Chính vì vậy, vấn đề quản lý nhà nước hiện nay về “Dạy nghề và việc làm cho người dân vùng nông thôn Bạc Liêu” cần được nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thực hiện sao cho mang lại hiệ
Trang 1Mặt khác, để đảm bảo phấn đấu đạt mục tiêu đã đề ra cần áp dụng mạnh mẽ tiến bộ của khoa học và công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa Điều này đòi hỏi người người dân vùng nông thôn phải trở thành những “chuyên gia” trong lĩnh vực sản xuất, phải trở thành những người năng động thích ứng nhanh với các điều kiện mới Trong khi đó hiện tại, tỷ lệ lao động của người dân qua đào tạo nghề còn rất thấp, là trở ngại cho quá trình hiện đại hóa này
Những yếu tố và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nêu trên sẽ tạo ra sự chuyển dịch rất lớn đối với lao động, từ dịch chuyển kỹ năng đến dịch chuyển nghề nghiệp, dịch chuyển nơi sinh sống, với một số xu hướng chuyển dịch sau:
- Chuyển dịch kỹ năng: từ sản xuất truyền thống sang sản xuất hiện đại
- Chuyển dịch nghề nghiệp từ lao động nông, lâm, ngư nghiệp sang lao động dịch vụ du lịch, lao động công nghiệp tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp SXKD, dịch vụ ở nông thôn,
- Chuyển dịch nghề nghiệp và nơi sinh sống từ lao động nông, lâm, ngư trường chuyển thành lao động công nghiệp, dịch vụ ở các đô thị (mới và cũ)
- Tạo ra một dòng di dân quốc tế mới, thông qua xuất khẩu lao động hoặc ra định cư ở nước ngoài với người thân
Trang 2- Tạo ra những nghề phụ tăng thu nhập ổn định cuộc sống, giải quyết được thời gian rãnh rỗi chờ công việc của người dân
Từ các xu hướng này cho thấy, nhu cầu về đào tạo và việc làm cho lao động của người dân vùng này là rất lớn
Chính vì vậy, vấn đề quản lý nhà nước hiện nay về “Dạy nghề và việc làm cho người dân vùng nông thôn Bạc Liêu” cần được nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thực hiện sao cho mang lại hiệu quả cao nhất, các giải pháp phải được lựa chọn trên cơ sở khoa học nhằm giải quyết vấn đề hiệu quả trong việc thực thi chính sách của Chính phủ, giải quyết được bài toán thực tiễn với nhu cầu cấp bách về việc làm, nâng cao chất lượng hàng hoá, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống người dân, tạo dựng lòng tin của dân đối với đảng, đối với nhà nước
Lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề cho người dân vùng biển Bạc Liêu” là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao
2 Mục tiêu nghiên cứu, Nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu là nghiên cứu khảo sát thực trạng, đề xuất giải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho người dân, tạo cho họ có một nghề để có thể tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm trên các lĩnh vực khác ngay trên quê hương của họ
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của đề tài được thể hiện qua các nội dung sau:
(1) Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng và hiệu quả dạy nghề, việc nâng cao chất lương và hiệu quả về lao động và việc làm trên cơ sở một số lý thuyết của các nhà khoa học và các phương pháp đào tạo hiện nay làm nền tảng
(2) Nghiên cứu thực trạng về chất lượng và hiệu quả công tác dạy nghề , truyền nghề cho người dân vùng biển Bạc Liêu thông qua việc làm và thu nhập của người dân nhằm ổn định cuộc sống lâu dài, bao gồm các nội dung như sau
Nghiên cứu thực trạng về chất lượng dạy nghề cho người dân:
+ Mạng lưới cơ sở dạy nghề của địa phương;
Trang 3+ Ngành nghề đào tạo;
+ Hệ đào tạo;
+ Quy mô đào tạo;
+ Công tác tuyển sinh học nghề;
+ Hình thức tổ chức giảng dạy;
+ Nội dung giảng dạy;
+ Phương pháp giảng dạy;
+ Công tác giảng dạy và điều kiện giảng dạy
Nghiên cứu thực trạng hiệu quả đầu ra lao động và việc làm cho người dân:
+ Việc làm, thể hiện qua việc tìm kiếm việc làm là tự tạo việc làm của người dân sau khi học nghề;
+ Lao động và tay nghề của người học, thể hiện kỹ năng lao động thông qua chất lượng sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong sản xuất và kinh doanh
(3) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho người dân vùng biển Bạc Liêu
(4) Kiểm nghiệm tính khả thi của các giải pháp đề xuất
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố về chất lượng và hiệu quả trong đào tạo nghề, đặc điểm hoạt động dạy nghề của Bạc Liêu nói chung và khu vực vùng biển Bạc Liêu nói riêng
* Khách thể nghiên cứu
Nghề cho người lao động tại địa phương, quá trình đào tạo nghề và truyền nghề cho lao động nông thôn, giải quyết vấn đề lao động và việc làm sau đào tạo
4 G iả thuyết khoa học của đề tài
“ Công tác dạy nghề cho người dân vùng biển Bạc Liêu hiện nay chất lượng chưa tốt và hiệu quả không cao Nếu áp dụng những giải pháp đề xuất của người
Trang 4nghiên cứu thì chất lượng và hiệu quả dạy nghề sẽ được nâng cao, đáp ứng được
các điều kiện về việc làm và tăng thu nhập cho người dân “
Đây chính là những luận điểm cần được chứng minh trong đề tài
5 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu công tác dạy nghề và học nghề cho người dân thông qua các chương trình, chính sách, đề án của Chính phủ, chủ yếu cho người dân vùng biển Bạc Liêu, thuộc địa bàn thành phố Bạc Liêu, huyện Hoà Bình và huyện Đông Hải
- Đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn theo các chương trình chính sách và đề án của Chính phủ, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả lao động và việc làm của quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ
6 Phương pháp nghiên cứu
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm, phân tích các quan điểm lý luận thể hiện trong các văn kiện của đảng, nghiên cứu sách báo, tài liệu có liên quan đến đề tài, bao gồm các báo cáo tổng kết, tài liệu thống kê, các kết quả nghiên cứu các vấn đề có liên quan được ông
bố trên tạp chí, các đề tài nghiên cứu khoa học, Sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu để nghiên cứu các tài liệu về nghiên cứu khoa học làm cơ sở lý luận cho đề tài
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thu thập dữ liệu thực tế , tìm hiểu thực trạng vấn đề để xây dựng cơ sở lý
luận thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp điều tra – phỏng vấn
Số liệu thu thập bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng trên cơ
sở hệ thống câu hỏi soạn trước để phỏng vấn người dân chủ yếu tập trung hai huyện
và các xã ven biển thuộc thành phố Bạc Liêu Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp phỏng vấn trao đổi ý kiến với giáo viên , các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm
Trang 5đang làm nhiệm vụ dạy nghề cho lao động nông thôn để lấy dữ liệu cho phân tích đánh giá
- Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề
mà đề tài đã đề xuất nhằm xác định tính phù hợp, khả thi của giải pháp
* Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng phương pháp thống mô tả như: So sánh, kiểm định thống kê, các phương pháp phân tích theo từng yêu cầu cụ thể của mục tiêu đề tài, để xử lý các số liệu, thông tin thu được
7 Ý nghĩa khoa học của đề tài
* Về lý luận
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề sẽ mang lại hiệu quả thiết thực về lao động và việc làm cho người lao động
* Về thực tiễn
Đề xuất các giải pháp có tính hiện thực và khả thi nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy nghề cho người dân vùng biển Bạc Liêu, góp phần thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách, đề án của Chính phủ đối với dạy nghề cho lao động nông thôn
Trang 6PHẦN 2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu trong nước
Lao động của người dân vùng biển được đánh giá là nguồn lao động dồi dào
và tiềm năng đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội trong những năm gần đây
và trong thời gian tới Lực lượng lao động thuộc khu vực này trên cả nước chiếm tỉ
lệ khá cao nhưng trên thực tế lại thiếu nghiêm trọng nguồn nhân lực có kỹ thuật, kỹ năng và trình độ cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, điều này đòi hỏi công tác đào tạo nghề cho lao động của người dân vùng biển là một vấn đề cấp bách và cần thiết
