Vì vậy, đây là dạng đầu tư được các nhà đầu tư và các định chế đầu tư ưa chuộng.Tuy nhiên, trong đầu tư trái phiếu, vẫn có thể gặp những rủi ro chủ yếu sau đây:- Rủi ro tài chính: là rủi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỆ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC -
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI
THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
GVHD: PGS.TS BÙI KIM YẾN LỚP: NH Đêm 1 – Khóa 22 –Nhóm 8 Danh sách nhóm:
Trang 2TP.HCM, Tháng 8/2013
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
M c l c ục lục ục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU 2
1 TRÁI PHIẾU 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Những đặc trưng của trái phiếu 2
1.3 Đặc điểm cơ bản của trái phiếu 3
1.4 Phân loại trái phiếu 4
1.5 Điều kiện phát hành trái phiếu ở Việt Nam 7
2 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU 9
2.1 Khái niệm 9
2.2 Phân loại thị trường trái phiếu 9
2.3 Vai trò của thị trường trái phiếu 11
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 14
1 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 14
1.1 Thị trường trái phiếu chính phủ 14
1.2 Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương: 22
1.3 Thị trường trái phiếu công ty 25
1.4 Trái phiếu quốc tế 28
2 ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 31
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM HIỆN NAY 33
Trang 51 GIẢI PHÁP CHUNG 33
Trang 62 GIẢI PHÁP RIÊNG 36
2.1 Đối với thị trường trái phiếu chính phủ 36
2.2 Đối với thị trường trái phiếu đô thị 37
2.3 Đối với thị trường trái phiếu công ty 40
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 7M Đ U Ở ĐẦU ẦU
Hiện nay các nhà kinh tế rất quan tâm đến cách huy động nguồn vốn cho các doanhnghiệp Việc huy động nguồn vốn trong và ngoài nước của Việt Nam đã đạt được kết quảhết sức khả quan Nếu như nguồn vốn trong nước, gồm nguồn vốn huy động từ dân cư,các tổ chức kinh tế… giữ vai trò chủ đạo thì nguồn vốn nước ngoài, gồm vốn FDI, ODA,FPI… là động lực và cơ sở để thay đổi công nghệ Tuy nhiên, việc huy động vốn trongnước cũng chưa thật sự mạnh, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn
Do đó, để đẩy nhanh việc huy động nguồn vốn dài hạn thì việc phát triển thị trườngvốn trong thời gian tới là rất cần thiết Đặc biệt là phát triển thị trường chứng khoán, kênhdẫn vốn quan trọng để phát triển nhanh nền kinh tế đất nước Thời gian trước đây, chúng
ta chỉ tập trung phát triển thị trường cổ phiếu mà chưa đặc biệt quan tâm đến việc pháttriển thị trường trái phiếu Tuy nhiên, thời gian gần đây, trái phiếu và thị trường trái phiếuđang dần trở thành một vấn đề rất được quan tâm trong nền kinh tế
Tính đến cuối tháng 6, thị trường trái phiếu Việt Nam đã tăng 26,8% so với cùng kỳnăm trước, đạt 27 tỷ USD, chủ yếu trên cơ sở sự tăng trưởng mạnh của thị trường tráiphiếu chính phủ Thị trường này đã tăng 34,3% so với cùng kỳ năm trước, đạt 26 tỷ USD.Trái lại, trái phiếu công ty đã giảm 55,5% xuống còn 800 triệu USD trong bối cảnh thịtrường gặp khó khăn
Trước những chuyển biến như vậy, Nhóm xin trình bày về đề tài “Thị trường trái phiếu Việt Nam” để tìm hiểu rõ hơn về trái phiếu cũng như thị trường trái phiếu ở Việt
Nam thời gian gần đây
Trang 8CH ƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI NG I: T NG QUAN V TRÁI PHI U VÀ TH TR ỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI Ề TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI ẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI Ị TRƯỜNG TRÁI ƯỜNG TRÁI NG TRÁI PHI U ẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI
1 TRÁI PHI U ẾU
1.1 Khái ni m ệm
Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành (chính phủhay doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lạivốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn Trên giấy chứng nhận nợ này cóghi mệnh giá của trái phiếu và tỷ suất lãi trái phiếu
Khác với cổ phiếu là một chứng khoán vốn, trái phiếu là một chứng khoán hứa nợ dàihạn của chủ thể phát hành - Người phát hành trái phiếu phải có nghĩa vụ trả lãi trái phiếu
và hoàn trả vốn gốc của trái phiếu cho chủ sở hữu của trái phiếu (trái chủ) khi đáo hạn Vìvậy, trái phiếu còn được gọi là chứng khoán nợ
1.2 Nh ng đ c tr ng c a trái phi u ững đặc trưng của trái phiếu ặc trưng của trái phiếu ưng của trái phiếu ủa trái phiếu ếu
- Mệnh giá: Mệnh giá là giá trị danh nghĩa của trái phiếu được ghi trên tờ trái phiếu.Mệnh giá trái phiếu là số vốn gốc mà trái chủ sẽ được nhận khi trái phiếu đến hạn
và mệnh giá của trái phiếu thường là bội số của một số tiền nhất định (ví dụ100.000VND hoặc 100 USD)
- Lãi suất định kỳ (coupon): chính là lợi tức mà trái chủ được hưởng định kỳ (quýhoặc năm) khi đầu tư vào trái phiếu, được biểu hiện bằng số % cụ thể Đối với một
số loại trái phiếu đặc thù như trái phiếu zero coupon thì không có lãi suất định kỳ,trái chủ hưởng lợi tức từ chênh lệch giữa giá mua trái phiếu và mệnh giá khi đáohạn
- Thời hạn: Trái phiếu thường có thời hạn đáo hạn cụ thể (5 năm, 10 năm,…) đượcghi rõ trên tờ trái phiếu Cũng có thể có loại trái phiếu vĩnh viễn, tức là không cóthời hạn đáo hạn, trái chủ mua trái phiếu này sẽ được hưởng lợi tức trái phiếu mãimãi từ chủ thế phát hành cho đến khi chủ thế phát hành không còn tồn tại nữa
Trang 9- Giá mua: Giá mua trái phiếu là khoản tiền thực tế mà người mua bỏ ra để có đượcquyền sở hữu trái phiếu Giá mua có thể bằng mệnh giá (Par value), có thể cao hơnmệnh giá (Premium) hoặc thấp hơn mệnh giá (Discount) Tuy nhiên, dù giá mua làloại giá nào thì tiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá trái phiếu Và đến ngàyđáo hạn, người nắm giữ trái phiếu sẽ được trả lại vốn gốc bằng với mệnh giá tráiphiếu.
- Quyền mua lại: đối với các loại trái phiếu có điều khoản chuộc lại (CallableBonds) cho phép tổ chức phát hành trái phiếu thu hồi trái phiếu và hoàn lại vốngốc với mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán Tổ chức phát hành sử dụngquyền này để bảo vệ họ không phải trả lãi suất cao hơn đối với số tiền mà họ vay
Tổ chức phát hành thu hồi trái phiếu khi tỷ lệ lãi suất trên thị trường thấp hơn lãisuất của trái phiếu của tổ chức phát hành đã phát hành trước đó và có thể pháthành trái phiếu mới với tỷ lệ lãi suất thấp hơn
1.3 Đ c đi m c b n c a trái phi u ặc trưng của trái phiếu ểm cơ bản của trái phiếu ơ bản của trái phiếu ản của trái phiếu ủa trái phiếu ếu
- Chủ thể phát hành không chỉ có công ty mà còn có Chính phủ hoặc chính quyềnđịa phương
- Nếu như người mua cổ phiếu của công ty, trong thực tế, là người mua một phầncông ty, là người chủ sở hữu công ty thì trái lại, người mua trái phiếu chỉ là ngườicho chủ thể phát hành vay tiền, là chủ nợ của chủ thể phát hành trái phiếu
- Nếu như thu nhập chủ yếu của chủ sở hữu cổ phiếu là cổ tức – phụ thuộc vào tìnhhình sản xuất kinh doanh của công ty, thì trái lại, thu nhập chủ yếu của trái phiếu
là tiền lãi – là khoản thu cố định, không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinhdoanh của người chủ phát hành
- Nếu như cổ phiếu là chứng khoán cung cấp cho người chủ sở hữu quyền truy đòicuối cùng đối với tài sản công ty, thì trái lại, trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậynếu công ty bị giải thể hay bị phá sản thì trước hết công ty ưu tiên trả nợ cho cáctrái chủ trước, sau đó còn lại mới phân chia cho các cổ đông
Trang 10Với những đặc điểm trên, trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổphiếu Vì vậy, đây là dạng đầu tư được các nhà đầu tư và các định chế đầu tư ưa chuộng.Tuy nhiên, trong đầu tư trái phiếu, vẫn có thể gặp những rủi ro chủ yếu sau đây:
