1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU

134 762 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Ninh Văn Bình đã hướng dẫn, theo dõi, định hướng khoa học và tạo mọi điều kiện để người nghiên cứu hoàn thành tốt luận văn, Tôi xin

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401

Hướng dẫn khoa học: TS NINH VĂN BÌNH

Trang 2

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:

Họ & tên: Cao Như Phúc Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 14/01/1981 Nơi sinh: Bạc Liêu

Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 96D/4 Trần Phú Phường 7 Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

Điện thoại cơ quan: 07813822746 Điện thoại : 01222179361

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:

1 Trung học chuyên nghiệp:

Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp:

Ngày & nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp:

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Bạc Liêu, ngày tháng năm 2012

Người nghiên cứu lớp

Cao Như Phúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Ninh Văn Bình đã hướng

dẫn, theo dõi, định hướng khoa học và tạo mọi điều kiện để người nghiên

cứu hoàn thành tốt luận văn,

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô giảng dạy đã truyền đạt

những kiến thức, kinh nghiệm quý báu giúp tôi nhận thức sâu sắc hơn về

nghề nghiệp, về cuộc sống,

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, quý Thầy, Cô các trường

THPT Bạc Liêu, Hiệp Thành, Phan Ngọc Hiển, Chuyên Bạc Liêu đã tạo

điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp,

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể học sinh ở các trường THPT đã

tham gia thực hiện điều tra, góp ý kiến nâng cao chất lượng giáo dục hướng

nghiệp,

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, các Anh, Chị, Em lớp Cao

học Giáo dục học Khóa 2011-2013 đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong những lúc khó

khăn, động viên tôi trong suốt thời gian học và hoàn thành luận văn tốt

nghiệp

Dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi

những thiếu sót và hạn chế, rất mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy, cô

giáo và bạn bè đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn

Cao Như Phúc

Trang 5

TÓM TẮT

Từ những năm đầu tiên của cuộc sống của chúng ta, chúng ta được yêu cầu xem xét những gì chúng ta muốn làm khi lớn lên Phụ huynh cẩn thận lập kế hoạch và quản lý, giáo dục con cái của họ với hy vọng chuẩn bị cho họ một nghề nghiệp thành công

Giáo dục hướng nghiệp sẽ giúp bạn khám phá cách có thể giúp thanh thiếu niên có quyết định về kế hoạch nghề nghiệp và đạt được các kỹ năng và kiến thức

họ cần để thành công trong thị trường việc làm trong tương lai Giáo dục hướng nghiệp là một khâu quan trọng trong quá trình giáo dục cho học sinh, đặc biệt là học sinh THPT Tuy nhiên, thời gian qua nhiều trường THPT quan tâm chưa thực

sự đúng mức đến hoạt động hướng nghiệp của học sinh, chất lượng chưa phản ánh được sự phân luồng đúng đắn sau khi học sinh tốt nghiệp THPT để đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực phù hợp cho xã hội

Để góp phần nâng cao chất lượng hướng nghiệp tại địa phương, người

nghiên cứu đã chọn đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh THPT tại thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu” Đề tài đi sâu

nghiên cứu các vấn đề sau :

1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDHN như : mục tiêu, nội dung , hình thức, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDHN, nguyên nhân chọn nghề sai của HS THPT, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THPT…

2 Khảo sát thực trạng hoạt động GDHN của HS THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu

3 Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng GDHN cho HS các trường THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu

4 Tổ chức khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

5 Kết quả khảo sát cho thấy các biện pháp này có thể thực hiện được và phù hợp với điều kiện thực tế của các trường THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu

Trang 6

ABSTRACT

From the earliest years of our lives, we are asked to consider what we want

to be when growing up Parents carefully plan and manage their children’s educational experiences in the hope of preparing them for successful careers Vocational guidance will help you to explore ways can help youth to decide on a career plan and gain the skill and knowledge they need to be successful in the job market in the future Vocational education is an important stage in the process of education training for students However, many high schools have paid little attention to the graduate students; the quality did not meet the goals and practical needs

To contribute to improve the Vocational education quality at high school where author is working, the author has chosen topic “Measures to improve the quality of vocational education for high school in Bac Lieu town, Bac Lieu Province”.Research the following issues:

1 Research rationale for Vocational education: objectives, content, form, factors affecting the quality of Vocational education, the cause chosen the wrong profession of high-school students, physiological characteristics of high-school students

2 It presented research findings on the status of Vocational education of High school in Bac Lieu town, Bac Lieu Province

3 Propose measures to improve the quality of Vocational education for High school

in Bac Lieu town, Bac Lieu Province

4 Organization surveyed the need and feasibility of the proposed measures

5 Survey results show that these measures can be implemented and accordance with the actual conditions of High schools in Bac Lieu town, Bac Lieu Province

Trang 7

MỤC LỤC

Quyết định giao đề tài

Lý lịch khoa học i

Lời cam đoan ii

Tóm tắt iv

Abstract v

Mục lục vi

Danh mục các bảng x

Danh mục các hình, biểu đồ xi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài : 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

5 Giả thuyết nghiên cứu 4

6 Phạm vi giới hạn của đề tài 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Những đóng góp của đề tài 5

9 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP 6

1.1 Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố : 6

1.1.1 Trên thế giới: 6

1.1.2 Ở Việt Nam: 9

1.2 Các khái niệm cơ bản đề tài: 12

1.3 Cơ sở lý luận về GDHN: 15

1.3.1 Cơ sở tâm lý học 15

1.3.1.1 Cấu trúc nhân cách: 15

Trang 8

1.3.1.2 Đặc điểm tâm lí và nhân cách của học sinh THPT: 17

1.3.2 Giáo dục hướng nghiệp học sinh THPT 21

1.3.2.1 Vị trí, vai trò của hoạt động hướng nghiệp 21

1.3.2.2 Những tính chất của hướng nghiệp 22

1.3.2.3 Những nhiệm vụ chung của giáo dục hướng nghiệp ở THPT 22

1.3.2.4 Qui trình giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT 24

1.3.2.5 Các hình thức giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT 26

1.3.2.6 Các giai đoạn hướng nghiệp cơ bản cho học sinh 26

1.3.2.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục hướng nghiệp: 28 1.3.3 Nghề nghiệp 29

1.3.3.1 Xu hướng nghề nghiệp 29

1.3.3.2 Năng lực nghề nghiệp: 32

1.3.3.3 Sự phù hợp nghề: 33

1.3.3.4 Lựa chọn nghề nghiệp và những tính chất của nó: 34

1.3.3.5 Một vài nguyên nhân dẫn đến sai lầm khi chọn nghề: 36

Chương 2 :THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU 40

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 40

2.2 Thực trạng GDHN cho HS THPT ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu 41

2.2.1 Nội dung khảo sát, đánh giá 41

2.2.2 Kết quả khảo sát 42

2.2.2.1 Nhận thức về GDHN của các đối tượng tham gia vào quá trình HN 42

2.2.2.2 Nội dung chương trình hướng nghiệp 49

2.2.2.3 Chất lượng nguồn nhân lực- cơ sở vật chất phục vụ cho GDHN: 50

2.2.2.4 Thực trạng các hình thức tổ chức GDHN cho HS THPT tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh BL 55

2.2.2.5 Đánh giá về mức độ hiệu quả GDHN cho HS THPT của thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu 58

Trang 9

Tiểu kết chương 2 63

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY 64

3.1 Cơ sở pháp lý để xây dựng các biện pháp: 65

3.2 Những cơ sở có tính nguyên tắc để xây dựng các biện pháp 66

3.3 Các biện pháp nâng cao chất lượng GDHN cho HS 68

3.3.1 Xây dựng bài học có nội dung về những lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể 68

3.3.2 Đa dạng các hình thức tổ chức GDHN 70

3.3.3 Tổ chức hội nghị để trao đổi với cha mẹ học sinh về nghề nghiệp tương lai của con em họ 73

3.3.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực GDHN – Giáo viên HN kiêm nhiệm GVCN 75

3.3.5 Lập hồ sơ hướng nghiệp chi tiết cho mỗi HS 78

3.3.6 Tăng cường xã hội hóa giáo dục cho công tác GDHN 79

3.4 Khảo sát tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp nâng cao chất lương GDHN cho HS THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu 81