Trong những năm gần đây, Đề tài nghiên cứu về lĩnh vực đào tạo nghề cho lao động nông thôn được đề cập trong một số đề tài, bài viết, công trình nghiên cứu sau:
- Vũ Minh Hùng “Tìm hiểu, so sánh và phát triển chương trình đào tạo nghề
theo hướng linh hoạt tại Việt Nam” (Luận văn Thạc sĩ trường ĐHSPKT TP.HCM
khóa 2002);
- Huỳnh Thị Mỹ Linh “Xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Trung tâm dạy nghề Nhà Bè” (Luận văn Thạc sĩ trường ĐHSPKT TP.HCM khóa 2004 – 2006);
- Bùi Thị Hạnh “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề tại trường Dung Quất nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế cho Khu công nghiệp Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi” (Luận văn Thạc sĩ trường ĐHSPKT TP.HCM khóa 2005 – 2007);
Trang 7Nguyễn Thị Mai Trang “Giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh” (Luận văn Thạc sĩ trường ĐHSPKT TP.HCM khóa 2008 – 2010);
- Hà Thị Thanh Nga “Xây dựng trương trình đào tạo trình độ sơ cấp nghề nghề Trồng hoa và Cây cảnh cho lao động nông thôn tại tỉnh Đồng Nai” (Luận văn Thạc sĩ trường ĐHSPKT TP.HCM khóa 2008 – 2010);
- Đề tài cấp Nhà nước, mã số KX-05-10 “Thực trạng và giải pháp đào tạo lao động kỹ thuật đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động trong điều kiện
kinh tế thị trường, toàn cầu hóa” Chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH Nguyễn Minh
- Luận án tiến sĩ “Quản lý đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Thuận”;
- Vũ Quốc Tuấn Hội Thảo đào tạo nhân lực – Những thuận lợi và trở ngại; Bài tham luận Đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
- Mạc Tiến Anh Nghiên cứu một số mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
- Ban Chỉ đạo Trung ương Báo cáo sơ kết việc thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn 6 tháng đầu năm 2011
Các đề tài, bài viết, công trình nghiên cứu, luận văn trên đã đề cập nhiều góc
độ khác nhau về đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở từng loại hình và từng điều kiện cụ thể khác nhau nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người dân vùng biển
Trang 8Đối với địa phương hiện nay đang triển khai thực hiện đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Bạc Liêu năm 2010-2020”; đang triển khai thực hiện
“Chương trình phát triển bền vững của tỉnh giai đoạn 2008-2015 và định hướng năm 2020” Đồng thời cũng đã tổ chức được nhiều hội thảo và đề xuất nhiều công trình nghiên cứu về nông nghiệp nông thôn, các mô hình sản xuất làng nghề, mô hình phát triển làng nghề kết hợp với du lịch,
Tuy nhiên, việc nghiên cứu cụ thể “ Đánh giá và đưa ra giải pháp nâng cao
chất lượng và hiệu quả dạy nghề cho người dân vùng biển Bạc Liêu” chưa thấy có bài viết hoặc công trình nào triển khai ứng dụng cho địa phương
Nghiên cứu ngoài nước
Những công trình nghiên cứu của một số nước trên thế giới cho thấy phát triển đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho lao động nông thôn luôn được Chính phủ các nước quan tâm đặc biệt với vai trò là một thành tố chính trong Chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đã góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia
đó Qua một số công trình nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới như các nước trong khối ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Phương tây ( Mỹ, Đức…) về đào tạo nghề đã thể hiện qua các điểm sau:
- Chính phủ các nước thường có các chính sách nhất quán và đồng bộ về phát triển đào tạo nghề lồng ghép trong Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Đồng thời, Chính phủ sẽ giao các cơ quan quản lý xác định và thiết lập hệ thống tiêu chuẩn để quản lý thống nhất chất lượng đào tạo trên phạm vi cả nước tương ứng với
hệ thống bằng cấp, chứng chỉ nghề
- Phân cấp rõ ràng việc quản lý đào tạo nghề theo ngành dọc và theo vùng địa lí để đảm bảo tính chủ động của các cơ quan quản lý đồng thời tạo sự linh hoạt cho hoạt động đào tạo nghề được phân bố tại các vùng địa phương theo quy hoạch tổng thể của cả nước
- Phát triển nguồn đào tạo nghề được nhất quán từ khâu đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đảm bảo cân bằng cung cầu lao động trên thị trường theo các ngành kinh tế cũng như theo vùng địa lí
Trang 9- Phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn được thực hiện song song
theo hai hướng là đào tạo để chuyển dịch cơ cấu lao động (là chủ yếu, gắn liền với quá trình công nghiệp hóa) và đào tạo nghề để nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp Đồng thời, đẩy mạnh công tác hướng nghiệp cho học sinh ngay từ cấp PTCS để có định hướng học nghề ngay sau khi học hết PTTH
- Đào tạo nghề được phát triển đa dạng và vai trò của các đối tác xã hội được chú trọng; đồng thời phát huy tính chủ động của các cá nhân trong một xã hội học tập suốt đời
Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết và thực hành tại cơ sở đào tạo với thực hành tại nơi sử dụng lao động, gắn kết chặt chẽ giữa “học” và “hành”, đào tạo theo địa chỉ, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của nơi sử dụng lao động
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
+ Chất lượng là “ mức hoàn thiện, là đặc trưng hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” ( Oxford Poket Dictationary) + Chất lượng là “ tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp - NFX 50-109)
+ Chất lượng là “ tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” ( TCVN - ISO 8402)
Trang 10
+ Chất lượng là “ khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, một hệ thống hay một quá trình để đáp ứng yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” ( theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO )
Theo tài liệu bồi dưỡng quản lý dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề trang 248 cho rằng “ Chất lượng được đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu” Trước đây người ta hiểu chất lượng theo quan điểm tỉnh có nghĩa là “ chất lượng phụ thuộc vào mục tiêu” Ngày nay hiểu chất lượng theo quan niệm “động” có nghĩa là
“ chất lượng là một hành trình, không phải là điểm dừng cuối cùng mà là đi tới” Chất lượng có thể được định nghĩa bằng ba cách khác nhau: Chất lượng là
sự xuất sắc; Chất lượng là đáp ứng mục tiêu; Chất lượng là giá trị đầu tư
1.2.2 Đảm bảo chất lượng (Theo tài liệu chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý
dạy nghề, của Tổng cục Dạy nghề trang 254 )
Là những quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, mà thông qua việc sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng sứ mạng và mục tiêu đang được thực hiện, các chuẩn mực đang được duy trì và nâng cao (SEAMEO,2002) Đảm bảo chất lượng là thuật ngữ chung, đề cập đến các biện pháp và cách tiếp cận được sử dụng để nâng cao chất lượng đào tạo (SEAMEO,2002)
Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 “ Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng và chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thoả đáng rằng thực thể (đối tượng sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu về chất lượng) “
1.2.3 Các hình thức đảm bảo chất lượng (Theo tài liệu chương trình bồi dưỡng
cán bộ quản lý dạy nghề, của Tổng cục Dạy nghề trang 256 )
+ Đánh giá chất lượng (Quality Assessment) là đánh giá các hoạt động
dạy - học và các sản phẩm đầu ra trên cơ sở xem xét chi tiết cấu trúc chương trình giảng dạy, hiệu quả đào tạo của nhà trường Đánh giá chất lượng được sử dụng để xác định liệu nhà trường hay chương trình đào tạo có đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn chung hay không (CHEA, 2001)
Trang 11+ Kiểm toán chất lượng ( Quality Audit) là một quá trình kiểm tra nhà trường có hay không có một quy trình đảm bảo chất lượng cho các hoạt động đào tạo và các hoạt động liên quan ? Quy trình đó có được thực hiện không và thực hiện
có hiệu quả như thế nào ? (AUQA, 2001)
+ Kiểm định chất lượng (Accredittation) cần quan tâm đến những vấn đề sau:
Quan niệm về kiểm định chất lượng ?
Mục đích của kiểm định chất lượng là gì ?
Chức năng của kiểm định chất lượng là gì ?
Quy trình kiểm định chất lượng ?
