1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận phân tích tình hình MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG

49 851 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Luật Doanh nghiệp lại không đề cập đến hoạt động mua bán doanh nghiệp mà được nhắc đến trong Luật Cạnh tranh ngày 03 tháng 12 năm 2004: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh ngh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC KHOA NGÂN HÀNG

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về sáp nhập và mua lại

Trang 3

Tại Việt Nam khái niệm sáp nhập, mua lại và hợp nhất được định nghĩa như sau:

Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định:

Sáp nhập doanh nghiệp: “Một hoặc một số công ty cùng loại có thể sáp nhập vào một

công ty khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công

ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập” (Điều 153)

Hợp nhất doanh nghiệp: “Hai hoặc một số công ty cùng loại có thể hợp nhất thành

một công ty mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sangcông ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất” (Điều 152)

Trong Luật Doanh nghiệp lại không đề cập đến hoạt động mua bán doanh nghiệp mà

được nhắc đến trong Luật Cạnh tranh ngày 03 tháng 12 năm 2004:

“Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” (Ðiều 17)

Theo Thông tư Số: 04/2010/TT-NHNN Quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng có định nghĩa

Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi

là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là tổchức tín dụng nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợppháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng

bị sáp nhập

Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi

là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới (sau đây gọi là tổchức tín dụng hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp phápsang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợpnhất

Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín

dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng

Trang 4

khác (tổ chức tín dụng bị mua lại) Sau khi mua lại, tổ chức tín dụng bị mua lại trở thành công

ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại

Như thế để có một thương vụ sáp nhập, mua lại hay hợp nhất là các doanh nghiệp phảicùng loại hình và có sự chấm dứt hoạt động kinh doanh của một hoặc cả các bên tham gia.Cùng với các quy định về việc thành lập doanh nghiệp mới, việc chuyển toàn bộ tài sản,quyền, nghĩa vụ và lợi ích, ta có cơ sở để xác định hình thức chính xác một thương vụ

1.2 Phân loại sáp nhập và mua lại

a Phân loại sáp nhập

Dựa trên mức độ liên hệ giữa hai tổ chức

 Sáp nhập theo chiều ngang

Là sự sáp nhập giữa các công ty cạnh tranh trực tiếp về cùng lĩnh vực kinh doanh vàcùng thị trường Công ty bị sáp nhập là đối thủ cạnh tranh trước đây Đây là loại hình sáp nhậpchiếm tỷ trọng lớn nhất Kết quả từ sự sáp nhập theo dạng này sẽ đem lại cho bên sáp nhập cơhội mở rộng thị trường, kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệthống phân phối và hậu cần Do vậy, khi hai đối thủ cạnh tranh trên thương trường kết hợp lạivới nhau thì họ không những làm giảm bớt cho mình một đối thủ mà còn tạo nên một sứcmạnh lớn hơn để đương đầu với các đối thủ còn lại Đa số các vụ sáp nhập theo chiều ngangdiễn ra trong các ngành ôtô, dược, viễn thông, dầu khí, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…

 Sáp nhập theo chiều dọc Sáp nhập theo chiều dọc diễn ra giữa các công ty nằm ở những giai đoạn khác nhau củamột quy trình sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ hay là khách hàng của nhau Các công ty sápnhập theo chiều dọc có quan hệ người mua-người bán với nhau Một công ty có thể sáp nhậpvới một công ty là nhà cung cấp của nó, gọi là sáp nhập lùi (backward merger), hoặc một công

ty có quan hệ thân cận trong hệ thống phân phối sản phẩm đến nguời tiêu dùng, gọi là sápnhập tiến (forward merger) Sáp nhập lùi diễn ra khi một nhà sản xuất tìm được nhà cung cấpnguyên vật liệu với chi phí thấp, còn sáp nhập tiến diễn ra khi một nhà cung cấp nguyên vậtliệu, thành phẩm hay dịch vụ tìm được công ty mua sản phẩm dịch vụ của mình một cáchthường xuyên Sáp nhập theo chiều dọc đem lại cho công ty tiến hành sáp nhập lợi thế về đảm

Trang 5

bảo và kiểm soát chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khốngchế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh

 Sáp nhập tổ hợp Sáp nhập tổ hợp là trường hợp xảy ra đối với các công ty hoạt động ở các lĩnh vực,ngành nghề kinh doanh không liên quan tới nhau, không có quan hệ người mua - người bán vàcũng chẳng phải là đối thủ cạnh tranh của nhau Nói cách khác, nếu một cuộc sáp nhập khôngrơi vào hai trường hợp sáp nhập theo chiều dọc hoặc sáp nhập theo chiều ngang thì đó là sápnhập tổ hợp

Những công ty theo đuổi chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ sẽ lựa chọnchiến lược liên kết thành lập tập đoàn

 Dựa trên phạm vi lãnh thổ

 Sáp nhập trong nước Đây là những thương vụ sáp nhập, mua lại giữa các công ty trong cùng lãnh thổ mộtquốc gia

 Sáp nhập xuyên biên Được thực hiện giữa các công ty thuộc hai quốc gia khác nhau, là một trong những hìnhthức đầu tư trực tiếp phổ biến nhất hiện nay

b Phân loại mua lại

Mua lại mang tính thù nghịch

Là một hoạt động mà không được sự ủng hộ của công ty bị mua lại Việc mua lại cóthể ảnh hưởng xấu đến công ty bị mua lại và đôi khi gây tổn hại đến cả bên mua lại Hoạt độngnày diễn ra khi công ty mua lại thực hiện việc mua lại cổ phiếu của công ty bị mua lại thôngqua phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn, mua gom dần cổ phiếu trên thị trường, và cácphương thức khác khi mà không đạt được sự đồng thuận hay biết trước của ban điều hànhcông ty bị mua lại Cổ đông của công ty bị mua lại được trả tiền hoặc hoán đổi cổ phiếu vàhoàn toàn mất quyền kiểm soát công ty

Trang 6

Mua lại có thiện chí

Là một hoạt động mà được ban quản lý của công ty bị mua lại đồng ý và ủng hộ trên cơ

sở thương lượng giữa hai bên Việc mua lại đó có thể bắt nguồn từ lợi ích chung của cả haibên