Tiểu kết chương 3 85

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 92

Trang 10

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GD-ĐT : Giáo dục đào tạo

Trang 11

Bảng 2.5 Mục đích của học sinh khi tham gia GDHN 48

Bảng 2.8 Nhận định của CBQL về nhân lực phục vụ GDHN 51 Bảng 2.9 Những khó khăn trong quá trình GDHN cho HS THPT 52 Bảng 2.10 Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao và nội dung bồi dưỡng của

Bảng 2.11 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ GDHN 54 Bảng 2.12 Thực trạng các hình thức tổ chức GDHN cho HS THPT

Bảng 2.13 Mức độ hiểu biết về nghề nghiệp thông qua GDHN 58

Bảng 2.14 Hiệu quả của GDHN qua nhận xét của giáo viên 60 Bảng 2.15 Nguyên nhân dẫn tới GDHN chưa hiệu quả 61 Bảng 3.1 Đánh giá của chuyên gia về mức độ cần thiết của các biện

Bảng 3.2 Đánh giá của chuyên gia về mức độ phù hợp của các biện

Bảng 3.3 Đánh giá của chuyên gia về mức độ khả thi của các biện

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Nhận thức mục đích giáo dục hướng nghiệp ở bậc THPT 42

Biểu đồ 2.2 Nhận thức về mức độ cần thiết của GDHN ở THPT 44

Biểu đồ 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của việc định hướng nghề ở

Biểu đồ 2.4 Thái độ và hành vi học sinh khi học HN 46

Biểu đồ 2.5 Mục đích của học sinh khi tham gia GDHN 48

Biểu đồ 2.7 Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ GDHN 50 Biểu đồ 2.8 Những khó khăn trong quá trình GDHN cho HS THPT 52 Biểu đồ 2.9 Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao và nội dung bồi dưỡng của

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Thế kỷ XXI sẽ đánh dấu sự ra đời của nền văn minh mới trong lịch sử loài người Về tên gọi của nền văn minh đang phôi thai này thì còn có nhiều ý kiến khác nhau, có người gọi là "nền văn minh hậu công nghiệp", "nền văn minh trí tuệ", "xã hội tri thức", "nền kinh tế tri thức", "xã hội thông tin" Thế giới đang hướng tới một nền kinh tế tri thức trong chiến lược phát triển bền vững Trong hoàn cảnh đó, đào tạo nguồn nhân lực là điều kiện then chốt, là chiến lược phát triển và cạnh tranh giữa các nước với nhau

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá (CNH - HĐH) với nền kinh tế mở, năng động bao gồm nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong những năm qua cùng với sự hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới đã có những tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội, đưa đến cho đất nước những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải nhạy bén trong việc nắm bắt và tiếp thu các tri thức tiên tiến, các thành tựu khoa học công nghệ từ các nước phát triển Đồng thời, vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH đã và đang trở thành một nhiệm vụ cấp thiết được Đảng, Nhà nước và

xã hội quan tâm hàng đầu Trong Nghị quyết hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh: “Muốn tiến hành CNH- HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục đào tạo và phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” Điều đó có nghĩa là coi yếu tố con người

là trọng tâm của sự phát triển, quyết định thắng lợi của sự nghiệp CNH- HĐH

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo hàng năm nước ta có hơn 5 triệu học sinh THCS và gần 3 triệu học sinh THPT ra trường tạo cho nước ta một nguồn lao động

dự trữ dồi dào, có văn hoá và là nguồn tuyển sinh lớn cho các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề Sự dồi dào của lực lượng này thực sự đang tạo ra cơ hội lớn cho sự phát triển xã hội Vì vậy, việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ

có được những phẩm chất và năng lực nghề nghiệp vững chắc phù hợp với nhu cầu

Trang 14

của các hoạt động kinh tế- xã hội, khoa học, công nghệ là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mang tính chiến lược Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam.”

Với ý nghĩa trên, hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông giữ một vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng Đây là một trong những mặt giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh GDHN nhằm mục đích giúp cho học sinh THPT có được sự hiểu biết cơ bản về các ngành nghề trong xã hội, hình thành hứng thú và năng lực nghề từ đó lựa chọn cho mình một nghề nghiệp cụ thể trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng phù hợp với nhu cầu, hứng thú, khả năng, năng lực sở trường, sức khoẻ của bản thân, sự lựa chọn nghề nghiệp một cách có ý thức, có cơ sở khoa học

Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế ở nước ta cùng với các quy luật của nó đang phát triển rất mạnh và đang trên đà hoàn thiện, dẫn đến sự phát triển biến đổi quá nhanh và “nóng” của khoa học công nghệ và nhiều lĩnh vực khác của đời sống

xã hội Xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, sự giao lưu của các nền văn hóa khác nhau, cùng với sự ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường đã làm cho định hướng giá trị của giới trẻ có nhiều thay đổi Điều này đã tác động trực tiếp đến động cơ, xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của họ.Tất cả những điều đó đã khiến phần lớn học sinh phổ thông không tự đánh giá được năng lực, hứng thú, sở trường của mình để lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hoặc không biết chọn nghề gì Rất nhiều học sinh khi đã được vào học các trường chuyên nghiệp, đại học mới nhận ra rằng mình không phù hợp với nghề đã chọn, dẫn đến tình trạng chán nản, học tập không tiến bộ, bỏ học để tiếp tục thi vào các trường khác Điều này đã gây ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hội như: chất lượng học tập kém, rèn luyện kém dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực yếu, làm lãng phí của cải, thời gian, công sức cho cả cá nhân học sinh, gia đình học sinh và cho xã hội

Trang 15

Tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp còn nhiều yếu kém chưa đáp ứng được nguyện vọng của địa phương, giáo dục hướng nghiệp được coi là hoạt động hướng dẫn học sinh lớp 12 làm hồ sơ thi

ĐH, nên khi làm hồ sơ tuyển sinh ĐH, CĐ hầu hết HS còn rất bỡ ngỡ, lúng túng trong việc định hướng nghề, chọn nghề, HS không có những hiểu biết tối thiểu về thế giới NN nói chung Do đó rất khó khăn để chọn trường, chọn ngành để thi Những HS cũng biết rằng kỳ thi đại học ít có khả năng đỗ song vẫn đi thi theo phong trào, theo chúng bạn hoặc vì sĩ diện của bản thân và gia đình Mặt khác, mong muốn của gia đình, cha mẹ HS cũng ảnh hưởng và chi phối việc lựa chọn nghề của các em Đa số cha mẹ HS quan niệm rằng : vào ĐH là con đường duy nhất

để thoát nghèo, dễ có vị thế cao trong XH, mang lại vinh dự cho gia đình Xuất phát

từ những lý do trên, người nghiên cứu đã thực hiện đề tài: “Biện pháp nâng cao

chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT tại thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng GDHN cho học sinh

THPT thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Nghiên cứu cơ sở lý luận của GDHN cho học sinh THPT

 Khảo sát thực trạng GDHN cho học sinh THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu

 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDHN cho học sinh THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu

 Khảo nghiệm tính hợp lí, tính khả thi của các biện pháp trên cơ sở lấy ý kiến chuyên gia

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu:

Hoạt động GDHN cho học sinh THPT ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

Trang 16

Đối tượng nghiên cứu:

Biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDHN cho học sinh THPT ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu đề xuất các biện pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu

6 Phạm vi giới hạn của đề tài

Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu và chỉ giới hạn trong phạm vi khảo sát trên học sinh, giáo viên và phụ huynh, cán bộ quản lí của các trường có học sinh tham gia học nghề tại trung tâm hướng nghiệp Bạc Liêu

7 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Sử dụng các phương pháp: Phân tích tổng hợp lý thuyết, phân loại hệ thống hoá và khái quát hoá lý thuyết trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu lý thuyết từ đó rút

ra các kết luận khoa học làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp của đề tài

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

* Phương pháp điều tra:Dùng phiếu điều tra (Ankét) khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh phổ thông, giáo viên và cha mẹ học sinh, cán bộ quản lí về hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông

hiện nay

* Phương pháp trao đổi, trò chuyện :Sử dụng phương pháp này

nhằm hỗ trợ cho phương pháp điều tra Qua trao đổi, trò chuyện với HS và GV để tìm hiểu thêm những vấn đề liên quan đến điều tra như: tâm tư, tình cảm, quan điểm, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế gia đình HS, từ đó chính xác hoá những vấn đề