1.2.4 Chất lượng dạy nghề
Khái niệm “chất lượng “ đã trừu tượng và phức tạp thì khái niệm về “chất lượng dạy nghề” càng phức tạp hơn bởi liên quan đến sản phẩm là giá trị của con người, một sự vật, sự việc Chất lượng dạy nghề là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo đếm được và cảm nhận được Chất lượng dạy nghề phản ánh trạng thái dạy nghề nhất định và trạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến
nó Sẽ không thể biết được chất lượng dạy nghề nếu chúng ta không đánh giá thông qua một hệ thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng Khái niệm chất lượng dạy nghề là để chỉ chất lượng các công nhân kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chương trình xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị
trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo
Chất lượng dạy nghề được hiểu là tiêu thức phản ánh các mức độ của kết quả hoạt động dạy nghề có tính liên tục từ khởi đầu quá trình dạy nghề đến kết thúc quá trình đó Khái niệm chất lượng dạy nghề liên quan chặt chẽ với khái niệm hiệu quả dạy nghề Nói đến hiệu quả dạy nghề là nói đến các mục tiêu đã đạt được ở mức độ nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của cơ sở đào tạo và sự chi phí tiền của sức lực, thời gian ít nhất nhưng đem lại kết quả cao nhất
Trang 12Chất lượng dạy nghề chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó có 6 yếu tố cơ bản sau:
+ Mục tiêu, chương trình, nội dung và phương pháp
+ Những vấn đề về quản lý, cơ chế quản lý, cách tổ chức, kiểm tra, đánh giá chất lượng
+ Đội ngũ giáo viên và động lực của đội ngũ này
+ Học viên và động lực học tập của học viên
+ Cơ sở vật chất tài chính
+ Chế độ sử dụng và đãi ngộ đối với người được dạy nghề
Tất cả 6 yếu tố đó có tác động ở mức độ khác nhau đối với chất lượng dạy nghề Vì vậy để nâng cao chất lượng dạy nghề ta phải tìm các giải pháp trong các yếu tố cơ bản nêu trên
Để đo lường chất lượng dạy nghề chúng ta thường tập trung vào hai khối đối tượng đó là bản thân người công nhân và cơ sở đào tạo nghề Quá trình dạy nghề nhằm để hình thành năng lực nghề nghiệp giữ vai trò then chốt, chủ đạo Do
đó nó chú trọng đến một hệ thống các kỹ năng thông qua thực hành và luyện tập
Đó chính là những yêu cầu, vị trí công tác, hoạt động nghề nghiệp của người công nhân
Đối với các cơ sở dạy nghề thì chất lượng chính là thương hiệu, là lý do để tồn tại, để cạnh tranh và để phát triển trong môi trường đào tạo đầy biến động Vì vậy trong dạy nghề chất lượng đào tạo cũng phải được đánh giá và kiểm định Chất lượng dạy nghề chỉ có thể biết được khi người học tốt nghiệp ra trường có việc làm
và làm được việc Yêu cầu của chất lượng dạy nghề đang đứng trước những thử thách to lớn, đó là:
+ Yêu cầu chất lượng ngày càng tăng của phát triển kinh tế - xã hội, thị trường lao động và những thay đổi của kỹ thuật công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Sự mong đợi và sự hài lòng của khách hàng ( Nhà nước, người học, người sử dụng lao động, ) đối với cơ sở dạy nghề
Trang 13+ Cạnh tranh ngày càng tăng giữa các cơ sở dạy nghề, đòi hỏi mỗi cơ sở dạy nghề phải tạo được danh tiếng và thương hiệu
1.2.5 Nâng cao chất lượng dạy nghề
Chất lượng dạy nghề phụ thuộc ở nhiều yếu tố ảnh hưởng Nâng cao chất lượng dạy nghề, chính là sự cải tiến các tác động vào các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình dạy nghề nhằm thu được hiệu quả dạy nghề cao nhất
Nâng cao chất lượng dạy nghề là cải tiến liên tục ở mọi khâu, mọi công đoạn, mọi yếu tố có liên quan đến người dạy, người học, người quản lý, người phục
vụ
1.2.6 Hiệu quả (Tài liệu bài giảng của Trung tâm thống kê và dự báo giáo dục -
Viện chiến lược và Chương trình giáo dục )
Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả trong điều kiện nhất định
Công thức tính hiệu quả:
Hiệu quả tuyệt đối E = K - C
Hiệu quả tương đối E = K/C
Trong đó K là kết quả nhận được theo hướng mục tiêu
C là chi phí bỏ ra
E là hiệu quả
Hiệu quả còn được phân loại theo các cặp sau :
+ Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội : Hiệu quả tài chính còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế
mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế Hiệu quả kinh tế quốc dân còn được gọi là hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả tổng hợp được xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Chủ thể của hiệu quả kinh tế - xã hội là toàn bộ xã hội mà người đại diện cho nó là Nhà nước, vì vậy những lợi ích và chi phí được xem xét trong hiệu quả kinh tế - xã hội xuất phát từ quan điểm toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Trang 14+ Hiệu quả trực tiết và hiệu quả gián tiếp : Hiệu quả trực tiếp là hiệu quả được xem xét trong phạm vi chỉ một dự án, một doanh nghiệp (một đối tượng) Hiệu quả gián tiếp là hiệu quả mà một đối tượng nào đó tạo ra cho đối tượng khác Việc xây dựng một dự án này có thể kéo theo việc xây dựng hàng loạt dự án khác Hiệu quả của dự án đang xem xét là hiệu quả trực tiếp còn hiệu quả của các dự án khác là hiệu quả gián tiếp
+ Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài : Hiệu quả trước mắt là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian ngắn Lợi ích được xem xét trong loại hiệu quả này là lợi ích trước mắt, mang tính tạm thời Việc nhập những thiết bị cũ, công nghệ kém tiên tiến, rẻ tiền có thể mang lại lợi ích trước mắt nhưng về lâu dài không hẳn như vậy Hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian dài Việc bỏ tiền mua bảo hiểm có thể lợi ích trước mắt bị vi phạm nhưng nó tạo ra một thể ổn định lâu dài, nó cho phép san bớt những rủi ro nhờ nhiều người mua bảo hiểm Việc đầu tư cho giáo dục cũng được xem là hiệu quả lâu dài
+ Hiệu quả và hiệu suất : Hiệu suất là kết quả lao động được biểu hiện bằng khối lượng công việc làm được trong thời gian nhất định Hiệu suất là cần thiết nhưng không phải là điều kiện đủ để có hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính
để đạt được lượng đầu ra nhất định với chi phí đầu vào nhỏ nhất Tất nhiên, cũng có thể cố định chi phí, doanh nghiệp nào sản xuất được nhiều đầu ra hơn sẽ được coi là sản xuất có hiệu quả tài chính cao hơn
1.2.7 Hiệu quả giáo dục (Tài liệu bài giảng của Trung tâm thống kê và dự báo giáo
dục - Viện chiến lược và Chương trình giáo dục )
Điều cốt lõi của lý thuyết hiệu quả được thể hiện ở mối quan hệ đầu vào và đầu ra, cụ thể điều gì sẽ xảy ra đối với đầu ra khi ta thay đổi đầu vào ? Điều này còn
là bí ẩn trong lĩnh vực giáo dục, hoặc ít nhất thì cũng có thể nói rằng còn nhiều điều không chắc chắn Nhiều thứ không thuộc đầu vào nhưng lại có đến kết quả đầu ra Liệu kết quả học của học sinh có phụ thuộc nhiều vào gia đình và môi trường hơn là tác động của nhà trường hay không ? Chẳng hạn có hai trường giống nhau về mức
độ đầu vào và cách sử dụng đầu vào để dạy dỗ học sinh, nhưng học sinh ở trường A
Trang 15tốt hơn hẳn so với học sinh ở trường B khi xác định được thước đo giá trị chung Có thể việc học tập tốt hơn của học sinh trường A có sự tác động của các biến số ngoài nhà trường ? Học sinh xem là một đầu vào, nếu học sinh giành nhiều thời gian cho học tập và cố gắng học tập thì có thể nâng cao được chất lượng đầu ra của giáo dục Tuy nhiên, thời gian và sự nỗ lực của học sinh ít khi được coi là chi phí giáo dục
1.2.8 Nâng cao hiệu quả giáo dục (Tài liệu bài giảng của Trung tâm thống kê và
dự báo giáo dục - Viện chiến lược và Chương trình giáo dục )
Để áp dụng các quan điểm hiệu quả đối với ngành giáo dục , làm thế nào có thể vượt qua những khó khăn đã nêu và đảm bảo rằng các thước đo được lựa chọn càng chính xác bao nhiêu càng tốt Bản chất của việc phân tích hiệu quả là so sánh giữa đầu vào và đầu ra theo những mục tiêu nhất định được biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị tính bằng tiền Khi người ta nói về việc cải tiến hiệu quả của giáo dục thì nghĩa là họ đề nghị thay đổi việc chuyển hoá các đầu vào thành các đầu
ra có chất lượng hơn Giáo dục cũng cần có sự cạnh tranh với các lĩnh vực kinh tế trong việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm Sự cải tiến hiệu quả có nghĩa là sự thay đổi từ tình trạng tốt nhất hiện có thành tình trạng mới tốt hơn Phân tích hiệu quả giáo dục thực chất là sử dụng phương pháp so sánh
1.2.9 Các tiêu chí về hiệu quả trong giáo dục (Tài liệu bài giảng của Trung tâm
thống kê và dự báo giáo dục - Viện chiến lược và Chương trình giáo dục )