- Rủi ro tài chính: là rủi ro về khả năng thanh toán, trong đó người phát hành tráiphiếu không đủ khả năng tài chính để hoàn trả đầy đủ, đúng hạn các khoản tiềnphải trả (vốn, lãi) như họ đã cam kết cho trái chủ
- Rủi ro lãi suất: lãi suất là yếu tố thường xuyên liên tục biến động, phản ánh nhữngthay đổi về tương quan cung cầu vốn tiền tệ, cung cấp tín dụng trên thị trường tàichính Cũng từ đó dẫn tới những thay đổi liên tục về tỷ suất sinh lời cần thiết củatrái phiếu Những thay đổi này đem lại rủi ro cho trái chủ và vì thế nó cần phảiđược bù đắp lại bằng những thay đổi về trị giá của trái phiếu
- Rủi ro thanh khoản: được hiểu là rủi ro về khả năng chuyển đổi trái phiếu thànhngân quỹ (tiền mặt) trên thị trường, bao gồm cả yếu tố thời gian và giá cả khichuyển đổi
- Rủi ro sức mua hay rủi ro do lạm phát gây ra: lạm phát gây nên sự thay đổi giá trị,sức mua của tiền tệ Từ đó gây nên những thiệt hại nhất định cho các NĐT tráiphiếu Lạm phát sẽ ảnh hưởng đến giá trị của các khoản tiền lời và vốn đầu tư tráiphiếu Lạm phát cũng ảnh hưởng đến sức mua trái phiếu trên thị trường
1.4 Phân lo i trái phi u ại trái phiếu ếu
1.4.1 Theo hình thức phát hành:
- Trái phiếu vô danh: Là loại trái phiếu không ghi tên người thụ hưởng, bất kỳ cánhân hoặc tổ chức nào nắm giữ trái phiếu sẽ là trái chủ và được hưởng mọi quyềnlợi do trái phiếu mang l
- Trái phiếu ký danh: Là trái phiếu có ghi tên cụ thể trái chủ trên tờ trái phiếu Chỉ
tổ chức/cá nhân đứng tên trên trái phiếu mới được hưởng mọi quyền lợi do tráiphiếu mang lại Tuy nhiên trái chủ có thể chuyển nhượng trái phiếu lại cho đốitượng khác bằng thủ tục ký hậu trái phiếu (thường được in ở mặt sau tờ trái phiếu)
Trang 111.4.2 Theo lợi tức
- Trái phiếu chiết khấu (Zero coupon bond): là loại trái phiếu hứa hẹn một sự chi trảmột lần tại thời điểm nhất định trong tương lai, người mua không được nhận mộtkhoản chi trả nào cho đến khi đáo hạn
- Trái phiếu trả lãi (Coupon bond): được định kỳ trả lãi
+ Trái phiếu có lãi suất ổn định (Level Coupon bond): là lãi suất không đổi, giữnguyên trong thời gian lưu hành của trái phiếu
+ Trái phiếu có lãi suất thả nổi (Floating rate bond): lãi suất trái phiếu sẽ đượcđiều chỉnh tăng giảm cùng với sự biến động của lãi suất thị trường
1.4.3 Theo chủ thể phát hành
- Trái phiếu chính phủ (Government Bonds) và chính quyền địa phương: Trái phiếuChính phủ hoặc chính quyền địa phương là chứng khoán nợ do chính phủ hoặcchính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp sự thiếu hụt ngân sách
và tài trợ các dự án xây dựng các cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi công cộngtrung ương và địa phương Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu an toàn nhất vì
có nguồn vốn ngân sách nhà nước làm đảm bảo Người mua trái phiếu chính phủthường được miễn thuế thu nhập Từ trước đến nay đã có nhiều tên gọi khác nhau
về trái phiếu chính phủ, như công trái, trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, tínphiếu kho bạc, kỳ phiếu kho bạc, hối phiếu kho bạc…Dù tên gọi thế nào, các loạinày đều là nợ của chính phủ, do chính phủ phát hành và được thanh toán bằngngân sách quốc gia
+ Trái phiếu kho bạc: là phiếu nợ trung, dài hạn từ 5 đến 30 năm hay hơn nữa, dokho bạc phát hành khi huy động vốn để bổ sung bù đắp ngân sách
+ Trái phiếu đô thị: là những trái phiếu do chính phủ hay chính quyền địaphương phát hành nhằm huy động vốn tài trợ cho các dự án đầu tư hạ tầng nhưxây dựng trường học, tu bổ phát triển đường sá, cầu cảng, sân bay…Kỳ hạntrái phiếu này là từ 10 đến 30 năm Các trái phiếu này thường được các ngân
Trang 12hàng mua khi phát hành, sau đó các ngân hàng tổ chức bán lại trên TTCK chocác công ty bảo hiểm, công ty tài chính, các người có tài sản lớn, thu nhập cao.
