Theo đó trong những thị trường mới nổi, lạm phát chỉ có một con số đặc biệt là các nước châu Á, sự truyền dẫn tỷ giá đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng được tìm thấy là thấp và khá tương
Trang 1BÀI NGHIÊN CỨU:
TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở CÁC
NỀN KINH TẾ MỚI NỔI
Thực hiện: Lê Thị Kim Anh
Nguyễn Thị Tường Vy
Lê Ngọc Phú Thuận
Trang 2Mục lục
Tóm tắt 3
1 Giới thiệu: 4
2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 4
3 Phương pháp nghiên cứu 7
4 Nội dung và các kết quả nghiên cứu: 11
5 Kết luận 15
Trang 3Tóm tắt
Bài nghiên cứu khảo sát mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) lên giá ở 12 nền kinh tế mới nổi của châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu Dựa trên ba mô hình vector biến đổi tự hồi quy, kết quả nghiên cứu của tác giả làm thay đổi quan điểm cho rằng mức độ truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở các nước mới nổi luôn luôn cao hơn các nước phát triển Theo đó trong những thị trường mới nổi, lạm phát chỉ có một con số (đặc biệt là các nước châu Á), sự truyền dẫn tỷ giá đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng được tìm thấy là thấp và khá tương đồng với các nước phát triển Nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ của ERPT và lạm phát, phù hợp với giả thuyết của Taylor Có hai nước
đã bị loại khỏi phân tích do đặc điểm số liệu có khác biệt bất thường so với những quan sát ở các nước còn lại, đó là Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ Cuối cùng, có một tương quan dương giữa chính sách mở cửa nhập khẩu và ERPT, điều này đúng về mặt lý thuyết nhưng kết quả thực nghiệm yếu
Trang 41 Giới thiệu:
Hiểu biết về tác động của truyền dẫn tỷ giá là rất quan trọng để đưa ra các chính sách tiền tệ phù hợp Bài nghiên cứu tìm hiểu vai trò ERPT và đánh giá hiệu ứng truyền dẫn
tỷ giá tại các thị trường mới nổi thông qua kiểm chứng thực nghiệm về mối quan hệ mức độ truyền dẫn tỷ giá lên giá tiêu dùng và giá nhập khẩu, mối quan hệ ERPT với lạm phát, mối quan hệ ERPT với mức độ mở cửa nền kinh tế
Bài nghiên cứu gồm các phần chính:
Phần 1: Giới thiệu về mục tiêu và lý do nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá ở các thị
trường mới nổi
Phần 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu và quá trình thu thập dữ liệu ở các quốc gia
đang được xem xét
Phần 4: Nội dung và các kết quả thực nghiệm
Phần 5: Kết luận
2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Trong hai thập kỷ qua, những nghiên cứu kinh tế về truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT)
đã phát triển Bắt đầu từ những quan điểm khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm đã kiểm tra vai trò của ERPT ở các nền kinh tế nhỏ và lớn Những nghiên cứu ở các nước phát triển được thực hiện bởi Anderton (2003), Campa và Goldberg (2004), Campa và cộng sự (2005), Gagnon và Ihrig (2004), Hahn (2003), Ihrig và cộng sự (2006) và McCarthy (2000) Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về các nền kinh tế thị trường mới nổi, trong đó có so sánh giữa các quốc gia như trong Choudhri và Hakura (2006), Frankel và cộng sự (2005) và Mihaljek và cộng sự (2000)