1.3 Các phương thức thực hiện sáp nhập và mua lại ngân hàng

a Thương lượng tự nguyện

Đây là cách thực hiện khá chủ yếu trong các thương vụ sáp nhập và mua lại ngân hàng.Khi cả hai ngân hàng đều nhận thấy lợi ích chung tiềm tàng của thương vụ sáp nhập hoặc họ

dự đoán được tiềm năng phát triển vượt trội của ngân hàng sáp nhập ban điều hành sẽ ngồi lạivới nhau để thương thảo hợp đồng sáp nhập Có những ngân hàng nhỏ và yếu trong thời kỳkhủng hoảng của nền kinh tế đã tự động tìm đến các ngân hàng lớn hơn để đề nghị sáp nhậpvới nhau tạo thành ngân hàng lớn hơn, mạnh hơn đủ sức vượt qua những khó khăn của thời kỳkhủng hoảng và nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng lớn hơn

b Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

Việc mua lại bắt nguồn từ ngân hàng lớn hơn hoặc từ đối thủ cạnh tranh, ngân hàng có

ý định mua lại tiến hành thu gom dần cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc nhận chuyểnnhượng của các nhà đầu tư chiến lược, các cổ đông nhỏ lẻ Khi việc thu gom cổ phiếu củangân hàng mục tiệu đủ khối lượng cần thiết để triệu tập cuộc họp đại hội đồng cổ đông bấtthường thì ngân hàng thu mua yêu cầu họp và đề ngị mua hết số cổ phiếu còn lại của các cổđông Cách thức này đòi hỏi thời gian dài, hơn nữa nếu để lộ ý định ra bên ngoài thì giá cổphiếu của ngân hàng mục tiêu sẽ có thể tăng vọt trên thị trường Ngược lại, nếu cách thức nàydiễn ra dần dần và trôi chảy, ngân hàng mua lại có thể đạt được mục tiêu của mình một cách

êm thấm mà không gây xáo động lớn cho ngân hàng mục tiêu, trong khi đó chỉ phải trả mộtmức giá thấp hơn cách thức chào thầu rất nhiều

c Chào thầu

Ngân hàng hoặc cá nhân hoặc nhóm nhà đầu tư có ý định mua lại toàn bộ ngân hàngmục tiêu đề nghị cổ đông hiện hữu của ngân hàng này bán lại cổ phiếu của họ với giá cao hơn

Trang 7

giá thị trường rất nhiều Giá chào thầu đó có đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc từ bỏquyền sở hữu cũng như quản lý ngân hàng mình.

Hình thức chào thầu thường áp dụng trong các vụ thôn tính mang tính thù địch đối thủcạnh tranh Ngân hàng mục tiêu thường là ngân hàng yếu hơn Tuy vậy, vẫn có một số trườnghợp một ngân hàng nhỏ nuốt được một đối thủ nặng ký hơn, đó là khi họ huy động đượcnguồn tài chính khổng lồ từ bên ngoài để thực hiên được vụ thôn tính Các ngân hàng mua lạitheo hình thức này thường huy động tiền bằng cách:

d Mua tài sản

Phương thức này cũng gần tương tự như phương thức chào thầu Ngân hàng thu mua cóthể đơn phương hoặc cùng ngân hàng mục tiêu định giá tài sản của ngân hàng đó (họ thườngtham khảo giá của công ty tư vấn định giá tài sản độc lập chuyên nghiệp thực hiện) Sau đó cácbên sẽ thương thảo để đưa ra các mức giá phù hợp (có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức giá màcông ty tư vấn định giá tài sản chuyên nghiệp) Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặthoặc nợ Điểm hạn chế của phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, thị phần,

hệ thống khách hang nhân sự, văn hóa daonh nghiệp rất khó được định giá và được các bênthống nhất

Trang 8

e Lôi kéo cổ đông bất mãn

Phương thức này cũng thường được sử dụng trong các thương vụ thôn tính mang tínhthù địch Khi lâm vào tình cảnh kinh doanh yếu kém và thua lỗ, luôn có một bộ phận khôngnhỏ cổ đông bất mãn và muốn thay đổi ban quản trị và điều hành ngân hàng mình Ngân hàng

có lợi thế cạnh tranh có thể lợi dụng tình hình này để lôi kéo bộ phận cổ đông đó Trước tiênthông qua thị trường, họ sẽ mua một số lượng cổ phần tương đối lớn (nhưng chưa đủ chi phối)

cổ phiếu trên thị trường để trở thành cổ đông của ngân hàng mục tiêu Sauk hi nhận được sựủng hộ, họ và các cổ đông bất mãn sẽ triệu tập cuộc họp đại hội đồng cổ đông, hội đủ số lượng

cổ phần chi phối để loại bỏ ban quản trị cũ và bầu đại diện ngân hàng thu mua vào hội đồngquản trị mới Cảnh giác với hình thức thôn tính này, ban quản trị có thể sắp đặt các nhiệm kỳcủa ban điều hành và ban quản trị xen kẽ nhau ngày từ trong điều lệ ngân hàng Bởi vì mụcđích cuối cùng của ngân hàng thu mua và cổ đông bất mãn là thay đổi ban điều hành

1.4 Sáp nhập và mua lại các ngân hàng trên thế giới và các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

a Sáp nhập và mua lại ngân hang trên thế giới

Xem xét các lĩnh vực thực hiện sáp nhập và mua lại (M&A), có thể nói ngân hàng làngành có hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) diễn ra sôi động nhất Đầu tiên phải kể đếnhai đại gia ngân hàng, ABN Amro của Hà Lan và  Barclays PLC của Anh Hai đại gia này đãchính thức sáp nhập với nhau với trị giá hơn 91 tỷ USD Đây được coi là thương vụ sáp nhậplớn chưa từng thấy trong lịch sử ngành ngân hàng châu Âu nói riêng và trong ngành côngnghiệp tài chính toàn cầu nói chung Theo thoả thuận sáp nhập này, tập đoàn mới có tên gọiBarclays PLC, có đặt trụ sở chính đặt tại Amsterdam (Hà Lan) có khoảng 47 triệu khách hàngtrên toàn cầu với ban điều hành mới gồm 10 thành viên từ Barclays và 9 thành viên từ ABNAmro Điều này cũng có nghĩa Barclays sáp nhập với ABN Amro sẽ tạo ra một trong nhữngtập đoàn ngân hàng lớn nhất thế giới tính theo số vốn thị trường Không dừng lại ở đó, ngânhàng ABN Amro còn tiếp tục sáp nhập với Liên minh Ngân hàng Hoàng gia Scotland RBS,Stantander của Tây Ban Nha và Fortis của Bỉ - Hà Lan Thương vụ này có tổng giá trị 101 tỷUSD Tiếp đến là Unicredit SPA - một ngân hàng nổi tiếng bậc nhất của Italia đã mua lại cácngân hàng Societe Generale SA và Capitalia SpA gây xôn xao dư luận

