đề này đòi hỏi SV phải lựa chọn quan điểm nàođúng và phải có sự lập luận vững chắc về sự lựa chọn của mình, đồng thời phải phêphán chính xác, khách quan những quan điểm không đúng đắn, phản khoa học.Kiểu nêu vấn đề có tính giả thuyết có những đặc điểm như:
- Kiểu nêu vấn đề có tính giả thuyết sẽ đưa SV vào các quan điểm, giả thuyếtkhác nhau bắt buộc SV phải tìm tòi, lựa chọn quan điểm nào đúng để dần đi tớichiếm lĩnh tri thức mới
Trang 35- Kiểu nêu vấn đề có tính giả thuyết rèn luyện cho SV khả năng so sánh, phântích, tư duy, lập luận khoa học, đem lại cho họ sự hứng thú và tích cực cao hơn khitham gia vào quá trình giải quyết vấn đề.
Để giúp SV có cơ sở đối chiếu, đánh giá hoặc phê phán quan điểm, giả thuyếttrong những trường hợp cần thiết GV nên trình bày rõ về lịch sử khoa học của vấnđề; hoàn cảnh, điều kiện đã làm nảy sinh những quan điểm, giả thuyết, phương pháptiếp cận tức là mở rộng thông báo để SV có điều kiện thuận lợi trong quá tŕnh tiếntới phán đoán, kết luận vấn đề
1.3.4.5 Nêu vấn đề mang tính chất so sánh tổng hợp
Kiểu nêu vấn đề này thường sử dụng số liệu thống kê để phân tích và rút ra kếtluận Kiểu nêu vấn đề này có ưu thế là: thông qua số liệu, dữ liệu thống kê cho phépthể hiện một cách ngắn gọn quá trình và hiện tượng kinh tế - xă hội Mặt khác, nógóp phần làm tăng tính chính xác, tính thuyết phục của vấn đề, đồng thời rèn luyệncho học sinh biết phân tích, khai thác những tri thức thực tiễn
1.3.5 Quy trình dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Qui trình “Dạy học nêu và giải quyết vấn đề” được thực hiện thông qua 3 bướcnhư sau:
Bước 1: Đặt vấn đề
GV đưa ra một vấn đề hay một hệ thống các vấn đề để làm sao cho SV nhậnthấy đó là vấn đề học tập cần thiết (có thể dưới hình thức câu hỏi) và làm xuất hiệntình huống có vấn đề, SV cần phải tìm câu trả lời và cách giải quyết vấn đề đó Mụctiêu của bước này là giới thiệu tình huống chứa đựng vấn đề, giúp SV tiếp nhận, sẵnsàng và mong muốn tham gia giải quyết vấn đề dưới sự dẫn dắt của giáo viên Bướcnày được tiến hành thông qua 3 bước:
* Bước 1a: Giới thiệu tình huống chứa đựng vấn đề
Để thực hiện bước này có nhiều cách giới thiệu tình huống khác nhau như
kể một câu chuyện, thuật lại một sự kiện, nêu một bài học, xem một đoạn video chứa đựng vấn đề GV đã xác định trước đó
Ở phần giới thiệu vấn đề yêu cầu người dạy đưa ra những tình huống phảiđảm bảo các yêu cầu sau:
+ Tồn tại mâu thuẫn, kiến thức đã có không đủ giải quyết
Trang 36+ Có cơ sở từ nội dung học tập.