- Trái phiếu công ty (corporate bonds): do công ty phát hành với mục đích huy độngvốn để bổ sung vốn tạm thời thiếu hụt phục vụ cho đầu tư phát triển
+ Trái phiếu thu nhập (Income Bonds): là trái phiếu mà việc thanh toán lãi phụthuộc vào mức thu lợi hàng năm của công ty, loại trái phiếu này thường đượcphát hành khi công ty gặp khó khăn về tài chính hay cần huy động vốn đầu tưvào các dự án Tùy theo lợi nhuận công ty thu được sẽ trả cho lãi cho trái chủ,tuy nhiên, tỷ lệ lãi không lớn hơn lãi suất quy định trên trái phiếu Về mặt nàyloại trái phiếu này giống cổ phiếu ưu đãi nhưng nó khác ở chỗ tiền lãi trả chotrái phiếu thu nhập được khấu trừ thuế (trả thuế trước), còn đốn với cổ phiếu
ưu đãi thì không được khấu trừ (trả sau thuế)
+ Trái phiếu có thế chấp (Mortgage Bonds): Các công ty muốn phát hành tráiphiếu phải có thế chấp bằng tài sản hay chứng khoán Người nắm giữ trái phiếunày được bảo vệ ở một mức độ cao bằng chính tài sản thế chấp trong trườnghợp công ty phá sản
+ Trái phiếu không có thế chấp (Debenture): Một số các công ty lớn có tiếng tăm
và uy tín trên thị trường quốc nội và quốc ngoại có thể phát hành trái phiếu màkhông cần thế chấp Bởi vì chính uy tín của công ty ấy đã là một đảm bảo cógiá trị Nếu công ty bị phá sản, người cầm trái phiếu này sẽ được trả nợ sau cáctrái chủ có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, nhưng trước các cổ đông
+ Trái phiếu có thể chuyển đổi (Convertible Bonds): là loại trái phiếu có thểchuyển đổi thành cổ phiếu thường của công ty với giá của cổ phiếu được ấnđịnh trước gọi là giá chuyển đổi Đây là loại trái phiếu rất được ưa chuộng bởi
vì khi giá cổ phiếu tăng cao trên thị trường, người nắm giữ trái phiếu này sẽthực hiện việc chuyển đổi và thu được những món lợi nhuận do chệnh lệch giá.+ Trái phiếu có thể chuộc lại (Callable Bonds): trái phiếu này có kèm điều khoảnđược công ty chuộc lại sau một thời gian với giá chuộc lại thường cao hơn
Trang 13mệnh giá Nhà đầu tư có thể chọn lựa để chấp nhận sự chuộc lại của công tyhay không
+ Trái phiếu có lãi suất ổn định (Straight Bonds): là loại trái phiếu truyền thốngđược phát hành phổ biến ở tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới Vớiđặc điểm trả lãi suất ổn định và định kỳ thường 6 tháng hay 1 năm một lần, nóràng buộc doanh nghiệp nghĩa vụ phải trả lãi trong suốt thời gian lưu hành tráiphiếu
+ Trái phiếu có lãi suất thả nổi (Floating Rate Bonds): là loại trái phiếu mà lãisuất của nó được điều chỉnh theo sự thay đổi của lãi suất thị trường Đặc điểmnày đã đảm bảo được quyền lợi của nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp khithị trường tài chính tiền tệ không ổn định Thông thường cứ 6 tháng một lần,căn cứ vào lãi suất tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng lại điều chỉnh lãi suất tráiphiếu cho phù hợp
+ Trái phiếu chiết khấu (Zero Coupon Bonds): là loại trái phiếu không trả lãiđịnh kỳ Căn cứ vào lãi suất thị trường lúc phát hành để định ra giá của tráiphiếu, giá này rất thấp so với mệnh giá gọi là giá chiết khấu, nhưng khi đáohạn trái chủ lại được hoàn lại vốn gốc bằng với mệnh giá của trái phiếu
1.4.4 Theo thị trường phát hành
- Trái phiếu trong nước
- Trái phiếu quốc tế (Foreign Bonds): Chính phủ phát hành các chứng chỉ vay nợ(được gọi là trái phiếu quốc tế) ra thị trường vốn quốc tế, đây là hình thức vay vốntrực tiếp từ các nhà đầu tư quốc tế không phải qua các tổ chức trung gian (nhưngân hàng), do vậy chi phí đi vay sẽ ít hơn khi đi vay thương mại Đồng thời, khivay vốn dưới hình thức này, thì tính độc lập về tài chính của Chính phủ cũng lớnhơn, Chính phủ sẽ mở rộng chi tiêu ngân sách mà không ràng buộc vào các điềukiện về mục đích sử dụng vốn của người cho vay
1.5 Đi u ki n phát hành trái phi u Vi t Nam ều kiện phát hành trái phiếu ở Việt Nam ệm ếu ở Việt Nam ệm
* Đối với trái phiếu không chuyển đổi:
Trang 14- Doanh nghiệp có thời gian hoạt động tối thiểu là một (01) năm kể từ ngày doanhnghiệp chính thức đi vào hoạt động;
- Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành phải
có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc tổ chứckiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam Báo cáo tài chínhđược kiểm toán của doanh nghiệp phát hành phải là báo cáo kiểm toán nêu ý kiếnchấp nhận toàn phần Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước ngày
01 tháng 4 hàng năm chưa có báo cáo tài chính năm của năm liền kề được kiểmtoán thì phải có:
+ Báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh có lãi;
+ Báo cáo tài chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cólãi được kiểm toán (nếu có);
+ Báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
có lãi được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phêduyệt theo Điều lệ hoạt động của công ty
- Đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an toàntrong hoạt động đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại phápluật chuyên ngành;
- Có phương án phát hành trái phiếu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và chấpthuận
* Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền: doanhnghiệp phát hành ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định ở trên còn phải đápứng các điều kiện sau:
- Thuộc đối tượng được phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theochứng quyền;
- Đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam theoquy định của pháp luật hiện hành;
- Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu (06) tháng
Trang 152 TH TR Ị TRƯỜNG TRÁI PHIẾU ƯỜNG TRÁI PHIẾU NG TRÁI PHI U ẾU
2.1 Khái ni m ệm
Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chếchuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng củathị trường tài chính là cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế
2.2 Phân lo i th tr ại trái phiếu ị trường trái phiếu ưng của trái phiếuờng trái phiếu ng trái phi u ếu
Thị trường trái phiếu được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
* Thị trường sơ cấp
- Khái niệm: Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các trái phiếu mới phát hành.
Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thôngqua việc nhà đầu mua các trái phiếu mới phát hành
- Đặc điểm:
+ Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các trái phiếu đem lại vốn cho người pháthành Là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hànghóa cho thị trường giao dịch Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường sơcấp làm tăng vốn đầu tư
+ Những người bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp được xác định thường làKho bạc, Ngân hàng Nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh pháthành,
+ Thị trường sơ cấp chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khoán nhấtđịnh, trong thời gian hạn định
Trang 16- Khái niệm
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành trên thị trường sơcấp Là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu trái phiếu Thị trường thứ cấp đảm bảotính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành
- Đặc điểm
+ Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán trái phiếu thuộc vềcác nhà đầu tư và các nhà kinh doanh trái phiếu chứ không thuộc về nhà pháthành Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hànhtrái phiếu mà vận chuyển giữa những người đầu tư trái phiếu trên thị trường.Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường trái phiếu, gắn bóchặt chẽ với thị trường sơ cấp
+ Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ảnh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá tráiphiếu trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định
+ Thị trường thứ cấp là một thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thểmua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp
* Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
- Thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trườngthứ cấp vì đó là nơi cung cấp hàng hóa trái phiếu trên thị trường thứ cấp Không cóthị trường sơ cấp thì không thể có sự xuất hiện của thị trường thứ cấp Thị trườngthứ cấp là một loại thị trường đặc biệt, nó không thể ra đời chừng nào vẫn chưa cómột thị trường sơ cấp rộng rãi, vững chắc với nhiều loại trái phiếu đa dạng, phongphú, hấp dẫn nhiều nhà đầu và công chúng đến bỏ vốn ra để đầu tư trái phiếu
- Ngược lại, thị trường thứ cấp đến lượt nó là động lực, là điều kiện cho sự pháttriển của thị trường sơ cấp, vì một khi trái phiếu đã được phát hành ra trên thịtrường, nếu không có một thị trường thứ cấp để lưu hành, mua bán, trao đổi tạo ratính thanh khoản cho trái phiếu thì thật khó có thể thuyết phục nhà đầu tư bỏ tiền
ra mua trái phiếu
- Chính việc mua bán giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp làm cho lưu độnghóa vốn đầu tư, các nhà đầu tư có thể chuyển từ trái phiếu thành tiền mặt
Trang 17- Vốn khả dụng thanh khoản cao của trái phiếu mà tính chất năng động của thịtrường thứ cấp đã hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ tiền ra mua trái phiếu Điều này chính
là điều kiện cơ bản để các nhà phát hành trái phiếu có thể bán được trái phiếu trênthị trường sơ cấp và huy động được nguồn vốn lớn theo nhu cầu
2.3 Vai trò c a th tr ủa trái phiếu ị trường trái phiếu ưng của trái phiếuờng trái phiếu ng trái phi u ếu
* Đối với nền kinh tế
Thị trường trái phiếu là kênh huy động vốn nhanh chóng và hiệu quả Đây một bộphận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung cấpnguồn vốn trung,dài hạn cho nền kinh tế bằng khả năng huy động các nguồn vốn phântán, tạm thời nhàn rỗi trong toàn xã hội vào công cuộc đầu tư của nền kinh tế
* Đối với Chính phủ
- Phát hành trái phiếu là kênh huy động vốn của Chính phủ nhằm thực hiện các mụctiêu chính trị, kinh tế và xã hội như: tài trợ vốn cho các dự án đầu tư và bù đắpthiếu hụt ngân sách quốc gia
- Trái phiếu Chính phủ với đặc tính ít rủi ro nhất đã trở thành hàng hóa chủ đạo trênthị trường, lãi suất giao dịch hàng ngày của trái phiếu Chính phủ góp phần hìnhthành lãi suất chuẩn trên thị trường
- Trái phiếu Chính phủ góp phần làm ổn định môi trường tiền tệ, nâng cao hiệu quả
sử dụng các nguồn lực tài chính trong nước, nâng cao hiệu quả của việc phân phối
và tái phân phối nguồn lực tài chính, định hướng hoạt động đầu tư trong nền kinh
tế
- Thị trường trái phiếu thường có quy mô lớn và độ sâu nên thường hỗ trợ tốt hơnnhu cầu vốn đầu tư dài hạn trong nền kinh tế, góp phần tạo ra một cấu trúc thịtrường vốn vững chắc mà nó dựa trên cơ sở cân đối giữa thị trường vay nợ ngânhàng, thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu trong tương lai Thị trường tráiphiếu góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững, ổn định của thị trường vốn