Nền kinh tế truyền thống với giả định đơn giản là giá cả của hàng hóa là như nhau giữa các quốc gia, tức là thỏa điều kiện ngang giá sức mua (PPP) Tuy nhiên về mặt thực nghiệm, giả thiết này được rất ít được ủng hộ, đặc biệt là trong trường hợp mẫu nhỏ, trong ngắn hạn và trung hạn Các nghiên cứu lý thuyết phát triển trong hai thập niên qua đã đưa ra nhiều giải thích khác nhau về lý do ERPT là không hoàn toàn Trong bài nghiên cứu của Dornbusch (1987), ông khẳng định truyền dẫn không hoàn toàn là vì sự xuất hiện của những công ty hoạt động trong một thị trường đặc trưng với
Trang 5sự cạnh tranh không hoàn hảo và họ có thể tự điều chỉnh giá sản phẩm của mình(và không chỉ có giá) khi có một cú sốc tỷ giá hối đoái Burstein và cộng sự (2003) nhấn mạnh vai trò yếu tố phân phối hàng hóa thương mại hơn so với vai trò của yếu tố đầu vào Burstein và cộng sự (2005) đã chỉ ra vấn đề đo lường trong chỉ số CPI, bỏ qua sự thay đổi giá trị hàng hóa khi tỷ giá hối đoái dao động mạnh Một lý luận khác nhấn mạnh vai trò của các chính sách tiền tệ và tài khóa vì bù đắp được phần nào những tác động của thay đổi tỷ giá hối đoái đến giá (Gagnon và Ihrig , 2004) Devereux và Engel (2001), Bacchetta và Wincoop (2003) nghiên cứu vai trò của việc định giá đồng nội tệ làm giảm mức độ ảnh hưởng của ERPT
Chứng thực những lý thuyết khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm ở cả các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi đã tìm thấy bằng chứng ERPT không hoàn toàn Những nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng về sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia, từ đó đặt ra câu hỏi về các yếu tố cơ bản quyết định truyền dẫn là gì Taylor (2000) đã đưa ra giả thuyết rằng sự phản ứng của giá từ biến động tỷ giá phụ thuộc vào lạm phát Lý do của điều này được cho là liên quan đến mối tương quan thuận giữa mức độ và thời gian duy trì của lạm phát, cùng với mối liên hệ giữa duy trì lạm phát và truyền dẫn Mối liên hệ thứ hai có thể được thể hiện như sau: lạm phát càng kéo dài thì những biến động tỷ giá nhỏ được coi là tạm thời và các công ty có thể phản ứng bằng cách điều chỉnh giá
Bằng chứng từ những nghiên cứu khác nhau đều ủng hộ cho giả thuyết Taylor Tuy nhiên, mối quan hệ giữa mức độ truyền dẫn và lạm phát càng thể hiện rõ hơn khi thị trường mới nổi được tính vào mẫu xem xét (đặc biệt là bằng chứng dữ liệu bảng của Choudhri và Hakura, 2006) Không có gì đáng ngạc nhiên khi giả định của Taylor trở nên có ý nghĩa hơn nếu tỷ lệ lạm phát cao hơn
Một yếu tố quan trọng của ERPT là mức độ mở cửa của một quốc gia Có mối tương quan dương giữa hai biến này: một đất nước càng mở cửa thì sự biến động tỷ giá hối đoái tác động đến giá nhập khẩu càng lớn, từ đó làm chỉ số CPI thay đổi lớn hơn Tuy nhiên, bức tranh trở nên phức tạp hơn khi tác giả nhận thấy rằng lạm phát có thể tỷ lệ nghịch với mức độ mở cửa nền kinh tế, như kết quả thực nghiệm được tìm thấy bởi Romer (1993) Điều này đưa đến một kênh gián tiếp, theo đó sự mở cửa tỷ lệ nghịch với lạm phát (theo giả thuyết của Taylor) và mức độ truyền dẫn Các kênh trực tiếp và gián tiếp đi theo hướng ngược nhau; đây là dấu hiệu cho thấy tương quan giữa truyền dẫn và sự mở cửa có thể là cùng chiều hoặc nghịch chiều
Bài nghiên cứu đánh giá kết quả, tìm hiểu tầm quan trọng của ERPT và sự khác biệt giữa các quốc gia bằng cách ước tính mô hình vector tự hồi quy (VAR) cho thị trường mới nổi và các nền kinh tế công nghiệp tiêu biểu như khu vực đồng Euro, Mỹ và Nhật Bản Một hệ phương trình được sử dụng để tính đến khả năng nội sinh giữa các biến