+ Liên quan đến thực tiễn
+ Giúp phát triển kĩ năng tư duy ở mức cao
+ Thu hút sự quan tâm, hứng thú từ người học
+ Khuyến khích hợp tác, giải quyết vấn đề
Các mức độ thể hiện của vấn đề:
- Mức độ 1: Bài tập vận dụng
Thường là bài tập vận dụng cuối bài học hoặc chương và được trình bàyngay trong giáo trình Ở mức độ này, vấn đề sẽ phát triển kĩ năng tư duy của SV ởmức độ biết và hiểu Vấn đề được giới hạn trong khuôn khổ chương trình học tập vàđều đã biết với SV
- Mức độ 2: Câu chuyện thực tế dựa trên bài tập
Là sự chuyển hoá các bài tập vận dụng ở mức độ 1 thành các tình huốngtrong thực tiễn và được thể hiện thông qua các câu chuyện Mức độ này giúp pháttriển kĩ năng hiểu và vận dụng cho SV Mức độ này có ưu điểm là có sự liên quancủa tình huống với thực tiễn đời sống của SV Từ đó SV sẽ nhận thức rõ ý nghĩa củamôn học và tích cực tham gia tìm hiểu, giải quyết vấn đề
- Mức độ 3: Tình huống thực tế
Đây là mức độ cao nhất của vấn đề và là mục tiêu hướng tới khi sử dụng dạyhọc nêu và GQVĐ Đó là những tình huống trong thực tế, chứa đựng những nộidung kến thức trong chương trình học tập mà SV chưa biết Muốn giải quyết đượccần phải tự định hướng và chiếm lĩnh tri thức cần thiết không chỉ trong một mônhọc mà có thể trong nhiều môn; không chỉ trong lí thuyết mà còn trong thực tiễn.Mức độ này giúp SV phát triển các kĩ năng tư duy bật cao như phân tích, tổng hợp,
so sánh thông qua các hoạt động khám phá, nghiên cứu và giải quyết vấn đề
* Bước 1b: Phát hiện và nhận dạng vấn đề nẩy sinh
* Bước 1c: Phát biểu vấn đề cần giải quyết
Bước 2: Giải quyết vấn đề
GV chỉ ra cho SV thấy xung quanh vấn đề mà GV vừa đưa ra trong vốn trithức đã có của mình những gì đã biết, những gì chưa biết, cần tập trung suy nghĩtheo hướng nào để đi đến giải quyết vấn đề đặt ra Thực hiện bước này GV có thể
Trang 37trình bày một cách ngắn gọn, sát thực những yêu cầu đặt ra bằng hình thức thuyếttrình hoặc những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt, giả thuyết
Với những vấn đề mà kiến thức SV chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ thì GVcần dẫn dắt SV thông qua hệ thống câu hỏi có tính chất tái hiện dẫn dắt, gợi ý đếncâu hỏi có tính chất sáng tạo
* Bước 2a: Phân tích vấn đề, đề xuất các giả thuyết
Thông qua thảo luận chung cả lớp hoặc thảo luận giữa các thành viên trongnhóm với sự hỗ trợ phù hợp từ phía giáo viên (nếu cần), cá nhân hoặc các nhóm sẽđưa ra ý tưởng và giải quyết vấn đề
* Bước 2b: Thực hiện giải quyết các giả thuyết
Dựa trên các giả thuyết đã nêu trong bước 2a, tiến hành giải quyết các giảthuyết
Bước 3: Kết luận vấn đề
SV vận dụng các kiến thức để giải quyết các vấn đề một cách độc lập, tự dothảo luận, phát biểu kết luận và đi đến kết luận vấn đề, đồng thời có thể tiếp tục pháthiện những vấn đề học tập mới nảy sinh
Kết quả của giải quyết vấn đề thể hiện thông qua việc hiểu vấn đề và sự lí giảihợp lí cho vấn đề Bước này cũng được tiến hành thông qua 2 bước:
* Bước 3a: Trình bày kết quả và đánh giá
* Bước 3b: Phát biểu kết luận
Đây là bước quan trọng, thể hiện sự xem xét lại các kiến thức liên quan tới bàihọc đã lĩnh hội được thông qua giải quyết vấn đề Qua đó đáp ứng được mục tiêuhọc tập đã đề ra của bài học
Trang 38Bước 1
Đ t ặt vấn đề
Bước 2 Giải quyết vấn đề
Bước 3 Kết lu n ận vấn đề
- Tạo tình huống có vấn đề
- Phát hi n và nh n dạng vấn ện và nhận dạng vấn ận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết
- Phân tích vấn đề , đề xuất giả thuyết
- Thực hi n giải quyết các giả ện và nhận dạng vấn thuyết
- Trình bày kết quả và đánh giá