Tại khối ngành ngân hàng Mỹ, tham vọng đứng đầu ngành ngân hàng nội địa của Mỹ làđộng lực khiến Bank of America mua lại Merrill Lynch với giá 50 tỷ USD Cuộc sáp nhập này

Trang 9

đã cho ra đời tập đoàn tài chính hùng mạnh nhất thế giới Theo đó, Bank of America đã trởthành ngân hàng thương mại lớn nhất tại Mỹ tính theo lượng tiền gửi và lượng vốn hóa thịtrường và là ngân hàng thành viên thuộc tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC) Qua đây,Bank of America thu tới 90% lợi nhuận từ thị trường nội địa nước Mỹ Trước đó, với mục tiêuchính của là luôn đứng đầu tại ngành ngân hàng nội địa Mỹ, Bank of America đã thông quahàng loạt thương vụ thâu tóm trong đó có việc mua lại chi nhánh ngân hàng ABN Amro tạiBắc Mỹ và tập đoàn ngân hàng tài chính Lasalle với trị giá 21 tỷ đô la Mỹ, mua lại đại gia thẻtín dụng MBNA với giá 35 tỷ

Bên cạnh đại gia Bank of America, thương vụ mua lại của Wells-Fargo với ngân hàngWachovia với giá trị 15,1 tỷ đô la Mỹ cũng là một thương vụ M&A đình đám trên thế giới.Sau khi vượt qua được đối thủ Citigroup trong thương vụ cạnh tranh mua lại Wachovia, WellsFargo đã nâng tầm của mình lên ngang hàng với các đối thủ ngân hàng lớn khác tại Mỹ như JPMorgan Chase và Bank of America Theo đó, ngân hàng này sẽ có tài sản 1.420 tỷ đô la và trởthành ngân hàng lớn thứ ba của Mỹ

Ở châu á, thương vụ M&A tiêu biểu có thể phải kể đến sự ra đời của Mitsubishi UFJFinancial group là kết quả của sự sáp nhập giữa hai ngân hàng UFJ Holding và MitsubishiTokyo Financial group Đại ngân hàng này đã chính thức được thành lập và đi vào hoạt độngvào 01/10/2005 Mitsubishi UFJ Financial group giờ đã trở thành một trong những tập đoàn tàichính hùng mạnh nhất thế giới có số vốn lên tới 1.770 tỷ USD với 40 triệu khách hàng, vượtqua ngân hàng Citigroup của Mỹ về giá trị tài sản Các nhà phân tích cho rằng việc sáp nhậpnày thể hiện sự hồi phục của ngành ngân hàng Nhật Bản sau thời gian nợ nần chồng chất

Ngoài ra thương vụ sàn giao dịch chứng khoán New York NYSE (Mỹ) đã muaEuronext với giá 14,3 tỷ USDI hay hai công ty bảo hiểm nhân thọ hàng đầu tại Anh làResolution và Friends Provident cũng sáp nhập lại với nhau với trị giá 8,3 tỷ bảng Anh cũng lànhững vụ mua lại và sáp nhập nổi tiếng khác trên thị trường tài chính thế giới

Nhìn chung, các thương vụ M&A của các ngân hàng tiêu biểu trên thế giới đều đem lạihiệu quả tốt, giúp các định chế tài chính vượt qua được khó khăn và nâng tầm hoạt động củamình lên các vị thế mới Tuy nhiên có thể thấy được rằng, sự thành công của các thương vụM&A trên được quyết định rất lớn bởi trình độ quản lý, kinh nghiệm hoạt động, sự minh bạch

rõ ràng của hệ thống luật pháp cũng như các chính sách mà ngân hàng trung ương ở các nướcnày thực hiện Đây cũng chính là các yếu tố mà các quốc gia đang phát triển như Việt Namcần lưu ý khi thực hiện M&A ngân hàng

Trang 10

b Những nghiên cứu trước về sáp nhập và mua lại ngân hàng

Thực trạng M&A trong lĩnh vực Ngân hàng tại Việt Nam hiện nay – Trường hợp của 3 ngân hàng Đệ Nhất –Tín Nghĩa – Sài Gòn (Nguyễn Thị Hải Yến - Đại học kinh tế TP.HCM)

Nghiên cứu cho thấy giá trị của các thương vụ M&A tại Việt Nam còn khá khiêmtốn, hình thức thực hiện tương đối đơn giản và nguồn nhân thực phục vụ cho thị trường M&Acòn thiếu và yếu

Nghiên cứu cũng khẳng định thương vụ M&A của 3 ngân hàng Đệ nhất - Tín Nghĩa

- Sài Gòn là một thương vụ thành công, đưa SCB cân bằng trở lại trong hoạt động và nângngân hàng lên một tầm cao mới, sánh ngang với các ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầuhiện nay

Mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam từ góc nhìn của bên thực hiện giao dịch (KPMG)

Nghiên cứu chỉ ra rằng xu hướng M&A sắp tới tại Việt Nam sẽ phát triển mạnhtrong lĩnh vực thực phẩm đồ uống và ngành hàng tiêu dùng nhanh, lĩnh vực ngân hàng sẽ vẫntiếp tục có các thương vụ M&A nhưng sẽ tiến triển chậm hơn so với dự định của chính phủ

Giải pháp vĩ mô góp phần hỗ trợ thúc đẩy hoạt động M&A tại các NHTMVN (TS Nguyễn Thị Loan- Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM)

Nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đangtrong tình trạng vốn thấp, quy mô tài sản cũng còn rất nhỏ, dịch vụ sản phẩm ngân hàng nghèonàn, chủ yếu chỉ thực hiện nghiệp vụ kinh doanh truyền thống là tín dụng, năng lực cạnh tranhkém Cộng thêm quy định về vốn tự có tối thiểu của ngân hàng nhà nước, xu thế M&A của hệthống ngân hàng thương mại Việt Nam là xu hướng tất yếu

Nghiên cứu còn chỉ ra rằng mục tiêu chính của ngân hàng nhà nước trong việckhuyến khích M&A các ngân hàng nhằm nâng cao năng lực quản trị và nâng cao năng lực tàichính của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Trang 11

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp ở tầm vĩ mô nhằm thúc đẩy hoạt động M&Atại Việt Nam như hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao vai trò của ngân hàng nhà nước Việtnam trong định hướng và lộ trình thúc đẩy hoạt động M&A ngân hàng.