Trang 6xem xét Hơn nữa việc lựa chọn mô hình là phù hợp vì chúng ta theo dõi các phản ứng linh hoạt của các biến với những cú sốc ngoại sinh theo thời gian Các bài nghiên cứu cho đến nay đã được ước lượng bằng cách hoặc là phương trình đơn, hoặc là hệ phương trình cho một quốc gia cụ thể, không thì thiết lập những phương trình đơn cho một tập nhóm của các quốc gia (ví dụ như Choudhri và Hakura, 2006, và Mihaljek cùng cộng sự, 2000) Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp tiếp cận có
hệ thống với một số lượng lớn các quốc gia trong ba khu vực thị trường mới nổi chính trên thế giới, là châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu Đồng thời, tác giả cũng sử dụng phương pháp tương tự với ba nền kinh tế công nghiệp lớn, để đảm bảo kết quả so sánh Bằng cách sử dụng mô hình ước lượng cho mỗi nước trong thời gian dài nhất có thể, nhằm ước lượng mức độ truyền dẫn chính xác và cao nhất có thể Về mặt này, việc quan trọng là đã tạo ra cơ sở dữ liệu hàng quý phù hợp và có thể so sánh cho mỗi quốc gia, nhưng có một thách thức lớn trong việc thu thập thông tin cũng như chất lượng thông tin của những thị trường các nước mới nổi Điều này cũng đã giúp đáp ứng yêu cầu một cách hệ thống dựa trên một số lượng tương quan cao của các biến, tránh bỏ qua biến xu hướng
Sau đó tác giả sử dụng kết quả của đất nước tác giả để kiểm chứng về tính xác thực của lý thuyết cho rằng ERPT tại các thị trường mới nổi cao hơn so với các nền kinh tế công nghiệp và kiểm tra mẫu hình về các mối tương quan của truyền dẫn tỷ giá theo nghiên cứu McCarthy (2000) và Choudhri và Hakura (2006) ERPT có cao hay không trong thị trường mới nổi, thì mục tiêu chính là để xác định cán cân thương mại cũng như sự lựa chọn một chính sách tỷ giá hối đoái của mỗi quốc gia Mức độ truyền dẫn tương đối cao ở các nước đang phát triển cũng đã được lý giải là do sự “nhạy cảm với
tỷ giá thả nổi” Trong trường hợp truyền dẫn thấp ở các quốc gia đang phát triển có thể được lý giải từ việc cho rằng sức mạnh thị trường của doanh nghiệp ở các nước này ngày càng tăng và không giảm, như là một xu hướng toàn cầu hóa Tuy nhiên, những đặc tính đặc biệt ở thị trường này đã gây khó khăn trong việc ước tính ERPT một cách đáng tin cậy Một số quốc gia châu Á đã thường xuyên theo đuổi chính sách chủ động kiểm soát tỷ giá hối đoái Trung Âu và các nước Đông Âu đã có những cải cách triệt
để nền kinh tế của họ trong những năm 1990 Cuối cùng, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước
Mỹ Latinh đã trải qua một đợt bất ổn kinh tế vĩ mô mạnh mẽ đặc trưng bởi tỷ lệ lạm phát rất cao và/hoặc biến động mạnh trong hối đoái và lãi suất
Kết quả nghiên cứu của tác giả chỉ ủng hộ phần nào quan điểm cho rằng mức độ ERPT tại các thị trường mới nổi cao hơn tại các nước phát triển (sử dụng theo chuẩn của
Mỹ, khu vực đồng Euro và Nhật Bản) Cụ thể hơn, chúng ta thấy rằng trong nền kinh
tế mới nổi (đặc biệt là các nền kinh tế châu Á) với mức lạm phát thấp, mức độ truyền dẫn vào giá tiêu dùng là khá nhỏ Liên quan đến điều này, bài nghiên cứu này đã ủng
hộ cho giả thuyết của Taylor trong việc tìm kiếm bằng chứng về mối tương quan thuận giữa truyền dẫn và lạm phát tại các thị trường mới nổi Kết nối này dường như có ý
Trang 7nghĩa thống kê trên tất cả các mô hình xác định khác nhau được xem xét khi hai nước