đã điều tra

Trang 17

* Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Gặp gỡ trực tiếp các bộ quản

lý giáo dục và những giáo viên có kinh nghiệm trong công tác GDHN để điều tra, trao đổi, xin ý kiến về những vấn đề có liên quan đến đề tài, đặc biệt là về thực trạng, đánh giá thực trạng, xây dựng, đề xuất các biện pháp và khảo nghiệm các biện pháp của đề tài

Các phương pháp thống kê toán học:

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu, là cơ sở để đánh giá thực trạng và xây dựng các biện pháp của đề tài

8 Những đóng góp của đề tài

 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động GDHN

 Làm sáng tỏ thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp của thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu trong giai đoạn hiện nay

 Đề xuất biện pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN, đáp ứng nhu cầu về định hướng nghề nghiệp của HS trên địa bàn, định hướng phân luồng HS theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn

 Kết quả nghiên cứu đề tài trở thành tài liệu tham khảo cho các trường phổ thông, các trung tâm HN, trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị ; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương :

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động hướng nghiệp

Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

Chương 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong điều kiện hiện nay

Trang 18

lẽ tự nhiên sẽ là những người làm khoa học, nghệ thuật, hoặc quản lý nhà nước, những người "bạc" sẽ là những chiến binh bảo vệ nhà nước, còn những người

"đồng" bao gồm những thợ thủ công, nông dân và nô lệ - họ là những người gánh vác trên vai tất cả sự nặng nhọc của lao động cơ bắp.1

Ở phương đông, Khổng Tử (551-479 TCN) khuyên rằng, chọn nghề nghiệp nên theo sở thích và bạn thực sự đam mê, bởi chỉ có tình yêu công việc mới giúp bạn thành công trên con đường sự nghiệpvới câu nói “Chọn công việc mà bạn yêu thích, đam mê sẽ giúp bạn có được bước phát triển xứng đáng”2

Tư tưởng Jean Jacques Rousseau (1712-1794) thể hiện trong tác phẩm

“Émile hay là về giáo dục” quan niệm con người sống cần làm việc nên phải học nghề và phải giáo dục cho trẻ hiểu vị trí các nghề nghiệp trong đời sống xã hội.Ông chủ trương trẻ em từ 12-15 phải học nghề một cách nghiêm chỉnh

Vào năm 1849, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách dưới nhan đề “Hướng dẫn lựa chọn nghề” Năm 1883 ở Mỹ, nhà tâm lý học Ph Ganton đã trình bày công trình thử nghiệm (Test) với mục đích lựa chọn nghề

Vào đầu thế kỷ XX Ở Mỹ, Anh, Pháp, Thuỵ Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch

vụ hướng nghiệp Bản thân thuật ngữ "Hướng nghiệp” là do giáo sư Frank Parson

Trang 19

thuộc đại học tổng hợp Garvared (Mỹ) vào năm 1908 đã tổ chức ở Boston lần đầu tiên ở Mỹ hội đồng nghề nghiệp giúp đỡ việc chọn nghề cho người lao động 3

Ở Pháp, năm 1922 Bộ Công nghiệp và thương nghiệp ban hành nghị định về công tác hướng nghiệp và thành lập Sở hướng nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi Năm 1938 công tác hướng nghiệp mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng chỉ hướng nghiệp bắt buột đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi

Ở Đức, năm 1925 – 1926 đã có 567 phòng tư vấn nghề nghiệp đặc biệt, đã nghiên cứu gần 400.000 thanh niên trong một năm.Vào thời kỳ này, ở Anh đã thành lập được một hội đồng quốc gia đặc biệt nghiên cứu về vấn đề này4

Ở Nga, cuốn sách về hướng nghiệp "Lựa chọn khoa và điểm qua chương trình đại học tổng hợp", trong đó nêu rõ ý nghĩa về lựa chọn nghề khi thi vào trường đại học được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1897 (tác giả là giáo sư trường đại học tổng hợp Pêtecbua B.F Kapeev)

Từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX, công tác hướng nghiệp đã được triển khai trên đất nước Liên Xô Vào năm 1930 ở Matxcơva đã thành lập phòng thí nghiệm Trung ương về tư vấn nghề và lựa chọn nghề trực thuộc Trung ương đoàn thanh niên Cộng sản Lênin, trong đó phòng thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm tiêu biểu của các cơ quan tư vấn nghề, đặc biệt là việc lựa chọn nghề của tuổi trẻ trong các trường phổ thông kỹ thuật5

Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.L Holland đã nghiện cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp Đó là một số nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có được kết quả làm việc cao nhất Lý thuyết này của J.L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên thế giới6

Trang 20

Các trắc nghiệm của nhà tâm lý người Đức Hans Jürgen Eysenck nhằm xác định sự phù hợp giữa khí chất của cá nhân với những nghề nghiệp Tác giả xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm gồm 57 câu, qua đó xác định sự phù hợp giữa khí chất

cá nhân và nghề nghiệp lựa chọn7

Bảng hứng thú nghề nghiệp QIP được xây dựng bởi S Larcebeau vào năm

1967 dựa trên mô hình hứng thú của Kuder Cho phép đánh giá hứng thú với 9 nhóm nghề, với mỗi nhóm chọn 10 nghề tiêu biểu8

Giai đoạn hiện nay, các quốc gia trên thế giới đẩy mạnh nghiên cứu khoa học hướng nghiệp, mở các trung tâm tư vấn hướng nghiệp và đào tạo giáo viên, chuyên gia tư vấn hướng nghiệp

Hoa Kỳ:

Bước vào thế kỷ XXI, Hoa kỳ đang có nhiều nổ lực để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, tăng cường kết quả học tập của HS nhằm đảo bảo cung cấp một lực lượng lao động có trình độ, có khả năng cạnh tranh và thích ứng linh hoạt trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu… Người ta đã đưa ra nhiều hướng giải quyết

và đưa ra các nội dung cần tăng cường với chiến lược quan trọng, trong đó tăng cường mối liên hệ giữa các trường trung học với các doanh nghiệp theo hướng chuyển dần thành trường đào tạo nghề chuyên nghiệp Một phần của chiến lược này

là tạo điều kiện cho HS tham gia làm việc bán thời gian tại xí nghiệp9

Pháp: Là một trong những nước rất đề cao công tác hướng nghiệp cho học sinh

phổ thông và công việc này do những nhà tâm lý tư vấn hướng nghiệp đảm nhiệm, thuộc biên chế của Bộ giáo dục và làm việc tại các trung tâm độc lập với các trường phổ thông Tại Pháp phân biệt rõ 2 loại: định hướng học đường (orientation scolaire) thường dành cho học sinh phổ thông và thanh thiếu niên (dưới 25 tuổi)

và định hướng nghề cho dành cho người trưởng thành đã đi làm Pháp có 2 các đơn vị chuyên trách hướng nghiệp là trung tâm INETOP (Viện nghiên cứu quốc

7

http://www.tamlyhoc.net/diendan/showthread.php?tid=2104

8

Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2010), Định hướng và đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục hướng nghiệp

cho học sinh trung học cơ sở, Hà Nội 2010

9

Phạm Minh Hạc, Trần Kiều Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002,

trang 356

Trang 21

gia về lao động và hướng nghiệp), CNAM (Học viện quốc gia về nghệ thuật và nghề nghiệp).10

ý muốn ấy thành vô lý.Vì ở bất kỳ nước nào số trường trung học cũng ít hơn trường tiểu học, trường đại học lại càng ít hơn trường trung học.Thế thì những học trò tiểu học và trung học không được chuyển cấp sẽ làm gì”? Câu hỏi này của Bác thực sự trở thành một vấn đề khoa học và mang tính thời sự cho đến ngày nay12

Năm 1956, với sự giúp đỡ của Pháp, thành lập Trung tâm Thông tin - Tư vấn hướng nghiệp (CIO) đầu tiên đặt tại Sài Gòn năm 1956 và một số phát triển khác chưa thành tính hệ thống thực lớn ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 (như