M&A ngân hàng: mua lại các năng lực cần thiết (Ms Nguyễn Tùng Giang - Giám đốc các bộ phận kinh doanh toàn cầu - IBM Việt Nam)

Bài viết đề cập đến nhận định của Ms Nguyễn Tùng Giang về kinh nghiệm để thựchiện M&A thành công Theo nhận định của bà, để M&A thành công thì ngân hàng cần phải cóchiến lược rõ ràng và thu thập thông tin đầy đủ để đánh giá các cơ hội và thách thức gặp phảikhi M&A, thực hiện M&A phải đi kèm tìm cơ hội tiềm ẩn, thẩm định kỹ càng trước M&A,tăng cường chiến lược tích hợp, phát triển năng lực về quản trị và giám sát

M&A và yếu tố văn hóa(Ths Trịnh Thị Phan Lan, Ths Nguyễn Thùy Linh - Đại học quốc gia Hà Nội)

Nghiên cứu chỉ ra rằng, yếu tố văn hóa là một yếu tố rất quan trọng trong việc quyếtđịnh thành bại của một thương vụ M&A và việc dung hòa văn hóa các tổ chức sau M&A sẽ lànhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức đó

Mua bán và sáp nhập: con đường để các doanh nghiệp Việt Nam phát triển (Nguyễn Thị Ngọc Dung - Khoa kinh tế - Đại học Đông Á)

Nghiên cứu chỉ ra rằng M&A ở Việt Nam đang diễn ra rất sôi động trong thời gianvừa qua Những hiệu quả tích cực mà M&A mang lại và quan trọng nhất, nghiên cứu chỉ ramột số rào cản trong M&A ở Việt Nam như tư duy và văn hóa, tính minh bạch và trung thực,

hệ thống pháp lý tại Việt Nam, vấn đề về định giá doanh nghiệp, vấn đề về nguồn vốn tài trợM&A

c Những bài học kinh nghiệm trong hoạt động sáp nhập và mua lại NHTM ở các nước trên thế giới và các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

 Cần có thông tin và kinh nghiệm cần thiết để nhận diện bên mua tiềm năng

Bên bán cần thực hiện nhận một cách cụ thể bên mua tiềm năng một cách đầy đủ trướckhi thực hiện hoạt động sáp nhập và mua lại Cần xác định bên mua về khả năng tài chính, kếhoạch đầu tư, có mục tiêu và thoái đầu tư cụ thể, có kinh nghiệm chuyên môn, có lượng thông

Trang 12

tin thị trường và các phân tích cần thiết Bên bán tham gia vào tiến trình giao dịch một cách tựtin và thực hiện các bước công đoạn hiệu quả nhất Hơn thế nữa bên bán sẽ có được sự kiểmsoát rủi ro tốt hơn từ phía mình.

Không hiếm khi ngay sau khi thông báo về kế hoạch mua, giá cổ phiếu của công ty bắtđầu giảm xuống Đây là thước đo cho thấy rằng thị trường coi việc sáp nhập là sai lầm

Các bên cũng cần cẩn trọng với sáp nhập với công ty ngang hang vì khi đó sẽ có nhiềutrở ngại khi một bên phải chấp nhận các hành động, chính sách hay con người của bên kia

 Có một kế hoạch hợp lý cho việc sáp nhập và mua lại để tận dụng cơ hội khi thực hiện giao dịch

Ngoại trừ một số bên bán tiềm năng có được sự tư vấn ngay từ đầu, không ít bên bántrước khi đi tới quyết định về giao dịch, ra sức củng cố công ty mình với hy vọng tài sản hayvốn sẽ được mua với giá cao hơn và giao dịch được thực hiện thuận lợi hơn Điều này là cầnthiết để hướng công ty tới một vị thế giá trị mới hay nói cách khác, công ty sẽ có một nền tảngđịnh giá tốt hơn Tuy nhiên những cải thiện và thay đổi thường cần nhiều thời gian để thànhcông Trong khi đó, cơ hội nắm bắt được bên mua tiềm năng không phải quá nhiều

Bên bán cần có một kế hoạch khi muốn thực hiện một giao dịch và phân bố các côngviệc cần làm trong từng thời gian cụ thể, xác định những việc cần thực hiện, bỏ qua nhữngcông việc không thực sự cần thiết để tận dụng thời điểm kiếm được bên mua tiềm năng

 Cần sử dụng đội ngũ tư vấn và có tính hợp tác để có một mức giá hợp lý cho cả hai bên mua và bán

Định giá về lý thuyết, được xem là cơ sở lý luận cần thiết để xúc tiến một giao dịch tàichính Tuy nhiên tùy vào tình hình thị trường mà ảnh hưởng của kết quả định giá có thể đượcxem xét ở các mức độ quan trọng khác nhau

Không tồn tại phương pháp tài chính hoàn hảo nào tính toán lợi ích việc sáp nhập.Phương pháp quy đổi dòng tiền tương lai thường hay được sử dụng nhưng phức tạp và đôi khikhông chính xác Ngoài ra, còn những sai lầm trong công tác đánh giá tài sản và các khoản nợ

Nếu các thỏa thuận chịu nhiều sức ép lơn khi phải cạnh tranh với nhiều đối thủ kháccũng muốn mua lại thường bên mua bắt đầu nhượng bộ Đến khi các thỏa thuận được hoàn tất,

Trang 13

bên bán bỗng nhiên có nhiều lợi ích và quyền hạn, giá của người chiến thắng thường cao hơn

so với giá thực tế

Về mặt lý thuyết, hiệu quả đạt được trong M&A là do sự tiết kiệm nhờ quy mô Tuynhiên, trên thực tế đôi khi ngược lại: điều hành một tập đoàn lớn với nhiều chi nhánh lại phứctạp hơn, và như vậy, đội ngũ cán bộ quản lý lại lớn và cồng kềnh hơn