Trang 18- Huy động vốn qua việc phát hành trái phiếu sẽ làm giảm sự tập trung vào hệ thốngngân hàng Đặc biệt là thị trường trái phiếu công ty vừa có thể huy động đượcnguồn vốn dồi dào từ xã hội vừa góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế xã hội
- Chi phí sử dụng vốn khi phát hành trái phiếu thấp hơn phát hành cổ phiếu, do đặcđiểm của trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu Việc đầu
tư vào cổ phiếu có mức độ rủi ro cao hơn so với đầu tư vào trái phiếu, do đó mức
bù rủi ro mà nhà đầu tư đòi hỏi đối với trái phiếu thấp hơn cổ phiếu
* Đối với nhà đầu tư
- Thị trường trái phiếu góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, cung cấpcho các nhà đầu tư ngày càng nhiều lựa chọn để đa dạng hóa danh mục đầu tư phùhơp với những khẩu vị rủi ro khác nhau Trái phiếu Chính phủ với độ an toàn caonhưng lãi suất không hấp dẫn bằng trái phiếu công ty Bên cạnh đó, đầu tư vào cổphiếu sẽ đem lại cho nhà đầu tư tỷ suất lợi nhuận cao hơn tương ứng với mức rủi
ro cao hơn Thị trường trái phiếu với các loại trái phiếu và kỳ hạn khác nhau tạothêm cho nhà đầu tư lựa chọn phương án đầu tư phù hợp
- Đối với nhà đầu tư trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu.Trái phiếu luôn có một thời hạn nhất định và khi đáo hạn trái chủ nhận lại vốn gópban đầu của mình Thu nhập chủ yếu của trái phiếu là tiền lãi, đây là khoản thu cốđịnh Khi đầu tư vào trái phiếu công ty, trái chủ nhận tiền lãi không phụ thuộc vàotình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát hành, đặc điểm này không
Trang 19giống với cổ đông chỉ nhận được cổ tức khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi Đây
là dạng đầu tư phù hợp với các nhà đầu tư không thích mạo hiểm
Trang 20CH ƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI NG II: TH C TR NG TH TR ỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT ẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT Ị TRƯỜNG TRÁI ƯỜNG TRÁI NG TRÁI PHI U VI T ẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI ỆT NAM
1 TH C TR NG TH TR ỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM ẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM Ị TRƯỜNG TRÁI PHIẾU ƯỜNG TRÁI PHIẾU NG TRÁI PHI U VI T NAM ẾU ỆT NAM
1.1 Th tr ị trường trái phiếu ưng của trái phiếuờng trái phiếu ng trái phi u chính ph ếu ủa trái phiếu
Trong suốt 10 năm qua, thị trường trái phiếu Chính phủ đã hình thành và phát triểnsong song với sự phát triển của thị trường cổ phiếu niêm yết, với các mốc lịch sử sau:
- Năm 2000, quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ theo nghị định 72/CP ngày
26/07/1994 được thay thế bằng nghị định 01/2000/NĐ-CP ngày 13/01/2000 banhành quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ Quy chế phát hành trái phiếu Chínhphủ đã đổi mới thể hiện qua việc áp dụng phương thức phát hành trái phiếu thôngqua đấu thầu qua thị trường giao dịch chứng khoán tập trung và bảo lãnh pháthành Bên cạnh đó còn quy định việc trái phiếu Chính phủ niêm yết, giao dịch trênthị trường chứng khoán và phân rõ trách nhiệm của các cơ quan có liên quan.Tháng 8/2000: TPCP lần đầu tiên được đưa vào giao dịch trên Trung tâm giaodịch chứng khoán Tp HCM (HOSE)
- Tháng 11/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 141/2003/NĐ-CP về việc phát
hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chínhquyền địa phương bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ trong phạm vi cả nước Tráiphiếu Chính phủ do Chính phủ phát hành bao gồm: Tín phiếu kho bạc, trái phiếukho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu ngoại tệ vàcông trái xây dựng Tổ quốc
- Tháng 8/2005, trái phiếu Chính phủ được đưa vào giao dịch trên Trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội Tuy nhiên đến thời điểm này rất nhiều phiên đấu thầuthất bại do nhiều nguyên nhân khác nhau mà lãi suất là một trong những nguyênnhân lớn
- Tháng 6/2006, Quyết định số 2276/QĐ-BTC về tập trung đấu thầu trái phiếu
Chính phủ tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và Quyết định46/2006/QĐ-BTC ban hành Quy chế về việc phát hành trái phiếu Chính phủ theo
Trang 21lô lớn Quyết định này quy định sẽ chỉ tập trung hoạt động đấu thầu trái phiếuChính phủ, bao gồm trái phiếu kho bạc và trái phiếu đầu tư tại Trung tâm Giaodịch Chứng khoán Hà Nội kể từ ngày 01/07/2006.