có giá trị khác biệt được loại trừ Như trong các tài liệu liên quan, vai trò của sự mở cửa được tìm thấy nói chung là yếu, ngay cả khi đã kiểm soát tỷ lệ lạm phát
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phân tích được thực hiện bằng cách sử dụng một mô hình VAR tiêu chuẩn như trong công thức (1):
bằng cách xếp thứ tự các biến thích hợp và áp dụng phương pháp phân rã Cholesky để
ma trận hiệp phương sai giảm sai số ngẫu nhiên
Như một điểm khởi đầu của việc phân tích, mô hình VAR sáu biến tương tự như đã được phát triển bởi McCarthy (2000) và Hahn (2003) Mô hình VAR rút gọn áp dụng
Tỷ giá hối đoái và hai biến giá cả là các biến quan trọng trong phân tích của tác giả Các biến sản lượng và giá dầu được tính đến để nắm bắt những ảnh hưởng thực của nền kinh tế Việc đưa lãi suất vào mô hình hàm ý thị trường tiền tệ ảnh hưởng đến mối quan hệ truyền dẫn, bao gồm cả tác động của chính sách tiền tệ
Trong mô hình rút gọn với các biến được liệt kê ở trên Việc sử dụng phương pháp đệ quy hàm ý rằng những cú sốc xác định cùng lúc ảnh hưởng các biến được đặt phía sau, nhưng không có ảnh hưởng đến những biến phía trước nó Do đó, là hợp lý khi đặt các biến ngoại sinh lên đầu, trong trường hợp của chúng ta là giá dầu Những cú sốc giá dầu có thể ảnh hưởng đến tất cả các biến khác trong hệ thống, cũng như giá dầu không
bị ảnh hưởng bởi bất kỳ các cú sốc nào khác Các biến tiếp theo trong phương trình là sản lượng và tỷ giá hối đoái Với sự sắp xếp này, chúng ta ngầm giả định tác động đồng thời của các cú sốc cầu lên tỷ giá hối đoái, trong khi có một độ trễ nhất định về tác động của các cú sốc tỷ giá hối đoái đối với yếu tố đầu ra Các biến giá được đặt vị trí tiếp theo và do đó đồng thời bị ảnh hưởng bởi tất cả các cú sốc nói trên Trong chuỗi giá cả, giá nhập khẩu đi trước giá tiêu dùng cho phép một sự tác động những cú sốc giá nhập khẩu lên giá tiêu dùng nhưng không có trường hợp ngược lại Lãi suất được đặt cuối cùng, đại diện cho thị trường tiền tệ và chính sách tiền tệ đặc biệt nhằm
Trang 8phản ứng lại đồng thời với cú sốc của tất cả các biến khác trong mô hình Mô hình đại diện rút gọn chỉ là một trong nhiều phương án hợp lý về xác định và biến số Do đó, chúng ta sẽ tiến hành phân tích độ nhạy sử dụng hai công thức mô hình hợp lý khác
3.2 Thu thập dữ liệu
Trong bài nghiên cứu này tác giả tập trung những phân tích của mình vào 3 khu vực: Châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Hồng Kông), Trung và Đông Âu (Cộng Hòa Séc, Hungary, Ba Lan) cộng thêm Thổ Nhĩ Kỳ và Châu Mỹ La Tinh (Argentina, Chilê và Mexico) Sở dĩ chọn ra những nước như trên là bởi vì đó là những thị trường mới nổi lớn trong khu vực – trong đó Brazin không được đưa vào mẫu bởi vì các kết quả thu được không hợp lý, mức độ cực cao trong biến động của các dữ liệu và lạm phát hàng năm cao hơn 1000% trong suốt thời kỳ giữa 1992Q1 và 1994Q4 Đối với mỗi quốc gia, số liệu được thu thập theo quý, trong khoảng thời gian càng dài càng tốt
- Giá dầu được đại diện bởi chỉ số giá dầu thô tính bằng đô la Mỹ theo thống kê của IMF
- Biến sản lượng đầu ra được ưa thích là GDP Đối với Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ, Chilê, Mỹ nguồn dữ liệu từ IFS, Nhật Bản và Mexico nguồn dữ liệu từ OECD, khu vực đồng tiền chung châu Âu dữ liệu được lấy từ AWM, Đài Loan và Argentina lấy từ nguồn dữ liệu quốc gia Tuy nhiên trong một vài trường hợp, tác giả có sử dụng sản lượng công nghiệp để có thể lấy được số liệu trong thời gian dài hơn - Trung Quốc, Sec, Ba Lan