 Tìm hiểu kỹ vấn đề pháp lý trước khi thực hiện giao dịch

Khi tiến hành sáp nhập, bên mua phải đối mặt với những vấn đề khá phức tạp như cácquy định của luật pháp về độc quyền, thuế, kế toán, chuyển đổi tài sản, trách nhiệm giải quyếtcác khoản nợ chưa thanh toán, phân chia lợi nhuận, tính toán các vấn đề hậu sáp nhập làm saocho giá trị ngân hàng ngày càng tăng để hấp dẫn nhà đầu tư Nếu không phân tích kỹ các vấn

đề trên và các yếu tố pháp lý đi kèm thì nguy cơ thất bại cao

Một số nước, khi sáp nhập các công ty có tổng giá trị tài sản lớn hoặc chiếm một thị phần lớnsau khi sáp nhập thì cần phải có sự đồng ý của chính phủ do luật về chống độc quyền Nếu nhưcông ty vi phạm quy định này, nó sẽ bị xử phạt Ngoài ra, chính phủ có thể đưa ra nhữngkhuôn khổ hoạt động của công ty trên thị trường, và do vậy có khi không đem lại lợi ích từ sápnhập và mua lại hoặc thậm chí đòi hỏi hủy bỏ hợp đồng thông qua tòa án

Những thay đổi chủ quan hoặc khách quan từ bên mua, thị trường hoặc môi trườngpháp lý có thể ảnh hưởng trực tiếp tới tiến trình của giao dịch

 Chuẩn bị các vấn đề hậu sáp nhập và mua lại để có một thương vụ thành công

Quá trình hòa nhập các hoạt động kinh doanh, các bộ phận chức năng của các bên saukhi kết thúc một thương vụ sáp nhập và mua lại có thể xảy ra một số vấn đề mà hai bên cànchuẩn bị trước để mang đến hiệu quả cho một thương vụ

Các bên chưa coi trọng thế mạnh sản phẩm, dịch vụ của nhâu, hoặc không chuyển giaođầy đủ kỹ năng, thế mạnh của từng bên

Việc không dung hợp giữa các nền văn hóa công ty đôi khi chính là nguyên nhân thấtbại của nhiều cuộc sáp nhập Các nhà quản lý bên mua thường mắc một sai lầm lớn khi tự chomình nhiều quyền hạn hơn trong việc áp đặt sự giám sát khắt khe đôi khi hơi thái quá củamình đối với bên bán

Trang 14

Điển hình là trường hợp sáp nhập giữa Nationbank – Bank of America và MontgonerySecurities vào 10/1997 Việc sáp nhập dẫn đến sự nghỉ việc của hầu hết những chuyên viênđầu tư cuả Montgonery Securities, những người đã rời khỏi công ty do những bất đồng vềquản lý và văn hóa với NationsBank- Bank of America Nhiều người trong số họ chuyển sanglàm cho Thomas Weisel, đối thủ của Montgonery Securities, được điều hành bởi người chủ cũcủa Montgonery Securities.

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG MUA BÁN, SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI TẠI VIỆT NAM

1 Sáp nhập ngân hàng thời kỳ sơ khai của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Vào những năm 1992-1993, tại khu vực TP.HCM đã xảy ra những vụ sáp nhập NH mangtính chất sơ khai Đầu tiên là các cơ sở sản xuất, kinh doanh có huy động vốn bị vỡ nợ như:Nước hoa Thanh Hương, Đại Thành, Xacogiva , rồi đến sự phá sản và giải thể của các hợptác xã (HTX) tín dụng, quỹ tín dụng kéo dài từ những năm 1989-1990, đã gây ra những biếnđộng lớn, buộc một số HTX tín dụng còn lại đã hợp nhất hình thành nên những NH thươngmại cổ phần đầu tiên trên địa bàn TP.HCM (ngoại trừ Eximbank, Saigon Bank và HDB), đểthỏa các điều kiện theo khuôn khổ các quy định của các pháp lệnh về NH Nếu như năm 1991chỉ mới có 9 ngân hàng thương mại, trong đó có đến 4 ngân hàng quốc doanh thì đến năm

1993 số lượng ngân hàng thương mại đã gia tăng lên đến 56 trong đó có đến 41 ngân hàngthương mại cổ phần Một số trường hợp điển hình như:

- Vào ngày 21/12/1991, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được thành lập và đivào hoạt động trên cơ sở chuyển thể Ngân hàng phát triển kinh tế Gò Vấp và sáp nhập với

ba hợp tác xã tín dụng Tân Bình, Thành Công, Lữ Gia

- Ngân hàng TMCP Phát Triển Mê Kông thành lập năm 1992, tiền thân là ngân hàng TMCPnông thôn Mỹ Xuyên, với trụ sở chính đặt tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

- Ngân hàng TMCP Gia Định thành lập năm 1992 trên cơ sở hợp nhất 2 HTX Tín dụng BạchĐằng và Kỹ Thương

- Ngân hàng Tân Việt thành lập năm 1992 trên cơ sở sáp nhập HTX Tín dụng Thống Nhất(Quận Tân Bình) và HTX Tín dụng Phú Đông (Quận Phú Nhuận)

- Ngân hàng Đệ Nhất thành lập năm 1993 trên cơ sở chuyển đổi HTX Tín dụng Q.5

Trang 15

- Ngân hàng Quế Đô thành lập trên cơ sở chuyển đổi HTX Tín dụng Phong Phú.