ở Sài Gòn, Cần Thơ ),

Giai đoạn 1977 - 1987 là một giai đoạn phát triển vàng của giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam với sự thống nhất, quan tâm và đồng thuận của các giới, sự tạo điều kiện phát triển khá lớn từ các bộ ngành liên quan và chính phủ cho hướng nghiệp Những tên tuổi lớn của hướng nghiệp Việt Nam giai đoạn này ít nhất phải

kể đến GS Đặng Danh Ánh, GS Phạm Tất Dong, Gs Nguyễn Văn Hộ là những người tiên phong, và có nhiều đóng góp cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam

Quyết định số 126-CP, năm 1981 về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh phổ thông các cấp phổ thông cơ sở và phổ

Trang 22

thông trung học tốt nghiệp ra trường do Hội đồng Chính phủ ban hành, mang lại tính pháp lí cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam

Các nghiên cứu về lĩnh vực HN, theo danh mục các đề tài luận văn thạc sĩ Giáo dục học của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh từ 1993 đến năm 2010 đã có những đề tài sau :

 Nguyễn Toàn, Hiện trạng và định hướng công tác tư vấn cho học sinh tại các Trung tâm Kỹ thuật Hướng nghiệp dạy nghề ở thành phố Hồ Chí Minh, năm 1997

 Nguyễn Thị Bạch Phượng, Nghiên cứu hướng chọn nghề của học sinh THPT, năm 1998

 Trịnh Xuân Thu, Nghiên cứu sự thích ứng nghề của sinh viên Khoa Kỹ thuật Công ngiệp - Trường Cao đẳng Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998

 Phạm Đức Khiêm, Nghiên cứu về định hướng NN học sinh THPT nhằm phân luồng học sinh vào các trường THCN tại thành phố Hồ Chí Minh, năm

Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Khoa học Công nghệ - Môi trường và Sở Giáo dục đào

tạo Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998

- Lý Ngọc Sáng, Đề xuất biện pháp tăng cường công tác tư vấn giáo dục truyền thông về hướng nghiệp, triển khai ứng dụng và hoàn thiện một số trắc nghiệm nghề cho học sinh phổ thông theo yêu cầu thị trường lao động Thành phố

Hồ Chí Minh, năm 2003

Ngoài các đề tài nghiên cứu khoa học, các Hội thảo chuyên đề mang tính quốc gia quốc tế về HN cũng được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà chuyên môn, các nhà giáo dục Cụ thể :

Trang 23

Vào năm 2002, tại Hà Nội đã tổ chức Hội thảo: “Giáo dục phổ thông và Hướng nghiệp - Nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước”

Trong Hội thảo: “Đối ngoại Pháp - Á về các vấn đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam” (2005), nhiều tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã trình bày sâu sắc các nội dung, hướng đi cần thiết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ GDHN tại Việt Nam

Các chương trình phần mềm máy tính được xây dựng nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp:

- Bộ test trắc nghiệm hướng nghiệp cho học sinh, PGS-TS Lý Ngọc Sáng, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Giáo dục Tâm lý thể chất TPHCM, năm 2003

- Phần mềm hổ trợ tư vấn hướng nghiệp, hướng học, Trung tâm KTTH-HN Nghệ An năm 2005

- Võ Hưng, Tổ chức đưa kết quả nghiên cứu đề xuất xây dựng bộ công cụ trắc nghiệm vào phục vụ công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Khoa học CN-MT Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005

- Hồ Thiệu Tùng, Lê Thị Thanh Mai, Xây dựng website định hướng chọn ngành, trường đại học, cao đẳng dự thi phù hợp với sở thích và năng lực,năm 2007

Như vậy hướng nghiệp đã được đề cập từ thời cổ đại, nhưng chỉ để phục vụ cho tầng lớp quý tộc, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội, chỉ từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX khoa học hướng nghiệp mới thực sự được quan tâm và nghiên cứu thành hệ thống

Ở Việt Nam, hoạt động hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần vào việc phân luồng học sinh phổ thông, là bước khởi đầu quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực cho xã hội

Qua đây chúng ta thấy được gần nền giáo dục Việt Nam đang hòa nhập với nền giáo dục các nước trên thế giới Nhiều trường học, các trung tâm KTTH-HN, các tổ chức xã hội đã và đang nỗ lưc GDHN cho học sinh phổ thông nhằm đạt được mục tiêu giáo dục con người toàn diện

Trang 24

Các đề tài nghiên cứu trên đã đưa ra một số biện pháp về định hướng NN,

HN cho HS tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Nhưng tại các tỉnh miền núi, cao nguyên, những tỉnh có điều kiện giáo dục học tập của học sinh còn nhiều khó khăn thì công tác HN cho HS chưa được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu, do đó mục tiêu của đề tài là tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hướng nghiệp, từ đó đề xuất các biện pháp cụ thể, tích cực hóa các đối tượng tham gia vào quá trình hướng nghiệp

1.2 Các khái niệm cơ bản đề tài:

1.2.1 Biện pháp:

Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về biện pháp :

Hồ Ngọc Đức,(1997-2004) The Free Vietnamese Dictionary Project định nghĩa biện pháp: Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể. 13

Hoàng Phê (2009), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Đà Nẵng định nghĩa biện pháp là cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết vấn đề

Nguyễn Như Ý (2011), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại Học Quốc Gia TPHCM định nghĩa biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết 1 vấn đề

cụ thể

Như vậy, có thể hiểu biện pháp là cách thức, cách làm, cách xử lý để giải quyết 1 công việc hoặc 1 vấn đề cụ thể

1.2.2 Chất lượng giáo dục:

Chất lượng giáo dục: theo từ điển Giáo dục học là tổng hòa những phẩm chất

và năng lực được tạo nên trong quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá trị của nhà nước hoặc xã hội nhất định. 14

Có chất lượng giáo dục toàn diện và từng mặt tùy theo góc độ đánh giá Chất lượng giáo dục có tính lịch sử cụ thể và luôn luôn tùy thuộc vào các điều kiện xã hội đương thời, trong đó có các thiết chế, chính sách và lực lượng tham gia giáo dục Chất lượng giáo dục không chỉ đơn thuần là trình độ học tập, rèn luyện được đánh

Trang 25

giá bằng những điểm số các môn thi, mà quan trọng hơn là bằng những kết quả thực

tế và bằng hiệu quả sử dụng những phẩm chất và năng lực của học sinh trong hoạt động thực tiễn ở nhà trường, gia đình và xã hội

1.2.3 Hướng nghiệp:

Thi hành những biện pháp nhằm bảo đảm sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) người dân theo ngành và loại lao độnggiúp đỡ lựa chọn hợp lí ngành nghề15

Các nhà tâm lý học cho rằng đó là hệ thống các biện pháp sư phạm, y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân Các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên trong xã hội phát triển năng lực đối với lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với việc phân bố lực lượng lao động xã hội

K.K Platônốp - một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng của Nhà nước Xô Viết cho rằng : "Hướng nghiệp, đó là một hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục,

y học, Nhà nước nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện, vừa phù hợp với hứng thú năng lực của bản thân Những biện pháp này sẽ tạo nên sự thống nhất giữa quyền lợi của xã hội với quyền lợi của cá nhân" hoặc như viện sĩ C.Ia.Batưsép xác định: “ Hướng nghiệp là một hoạt động hợp lý gắn với sự hình thành ở thế hệ trẻ hứng thú và sở thích nghề nghiệp vừa phù hợp với những năng lực cá nhân, vừa đáp ứng đòi hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác ” 16

Theo Phạm Tất Dong khái niệm hướng nghiệp được hiểu trên hai góc độ:

* Trên góc độ xã hội: hướng nghiệp như là một hệ thống tác động của xã hội về

giáo dục, y học, xã hội học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân

Trang 26

* Trên góc độ trường phổ thông: Hướng nghiệp được coi là công việc của tập thể

giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong

xã hội 17

Hội nghị lần thứ IX những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa họp tại La Habana - Cu ba (Tháng 10/1980) đã thống nhất về khái niệm hướng nghiệp như sau: “Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp

đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm, sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lí và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước”18

Quan niệm mới về hướng nghiệp: “Hướng nghiệp là một quá trình liên tục giúp đỡ mọi người suốt cả cuộc đời để họ thực hiện được dự án cá nhân cũng như nghề nghiệp của mình bằng cách xác định những mong muốn và năng lực của mình thông qua thông tin và tư vấn về thực tế thế giới công việc, sự phát triển của nghề nghiệp, thị trường lao động, thực tiễn kinh tế và nhu cầu đào tạo”19