+ Chỉ sau 3 tháng kể từ ngày Quyết định này ra đời, Trung tâm Giao dịch Chứngkhoán Hà Nội đạt được những thành công bước đầu khi tổ chức thành công 4phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ theo kế hoạch huy động vốn của Kho bạcNhà nước, huy động được 1.200 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 5 năm, đạt 80% khốilượng gọi thầu; đã có 38 loại trái phiếu đăng ký giao dịch với tổng giá trị đạt7.027 tỷ đồng
+ 6 tháng đầu năm 2007 thông qua gần 30 phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủtại HASTC, đã huy động được 12.695 tỷ đồng cho ngân sách nhà nước Hơnnữa, lãi suất đấu thầu trái phiếu giảm dần (lần đầu tiên lãi suất trái phiếu Chínhphủ đã giảm xuống mức thấp hơn lãi suất ngân hàng, cụ thể lãi suất cơ bản vàongày 1/6/2007 là 8,25% theo Quyết định 1143/QĐ-NHNN ngày 29/5/2007,trong khi đó lãi suất trúng thầu trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm vào ngày11/6/2007 là 7,15%), dẫn đến lãi suất bảo lãnh phát hành cũng giảm
+ Tuy nhiên sự thành công đó cũng bắt đầu giảm dần khi tỷ lệ thành công các đợtđấu thầu giảm mạnh từ 99% quý 1 xuống còn 58,39% của quý III năm 2007 vàtiếp sau đó là sự thất bại của hàng loạt các đợt đấu thầu như lô 200 tỷ đồng kỳhạn 15 năm phát hành ngày 27/9/2007 của Ngân hàng Phát triển Việt Nam …nguyên nhân chính là do yếu tố lãi suất thấp, mặc dù độ rủi ro là thấp Nhiềungười đã lạc quan cho rằng “hoạt động đấu thầu loại chứng khoán này đangthực sự chuyển biến tích cực và ngày càng hiệu quả hơn”
+ Khối lượng phát hành của một lô lớn trái phiếu tối thiểu là 1.000 tỷ đồng Kỳhạn của trái phiếu lô lớn từ 5 năm trở lên Trái phiếu lô lớn được phát hànhtheo phương thức sau: đấu thầu trái phiếu hoặc bảo lãnh phát hành trái phiếu.Thời hạn phát hành của một lô lớn trái phiếu tối đa không quá 365 ngày
Trang 22- Tính đến 30/9/2007, đã có hơn 114.809 tỉ đồng trái phiếu được niêm yết giao dịch
trên Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM (HOSE) và Trung tâm Giao dịch Chứngkhoán Hà Nội (HASTC), tăng gấp hơn 104 lần so với giá trị niêm yết năm 2000
- Tháng 1/2008, Quyết định 86/2008/QĐ-BTC phê duyệt đề án xây dựng thị trường
TPCP chuyên biệt Đây được xem là mốc sự kiện quan trọng nhất vì đã đặt ra mụctiêu, lộ trình và xác định mô hình phát triển của Thị trường trái phiếu chính phủ
Đề án được xây dựng nhằm tạo ra một thị trường giao dịch trái phiếu chuyên biệt,tách hẳn khỏi thị trường giao dịch cổ phiếu
+ Hàng hóa giao dịch bao gồm các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chínhquyền địa phương, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh Tất cả các loại trái phiếugiao dịch trong hệ thống đều được lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu kýchứng khoán
+ Trái phiếu Chính phủ giao dịch sẽ được gán mã giao dịch và mã định danhriêng biệt để tạo thuận lợi cho hoạt động giao dịch và quản lý Phương thứcgiao dịch được áp dụng là thỏa thuận Thành viên có thể thực hiện giao dịchthỏa thuận từ xa thông qua hệ thống mạng máy tính nội bộ mở rộng
- Tháng 5/2008, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết định chuyển trái phiếu
Chính phủ từ sàn Tp.HCM sang niêm yết tại sàn Hà Nội
- Tháng 7/2008, Quyết định Số 46/2008/QĐ-BTC ban hành Quy chế quản lý giao
dịch trái phiếu Chính phủ tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
+ Quy chế này quy định về hoạt động đăng ký niêm yết, công bố thông tin, thànhviên giao dịch trái phiếu Chính phủ, giao dịch và quản lý giao dịch TPCP niêmyết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
+ Từ khoảng đầu năm 2008, liên tục diễn ra các cuộc đấu giá trái phiếu Chínhphủ không thành công, số lượng tham gia rất èo uột, thậm chí không có ai tham
dự Một thống kê cho thấy: trong 10 cuộc đấu giá từ tháng 3/2008 đến11/7/2008 thì chỉ có 11 đơn vị tham gia với tổng cộng 875 tỷ đồng được đăng
ký đấu so với trên 8.000 tỷ đồng gọi thầu 6 cuộc đấu giá chỉ có một đơn vịtham gia đấu giá và 9 cuộc đấu giá không có một trái phiếu nào được đấu thành
Trang 23công Từ đầu năm 2009 đến tháng 7/2009, các cuộc đấu thầu trái phiếu Chínhphủ cũng chịu chung số phận Thậm chí, từ đầu tháng 4 đến tháng 7, lãi suấttrần huy động trái phiếu Chính phủ tăng thêm đến 1,2 điểm phần trăm (từ 7,6%đến 8,8%), nhưng các cuộc đấu giá trái phiếu Chính phủ vẫn chưa thể tạo đượcsức hút đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, như sự thất bại của phiếnđấu thầu lô 500 tỷ đồng ngày 29/5/2009 của Công ty CP Đầu tư phát triểnđường cao tốc VN (VEC) …
- Tháng 9/2009, Hệ thống giao dịch Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính thức
được Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đưa vào vận hành và ra mắt vào ngày24/09/2009 tới với mục tiêu phát huy tối đa tầm quan trọng của kênh huy độngvốn này đối với nền kinh tế
+ Mục tiêu xây dựng và phát triển Thị trường trái phiếu Chính là mở rộng thịtrường, tăng cường tính thanh khoản trên thị trường trái phiếu Chính phủ, liênkết thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, và tăng cường công tác giám sát thịtrường
+ Sự ra đời của thị trường này được kỳ vọng không chỉ là một kênh dẫn vốn hữuhiệu của nền kinh tế mà còn làm đa dạng hóa các công cụ đầu tư trên thị trườngvốn Đồng thời, thị trường trái phiếu Chính phủ còn giúp tăng cường sự độc lậptrong điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương thông quamua bán trái phiếu Chính phủ, tác động trực tiếp đến lượng cung tiền và cácbiến số kinh tế vĩ mô
+ Sau một năm chính thức đi vào hoạt động, thị trường trái phiếu chuyên biệt đã
có những bước tiến mới, đó là thực hiện lưu ký tập trung tại Sở Giao dịchChứng khoán Hà Nội chứ không thực hiện một cách rải rác trên nhiều thịtrường Hơn nữa, nhờ yêu cầu khắt khe đối với các thành viên tham gia thịtrường về các yếu tố trang thiết bị, chất lượng nhân sự, các bên tham gia thịtrường có thể yên tâm về tính an toàn khi giao dịch Các cơ chế dành cho giaodịch REPO rất hạn chế Trong giai đoạn 2010 – 2015 thị trường sẽ có thêmgiao dịch option, future và giao dịch corporation để đưa các trái phiếu doanh
Trang 24nghiệp vào giao dịch.