- Tỷ giá hối đoái ở tất cả các nước tác giả đều sử dụng giá trị danh nghĩa Nguồn dữ liệu IFS cho tất cả các thị trường mới nổi Còn dữ liệu Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan lấy từ BIS Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico lấy dữ liệu từ OECD Argentina từ JP Morgan; Mỹ và Nhật Bản lấy dữ liệu từ IFS; khu vực đồng tiền chung châu Âu từ AWM
- Chỉ số giá nhập khẩu (IPI) được lấy dữ liệu từ IFS, đối với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hungary, Ba Lan, Hồng Kông và Thổ Nhĩ Kỳ Khu vực đồng tiền chung Châu Âu được lấy từ ECB Dữ liệu IPI các nước Đài Loan, Argentina, Mexico thì lấy từ nguồn quốc gia Dữ liệu của Chilê được lấy từ IFS đến năm 1995 kết hợp với dữ liệu từ Ngân hàng Chilê Cộng hòa Sec lấy dữ liệu từ OECD Không có dữ liệu chỉ số giá nhập khẩu của Trung Quốc
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) sử dụng dữ liệu từ IFS cho tất cả các nước ngoại trừ khu vực đồng tiền cung Châu Âu được lấy từ AWM, Hồng Công từ BIS, Trung Quốc
và Đài Loan lấy từ nguồn dữ liệu quốc gia
Trang 9- Chỉ số giá sản xuất (PPI) được lấy từ IPS cho tất cả các nước, ngoại trừ Hồng Kông, Đài Loan, Argentina và Trung Quốc lấy dữ liễu từ nguồn quốc gia
- Lãi suất ngắn hạn: sử dụng lãi suất thị trường đối với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Argentina từ IFS Khu vực đồng tiền chung Châu
Âu sử dùng dữ liệu từ AWM Hồng Kông lấy dữ liệu từ BIS, Đài Loan lấy dữ liệu
từ ngân hàng trung ương Trung Quốc Sử dụng lãi suất tín phiếu từ IFS đối với Hungary, Mexico Sử dụng tỷ lệ lãi suất tiền gửi đối với Trung Quốc, Cộng Hòa Sec, Chilê từ IFS
- Tỷ lệ nhập khẩu/GDP: sử dụng dữ liệu nhập khẩu từ IFS cho tất cả các quốc gia ngoại trừ khu vực khu vực đồng tiền châu Âu từ ECB, Trung Quốc, Singapore và Đài Loan sử dụng dữ liệu quốc gia Dữ liệu GDP ở tất cả các nước được sử dụng từ IFS, ngoại trừ khu vực đồng tiền chung Châu Âu theo Eurostat, Trung Quốc, Singapore và Đài Loan lấy dữ liệu từ nguồn quốc gia
Tổng hợp những điều kiện vĩ mô bình quân các thị trường mới nổi trong giai đoạn mẫu được trình bày ở bảng 1 Lạm phát bình quân tương đối thấp ở các nước châu Á đặc biệt là Đài Loan và Singapore Mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô của hai nước này là kết hợp tăng trưởng mạnh trong GDP thực, lạm phát thấp và tỷ giá hối đoái hiệu lực danh nghĩa ổn định, xét cả về giá trị và mức độ biến động Các nước ở khu vực Trung
và Đông Âu đã kết hợp tăng trưởng sản lượng khoảng 2-3%, nhưng giảm tỷ lệ lạm phát Cộng hòa Séc đã giảm lạm phát dù ở giai đoạn suy thoái kéo dài trong một số năm sau khủng hoảng ngân hàng 1997 Trong giai đoạn nghiên cứu, Cộng Hòa Séc, Hungary và Balan trở lại với hệ thống kinh tế thị trường; qua đó tháo gỡ việc định giá dưới chuẩn trong giai đoạn đầu tái cơ cấu, áp dụng hiệu ứng Balassa-Samuelson
Một số quốc gia trải qua áp lực lạm phát cao trong cả giai đoạn được xem xét, trong đó
có hai quốc gia đặc biệt nổi bật là Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ Argentina đã trải qua siêu lạm phát trong cơn bão tài chính ở những thời điểm lịch sử khác nhau Áp lực lạm phát cao và biến động mạnh trong tỷ giá hối đoái cũng diễn ra ở Thổ Nhĩ Kỳ với những khó khăn tài chính nghiêm trọng xảy ra nhiều lần Mexico cũng đã xảy ra những bất ổn thị trường đáng kể thể hiện qua sự biến động mạnh tỷ giá hối đoái hiệu lực danh nghĩa Chile quản lý kinh tế bằng cách giữ tỷ lệ lạm phát bình quân thấp, khoảng 13% từ năm