Qua các khái niệm trên, có thể thấy quá trình hướng nghiệp là quá trình dài lâu, phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, nó trong chỉ diễn ra ở một thời điểm của cuộc đời mà diễn ra trong suốt đời người, tuy nhiên giai đoạn quan trọng nhất quyết định thành công của cả quá trình là giai đoạn cá nhân còn đang đi học, chúng ta có thể cho rằng hướng nghiệp là hoạt động sư phạm về mặt phương pháp,

xã hội, về mặt nội dung, kinh tế, về mặt kết quả và Nhà nước, về mặt tổ chức

Trang 27

1.2.4 Chất lượng giáo dục hướng nghiệp:

Qua nghiên cứu các khái niệm về hướng nghiệp, hoạt động giáo dục, chất lượng giáo dục, người nghiên cứu nhận thấy:

Chất lượng giáo dục hướng nghiệp: là mức độ đạt được sau khi thực hiện

hoạt động giáo dục này so với mục tiêu giáo dục đề ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của học sinh là định hướng được nghề nghiệp tương lai của bản thân và đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực cho xã hội hiện tại và tương lai

1.2.5 Nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp

Khi đánh giá chất lượng phải dựa vào các chuẩn chất lượng của cả hệ thống nói chung và từng thành tố của hệ thống nói riêng Như vậy chất lượng có nhiều mức khác nhau Nâng cao chất lượng HĐHN là tìm các biện pháp đưa chất lượng HĐHN lên một mức cao hơn mức hiện tại

Nhìn chung, giáo dục hướng ngiệp là một bộ phận của quá trình giáo dục phổ thông, là quá trình tìm hiểu và xác định nghề nghiệp của học sinh Quá trình này phải được tổ chức có hệ thống, có kế hoạch và được kiểm soát nhằm giúp HS biết được yêu cầu về nghề nghiệp, năng lực bản thân và nhu cầu thị trường trong giai đoạn sắp tới Chất lượng giáo dục hướng ngiệp là mức độ đáp ứng các mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp và nhu cầu học sinh Để nâng cao chất lượng giáo dục hướng ngiệp trước hết cần phải đánh giá xem chất lượng hiện tại đang ở mức nào, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động giáo dục hướng ngiệp, từ

đó đề xuất các biện pháp nâng chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp lên một mức độ cao hơn

Trang 28

Đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của cá nhân là xu hướng Xu hướng xác định mục tiêu mà con người đặt ra, xác định những ý muốn của con người, các động

cơ, các lợi ích mà con người tuân theo Xu hướng thúc đẩy con người hành động và thể hiện những thái độ nhất định với thế giới xung quanh

Nói tóm lại, xu hướng là sự hướng tới một mục tiêu, một đối tượng nào đó,

là một hệ thống những nhân tố thúc đẩy bên trong quy định tính tích cực của con người trong hoạt động của

Xu hướng của con người được biểu hiện ở các mặt sau:

Nhu cầu: Là biểu hiện của xu hướng về mặt nguyện vọng, là những gì cá nhân cần được thỏa mãn để sống, để hoạt động

Hứng thú: Là biểu hiện của xu hướng về mặt nhận thức của cá nhân đối với

sự vật hiện tượng xung quanh Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng tính tự giác và tích cực trong hành động vì vậy hứng thú làm tăng hiệu quả của hoạt động Cùng với nhu cầu, hứng thú là một thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách

Lý tưởng: Là biểu hiện của xu hướng ở mức độ cao nhất Là một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực, tương đối hoàn chỉnh, có sức lôi cuốn con người vươn tới nó Có nghĩa là ý tưởng thể hiện ý muốn của con người vươn tới một cái gì

đó hoàn chỉnh và mẫu mực nhưng chưa đạt được.20

Qua đây, có thể nhận thấy xu hướng có ảnh hướng tới sự phát triển của năng lực Vì

sự lôi kéo, hấp dẫn đối với con người càng cao, thì con người càng thường xuyên hướng sức lực của mình vào hoạt động Lịch sử phát triển của khoa học cho phép nói rằng, sự say mê, hứng thú đối với công việc là điều kiện bất di bất dịch của sự thể hiện các năng lực, là điều kiện hình thành tài năng Nhu cầu (một mặt biểu hiện của xu hướng) đối với một hoạt động nào đó được con người ý thức góp phần hình thành năng lực Khi xem xét mối quan hệ giữa xu hướng và năng lực phải có quan điểm biện chứng Xu hướng của hoạt động dẫn đến việc hình thành năng lực và có năng lực rồi thì dễ đạt kết quả cao trong hoạt động Chính kết quả cao này lại góp

20

Trần Văn Thiện, Thái Trí Dũng, Vũ Thị Phượng (1995), Tâm lý học, trang 115

Trang 29

phần củng cố xu hướng hoạt động nói chung và hứng thú nói riêng Tuy nhiên, có hứng thú nhưng chưa chắc đã có năng lực trong lĩnh vực hoạt động nào đó Bởi vì

có hứng thú nhưng không có điều kiện để thực hiện hứng thú Nhưng có năng lực

về cái gì đó thì sớm muộn cũng hình thành hứng thú tương ứng

Như vậy xu hướng và năng lực có quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất Việc nắm được mối quan hệ này là rất có ý nghĩa đối với nhà giáo dục trong công tác phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng lực làm cơ sở cho công tác tư vấn và định hướng nghề nghiệp cho các em

1.3.1.2 Đặc điểm tâm lí và nhân cách của học sinh THPT:

Lứa tuổi HS THPT được xác định là những học sinh đang học trong trường THPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi (ở đây chỉ đề cập đến đối tượng thanh niên HS trong trường THPT) Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong các thời

kỳ phát triển của trẻ em Đây là giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện các cấu trúc tâm lý, các phẩm chất nhân cách và thể chất, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống XH với tư cách như một con người trưởng thành

1.3.1.2.1 Đặc điểm hoạt động học tập:

Kinh nghiệm sống của HS THPT đã trở nên phong phú, các em đã ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời Do vậy thái độ có ý thức đối với học tập ngày càng phát triển và trở nên có lựa chọn hơn đối với mỗi môn học ở các em, đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Cuối bậc THPT các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định với một môn học nào đó, đối với một lĩnh vực tri thức nhất định Hứng thú này thường liên quan với việc lựa chọn một nghề nhất định của HS Những thái độ học tập ở không ít HS có nhược điểm là: một mặt các em rất tích cực học một số môn

mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã hoặc định chọn, mặt khác các

em lại sao nhãng các môn học khác hoặc học chỉ đạt điểm trung bình, dẫn đến hiện tượng học lệch, học tủ, học chỉ vì mục đích thi cử Thái độ học tập có ý thức đã thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của thanh niên HS trong hoạt động học tập cũng như việc lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai

Trang 30

1.3.1.2.2 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ:

Ở thanh niên HS THPT, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ lôgic trừu tượng và ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt Do cấu trúc và chức năng của não bộ phát triển cùng với sự phát triển của các quá trình nhận thức và hoạt động học tập

mà hoạt động tư duy của các em có sự thay đổi quan trọng, các em đã có khả năng

tư duy lôgic, tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo, tư duy có

sự chặt chẽ có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho HS thực hiện các tư duy toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm được các mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan Tuy nhiên nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Như vậy ở lứa tuổi này các

em dễ mắc phải sai lầm trong việc lựa chọn nghề nghiệp, nhưng nếu được định hướng một cách nghiêm túc, tư vấn một cách khoa học thì hoàn toàn có thể giúp các

em lựa chọn được những nghề nghiệp phù hợp

1.3.1.2.3 Sự phát triển của tự ý thức:

Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS THPT Đăc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của lứa tuổi này là tự ý thức xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động - địa vị mới mẻ trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc các em phải ý thức được những đặc điểm nhân cách của mình Các em hay ghi nhật ký so sánh mình với nhân vật được coi là tấm gương hay “thần tượng” Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại như tuổi thiếu niên

mà còn nhận thức về vị trí của mình trong XH, trong tương lai (Tôi cần trở thành người như thế nào, cần làm gì để tốt hơn )

HS THPT không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc và tốt hơn tuổi thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những