Các cơ sở đào tạo thường đưa ra các mục tiêu, ứng với một số mục tiêu ta có thể xác định được các tiêu chí và các chỉ số hiệu quả Nâng cao chất lượng chương trình đào tạo, theo mục tiêu này tiêu chí hiệu quả là so sánh giữa các giải pháp/phương án nâng cao chất lượng với chi phí bỏ ra Trong thực tế, người ta thường cố định chi phí (hoặc sử dụng các giải pháp không làm tăng chi phí một cách đáng kể) để so sánh giữa các cơ sở đào tạo hoặc cải tiến một chương trình đào tạo
Chi phí nhỏ nhất, theo mục tiêu này tiêu chí hiệu quả là tiêu chí nhỏ nhất, tức
là so sánh chi phí đơn vị giữa các cơ sở đào tạo có các khối ngành đào tạo tương tự
Trang 16nhau, vùng nơi cơ sở đào tạo đóng gần nhau Trong thực tế, thông thường người ta
cố định chất lượng để so sánh về chi phí đơn vị
Sử dụng hợp lý các nguồn lực, theo mục tiêu này tiêu chí hiệu quả là nâng cao hiệu suất sử dụng nguồn lực, giảm các tỷ lệ bỏ học, lưu ban và thực hiện kinh tế nhờ phạm vi và quy mô
1.2.10 Các chỉ số hiệu quả trong giáo dục (Tài liệu bài giảng của Trung tâm thống
kê và dự báo giáo dục - Viện chiến lược và Chương trình giáo dục )
+ Sự thay đổi chi phí cho mỗi học viên năm hay mỗi học viên tốt nghiệp + Tỷ lệ học viên bỏ học
+ Tỷ lệ học viên chậm tiến độ
+ Tỷ lệ học viên tốt nghiệp/hoàn thành khoá đào tạo
+ Cố định chi phí cho mỗi học viên với việc nâng cao chất lượng đào tạo
+ Số lượng giờ học trung bình mà mỗi học viên thực dành cho một năm học/ cả khoá đào tạo
+ Đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm tăng tính tích cực học tập, tăng
tự học và nghiên cứu của học viên
+ Tỷ lệ học viên tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học ngay trong quá trình đào tạo
+ Cơ cấu các khoản chi phí trực tiếp cho đào tạo
+ Các tỷ lệ nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực
+ Định mức giờ giảng dạy và nghiên cứu cho mỗi giảng viên
+ Tỷ lệ học viên trên giáo viên, vì lương giáo viên thường chiếm tỷ lệ khá lớn trong chi phí đào tạo
+ Số học viên trung bình cho mỗi lớp học
+ Chi phí thường xuyên trung bình cho mỗi học viên
+ Tỷ lệ học viên đến thư viện
+ Tỷ lệ giờ thực tế sử dụng các trang thiết bị phục vụ cho đào tạo
1.2.11 Nghề ( Theo tài liệu http://cnx.org/contant/m26473/1.1/.trang 4)
Trang 17Quan niệm về nghề ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định:
Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: “ Là một hoạt động lao động đòi hỏi
có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn”
Khái niệm nghề ở Pháp: ”Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống”
Khái niện nghề ở Anh: “ Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học và nghệ thuật”
Khái niệm nghề ở Đức: “ Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó ”
Theo giáo trình kinh tế lao động của Trường đại học Kinh tế Quốc dân thí khái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức ( hiểu biết ) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nghề Chung nhất, nghề là một dạng xác định của hoạt động lao động trong hệ thống phân công lao động xã hội Là tổng hợp những kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng trong lao động mà con người tiếp thu được do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích luỹ kinh nghiệm trong công việc
Nghề đào tạo là nghề được đào tạo hệ thống, bằng nhiều hình thức và được chứng nhận bằng các văn bằng chứng chỉ, còn nghề xã hội được hình thành một cách tự phát theo nhu cầu của thị trường lao động, thường được đào tạo với các chương trình đào tạo ngắn hạn, hoặc có thể thực hiện thông qua hướng dẫn, kèm cặp hoặc truyền nghề
Một trong những cách phân loại nghề là dựa trên 4 dấu hiệu cơ bản của nghề:
(1) Đối tượng tác động: là hệ thống những thuộc tính, những mối quan hệ qua lại của các sự vật và hiện tượng, các quá trình lao động mà người làm nghề phải vận dụng;
Trang 18(2) Mục đích hoạt động: Là kết quả mà xã hội đòi hỏi, trông đợi ở người lao động trong lĩnh vực nghề;
(3) Công cụ hoạt động: bao gồm các phương tiện, dụ cụng, thiết bị kỹ thuật để tác động vào đối tượng khi làm một sản phẩm;
(4) Môi trường hoạt động: Là không gian, điều kiện làm việc
Với bốn dấu hiệu này sẽ cho thấy giá trị của hàng hóa sức lao động phụ thuộc vào kiến thức và kỹ năng nghề của người lao động Để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như hiện nay đòi hỏi người lao động không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề, hoàn thiện thái độ và tác phong công nghiệp phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước và thế giới
( C Mac Ph Ăng ghen Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 trang 198 )
* Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “đào tạo nghề là hoạt động nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện các nhiệm
vụ liên quan đến công việc được giao”
* Ở Việt Nam tồn tại các khái niệm sau:
+ Theo giáo trình Kinh tế Lao động của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì khái niệm đào tạo nghề được tác giả trình bày là:” Đào tạo nguồn nhân lực
Trang 19là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định ”
+ Theo tài liệu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội xuất bản năm
2002 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu:” Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang
bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội ” + Theo Luật dạy nghề: “đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị cho người học nghề những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết trong hoạt động của nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”
Luật dạy nghề xác định mục tiêu của đào tạo nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với
trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Như vậy, khái niệm đào tạo nghề hay dạy nghề đã không chỉ dừng lại ở trang
bị những kiến thức kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động trong quan niệm về lao động chứ không coi lao động là một nguồn “ Vốn nhân lự”, coi người lao động như cái máy sản xuất Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỷ luật lao động - một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện nay
* Những nhân tố ảnh hưởng đào tạo nghề (dạy nghề): (1)
+ Tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo sự chuyển dịch về cơ cấu lao động Sự chuyển dịch này đòi hỏi phải đào tạo nghề cho người lao động đang hoạt động trong những lĩnh vực
Trang 20
nông lâm ngư nghiệp chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
+ Cơ hội và thách thức của toàn cầu hoá và yêu cầu hội nhập khu vực
và quốc tế: Trong tình hình hiện nay chất lượng lao động là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành bại trong cạnh tranh quốc tế Chúng ta đang gặp bất lợi với lực lượng lao động có chất lượng thấp Vì vậy việc nâng cao chất lượng lao động nước ta đang
là một đòi hỏi cấp thiết Chất lượng lao động chỉ có thể được nâng cao thông qua quá trình giáo dục đào tạo, trong đó đào tạo nghề là một cấu thành quan trọng Yêu cầu này đòi hỏi công tác dạy nghề phát triển nhanh cả về quy mô và chất lượng
+ Đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển dạy nghề: Những đường lối chủ trương, chính sách đúng đắn và phù hợp của Đảng sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển công tác dạy nghề
+ Các yếu tố về dân số: Quy mô và cơ cấu dân số quyết định đến số lượng, quy mô và cơ cấu của các trường dạy nghề Nước có cơ cấu dân số trẻ thì mạng lưới dạy nghề phải lớn còn những nước có cquy mô dân số vừa và nhỏ thì phát triển những trường dạy nghề mang tính chuyên sâu
+ Thái độ của xã hội về nghề và công tác dạy nghề: Xu hướng vào được đại học mới có thể kiếm được một nghề ổn định đang ảnh hưởng rất nhiều đến
sự phát triển của công tác đào tạo nghề trong các trường dạy nghề
* Sự cần thiết của công tác đào tạo nghề:
Công tác đào tạo nghề cho mọi người để họ đi vào lao động sản xuất luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong việc tái sản xuất sức lao động vì thế mà công tác đó là một điều kiện bắt buộc để phát triển nền sản xuất xã hội Như vậy chúng ta
có thể thấy rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong bối cảnh đang tiến hành xây dựng và hoàn thiện một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, vấn đề con người là vấn đề chủ chốt, một trong những công tác hàng đầu để hình thành con người mới
xã hội chủ nghĩa đó chính là đào tạo nghề cho người lao động
1.2.13 Việc làm
Trang 21Đối với mỗi người lao động, được làm việc và gắn với từng công việc cụ thể không chỉ để tồn tại mà còn là sự hoàn thiện bản thân Đối với xã hội, việc làm là tạo ra của cải vật chất và các địch vụ cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tuy nhiên, hiểu được đúng nghĩa thế nào là việc làm không phải ai cũng hiểu như nhau