- Năm 2010, thị trường trái phiếu Chính phủ tiếp tục ảm đạm, như đợt đấu thầu cho
lô 3.000 tỷ đồng, kỳ hạn 2 năm tổ chức lần 1 vào ngày 25/1/2010 đã thất bại vàphiên đấu thầu thứ 2 vào ngày 24/3/2010 cũng chỉ bán được 3,33% tổng khốilượng chào bán Tuy nhiên, tổng giá trị giao dịch đạt trên 81.000 tỷ đồng, bìnhquân mỗi phiên giao dịch đạt 340 tỷ đồng Người mua trái phiếu Chính phủ: Chủyếu là các nhà đầu tư trong nước, đặc biệt là các NHTM, với 2 lý do chủ yếu là: + Thứ nhất, các đầu tư nước ngoài chưa quay trở lại thị trường do có sự quanngại nhất định về sự sụt giảm giá trị của VND so với USD
+ Thứ hai, nhu cầu mua trái phiếu Chính phủ tăng mạnh của khối các tổ chức tíndụng trong nước do: bối cảnh chính sách tiền tệ mở rộng giai đoạn giữa nămlàm gia tăng áp lực dư thừa vốn; Thông tư 13 và Thông tư 19 buộc các tổ chứctín dụng phải tăng cường đầu tư vào trái phiếu Chính phủ; các NHTM tích cựctham gia mua trái phiếu Chính phủ do chênh lệch lãi suất khá hấp dẫn giữa thịtrường mở (OMO) và huy động từ thị trường 1; một lượng khá lớn trái phiếuChính phủ đáo hạn trong năm 2010, phần lớn là tại các NHTM, nên cácNHTM tiếp tục mua lại và nắm giữ trái phiếu Chính phủ
- Năm 2011
+ Tổng giá trị giao dịch chỉ đạt trên 73.000 tỷ đồng, bình quân 280 tỷđồng/phiên Giá trị giao dịch trái phiếu chính phủ trong năm 2011 lại giảm sovới 2010 (tốc độ giảm là 9,88%) Nguyên nhân sự sụt giảm TPCP 2011 do tácđộng từ khủng hoảng nợ công châu Âu, suy thoái kinh tế Mỹ, lạm phát cao ởnhiều nước châu Á, cùng với một lượng lớn trái phiếu chính phủ đã đến hạn(hơn 50.000 tỷ đồng), bội chi ngân sách… gây áp lực lên nguồn cung trái phiếuchính phủ ở thị trường sơ cấp; lạm phát cao và chính sách tiền tệ thắt chặt đãhạn chế sự tham gia của các nhà đầu tư
+ Tổng khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành thành công đạt 65.903,8 tỷđồng, đạt 77,5% kế hoạch năm Khối lượng trái phiếu phát hành thành côngnhiều nhất thuộc kỳ hạn 3 năm (30.117,1 tỷ đồng) và 5 năm (22.678,5 tỷ
Trang 25đồng) Khối lượng trái phiếu chính phủ bảo lãnh phát hành thành công đạt14.957 tỷ đồng, trong đó, khối lượng trúng thầu kỳ hạn 3 năm và 5 năm đạt lầnlượt 5.742 tỷ đồng và 4.770 tỷ đồng
Biểu đồ: Khối lượng trái phiếu Chính phủ đã phát hành năm 2011
- Năm 2012, huy động và phát hành trái phiếu chính phủ đạt kỷ lục kể từ khi thị
trường này được Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội vận hành chính thức ngày24/9/2009
+ Trên thị trường sơ cấp, tính đến cuối tháng 12/2012 đã huy động đạt gần