Trang 31

người cùng sống và của chính mình Nhưng nhận thức người khác bao giờ cũng đỡ khó khăn hơn là nhận thức bản thân HS THPT thường dễ có xu hướng cường điệu trong khi tự đánh giá Hoặc là các em đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê phán cái tiêu cực, hoặc là đánh giá quá cao nhân cách của mình - tỏ ra tự cao coi thường người khác Tuy nhiên việc tự đánh giá trên cơ sở tự nhiên có mục đích là một dấu hiệu cần thiết của một nhân cách đang trưởng thành, là tiền đề của sự tự giáo dục có mục đích.21

1.3.1.2.4 Sự hình thành thế giới quan:

Lứa tuổi thanh niên mới lớn (HS THPT) là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan - hệ thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, các nguyên tắc và qui tắc cư xử Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những qui luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và sự tồn tại của xã hội loài người Các

em cố gắng xây dựng quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề

xã hội, tư tưởng chính trị, đạo đức Chính nội dung các môn học ở phổ thông trung học giúp các em xây dựng được thế giới quan tích cực về tự nhiên, xã hội

Việc hình thành thế giới quan không chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận thức

mà còn thể hiện ở phạm vi nội dung nữa HS THPT quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, nghĩa vụ và tình cảm.Vấn đề ý nghĩa cuộc sống chiếm vị trí trung tâm trong suy nghĩ của HS THPT

Tuy vậy, một bộ phận học sinh chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan,

họ có những quan niệm lệch lạc về lối sống do chưa chịu sự tác động từ mặt trái của thời mở cửa, hội nhập văn hoá với thế giới, mặt trái của cơ chế thị trường đã khiến

họ có lối sống không lành mạnh, đánh giá cao cuộc sống hưởng thụ, sống gấp, sống lại, ham chơi hơn là học hành Một bộ phận khác lại chưa chú ý vấn đề xây dựng thế giới quan cho mình, sống thụ động.22

Trang 32

1.3.1.2.5 Đời sống tình cảm:

Đời sống tình cảm của HS THPT rất phong phú và nhiều vẻ, Đặc điểm đó được thể hiện rõ nhất trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên sâu sắc ở lứa tuổi này, nhu cầu

về tình bạn tăng lên rõ rệt và sâu sắc hơn rất nhiều so với tuổi thiếu niên Các em có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn (sự chân thật, lòng vị tha, tin tưởng, hiểu biết và tôn trọng nhau, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau ) Quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn điều này do lòng khát khao muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối Tình bạn HS THPT rất bền vững nó có thể vượt qua mọi thử thách và có thể kéo dài suốt cuộc đời

Quan hệ tình bạn khác giới ở lứa tuổi này cũng đã được tích cực hoá một cách rõ rệt, phạm vi quan hệ bạn bè được mở rộng, xuất hiện nhiều các nhóm pha trộn (cả nam và nữ) bên cạnh những nhóm thuần nhất ở một số em bắt đầu xuất hiện nhu cầu chân chính về tình yêu, tình cảm sâu sắc Đó là một trạng thái mới

mẻ, nhưng rất tự nhiên trong đời sống tình cảm của lứa tuổi HS THPT.23

1.3.1.2.6 Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT

Hoạt động lao động tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành nhân cách

HS THPT Hoạt động lao động được tổ chức đúng đắn sẽ giúp các em hình thành tinh thần tập thể, lòng yêu lao động, tôn trọng lao động, người lao động và thành quả lao động, đặc biệt là có nhu cầu và nguyện vọng lao động

Điều quan trọng là việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn thiết của các em HS Các em hiểu rằng cuộc sống tương lai phụ thuộc vào chỗ, mình có biết lựa chọn nghề một cách đúng đắn hay không 24

Do hoàn cảnh sắp bước vào đời và đặc biệt là do thế giới quan và tâm lý phát triển cho nên xu hướng nghề nghiệp của HS THPT hình thành rõ rệt, nhanh chóng

và tương đối ổn định Họ coi đây là một vấn đề nghiêm túc trong cuộc đời Đây chính là hoàn cảnh khách quan, là cơ sở để thúc đẩy các hiện tượng tâm lý phát

23

Lê Hồng Ngọc (chủ biên), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, 1997, Nhà xuất bản Giáo dục, tr 62

24

Sđd, trang 64

Trang 33

triển Họ thường xuyên suy nghĩ: Mình sẽ đi đâu, làm gì? Và mình sẽ trở thành con người như thế nào?

Khi lựa chọn nghề nghiệp, học sinh THPT có thuận lợi cơ bản là hoạt động học tập đã mang một ý nghĩa mới và nó quyết định xu hướng nghề nghiệp của họ Mặt khác trong nhà trường THPT đã chú trọng nhiều đến hoạt động hướng nghiệp cho HS Các em được tiếp xúc với một hệ thống tác động tổng hợp của xã hội và nhà trường nhằm giúp họ việc chọn nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng sở trường của mình, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân

1.3.2 Giáo dục hướng nghiệp học sinh THPT

1.3.2.1 Vị trí, vai trò của hoạt động hướng nghiệp

Hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục phổ thông, nhằm dẫn dắt học sinh hòa nhập với đội ngũ người lao động Hướng nghiệp là quá trình điều chỉnh hứng thú, nguyện vọng của học sinh trong chọn nghề, để tránh chọn nghề một cách

tự phát Hướng nghiệp còn là việc cung cấp kiến thức, hình thành một số kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh để các em có thể tiếp tục học tập và hành nghề trong tương lai

Đối với từng cá nhân học sinh, hướng nghiệp giúp các em có điều kiện nhìn nhận khả năng của bản thân, điều chỉnh xu hướng chọn nghề và chọn ngành nghề phù hợp với năng lực và hứng thú học sinh cũng như phù hợp với điều kiện tâm sinh lý, phù hợp với điều kiện gia đình để các em có thể phát triển đến đỉnh cao của nghề nghiệp, cống hiến được nhiều cho xã hội cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân

Đối với xã hội, hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phân công lao động, sử dụng nguồn nhân lực một cách tối ưu, đào tạo đội ngũ đồng bộ những người lao động phù hợp với cơ cấu lao động xã hội trong từng thời kỳ để phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội

Trang 34

1.3.2.2 Những tính chất của hướng nghiệp

Hướng nghiệp có tính chất xã hội rộng rãi: hoạt động hướng nghiệp không chỉ diễn ra trong các trường học mà còn phải có sự tham gia của gia đình và các tổ chức đoàn thể trong xã hội

Hướng nghiệp là một quá trình: đây là một quá trình giáo dục liên tục từ những năm đầu ở trường, phát triển đến quá trình học nghề và hành nghề sau này Như vậy quá trình hướng nghiệp cho học sinh là quá trình định hướng nghề, đây là quá trình giáo dục liên tục bao gồm nhiều nội dung: giáo dục về chính trị, giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm; giáo dục về lao động, thông tin định hướng nghề… đó là quá trình theo dõi, phát hiện, bồi dưỡng tri thức, kỹ năng, thái độ cần thiết; quá trình củng cố sức khỏe và các khả năng tâm lý để định hướng nghề cho

các em

1.3.2.3 Những nhiệm vụ chung của giáo dục hướng nghiệp ở THPT

Nhiệm vụ đầu tiên là qua hướng nghiệp, các em được làm quen với những

nghề cơ bản trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình Nhiệm vụ này được thể hiện trong suốt những năm còn ngồi trên ghế nhà trường Nhiệm vụ đó giúp các

em có điều kiện tìm hiểu nghề trong xã hội (đặc biệt là nghề của địa phương) Từ sự làm quen này, sẽ giúp cho các bạn trẻ trả lời câu hỏi: Trong giai đoạn hiện nay, những nghề nào đang cần phát triển nhất, thái độ đối với nghề như thế nào là đúng, v.v Đồng thời, học sinh còn phải biết những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đặt

ra, những điều kiện vào học nghề v.v… Tóm lại, nhiệm vụ thứ nhất là hình thành ở học sinh những biểu tượng đúng đắn về những nghề cần phát triển

Nhiệm vụ thứ hai là hướng dẫn phát triển hứng thú nghề nghiệp:Trong quá

trình tìm hiểu nghề, ở học sinh sẽ xuất hiện và phát triển hứng thú nghề nghiệp Em học sinh này thích nông nghiệp, em khác thích công nghiệp, có em lại chỉ chú ý đến nghệ thuật, v.v Người làm hướng nghiệp sẽ hướng dẫn sự phát triển hứng thú của các em trên cơ sở phân tích những đặc điểm, những điều kiện, những hoàn cảnh riêng của từng em một Hứng thú là một động lực hết sức quan trọng để con người