1980 Cuối cùng nhiều thị trường mới nổi trong mẫu nghiên cứu của tác giả được mô
tả là mở cửa hơn so với cấu trúc kinh tế của chúng Lấy tiêu chuẩn nhập khẩu như là % của GDP, theo tác giả mức độ mở của các nền kinh tế trong mẫu được xếp theo thứ tự giảm dần như sau: Hong Kong, Singapore sau đó là Cộng Hòa Séc và Hungary Những nền kinh tế lớn hơn, Trung Quốc và Argentina thì lại tương đối là đóng so với các thị trường mới nổi khác trong bài nghiên cứu
Trang 10Bảng 2 tóm tắt các điều kiện kinh tế vĩ mô bình quân trong ba nền kinh tế phát triển để tạo thành tiêu chuẩn so sánh, đó là Mỹ, khu vực đồng tiền chung châu Âu và Nhật Bản Các nền kinh tế này có tỷ lệ lạm phát trung bình thấp và điều kiện kinh tế vĩ mô
ổn định hơn thị trường mới nổi Trên cơ sở ghi nhận lạm phát ở các thị trường mới nổi,
kỳ vọng tìm thấy hệ số truyền dẫn thấp nhất ở châu Á, cao nhất ở châu Mỹ Latinh ngoại trừ Chile Mức độ mở cửa có thể là nhân tố làm giảm ảnh hưởng truyền dẫn lên CPI trong nền kinh tế Mỹ Latinh tương đối đóng, trong khi lại có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng trong truyền dẫn ở HongKong và Singapore (các nước có mức độ mở cửa cao nhất trong mẫu nghiên cứu)
Mức độ ERPT của mỗi quốc gia được ước lượng cho các vector được chọn của các biến nội sinh ở mô hình (1), có tính đến thuộc tính chuỗi thời gian của dữ liệu Kiểm định nghiệm đơn vị ở các nước được xem xét là không có tính dừng (chỉ có lãi suất là
có tính dừng trong một vài trường hợp), trong khi kiểm định đồng liên kết Johansen chỉ cung cấp bằng chứng yếu về mối quan hệ cân bằng dài hạn có thể có giữa các biến
ở một số nước Với những đặc tính của dữ liệu, mô hình VAR lấy sai phân bậc một của các biến đại diện không dừng là mô hình kỹ thuật phù hợp- khác với mô hình Vector Error Correction (VECM) áp dụng khi xuất hiện đồng liên kết Tuy nhiên tác giả cũng lựa chọn xem xét những phân tích: (i) tập trung vào sự khác biệt giữa quan hệ ngắn hạn với các mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến và (ii) ở một vài nền kinh tế mới nổi, mẫu chỉ có thể thu thập trong một khoảng thời gian ngắn Một lựa chọn khả thi thay thế sẽ có được một mô hình VAR tại các cấp độ của biến Với sự xuất hiện của đồng liên kết, các phương pháp trước đây sẽ bị ảnh hưởng bởi các phi tham số và không hiệu quả VECM sẽ đưa đến ước lượng không phù hợp nếu các vector đồng liên kết sai được trình bày trong mô hình
Cụ thể hơn, sự khác biệt đầu tiên trong mô hình VAR là ở các biến không dừng bao
không đổi và biến giả tạm thời Chiều dài độ trễ của VAR của mỗi quốc gia được xác định bằng cách dựa vào các thông tin khác nhau như số lượng các kiểm định kỹ thuật Tiêu chuẩn thông tin được sử dụng để xác định độ trễ tối ưu nhưng quyết định cuối cùng thì dựa vào kiểm định kỹ thuật áp dụng cho các mô hình thay thế
Trong phần tiếp theo, đầu tiên tác giả thảo luận về các kết quả cho ERPT đối với giá
cả nội địa trong những nền kinh tế mới nổi và so sánh chúng đối với nền kinh tế tiên tiến Sau đó tác giả cố gắng thiết lập một mối quan hệ về mức độ ERPT giữa các quốc gia và một số yếu tố quyết định có thể bằng cách tính toán hệ số tương quan Cuối cùng tác giả kiểm tra độ mạnh của những kết quả bằng cách áp dụng hai mô hình xác định lựa chọn