Theo Bộ luật lao động – Điều 13: “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Theo quan điểm Mac: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó” Sức lao động do người lao động sở hữu Những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ, có thể do người lao động sở hữu, sử dụng hay quản lý hoặc không Theo quan điểm của Mac thì bất kỳ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng lao động đó đều
có thể dẫn tới sự thiếu việc làm hay mất việc làm
Như vậy việc làm phải bao gồm các tiêu chí sau:
+ Đây là một hoặc các hoạt động của con người
+ Hoạt động này phải là hoạt động có ích
+ Phải tạo ra thu nhập một cách trực tiếp (đối với cá nhân ) hoặc gián tiếp (tạo ra thu nhập cho gia đình hoặc xã hội )
+ Không bị pháp luật cấm
Với khái niệm trên, nội dung của việc làm rất mở rộng và cho thấy khả năng
to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người Người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh; tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật nếu có nhu cầu
Qua đây cho thấy việc làm là một phạm trù lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau Mặt khác, việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kiềm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội của mỗi quốc gia / địa phương / doanh nghiệp
Trang 221.3 Một số khái niệm và quan điểm làm nền tảng cho vấn đề nghiên cứu
1.3.1 Các khái niệm về đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy nghề
(Theo luận văn thạc sỹ của Nguyễn Minh Khoa, trang 8 )
Theo Palomba và Banta (1999), là một quá trình xem xét và đánh giá các hoạt động, thao tác của người học một cách cẩn thận và có bài bản Đặc biệt, đánh giá
tìm hiểu người học có học cái cần phải học hay không, có thể giao tiếp hiệu quả, có thể xác định và giải quyết tốt các vấn đề hay có khả năng áp dụng kiến thức và kỹ năng chuyên môn vào thực tiễn nghề nghiệp sau này Rất nhiều câu hỏi được đặt ra,
và như vậy, đánh giá bao hàm một ý nghĩa rất rộng, rất nhiều công việc và quy trình thực hiện phải qua nhiều công đoạn khác nhau
Như Barr và Tagg (1995) nhận định, đánh giá trong giáo dục, một khi thực hiện đầy đủ, sẽ có tác dụng làm thay đổi toàn bộ hệ thống Nó còn là chứng cứ cho thấy hệ thống giáo dục, hay nói hẹp hơn, từng cơ sở đào tạo tham gia thảo luận và tìm biện pháp để giải quyết các vấn đề khác nhau của cơ sở đào tạo, lợi ích cũng như khó khăn ( Magruder, McManis và Young 1997 )
Marchese (1987 ) định nghĩa như sau: Đánh giá là việc tập hợp, xem xét và
sử dụng một cách hệ thống các thông tin về chương trình đào tạo nhằm mục đích cải tiến việc học tập và phát triển của người học
Mentkowski (1998 ), ở góc độ trình tự, xác định đánh giá là “hệ thống các quy trình nhằm tìm hiểu, xác định và cải tiến kết quả học tập của người học”
Daniel Stufflerbeam (1971 ) định nghĩa “ Đánh giá như là một quá trình vạch kế hoạch, thu nhận thông tin có ích và cung cấp các thông tin này cho việc phán xét các quyết định khác liên quan đến chương trình đó”
Trang 23Bruce Tuckman (1985 ) định nghĩa “ Đánh giá là cách thức xác định xem chương trình có đạt được các mục tiêu đặt ra hay không, có nghĩa là xem hệ thống dạy học đầu vào đã được thiết lập có đạt tới các thành quả định sẵn hay các kết quả như quy định hay không”
Worthen và Saders (1987) cho rằng đánh giá là “ Quá trình xác định một cách chính quy ( formal determination ) chất lượng, hiệu quả và giá trị của một chương trình, một sản phẩm, một dự án hay một chương trình đào tạo Đánh giá bao gồm các phương pháp điều tra, phỏng vấn, xét đoán (judgment ) và được tiến hành theo từng bước
Thứ nhất, xác định các tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng và quyết định xem các tiêu chuẩn này là tương đối hay tuyệt đối
Thứ hai, tiến hành thu thập các dự liệu và thông tin liên quan
Thứ ba, áp dụng các tiêu chuẩn đã lựa chọn để xác định chất lượng”
Tác giả Phạm Thành Nghị (12, trang 88) quan niệm rằng: “ Đánh giá chương trình đào tạo là việc xem xét một chương trình một cách toàn diện Việc đánh giá bao gồm thu thập dữ liệu về mục tiêu chương trình, nguồn lực cần thiết và nguồn lực đã sử dụng và đánh giá mức độ thực hiện chương trình Trong việc đánh giá quá trình thực hiện chương trình có thể xem xét đến các thành tố liên quan chất lượng ví dụ như đánh giá đồng nghiệp, đánh giá đầu ra Đánh giá một ngành đào tạo có thể được thực hiện trong nội bộ cơ sở giáo dục, trong hệ thống các trường, một cơ quan quản lý nhà nước hay các cơ quan thẩm định, thanh tra”
Tuy có khác nhau trong định nghĩa của nhiều tác giả, nhưng ở đây cần phân biệt các khái niệm về đánh giá: đánh giá đầu ra của người học ( outputs ) và đánh giá hiệu quả đào tạo trong môi trường làm việc (outcomes ) Đánh giá đầu ra là đánh giá kết quả người học đạt được thực sự (actual ) sau thời gian học tập đối với kết quả dự kiến phải đạt ( intended hay expected ) của môn học hay chương trình đào tạo Còn đánh giá hiệu quả đào tạo là đánh giá khả năng đáp ứng của người học sau khi hoàn thành khoá học bước vào thế giới nghề nghiệp Ngoài ra, khác với đánh giá đầu ra hay hiệu quả đào tạo, đánh giá còn có thể tiến hành ngay trong quá
Trang 24trình đào tạo nhằm tìm hiểu sự tiến bộ của người học ( progress ) Đối với loại đánh giá này, còn có thời gian và cơ hội sửa chữa và điều chỉnh kịp thời Không khác với loại đánh giá này là đánh giá tạo thành (formative Evaluation ) đối chiếu với đánh giá tổng kết (summative Evaluation ) Ngoài ra còn có loại đánh giá bên trong ( In ternal Evaluation ) và đánh giá ngoài ( External Evaluation )
1.3.2 Các mô hình và kỹ thuật đánh giá (Theo luận văn thạc sỹ của Nguyễn Minh
Khoa, trang 12 đến trang 16 )
Mô hình đánh giá
(1) Mô hình đánh giá chất lượng cấp chương trình (AUD)
Việc đánh giá cấp chương trình được thực hiện theo một mô hình gồm những yếu tố sau:
- Mục đích và mục tiêu
- Chương trình đào tạo ( nội dung, cấu trúc, quan điểm sư phạm, thiết kế
chương trình và đánh giá sinh viên )
- Đầu vào ( người học, người dạy, tài nguyên học tập, hệ thống quản lý chất lượng bên trong)
- Đầu ra ( các mức chuẩn đạt được, tỷ lệ tốt nghiệp, bỏ học)
- Độ hài lòng cho những bên có liên quan ( người học, thị trường lao động, xã hội, cán bộ nhà trường)
Với mô hình này, để điều tra chúng ta còn phải kèm theo bộ câu hỏi cho từng nội dung cần khảo sát
(2) Mô hình Hamblin gần giống với Kirpatrick về nội dung đánh giá nhưng được phân làm năm mức:
- Phản hồi: Phản hồi của người học về các cấp độ của các nhân tố liên quan, được tiến hành trong quá trình, ngay sau khi kết thúc hay sau một thời gian kết thúc chương trình
- Nhận thức: Đánh giá mang tính phát triển về sự thay đổi của kiến thức, kỹ năng và thái độ sau quá trình đào tạo, được thực hiện trước và sau khi kết thúc chương trình
Trang 25- Hành vi nghề nghiệp: Các thay đổi liên quan đến kỹ năng nghề nghiệp có được từ quá trình đào tạo được tiến hành trước và sau quá trình đào tạo
- Chức năng ( functioning ): Mức độ ảnh hưởng của chương trình tổ chức hay khoa của người học
- Giá trị cơ bản: Đánh giá các vấn đề ảnh hưởng tới lợi nhuận và sự sống còn của tổ chức
(3) Mô hình Warr, Bird và Rackham đánh giá trong phạm vi vấn đề, xem xét lại các khía cạnh như các điều kiện hiện hành liên quan đến lĩnh vực điều hành chương trình, xác định các nhu cầu đào tạo, các vấn đề liên quan đến quá trình thực hiện để đạt được các mục tiêu cuối cùng, những thay đổi trong việc thực hiện điều hành tại các giai đoạn chuyển tiếp, các mục tiêu tức thời và thành quả đạt được Đánh giá đầu vào ( input evaluation ): Đánh giá tự bản thân chương trình Đánh giá phản hồi (reaction evaluation ): Phản hồi của người học
Đánh giá kết quả đầu ra (outcome evaluation ): 4 bước
- Xác định mục tiêu của khoá đào tạo
- Xây dựng công cụ đánh giá
- Sử dụng công cụ (tiến hành đánh giá )
Tóm lại: Bốn mô hình nêu trên măc dù có khác nhau về hình thức thể hiện, về cách chia trong từng mức đánh giá nhưng về cơ bản nội dung đánh giá đều được tập trung vào các vấn đề chính như nội dung chương trình, các điều kiện hiện hành ( nguồn lực cơ sở vật chất ), phản hồi của người học về kiến thức, kỹ năng và thái
độ có được sau quá trình đào tạo
Trang 26- Đánh giá chất lượng thông qua đánh giá sáu yếu tố cơ bản của công tác giáo dục Sáu yếu tố cơ bản được nêu ở đây là mục tiêu ( dạy và học để làm gì ? ), người học ( dạy ai ? ), nội dung ( dạy cái gì ? ), phương pháp ( dạy như thế nào ? ),