Trang 35

gắn bó với nghề Vì vậy, hứng thú được coi như một chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sự phù hợp nghề của con người Ở một số nước, người ta đề ra nguyên tắc: Không bố trí vào nghề nếu không có hứng thú với nghề Trên quan điểm chủ nghĩa nhân đạo cũng như quan điểm tâm lý học, nguyên tắc đó là đúng Song việc giáo dục đạo đức, giáo dục chính trị có ý nghĩa đối với sự hình thành và phát triển hứng thú Trong xã hội, không ít nghề ở ngoài sự định hướng của học sinh Nhưng khi thấy được hết tầm quan trọng của một nghề, có những học sinh đã dứt khoát chọn nghề ấy và cảm thấy thoải mái hoặc hài lòng với sự lựa chọn của mình, từ đó nảy nở hứng thú với nghề

Nhiệm vụ thứ ba là giúp học sinh hình thành năng lực nghề nghiệp tương

ứng: Người ta chỉ có thể yên tâm sống lâu dài với nghề nếu họ có năng lực chuyên môn thực sự, đóng góp được sức lực, trí tuệ một cách hữu hiệu với nghề của mình Xét đến cùng, ai cũng muốn có năng suất lao động cao, có uy tín trong lao động nghề nghiệp Mặt khác, nghề nghiệp cũng không chấp nhận những người thiếu năng lực Vì vậy, trong quá trình hướng nghiệp, phải tạo điều kiện sao cho học sinh hình thành năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã có

Đối với học sinh phổ thông, con đường hình thành năng lực nghề nghiệp là

tổ chức lao động sản xuất kết hợp với dạy nghề, Học sinh sẽ đươc thử sức trong các hình thức hoạt động nói trên, từ đó năng lực nghề nghiệp sẽ nảy nở và phát triển

Nhiệm vụ cuối cùng của hướng nghiệp là giáo dục cho học sinh thái độ lao

động, ý thức tôn trọng người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau, ý thức tiết kiệm và bảo vệ của công… Đây là những phẩm chất nhân cách không thể thiếu được ở người lao động trong xã hội của chúng ta Có thể coi đây là nhiệm vụ giáo dục đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, là nhiệm vụ chủ yếu đối với thế hệ trẻ Cùng với các nhiệm vụ trên, nhiệm vụ này góp phần vào việc làm cho những phẩm chất nhân cách của người lao động được hài hòa và cân đối

Tóm lại, hướng nghiệp có mục đích cơ bản là hướng dẫn và chuẩn bị cho thế

hệ trẻ sẵn sàng đi vào các ngành nghề mà đất nước hay ở từng địa phương đang cần Quá trình giáo dục hướng nghiệp phải làm cho học sinh có những hiểu biết cần thiết

Trang 36

về thị trường lao động, biết cách lựa chọn nghề nghiệp có cơ sở khoa học, được làm quen với nghề để có hứng thú và thái độ đúng đắn, yêu quý nghề và điều quan trọng

là học sinh có được tình cảm, thói quen lao động để tiến tới có thể biết làm một số nghề truyền thống, nghề thông dụng đang cần duy trì và phát triển ở địa phương

Những nhiệm vụ của GDHN, theo sơ đồ mà K.K Platonov đưa ra:

Định hướng

nghề

Đặc điểm, yêu cầu hệ thống nghề Thị trường lao động

nghiệp xã hội đang cần phát triển

Qui trình GDHN ở THPT thực hiện qua 3 bước như sau:

1.3.2.4.1 Định hướng nghề nghiệp cho học sinh:

Là giúp con người tự xác lập nghề nghiệp và đi tới quyết định một cách có ý thức trong việc lựa chọn con đường nghề nghiệp phù hợp với những đặc điểm tâm

lý và khả năng của con người cùng với yêu cầu của xã hội25 Là thông tin về sự phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là những nghề đang có nhu cầu nhân lực cấp thiết, về những yêu cầu tâm sinh lý của nghề đang đặt ra, về tình hình phân công lao động trong xã hội, về hệ thống trường dạy nghề Đối tượng chủ yếu của định hướng nghề là HS, nhưng đôi khi còn nhằm cung cấp những thông tin trên cho cha mẹ HS để có thể phối hợp hướng nghiệp cho các em một cách thống nhất

25

Phạm Tất Dong, Nguyễn Như Ất Sự lựa chọn cho tương ai, NXB Thanh Niên Hà Nội, 2003

Trang 37

1.3.2.4.2 Tư vấn nghề nghiệp

Là đưa ra những lời khuyên cho con người dựa trên cơ sở xem xét mối quan

hệ giữa đặc điểm của hoạt động nghề phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý, thể chất, dựa trên cơ sở các kết quả chẩn đoán tâm lý, tâm sinh lý và y tế.26 Hay nói cách khác là hình thức tác động hướng nghiệp thông qua sự góp ý và lời khuyên của những nhà chuyên môn Thông thường, là thành lập những ban tư vấn nghề nghiệp trong trường học hoặc trung tâm tư vấn nghề nghiệp ngoài nhà trường Tại đó, tiến hành theo dõi sự phát triển những đặc điểm tâm lý, sinh lý của từng học sinh và đối chiếu với những đặc điểm đó với yêu cầu của các nghề, rồi giới thiệu một số nghề phù hợp cho học sinh

1.3.2.4.3 Tuyển chọn nghề nghiệp

Là xác định mức độ phù hợp với những đòi hỏi, tiêu chuẩn cụ thể của nghề Công tác này không thuộc chức năng của nhà trường nhưng lại có liên quan mật thiết với công việc định hướng cũng như tư vấn nghề nghiệp Thực chất của tuyển chọn nghề nghiệp là căn cứ vào nhu cầu nhân lực của một nghề cụ thể mà đi tìm những người có đặc điểm nhân cách phù hợp Trong trường phổ thông, mọi việc thuộc lĩnh vực tư vấn và định hướng nghề nghiệp phải tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc tuyển chọn nghề nghiệp sau này

Để cung cấp cho học sinh những tri thức cần thiết về các nghề nghiệp, trong tâm lý học nghề nghiệp có một chuyên ngành mô tả đặc điểm, yêu cầu của nghề nghiệp khác nhau gọi là ngành họa đồ nghề nghiệp Ngành này sẽ đưa ra những họa

đồ nghề nghiệp (Psychograme) cụ thể cho từng nghề Một bản họa đồ nghề nghiệp bao gồm :

1 Đặc điểm chung của nghề

2 Sự mô tả quá trình của công việc

3 Những tri thức về sự chuẩn bị phải có

4 Những đặc điểm sinh lý và vệ sinh

5 Những điều cần tránh về mặt sinh học

6 Đặc điểm kinh tế của nghề

Trang 38

7 Những triển vọng, phát triển của nó

8 Những đặc điểm tâm lý của nghề

1.3.2.5 Các hình thức giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT

Hướng nghiệp tại trường trung học phổ thông bao gồm 4 hình thức chủ yếu như sau:

1 Hướng nghiệp qua dạy học các môn văn hóa

2 Hướng nghiệp qua dạy học môn Công nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất

3 Hướng nghiệp qua tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp

4 Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa, các phương tiện thông tin đại chúng, sự hướng dẫn của gia đình, các tổ chức xã hội27

1.3.2.6 Các giai đoạn hướng nghiệp cơ bản cho học sinh

Theo quan điểm khoa học, hướng nghiệp là một quá trình với nhiều giai đoạn kế tiếp :

Giai đoạn hướng nghiệp

Giai đoạn hướng nghiêp

cơ bản

Giai đoạn hướng nghiệp ban đầu

BAN A BAN B BAN C BAN D BAN E

Lớp

Tuổi

Trang 39

Giai đoạn I: từ lớp 8 đến lớp 9, để sau khi tốt nghiệp THCS ngoài một số bộ

phận học sinh trực tiếp tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội và trong các gia đình thì một bộ phận khác sẽ tiếp tục theo học các loại hình đào tạo chuyên nghiệp (trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp) hoặc ở các phân ban của trường trung học phổ thông Nói cách khác, trên thực tế sau THCS, tất cả học sinh đã thực

sự bước vào tham gia các loại hình lao động nghề nghiệp hoặc các loại hình đào tạo nghề ở các mức độ đào tạo khác nhau