- Phát biểu kết luận
- Đề xuất vấn đề mới
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình dạy học nêu và giải quyết vấn đề
* Các mức độ của dạy học nêu và giải quyết vấn đề
GV căn cứ vào độ khó của vấn đề, vào năng lực của người học có thể tiếnhành dạy học nêu và giải quyết vấn đề theo các mức độ sau:
Mức 1: GV thực hiện toàn bộ các bước đặt vấn đề, phát biểu vấn đề, giải quyếtvấn đề
Mức 2: GV đặt vấn đề, phát triển vấn đề bằng câu hỏi nhận thức, người họcđộc lập giải quyết vấn đề
Mức 3: GV đặt vấn đề, người học ý thức được vấn đề, phát biểu vấn đề thànhcâu hỏi nhận thức, nêu giả thuyết giải quyết vấn đề
Mức 4: Người học độc lập giải quyết vấn đề, nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
Trang 39Bảng 1.1: Các mức độ của dạy học nêu và giải quyết vấn đề
(Nguồn: Áp dụng phương pháp dạy học tích cực trong bộ môn Tâm lí – Giáo dục,
Trần Bá Hoành (2002))
Có thể nói, tính đa dạng và phong phú của tình huống có vấn đề trong dạy họclàm cho phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề có khả năng phù hợp vớinhiều đối tượng SV có năng lực học tập khác nhau Nhờ tình huống có vấn đề cócác mức độ từ dễ đến khó mà dạy học nêu và giải quyết vấn đề thực sự là phươngpháp dạy học có tác dụng làm đòn bẩy cho sự tích cực học tập và phát triển tư duycủa học sinh
Dựa vào qui trình tổ chức dạy học nêu và giải quyết vấn đề, qui trình sử dụngPPDH nêu và GQVĐ trong dạy học Giáo dục học cần tuân theo các bước sau:
- Tạo ra tình huống có vấn đề: cung cấp cho người học các sự kiện trong đóhàm chứa mâu thuẫn giữa kinh nghiệm, hiểu biết của họ về các sự kiện đó với khảnăng hiện tại để giải quyết chúng Vì vậy, một mặt các sự kiện được nêu trong tìnhhuống thường phải gần gũi, quen thuộc với người học, mặt khác cách đặt vấn đềphải mới Phương châm hữu ích ở đây là: vấn đề mới của những sự kiện không mới;suy nghĩ mới về những điều không mới
- Giải quyết vấn đề: sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết vấn
đề đã được đặt ra trong các tình huống có vấn đề Chẳng hạn:
+ Sử dụng hệ thống câu hỏi vấn đáp để dẫn dắt, gợi mở
+ Tổ chức thảo luận chung cho cả lớp
+ Tổ chức thảo luận từng nhóm nhỏ, sau đó đại diện các nhóm báo cáo kết quảthảo luận của nhóm mình SV độc lập tiến hành nghiên cứu dưới sự hướng dẫn trựctiếp của GV Sau đó SV báo cáo kết quả công việc của mình trước lớp
Trang 40- Củng cố và tổng kết Tuỳ theo dạng tình huống có vấn đề đặt ra như thế nào
mà GV có thể tổ chức củng cố và tổng kết theo cách tương ứng:
+ Giáo viên trực tiếp rút ra kết luận hay khái quát những tri thức cần thiết+ Sinh viên cùng thống nhất ý kiến chung
+ Sinh viên tự rút ra kết luận, kinh nghiệm cho bản thân mình
1.3.6 Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
- Mặt khác, phương pháp này còn cho phép sử dụng tốt các phương tiện, thiết
bị dạy học và SV tích cực nhận thức qua việc giải quyết vấn đề nên giờ học sôi nổi
1.3.6.2 Về nhược điểm
- PPDH nêu và GQVĐ chỉ có hiệu quả trong khi dạy bài mới Với những bàihọc, những khái niệm có tính chất tiêu đề việc sử dụng PPDH này và xây dựng cáchgiải quyết không có hiệu quả cao
- Để chuẩn bị cho một tiết học sử dụng PPDH này, GV phải dành nhiều thờigian để tạo các tình huống có vấn đề
- Việc vận dụng phương pháp còn phụ thuộc nhiều vào trình độ nhận thức của
SV (các em phải có kiến thức nhất định mới áp dụng PPDH này được) và GV (phải
là người có tri thức sâu sắc, uyên thâm, sáng tạo và yêu nghề) Chính vì thế, khôngphải môn học nào, bài học nào cũng áp dụng PPDH nêu và GQVĐ được