cơ sở vật chất, trang thiết bị ( dạy bằng phương tiện gì ? ), người dạy ( ai dạy ? ) Có thể thấy đây là một phương pháp đánh giá khá toàn diện, tìm ra được nguyên nhân cũng như bản chất của từng yếu tố ảnh hưởng tới quá trình đào tạo Nhưng nhược điểm của phương pháp này là quá trình đánh giá phần lớn là mang tính định tính Ngoài ra, nếu để đưa ra một kết luận chung về chất lượng dự trên sáu yếu tố cơ bản này là không đơn giản vì sự tác động của từng yếu tố đối với chất lượng là không đồng đều Hơn nữa phương pháp này không chỉ ra được tác dụng cụ thể của giáo dục đối với từng người học
- Đánh giá qua việc sử dụng người được đào tạo có thể thấy được cả mục tiêu đào tạo cũng như mức độ tiếp thu của người học, tức là đánh giá được thực chất của chất lượng đào tạo được thể hiện qua công việc mà người tốt nghiệp có thể đảm nhận được Khó khăn của phương pháp này là phải phân biệt được đâu là kết quả đạt được do quá trình đào tạo mang lại và đâu là kết quả có được trong quá trình làm việc Mặt khác, kết quả nhận được từ quá trình này cũng bị lệ thuộc vào cơ chế
sử dụng lao động tại cơ quan tuyển dụng Ngoài ra, để có được một kết luận chính xác việc đánh giá phải được tiến hành trên số đông mang tính thống kê, tránh trường hợp kết luận dự trên một số trường hợp hay cá nhân cá biệt
Kỹ thuật đánh giá
(1) Sử dụng phương pháp điều tra (survey )
Phương pháp điều tra là một pháp thu thập dự liệu thông dụng trong nghiên cứu và đánh giá Điều tra có thể sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau như định lượng ( thí dụ như bản thân thăm dò ) hay định tính ( như phỏng vấn ) hay tổng hợp cả hai Điều tra là phương pháp đánh giá rộng thường được tiến hành trong một thời gian tương đối dài và bao gồm nhiều nội dung, đặc biệt các vấn đề về thái độ, nhận thứu, quan niệm Người học có thể hồi tưởng để cung cấp các thông tin về môn học, chương trình học và điều kiện học, về những việc họ thể hiện sự hài lòng hay không
Trang 27như về giáo viên, giáo trình, các hoạt động trong và ngoài lớp học, môi trường học tập và các dịch vụ trong học tập và sinh hoạt Đối tượng tham gia vào điều tra cũng rất đa dạng như người học đang theo học, người bỏ học, người đã tốt nghiệp, vừa tốt nghiệp, phụ huynh, người sử dụng lao động Điều tra có thể hỏi nhiều đối tượng cùng một lúc, nhưng trong trường hợp này, cần tuân thủ các yêu cầu thực hiện chung để kết quả chính xác và khách quan
Paloma và Banta ( 1999) thống kê các hình thức trả lời thường dùng như sau:
- Thang trả lời đồng ý, câu hỏi trong loại này thường là câu nhận định và trả lời thường sử dụng theo thang đánh giá thái độ như “ rất đồng ý “, “ đồng ý ”, “ không chắc chắn “, “ không đồng ý “ và “ hoàn toàn phản đối “
- Thang trả lời quan trọng, như đánh giá tầm quan trọng của các mục tiêu học tập theo các mức độ “ rất quan trọng “, “quan trọng “ và “ không quan trọng “
- Thang trả lời tham gia, như tham gai vào hoạt động học tập với các loại mức độ “ nhiều “ hay “ít “, “thường xuyên “ hay “ thỉnh thoảng “, “ một lần “, hai lần “ hay “ ba lần “
- Thang xác định mức độ, thông thường là loại yêu cầu chọn lựa một mức độ thích hợp nhất giữa hai thái cực như :
_1 _2 _3 _4 _5 _6 _7 Không chuẩn bị Chuẩn bị cẩn thận
Hìn h 1.1 Sơ đồ thang xác định mức độ
- Thang đánh giá không theo thứ tự, là loại câu hỏi có liệt kê sẵn các câu trả lời có nhiều khả năng người học sẽ chọn Như đối với câu hỏi vì sao chọn chương trình học, các câu trả lời có thể là “ người dạy giỏi “, “địa điểm thuận lợi “,
“ chi phí hạ “ hay “ môi trường giúp phát triển kỹ năng “
(2) Các phương pháp định tính
Trang 28Khác với phương pháp định lượng, thu thập dữ liệu bằng phương pháp định tính không tự giới hạn ở sự phân loại theo các danh mục cho sẵn, mà đi sâu xem xét, đánh giá các vấn đề một cách bao quát và chi tiết Nhờ vậy mà giúp chúng ta hiểu sự vật, con người và trạng thái một cách đầy đủ và toàn diện hơn Trong đánh giá, yếu tố toàn diện tạo điều kiện cho giảng viên nhìn quá trình học tập của người học ở nhiều góc độ, hiểu biết các hoạt động của người học nhiều hơn Phương pháp định tính còn cho phép người dạy gần gũi với người học, tâm tình với người học và cùng tìm ra biện pháp cải tiến chất lượng Trên thực tế, việc đánh giá , việc dạy và việc học có liên quan mật thiết với nhau Platon mô tả ba phương pháp định tính thường dùng trong thu thập dữ liệu: phỏng vấn chuyên sâu, quan sát trực tiếp và phân tích văn bản
(3) Kỹ năng tư duy phê phán ( critical thinking )
Một trong những kỹ năng cốt lõi của giáo dục đại học, đặc biệt là của chương trình giáo dục đại cương, là kỹ năng tư duy phê phán Tư duy phê phán, theo Norris
và Ennis ( 1989 ), là tư duy lý luận và hồi tưởng nhằm quyết định tin cái gì và làm cái gì Brookfield ( 1987 ) nhận xét tư duy phê phán bao hàm sự sẵn sàng đặt vấn
đề, tình toán đến nhiều khả năng, giải pháp khác nhau và óc hoài nghi Như vậy, tư duy phê phán đòi hỏi phải có kiến thức nền tảng vững chắc, nhiều kinh nghiệm, óc quan sát và năng lực thu thập thông tin cần thiết càng nhiều càng tốt
(4) Phiếu điều tra bằng bảng câu hỏi ( Questionnaire )
Bảng câu hỏi là tập hợp một cách có cấu trúc các câu hỏi được người đọc tự trả lời hay ít nhất là không cần được hướng dẫn một cách tỉ mỉ của người thu thập thông tin Những bảng câu hỏi này thường không yêu cầu phải nêu tên người trả lời
và vì vậy tăng tính tự do, trung thực của người được hỏi đối với câu trả lời của mình
Một số yêu cầu khi sử dụng hình thức điều tra bằng câu hỏi:
- Phải đảm bảo một tỉ lệ phản hồi nhất định
Trang 29- Các câu hỏi được sử dụng trong phiếu điều tra phải rõ ràng, dễ hiểu, các thông tin phải được diễn giải một cách mạch lạc và tránh các nghĩa kép trong cùng một câu hỏi hoặc trả lời
- Bảng câu hỏi không quá dài ( nên tối đa là 4 đến 5 trang ), mỗi câu hỏi không nên có quá nhiều đáp án lựa chọn ( tối đa 5 mức )
- Các câu hỏi lựa chọn hợp lý để đạt được mục tiêu đặt ra
(5) phỏng vấn hoặc thảo luận ( Interview )
Đây là các phương pháp mà trong đó người đánh giá trò chuyện trực tiếp với những người được khai thác thông tin Các phương pháp này có thể là những cuộc phỏng vấn được cấu trúc và sắp đặt một cách chính thức nhưng cũng có thể là những cuộc thảo luận tự do và không chính thức Những phỏng vấn này có thể được tiến hành với cá nhân hoặc với các nhóm Đây là kỹ thuật kèm theo bảng câu hỏi vô cùng phù hợp, nó có thể dùng để đào sâu vào một vấn đề nào đó hoặc để kiểm tra tính phù hợp và tin cậy của kết quả trả lời bảng câu hỏi bằng cách trò chuyện trực tiếp với một mẫu (sample ) nhóm người đã trả lời khảo sát
1.3.3 Các loại kết quả và tiêu chí của kết quả đánh giá ( Tài liệu bài giảng Đào
tạo và phát triển, Châu Kim Lang )
* Các loại kết quả đánh giá
Theo Kirkpatrick, kết quả đánh giá đào tạo chia làm bốn mức độ:
Mức 1: Phản ứng (reaction ) của học viên biểu lộ qua ghi nhận mức độ hài lòng ( nhiều hoặc ít ) trong quá trình đào tạo
Mức 2: Học tập ( Learning ) của học viên được giáo viên đánh giá trong quá trình đào tạo về kiến thức, kỹ năng, thái độ ( đánh giá hình thành và đánh giá tổng kết )
Mức 3: Thực hiện ( Performance ) của học viên trong công việc sau khi hoàn tất khoá đào tạo, mức độ áp dụng kết quả học tập vào công việc ( chuyển giao đào tạo )
Mức 4: Kết quả của cơ quan (Organizational results ) qua lợi nhuận cho công ty
Trang 30* Các tiêu chí của kết quả đánh giá
(1) Tính thích đáng (Relevance )
Tiêu chí thích đáng thể hiện ở kết quả học tập liên hệ với khả năng học tập
có trong chương trình đào tạo Sự thích đáng khi kết quả đào tạo phù hợp với mục tiêu học tập
(2) Tính tin cậy ( Reliability )
Tính tin cậy thể hiện qua mức độ ổn định của kết quả đo lường Tính tin cậy phụ thuộc vào công cụ kiểm tra dẫn đến tính khách quan của người đánh giá kết quả
(3) Độ phân cách ( Discrimination )
Công cụ kiểm tra có độ phân cách cao khi kết quả đo lường phân biệt rõ người có trình độ caoso với người có trình độ thấp Kết quả kiểm tra mà đa số người học có kết quả như nhau thì độ phân cách thấp Độ phân cách càng cao chứng tỏ trình độ của những người học cách biệt giỏi kém
(4) Tình thực tiễn ( Practicality )
Tính thực tiễn thển hiện qua việc sử dụng công cụ đánh giá được thuận tiện, dễ dàng và đem lại kết quả chính xác Cụ thể, đối với kiến thức, sử dụng trắc nghiệm khách quan Đánh giá kỹ năng tay nghề dùng bài thực hành, đồ án sản phẩm Đối với thái độ, hành vi qua quan sát, theo dõi
1.4 Xu thế phát triển giáo dục nghề nghiệp nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong những năm gần đây, hệ thống dạy nghề trong cả nước đã được phục hồi và có bước phát triển mạnh, từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển con người