Nhiệm vụ chọn nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp THCS về cơ bản đã phải giải quyết để bước vào các loại hình lao động hoặc đào tạo nghề nghiệp Vì vậy nội dung trong giai đoạn này rất quan trọng cần được xây dựng theo hướng cơ bản và toàn diện, đảm bảo cho học sinh có đầy đủ những tri thức và năng lực lựa chọn nghề nghiệp tương lai theo nhiều hướng khác nhau Có thể gọi giai đoạn này là giai đoạn hướng nghiệp cơ bản

Giai đoạn II: từ lớp 10 đến lớp 12, trên cơ sở kế thừa nội dung sinh hoạt

hướng nghiệp ở giai đoạn I, giai đoạn này cần nâng cao và phân hóa theo các phân ban ở trường trung học phổ thông Nội dung thông tin nghề nghiệp cần được nâng cao và thu hẹp hướng vào các ngành nghề học sinh đang được đào tạo hoặc nhóm các ngành nghề phù hợp với đặc trưng nội dung đào tạo ở các phân ban Các hoạt động tư vấn nghề nghiệp cần được tiến hành phù hợp với trình độ học sinh, đặc điểm lứa tuổi, nhu cầu đào tạo và sử dụng lao động nghề nghiệp trong xã hội Giai đoạn này có thể gọi là giai đoạn hướng nghiệp chuyên ban và xây dựng nội dung, chương trình hướng nghiệp chuyên ban Một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp trong quá trình xây dựng nội dung chương trình hướng nghiệp là lựa chọn

hệ thống phân loại ngành nghề nào để đáp ứng nhiệm vụ môn học và phù hợp với

điều kiện thực tế nhà trường (thời gian, giáo viên, cơ sở vật chất, tài liệu giảng dạy)

28

Trần Khánh Đức, Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, 2002, Nhà xuất bản Giáo

Trang 40

1.3.2.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục hướng nghiệp:

- Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp: ở trường trung học phổ thông là một trong những nội dung của quản lý các hoạt động sư phạm Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông bao gồm quản lý tốt việc thực hiện chương trình giáo dục hướng nghiệp, phát huy hiệu quả các trang thiết bị phục

vụ giảng dạy, đầu tư đúng mức cho cơ sở hạ tầng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo đúng yêu cầu của giáo dục hướng nghiệp, phối hợp tốt các lực lượng tham gia công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông Quản lý tốt hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh là góp phần vào việc giáo dục và đào tạo con người hoàn thiện về phẩm chất đạo đức, có năng lực, đủ trình độ kiến thức cống hiến cho

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, việc quản lý công tác này ở các trường trung học phổ thông chưa thật sự đạt hiệu quả, phần lớn các trường chỉ giao khoán cho giáo viên chủ nhiệm, các nhà quản lý trường học chưa thật sự quan tâm đến việc tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá việc thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông

- Nguồn nhân lực phục vụ hoạt động giáo dục hướng nghiệp: giáo viên là nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng của giáo dục hướng nghiệp Tuy nhiên, hiện nay trong các trường phổ thông số lượng giáo viên cho giáo dục hướng nghiệp vừa thiếu lại vừa yếu vì các giáo viên thường là kiêm nhiệm, chứ không được đào tạo bài bản

- Nội dung / phương pháp giảng dạy: nội dung và phương pháp giảng dạy tất nhiên là những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng giáo dục hướng nghiệp

- Cơ sở vật chất: Dù ngân sách hàng năm cho giáo dục tăng nhưng cơ sở vật chất phục vụ giáo dục hướng nghiệp hiện cũng chưa đạt yêu cầu nhất là những vùng sâu

- Bản thân học sinh: là yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp Để nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp người giáo viên cần chú ý đến các yếu tố tâm lý, sức khỏe, năng lực, xu hướng nghề… của học sinh

Ngày đăng: 04/04/2015, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, Từ điển Giáo dục học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa
13. Trung tâm lao động hướng nghiệp – Bộ Giáo dục & Đào tạo. Hướng dẫn tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh THPT. Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh THPT
14. Phạm Minh Hạc - Trần Kiều. Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
16. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2010), Định hướng và đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở, Hà Nội 2010 17. http://vietbao.vn/Giao-duc/Hoc-sinh-va-lao-dong/55188244/202/ Link
20. Tổng cục thống kê, Số trường phổ thông tại thời điểm 30/9 phân theo địa phương,http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=395&idmid=3&ItemID=11421 21. Từ điển Bách Khoa wikipedia, http://vi.wikipedia.org/wiki/Bạc_Liêu Link
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII, Nghị quyết hội nghị lần thứ II Khác
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2001 Khác
3. Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học ra trường Khác
5. Chỉ thị số: 33/2003/CT-BGD&ĐT, Về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông Khác
6. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục, 1997 Khác
7. Nguy ễn Văn Hộ, Hoạt động hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT, NXB Giáo duc, 2006 Khác
8. Phạm Mạnh Hùng, Giáo trình chuyên đề tâm lý học nghề nghiệp, NXB Hà Nội, 2006 Khác
9. Phạm Tất Dong, Giúp bạn chon nghề, NXB Giáo dục, 1989 Khác
10. Phạm Tất Dong, Nguyễn Như Ất, Sự lựa chọn tương lai, NXB Thanh niên, 2000 Khác
11. Phạm Tất Dong (chủ biên), Đặng Danh Ánh, Nguyễn Thế Trường, Trần Mai Thu, Nguyễn Dục Hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 9,10, 11, 12, NXB Giáo dục, 2004 Khác
15. Trần Văn Thiện, Thái Trí Dũng, Vũ Thị Phượng, Tâm lý học, ĐHKT TP.HCM, 1995 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1  Tam giác hướng nghiệp  24 - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Hình 1.1 Tam giác hướng nghiệp 24 (Trang 12)
Hình 1.2  Các giai đoạn hướng nghiệp  26 - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Hình 1.2 Các giai đoạn hướng nghiệp 26 (Trang 12)
Hình 1.1: Tam giác hướng nghiệp  1.3.2.4. Qui trình giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Hình 1.1 Tam giác hướng nghiệp 1.3.2.4. Qui trình giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT (Trang 36)
Hình 1.2: Các giai đoạn hướng nghiệp 28 - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Hình 1.2 Các giai đoạn hướng nghiệp 28 (Trang 38)
Bảng 2.1 : Nhận thức về mục đích giáo dục hướng nghiệp - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.1 Nhận thức về mục đích giáo dục hướng nghiệp (Trang 54)
Bảng 2.2: Nhận thức về mức độ cần thiết của GDHN ở THPT - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.2 Nhận thức về mức độ cần thiết của GDHN ở THPT (Trang 56)
Bảng 2.3: Nhận thức về tầm quan trọng của việc định hướng nghề ở THPT - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của việc định hướng nghề ở THPT (Trang 57)
Bảng 2.5: Mục đích của học sinh khi tham gia GDHN - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.5 Mục đích của học sinh khi tham gia GDHN (Trang 60)
Bảng 2.6: Tìm hiểu nội dung và thời lượng GDHN - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.6 Tìm hiểu nội dung và thời lượng GDHN (Trang 61)
Bảng 2.7: Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ GDHN - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.7 Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ GDHN (Trang 62)
Bảng 2.8: Nhận định của CBQL về nhân lực phục vụ GDHN - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.8 Nhận định của CBQL về nhân lực phục vụ GDHN (Trang 63)
Bảng 2.10: Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao và nội dung bồi dưỡng của  giáo viên thưc hiện GDHN - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.10 Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao và nội dung bồi dưỡng của giáo viên thưc hiện GDHN (Trang 65)
Bảng 2.11. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ GDHN - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.11. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ GDHN (Trang 66)
Bảng 2.12: Thực trạng các hình thức tổ chức GDHN cho HS THPT   thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.12 Thực trạng các hình thức tổ chức GDHN cho HS THPT thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (Trang 67)
Bảng 2.13: Mức độ hiểu biết về nghề nghiệp thông qua GDHN - BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Bảng 2.13 Mức độ hiểu biết về nghề nghiệp thông qua GDHN (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w