- Ngoài ra còn có sự hình thành của một số ngân hàng khác như: Nam Á, Đại Nam, Nam Đô,Việt Hoa, Phương Nam, và Nông Thôn An Bình

Trong thời kỳ những năm 1997-2004, cũng xảy những vụ sáp nhập NH mà chủ yếu là sápnhập của NHCP nông thôn vào các NHCP đô thị như các vụ:

- Ngân hàng Phương Nam: Sáp nhập Ngân hàng TMCP Đồng Tháp năm 1997, Sáp nhậpNgân hàng TMCP Đại Nam năm 1999, Năm 2000 mua Qũy Tín Dụng Nhân Dân ĐịnhCông Thanh Trì Hà Nội, Năm 2001 sáp nhập Ngân hàng TMCP Nông Thôn Châu Phú,Năm 2003 Sáp nhập Ngân hàng TMCP Nông Thôn Cái Sắn, Cần Thơ

- Ngân hàng Sacombank: Sáp nhập Ngân hàng TMCPNT Thạnh Thắng (Cần Thơ) năm2001

- Ngân hàng Đông Á: Sáp nhập Ngân hàng TMCPNT Tân Hiệp (Kiên Giang) năm 2004

So với các NH khác, Phương Nam trong thời kỳ đó được xem là đã sáp nhập nhiều NHnông thôn nhất Những hệ quả sau sáp nhập khá âm thầm, ít có thông tin Còn những nguyên

do, động cơ trước sáp nhập nghe nói cũng khá tế nhị: có những trường hợp bất đắc dĩ, bị épuổng, thậm chỉ chỉ đơn giản là trừ nợ

2 Việc tham gia vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào NHTM tại Việt Nam

Kết quả tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam rất khả quan Cụ thể hiện cóđến 13 NHTMCP có vốn nhà đầu tư nước ngoài tham gia và nhìn chung, 13 NHTM này đềukhông nằm trong đối tượng của những NH yếu kém, thậm chí phần lớn thuộc nhóm đầu

Trang 16

Inter Finance Corporation (IFC) 85.980.341 2,63%

5 Eximbank Sumitomo Mitsui banking corporation 185.329.207 15%

Cho đến nay các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các TCTD Việt Nam đang đượcthực hiện theo nghị định số 69 ban hành ngày 20/04/2007 của Chính phủ Nghị định quy định

rõ, cụ thể về tỷ lệ sở hữu tối đa của một nhà đầu tư, của đối tác chiến lược và tổng tỷ lệ sở hữucủa các nhà đầu tư nước ngoài tại một TCTD Việt Nam

Trong thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lực nước ngoài trong quátrình tái cơ cấu hệ thống TCTD Việt Nam, Chính phủ đã ban hành đề án 254 với nội dungquan trọng là khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài hợp tác đầu tư với các TCTD ViệtNam, và khuyến khích các TCTD nước ngoài tham gia góp vốn mua cổ phần, sáp nhập hợpnhất vào các TCTD yếu kém của Việt Nam trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật

Để cụ thể chủ trương này, vừa qua Vụ đã trình Chính phủ chủ trương sửa đổi Nghị định 69trong đó 2 điểm mà nhà đầu tư nước ngoài hết sức quan tâm:

(i) Trước đây, theo nghị định 69, một nhà đầu tư nước ngoài được NHNN xem xét mua cổphần tại TCTD Việt Nam tối đa là 15% vốn điều lệ TCTD, trong trường hợp cần thiết trìnhChính phủ xin ý kiến về nâng mức sở hữu lên 20% Tuy nhiên Nghị định 69 sửa đổi sẽ chophép các nhà đầu tư nước ngoài là đối tác chiến lược của TCTD Việt Nam được sở hữu 20%vốn cổ phần mà không cần phải trình Chính phủ

(ii) Theo nghị định 69, tổng mức sở hữu cổ phần của tất cả các nhà đầu tư nước ngoài vàngười có liên quan tại TCTD không quá 30% vốn điều lệ Theo tinh thần của đề án 254, nghịđịnh 69 sửa đổi trình Chính phủ theo hướng, trong trường hợp đặc biệt, phục vụ quá trình tái

cơ cấu, có thể trình Chính phủ cho phép nhà đầu tư tham gia trên 30% vốn điều lệ của TCTDđối với từng trường hợp cụ thể

Với sự sửa đổi này nếu được thông qua sẽ là cơ hội để các nhà đầu tư thâm nhập sâu hơnvào thị trường Việt Nam và ý nghĩa hơn là tham gia vào quá trình tái cơ cấu TCTD Việt Nam

Trang 17

Việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các TCTD là trên cơ sở tự nguyện và sự lựachọn đối tác của TCTD Việt Nam Vì vậy trong thời gian qua các TCTD Việt Nam bán cổphần cho nhà đầu tư nước ngoài đạt được những thành tựu đáng kể như: tăng năng lực tàichính thông qua tăng vốn điều lệ và thặng dư vốn cổ phần; năng lực quản trị điều hành đượccải thiện đáng kể thông qua tái cơ cấu bộ máy, tư vấn, đào tạo của TCTD nước ngoài, mở rộngnghiệp vụ hoạt động, mở rộng quan hệ đại lý…

Dự thảo Nghị định thể hiện khá rõ sự lo ngại các tổ chức nước ngoài, nhất là các ngân hàngthương mại có thể sẽ lũng đoạn hệ thống ngân hàng VN

Do đó, ngoài quy định khống chế tỷ lệ sở hữu, dự thảo còn quy định: việc mua cổ phầnkhông gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, không tạo ra sựđộc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh trong hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam và còn quy định:nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân chỉ được mua cổ phần của tổ chức tín dụng cổ phần ViệtNam đã niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán

Tuy nhiên, việc định lượng cụ thể việc ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổchức tín dụng Việt Nam là điều rất khó trên thực tế Nhiều tổ chức tín dụng yếu kém hiện nayđang muốn tăng vốn chủ sở hữu thông qua việc bán cổ phần để giải quyết hai vấn đề cốt tử, đó

là nợ xấu và tính thanh khoản Việc tìm dòng vốn nội để bán cổ phần trong bối cảnh thị trườngvốn nội địa ảm đạm như hiện nay sẽ rất khó khăn, do đó, việc tìm dòng vốn ngoại đang đượcnhiều ngân hàng quan tâm

Nhiều tổ chức nước ngoài cho rằng, quy định về tỷ lệ sở hữu hiện nay của Ngân hàng Nhànước đã không hấp dẫn các tổ chức nước ngoài và họ kiến nghị tỷ lệ này có thể xem xét nânglên mức 51% hoặc lên tới 65%

Khi tỷ lệ sở hữu đạt tới mức này, ngân hàng ngoại mới có thể có được tiếng nói trong việcxây dựng chiến lược phát triển, kể cả xử lý nợ xấu của ngân hàng nội bởi vì họ vừa có kinhnghiệm, kỹ năng đánh giá nợ xấu vừa có nguồn vốn để có thể tham gia vào quá trình xử lý nợxấu của ngân hàng nội