Yêu cầu đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá là một yếu tố khách quan đối với nước ta nói chung và từng địa phương nói riêng nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi phải có một cơ cấu lao động
Trang 31hợp lý, nghĩa là phải có một tỷ lệ phù hợp giữa các thành tố của nguồn lực lao động Phải chú ý đến công nhân lao động lành nghề, nâng cao năng lực thực hành và tăng hàm lượng chất xám sao cho đội ngũ công nhân lành nghề và các kỹ nghệ gia, kỹ thuật gia phải chiếm tỷ lệ trọng yếu Đây là một tiêu chí đòi hỏi sự phấn đấu không
ngừng của cả nước, toàn xã hội, toàn ngành trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài Thực tế nhiều năm qua chúng ta chú ý đến phát triển giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, chưa coi trọng giáo dục nghề nghiệp, dẫn đến giáo dục chuyên nghiệp, nhất là đào tạo công nhân mất cân đối Quy mô đào tạo nghề hiện nay dẫn nhỏ bé manh mún, thiết bị đào tạo lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá Chính những vấn đề trên đòi hỏi không ngừng đẩy mạnh công tác dạy nghề, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả trong đào tạo
Hơn nữa nước ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện tiềm lực kinh tế còn nhỏ bé, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, tài nguyên khoáng sản không nhiều Do đó, để có thể tiếp cận được với nền khoa học - kỹ thuật đang tiến nhanh như vũ bão của thế giới, từng bước rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp với sự phát triển của các nước, Đảng ta đã xác định phát triển nguồn nhân lực nói chung, nâng cao chất lượng đội ngũ nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong suốt quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá Vấn đề cấp bách hiện nay là khẩn trương bồi dưỡng về mọi mặt cho số công nhân, số lao động chưa qua đào tạo đầy đủ, tăng nhanh về quy mô với chất lượng cao Muốn vậy phải nâng cao chất lượng trong dạy nghề, bởi những năm qua cùng với sự suy giảm
về số lượng, chất lượng dạy nghề cũng có những giảm sút nghiêm trọng
Nguyên nhân của sự suy giảm đó là:
- Trang thiết bị của các cơ sở dạy nghề thiếu thốn, lạc hậu;
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề chuyên nghiệp bị phân tán, giảm về số lượng Trình độ không được nâng cao phù hợp sự phát triển của khoa học - công nghệ Trình độ sư phạm và quản lý nhiều năm qua ít được chú ý, bổ sung, bồi dưỡng, đào tạo lại;
Trang 32- Chương trình nội dung đào tạo, hệ thống giáo trình vẫn trong tình trạng lạc hậu, thiếu thống nhất, không theo một chuẩn mực nào, vì vậy không theo kịp sự tiến bộ của khoa học - công nghệ mới
Tóm lại: Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề là một đòi hỏi khách quan, cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.5 Xu thế phát triển giáo dục nghề nghiệp của thế giới ( Tài liệu bài giảng Đào
tạo và phát triển của Châu Kim Lang, trang 29, 30, 31 )
1.5.1 Đào tạo trong lịch sử
Từ ngàn xưa học nghề tách khỏi học chữ Ngày xưa ở phương Đông cũng như Tây phương, người ta đi học nhằm thi đỗ để ra làm quan cai trị thiên hạ Người nào hễ biết chữ thì không lao động chân tay
“ Văn chương phú lục chẳng thông
Trở về cày cấy ruộng đồng cho xong “
Trong xã hội phong kiến, người lao động chân tay đều thuộc tầng lớp con nhà nghèo, không có điều kiện học chữ, phải theo nghề gia đình hoặc địa phương để kiếm sống Ngày xưa học nghề không đòi hỏi phải biết chữ Học nghề thuộc tổ chức gia đình, phường hội của địa phương
Ban đầu người lao động học nghề không cần biết chữ Từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (cuối thế kỷ 17 ) đòi hỏi người lao động học nghề phải biết đọc, biết viết Cuối thế kỷ thứ 19 nâng lên trình độ tiểu học Giữa thế kỷ thứ 20, một
số ngành nghề đào tạo đòi hỏi công nhân phải có trình độ trung học cơ sở Khoa học
kỹ thuật ngày càng phát triển đòi hỏi trình độ người lao động phải được nâng cao
Xu thế phát triển là một tất yếu và nhu cầu xã hội
1.5.2 Xu hướng tương lai
- Sử dụng công nghệ mới (New technologies)
Khoa học kỹ thuật phát triển, công nghệ mới xuất hiện được áp dụng ngay vào sản xuất với những thiết bị hiện đại Máy móc thiết bị cùng với lao động ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm theo hàm Cobb-Douglas:
Trang 33Q = A L a K b trong đó: A, a, b là hằng số
L là người lao động
K là thiết bị
- Sắp xếp việc làm ảo (Virtual work arrangement)
Khái niệm “thực tế ảo” được hình thành trong công nghệ thông tin để nói lên hiện thực xã hội diễn tiến trong công nghệ thông tin không cần biết diễn ra ở đâu và vào lúc nào, miễn có kết quả cụ thể Thực tế ảo không đòi hỏi đích xác thời gian và không gian cụ thể khi diễn ra quá trình thực hiện Hiện nay một số việc làm không đòi hỏi người lao động phải đến nơi làm việc nhất định, vào thời khoá biểu cụ thể, chỉ cần người lao động thực hiện đúng hợp đồng có sản phẩm, kết quả đúng hạn và đạt tiêu chuẩn Ngoài ra, với phương tiện công nghệ thông tin, người lao động phải làm việc hợp tác mới giải quyết được vấn đề phức tạp
- Thiết kế nhanh (Rapid Design)
Trong nền kinh tế thị trường, cạng tranh được coi là vấn đề trọng tâm hàng đầu, đòi hỏi mọi công việc phải giải quyết với tốc độ ngày càng nhanh Không giống đào tạo trong nhà trường, đào tạo phải có kế hoạch linh hoạt và thiết kế đào tạo phải nhanh gọn và hiệu quả để bảo đảm sản phẩm có chất lượng tung ra thị trường kịp lúc
- Coi trọng vốn tinh thần (Intellectual capital)
Đội ngũ công nhân là tài sản của các cơ sở sản xuất, kiến thức và kỹ năng tay nghề của họ góp phần phát triển phát triển nguồn nhân lực cả nước nói chung và cho bản thân các cơ sở sản xuất nói riêng Quản lý và đào tạo không những phát huy tiềm năng này, mà còn tạo điều kiện cho họ đề xuất sáng kiến cải tiến trong lao động Phương pháp nghiên cứu tình huống và giải quyết vấn đề được quan tâm đặc
biệt trong quá trình đào tạo và tổ chức lao động
-Tăng cường hỗ trợ của người quản lý
Trang 34Dạy nghề ngắn hạn, truyền nghề thông thường được tổ chức tại địa phương hay tại nơi làm việc, do đó vấn đề quản lý đào tạo được quan tâm hàng đầu Có bốn lĩnh vực cơ bản trong quản lý: tài nguyên, người cộng tác, quá trình và sản phẩm
Bảng 1.1 Các lĩnh vực quản lý
Quản lý tài nguyên
- Phát triển vốn con người
- Quản lý cơ sở vật chất
- Quản lý công nhân
- Hệ thống quản lý học tập
Quản lý người công tác
- Quản lý kiến thức (chia sẻ kiến thức)
- Tạo thông điệp tức thời
- Tổ chức hội nghị cộng tác wed
Quản lý sản phẩm
- Chu kỳ đời sống sản phẩm
- Tay nghề công nhân
- Mối liên hệ với khách hàng
Quản lý quá trình
- Quản lý dòng làm việc
- Kết quả phân tích khách hàng
- Kết quả phân tích lực lượng làm việc
- Qúa trình kinh doanh
- Tăng cường đối tác đào tạo (Training partnership) và đào tạo bên ngoài (Outsourcing training)
Xu hướng hiện nay thành lập tập đoàn liên doanh (trong nước và nước ngoài) cho cùng một nhóm sản phẩm để tồn tại và phát triển Bằng cách thông qua nhà cung cấp dịch vụ áp dụng dưới danh nghĩa các công ty cung ứng đào tạo
Trang 35
có công trình nghiên cứu, thực nghiệm nào nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề cho người dân
2 Để hiểu rõ và đánh giá đúng thực trang của dạy nghề cần hiểu rõ về nội dung, cấu trúc, đặc điểm, yêu cầu của hoạt động dạy nghề nói chung và dạy nghề ngắn hạn nói riêng Chính vì vậy, trong phần này người nghiên cứu đã trình bày một cách khái quát một số khái niệm về chất lượng và hiệu quả dạy nghề, xu thế và phương đào tạo làm nền tảng cho nghiên cứu
3 Bên cạnh đó, cần thiết phải tiếp cận những quan điểm khoa học về lý thuyết đối với các khái niệm, mô hình và kỹ thuật nhằm đánh giá chính xác chất lượng và hiệu quả hoạt động dạy nghề trên cơ sở khoa học sáng tạo Qua phần trình bày trên người nghiên cứu đã phân tích được các ưu nhược điểm của các mô hình đánh giá và các kỹ thuật trong đánh giá một cách cụ thể Các kỹ thuật đánh giá người nghiên cứu thực hiện trong luận văn này là điều tra bằng câu hỏi ( questionarie ) và phỏng vấn ( Interview )
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ DẠY NGHỀ CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIỂN BẠC LIÊU
2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Bạc Liêu với vị trí địa lý thuộc lưu vực đồng bằng sông Cửu Long, nằm phía Đông Bắc bán đảo Cà Mau, phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang và phía Nam giáp tỉnh Cà Mau, có chiều dài bờ biển 56km thuộc hai huyện và thành phố, với ba cửa biển và diện tích rừng
phòng hộ 6.044 ha (năm 2008).