3 Một số thương vụ M&A Ngân hàng tại Việt Nam thời gian qua

SCB - VIỆT NAM TÍN NGHĨA - FICOMBANK

 Thực trạng của các ngân hàng trước khi sáp nhập

Trang 18

a Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB)

Tại thời điểm cuối năm 2010, SCB là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn

ở Việt nam với vốn điều lệ là 4.184 nghìn tỷ đồng, tổng tài sản hơn 60 nghìn tỷ, tổng huy độnghơn 35 nghìn tỷ, dư nợ cho vay hơn 33 nghìn tỷ đồng

Tuy nhiên, nợ xấu của SCB đang có xu hướng tăng cao trong năm 2010 Theo báo cáo tàichính hợp nhất năm 2010, dư nợ xấu của SCB tại thời điểm cuối năm nằm ở mức 22.55% Và

có hơn 592 tỷ đồng là nợ có khả năng mất vốn, hơn 2.8 ngàn tỷ đồng là nợ được cơ cấu lại

Mức trích lập dự phòng của ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2010 là hơn 827 tỷ đồng

Trang 19

Hơn 200 tỷ đồng đầu tư góp vốn dài hạn vào 2 dự án Khu dân cư đồi Thánh Mẫu và dự ánkhu đô thị phức hợp Đà Nẵng không hiệu quả, ngân hàng vẫn chưa thu hồi được số tiền đầu tưnày.

Rủi ro thanh khoản của SCB ở mức cao do ngân hàng thực hiện dùng nguồn vốn ngắn hạn

để cho vay trung và dài hạn Cho vay khách hàng của ngân hàng chủ yếu nằm ở kỳ hạn 3 - 12tháng và 1 - 5 năm nhưng nguồn huy động tiền gửi khách hàng của ngân hàng ở 2 kỳ hạn nàylại nhỏ hơn khá nhiều Cụ thể, cho vay khách hàng ở kỳ hạn 3 - 12 tháng là 7.036 nghìn tỷđồng nhưng huy động khách hàng cùng kỳ hạn chỉ là 6.728 nghìn tỷ đồng Dư nợ cho vay ở kỳhạn 1 - 5 năm là 16.97 nghìn tỷ nhưng huy động khách hàng ở cùng kỳ hạn chỉ là 11.74 nghìn

tỷ đồng

SCB đang trong có 717 tỷ đồng dư nợ vay chiết khấu và tái chiết khấu từ ngân hàng nhànước Chứng tỏ thanh khoản của ngân hàng đang rất có vấn đề

Trang 20

b Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank)

Tại thời điểm cuối năm 2010, Ficombank là ngân hàng thuộc loại nhỏ nhất trong hệ thốngngân hàng thương mại Tổng tài sản chỉ đạt 7.7 ngàn tỷ đồng, vốn điều lệ 2 ngàn tỷ, dư nợ chovay chỉ 2.7 ngàn tỷ, nguồn vốn huy động chỉ đạt 2.67 ngàn tỷ Tổng doanh thu năm 2010 chỉ là

c Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa

Theo báo cáo tài chính đã được soát xét 9 tháng đầu năm 2013 của ngân hàng Việt NamTín Nghĩa, tình hình nợ xấu của ngân hàng tăng rất nhanh trong 9 tháng đầu năm 2013, từ0.95% đầu năm 2011 lên 2.11% vào thời điểm cuối năm Trong đó có 374 tỷ đồng là nợ không

có khả năng thu hồi

Trang 21

Dư nợ cho vay có sự chuyển dịch mạnh, dư nợ cho vay hoạt động kinh doanh bất động sảntăng lên một cách đột biến, từ 0 thời điểm đầu năm lên 2.193 nghìn tỷ đồng vào cuối năm

Hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR của ngân hàng tại thời điểm 30/09/2011 là 8.75% nằmdưới mức quy định của ngân hàng nhà nước

Nguyên nhân chính dẫn đến sáp nhập

Chủ yếu do họ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (chủ yếu vào lĩnh vựcbất động sản), gặp khi thị trường biến động, nhất là khi nguồn vốn huy động ngắn hạn khôngcòn dồi dào như trước nên rủi ro thanh khoản xảy ra Các khoản nợ quá hạn thị trường 1 (TT1)của ngân hàng tăng và ở mức cao, đặc biệt là các khoản nợ quá hạn của các tổ chức kinh tế.Huy động TT2 đến hạn không chi trả được cũng tăng cao, tạo áp lực thanh khoản lớn Trongkhi đó, việc sử dụng nguồn bị mất cân đối lớn do kỳ hạn huy động tương đối ngắn, nhưng lạicho vay và đầu tư khá dài khiến tình hình tài chính trở nên nghiêm trọng hơn

Còn một nguyên nhân sâu xa khác, chính là áp lực từ Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày26/01/2011 về việc bắt buộc các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ từ mức 1.000 tỷ đồngđến năm 2008 và nâng lên 3.000 tỷ đồng đến năm 2011 Bởi, khi tăng vốn điều lệ thì buộc cácngân hàng thương mại tăng tổng tài sản lên mức tương ứng để tránh lỗ Vì thế, họ liên tục mởchi nhánh và tìm khách hàng cho vay- điều không dễ dàng, vì những vị trí đắc địa, khách hàngtốt đã bị những ngân hàng lớn đi trước chiếm giữ, và lối thoát duy nhất là tìm khách hàng dễ

Trang 22

cho vay nhất, dễ kiếm lời nhất, khả năng cung bao nhiêu vốn cũng hết, đó là bất động sản.Thậm chí, ngay cả cho vay tiêu dùng cũng chảy vào bất động sản Do đó, vấn đề đáng quantâm hơn cả là ngân hàng lấy đâu ra hàng nghìn tỷ đồng đẻ tăng vốn pháp định, nhất là trongđiều kiện thị trường chứng khóan liên tục sụt giảm.