Trong chiến lược phát triển luôn coi trọng phát triển nuôi trồng chế biến thuỷ sản trên cơ sở nâng cao tính bền vững của ngành sản xuất này, đảm bảo giảm thiểu tác động tiêu cực với các ngành sản xuất khác và đảm bảo an sinh xã hội, sẽ dần chuyển đổi nền kinh tế từ khai thác và sử dụng tài nguyên, sản xuất các sản phẩm phần lớn dưới dạng thô sang các loại hình sản xuất – dịch vụ giá trị cao, các sản phẩm chế biến tinh, hàng hoá và dịch vụ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và
xuất khẩu (1)
Người dân vùng biển Bạc Liêu thuộc vùng sản xuất nước lợ và nước mặn, với đất đai thuận lợi cho phát triển thuỷ sản, diêm nghiệp và lâm nghiệp Nhờ có chủ trương chuyển dịch tích cực theo hướng khai thác tốt tiềm năng, nâng cao hiệu quả trên cơ sở lợi thế vùng sinh thái, đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu thị trường tiêu thụ, những năm qua sản xuất tăng trưởng liên tục theo hướng bền vững, thế mạnh kinh tế thuỷ sản được tập trung chỉ đạo đầu tư và có hiệu quả, đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, nâng cao đời
sống người dân (2)
(1) (2) UBND Tỉnh Bạc Liêu (2000), Chương trình phát triển bền vững tỉnh Bạc Liêu, giai đoạn 2008
– 2015 và định hướng đến năm 2020, Trang 128
Trang 37Tuy nhiên quá trình sản xuất, sản phẩm làm ra của người dân còn có nhiều hạn chế nhất định, chưa thật sự làm chủ được các khâu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, làm ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng Trong khi khai thác thuỷ sản đang có chiều hướng giảm sản lượng do điều kiện ngư trường ngày càng cạn kiệt và công nghệ chưa theo kịp thời đại Ngành công nghiệp đã tập trung đầu
tư xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp gắn với nuôi trồng, thu hoạch và chế biến các sản phẩm Do xuất phát điểm thấp nên mặc dù đạt nhịp độ tăng trưởng cao nhưng quy mô của khu vực sản xuất công nghiệp vẫn còn nhỏ bé so với yêu cầu phục vụ phát triển và hỗ trợ sản xuất
2.1.2 Dân số và lao động
* Dân số
Dân số tỉnh Bạc Liêu năm 2000 là 748.826 người , năm 2005 là 807.796 người và năm 2010 là 867.777 người, nhờ tỷ lệ giảm sinh mạnh (1,74%năm 2006),
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm dần từ 1,47% năm 2000, xuống còn 1,31% năm
2005 và 1,22 năm 2010, bình quân mỗi năm dân số tăng thêm bằng quy mô dân số của một xã, cao hơn mức tăng dân số của vùng ĐBSCL (vùng ĐBSCL giai đoạn 2001-2005 tăng 1,1%, của cả nước là 1,33%) Mật độ dân số trung bình năm 2007
là 822 người/km2 (so với vùng ĐBSCL là 435 người/km2 và của cả nước là 256 người/km2 )(1)
Riêng vùng biển Bạc Liêu bao gồm huyện Đông Hải, Huyện Hoà Bình và một số xã phường của thành phố Bạc Liêu Dân số được phân bố như sau:
Bảng 2.2 Dân số vùng biển Bạc Liêu Người
Trang 38Từ năm 2001 đến nay dân số của tỉnh Bạc Liêu có sự giảm cơ học Đó là sự dịch chuyển lao động đi làm việc tại các khu công nghiệp, các tỉnh khác và đi làm việc ở nước ngoài Một số người di chuyển tự do đến Bạc Liêu làm ăn, đa số là người nghèo, cư trú tự do làm thuê tại địa bàn các trang trại nuôi tôm, các khu vực ven biển, Dân số Bạc Liêu phân bố không đều, mật độ dân số ở các phường , thị trấn cao hơn nhiều lần so với các xã, nhất là các vùng dân cư ven biển (1)
Đặc diểm định cư của người dân chủ yếu tập trung ở ven sông rạch, các vàm sông cửa biển và dọc theo các tuyền đường giao thông, số cụm dân cư tập trung ở trung tâm các huyện không nhiều Đây là tập quán ảnh hưởng lớn đến phát triển hạ tầng, hạn chế hiệu quả đầu tư như : điện , đường, trường trạm,
* Lao động
Số người trong độ tuổi lao động tăng từ 440.920 người năm 2000 lên 499.500 người năm 2005 và 585.882 người năm 2010 (chiếm tỷ lệ so với dân số từ 58,9%năm 2000 tăng lên 61,8% năm 2005 và 67,52% năm 2010)
Lao động việc làm trong các ngành kinh tế -xã hội tăng 334.330 người năm
2000 lên 407.457 người năm 2005 và 463.170 người năm 2010 (so với số người trong độ tuổi lao động tăng từ 75,8% năm 2000 lên 77,1% năm 2005 và 79,1% năm 2010)
Chất lượng lao động của Bạc Liêu đã tăng khá so với những năm trước đây,
tỷ lệ lao động được đào tạo đã tăng từ 10,5% năm 2000 lên 25% năm 2005 và 34% năm 2010, trong đó có khoảng 25% qua đào tạo ngắn hạn Số lao động có trình độ cao đẳng và đại học trở lên chiếm tỷ lệ thấp ( khoảng 8 -9% so với tổng số lao động đang làm việc năm 2010, chủ yếu thuộc ngành giáo dục đào tạo và y tế)
* Dự báo phát triển dân số và lao động đến năm 2020 và 2030
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 đã
đề ra các mục tiêu về phát triển xã hội, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giai đoạn 2011-2015 là 1,12%/năm và giai đoạn 2016-2020 khoảng 0,9 – 1,0%/ năm
(1) UBND tỉnh Bạc Liêu (2009), Chương trình phát triển bền vững Bạc Liêu, Trang 47
Trang 39Dự báo các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển dân số và lao động trong thời kỳ quy hoạch như sau:
- Phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 1,22% năm 2010 xuống còn 1,0% năm 2015 và 0,94% năm 2020, đến năm 2030 còn 0,87% (mức tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2015 là 1,12%; giai đoạn 2016-2020 là 0,97%; giai đoan 2020-2030 là 0,90%)
- Dự báo sự biến đổi dân số trong thời kỳ quy hoạch giữa đi và đến là tương đương nhau (do đó không có tăng dân số cơ học) Qoi mô dân số tăng từ 867.777 người năm 2010 lên 917.470 người năm 2015 và 962.840 người năm 2020, đến năm 2030 là 1.006.950 người
- Số người trong độ tuổi lao động tăng từ 585.882 người năm 2010 lên 619.290 người năm 2015 và 646.706 người năm 2020, năm 2030 là 706.620 người Chiếm 67,52% so với dân số năm 2010, chiếm 67,5% so với dân số năm 2015, chiếm 67,2% so với dân số năm 2020 và 67,0% so với dân số năm 2030
- Lao động làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội tăng từ 463.170 người năm 2010 lên 504.720 người năm 2015 và 530.300 người năm 2020, năm
2030 là 582.960 người Chiếm 79,1% so số người trong độ tuổi lao động năm 2010, chiếm 81,5% so số người trong độ tuổi lao động năm 2015, chiếm 82,0% so số người trong độ tuổi lao động năm 2020 và chiếm 82,5% so số người trong độ tuổi lao động năm 2030
2 2 Thực trạng công tác dạy nghề cho người dân vùng biển Bạc Liêu
2.2.1 Mạng lưới cơ sở dạy nghề
* Q uản lý nhà nước về dạy nghề và việc làm
Hệ thống giáo dục quốc dân trong đó có dạy nghề là một hệ thống xã hội Quản lý dạy nghề chịu sự chi phối của các quy luật xã hội và tác động của quản lý
xã hội Quản lý dạy nghề được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý trong lĩnh vực hoạt động dạy nghề, là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh hoạt động dạy nghề theo yêu cầu phát triển xã hội
Trang 40Điều 84 của Luật Dạy nghề quy định về Cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề:
- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề theo phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm đầu tư phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương
(1) Công tác chỉ đạo điều hành của địa phương:
Quyết định số : 32 /2009/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 của Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án “ Quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề giai đoạn 2011-2015 và định hướng năm 2020 “ của tỉnh Bạc Liêu
Quyết định số : 977/QĐ-UBND ngày 28/4/2010 của Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh về việc thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Chỉ thỉ số 23-CT/TU ngày 12/7/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dạy nghề cho lao động nông thôn
Quyết định số: 436/QĐ-UBND ngày 6/7/2011 của Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Bạc Liêu năm 2010-2020
Quyết định số:192/QĐ-UBND ngày 7/2/2012 của Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Danh mục nghề đào tạo cho lao động nông thôn năm 2012 (có danh mục kèm theo)
Quyết định số : 2442/QĐ-UBND ngày 11/10/2012 về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình về việc làm và đào tạo nghề tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2011-2015