Trước tình hình này, hội đồng quản trị của ba ngân hàng đã tự nguyện sáp nhập với nhauthành một ngân hàng dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV),

và cần tới sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước thông qua khoản vay tái cấp vốn Tổng số vốn

hỗ trợ liên ngân hàng của BIDV cho ba nhà băng (tính đến tháng 12/2012) là trên 2.400 tỷđồng (trên tổng số tài sản được ba nhà băng đem ra đảm bảo là 30.000 tỷ đồng)

Kết quả sau thương vụ sáp nhập

Sau sáp nhập, ngân hàng hợp nhất có vốn điều lệ 10.583 tỷ đồng, tổng tài sản 144.8 nghìn

tỷ đồng và có hơn 230 chi nhánh, phòng giao dịch trải dài trên khắp từ nam ra bắc

Hầu hết các chỉ tiêu đều có sự tăng trưởng mạnh, Tổng tài sản của SCB sau sáp nhập đạt144.8 nghìn tỷ đồng vào thời điểm cuối năm 2011 và đạt 149.2 tỷ đồng vào cuối 2012

Dư nợ của ngân hàng từ 32.4 nghìn tỷ cuối 2010 tăng lên 64.4 cuối 2011 và đạt 87.16nghìn tỷ vào thời điểm cuối năm 2012 Trong đó, tỷ lệ nợ xấu giảm từ 12,8% xuống 8,8%, tứcgiảm hơn 31,4% Năm 2012, SCB đã có lãi trước thuế 77 tỷ đồng Tỷ lệ an tòan vốn đạt 10,7%đáp ứng được quy định của NHNN

Sau hơn 1 năm cơ cấu lại, SCB cho biết, trong quý I/2013, ngân hàng đã thanh toán bổsung 6.972 tỷ đồng tiền gốc và 1.639 tỷ đồng các khoản vay tái cấp vốn NHNN Số dư tái cấpvốn của NHNN tại SCB ở thời điểm 31/3/2013 là 2.800 tỷ đồng NHNN đã có văn bản chấpthuận cho SCB gia hạn các khoản vay này với thời hạn tối đa 24 tháng, không tính lãi phạt quáhạn và áp dụng lãi suất tái cấp vốn phù hợp với từng thời kỳ

Như vậy cho đến nay, SCB đã thanh toán cho NHNN là 9.478 tỷ đồng và lãi vay 1.377 tỷđồng, đưa số dư các khoản vay tái cấp vốn NHNN từ 18.134 tỷ hồi đầu năm xuống 9.772 tỷđồng Còn các khoản vay liên ngân hàng, SCB có số dư các khoản huy động trên TT2 củangân hàng ở mức 18.251 tỷ đồng, giảm 15.648 tỷ đồng so với đầu năm Đặc biệt, SCB đã hoàntrả khoản vay hỗ trợ từ BIDV gồm 2.464 tỷ đồng nợ gốc và gần 179 tỷ đồng nợ lãi

Trang 23

Theo SCB, các khoản vay TT2 giảm trong năm 2012 chủ yếu do ngân hàng thực hiện cânđối sử dụng nguồn vốn huy động mới trên TT1, thu nợ, thu lãi từ hoạt động tín dụng để trả bớt

nợ liên ngân hàng Ngân hàng này còn đàm phán, thương lượng thành công với các tổ chức tíndụng (TCTD) về việc gia hạn và giảm lãi suất với các khoản vay quá hạn của SCB Tỷ lệ antoàn vốn đạt 10,7%, đáp ứng được quy định của NHNN

2 SHB- HABUBANK

1.1 Thực trạng của 2 ngân hàng trước sáp nhập

a Habubank

Trước thời điểm sáp nhập, nợ xấu của Habubank tăng cao, trong đó có hơn 2.75 ngàn tỷ là

dư nợ cho vay nhóm khách hàng thuộc Vinashin, hiện đang được khoanh và chờ xử lý và hơn

484 tỷ đồng dư nợ nhóm 5, không còn khả năng thu hồi

Việc tập trung cho vay nhóm khách hàng thuộc Vinashin từng được coi là chính sách “đónđầu” của Ngân hàng, tuy nhiên việc tập trung cho vay quá nhiều vào nhóm khách hàng này(tương đương 67.93% vốn điều lệ của Ngân hàng) dẫn đến khi kinh tế suy thoái, Ngân hàng đã

bị ảnh hưởng nặng nề từ việc tập trung tín dụng này

Ngoài 2.75 ngàn tỷ cho vay, Habubank còn nắm giữ 600 tỷ đồng trái phiếu tập đoànVinashin, số tiền này không biết bao giờ mới đòi lại được

Và hậu quả tất yếu, quý 4 năm 2011, Habubank lỗ xấp xỉ 41 tỷ đồng Nếu tính lũy kế cảnăm 2011, Habubank vẫn lãi 349,8 tỉ đồng song mức lãi đã giảm 27,4% so với năm 2010 Sựthua lỗ trong quý 4 của Habubank có thể được giải thích bởi nhiều nguyên nhân, trong đó lớn

Trang 24

nhất là do hoạt động kinh doanh ngoại hối Riêng trong quý IV/2011, khoản lỗ từ hoạt độngnày của Habubank lên tới 18,6 tỉ đồng, cả năm 2011 lỗ tới 104,8 tỉ đồng Cùng kỳ năm 2010,kinh doanh ngoại hối chỉ làm Habubank lỗ 14,2 tỉ đồng Tham gia vào thị trường ngoại hốitrong tình hình có rất nhiều biến động thì thua lỗ là chuyện Habubank thua lỗ cũng là điều dễhiểu Nguyên nhân gây lỗ thứ hai là chi phí hoạt động tăng mạnh Riêng trong quý IV/2011,chi phí này đã tăng gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2010 (từ 111,6 tỉ đồng tăng lên 247,1 tỉđồng), khả năng rất cao là Habubank đã lách luật, hạch toán chi phí huy động vốn vào chi phínày Nguyên nhân lỗ thứ ba là do trích lập dự phòng Quý IV/2011 Habubank trích lập dựphòng rủi ro tín dụng 132,18 tỉ đồng, tăng 39,3% so với cùng kỳ năm 2010

b Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội

Cũng như các ngân hàng TMCP khác, năm 2011, dư nợ xấu của SHB cũng có sự gia tăngkhá mạnh Tổng các khoản nợ có vấn đề ở mức 1.745 ngàn tỷ, chiếm tỷ trọng 5.98% tổng dư

nợ Trong 1.093 ngàn tỷ nợ cần chú ý có 895 tỷ đồng là dư nợ cho Tập đoàn công nghiệp tàuthủy Việt Nam (Vinashin), đang được khoanh và chờ xử lý

Mặc dù gặp một số vấn đề về nợ xấu và thanh khoản, nhưng SHB vẫn là một ngân hàng

hoạt động tốt tại điểm mua lại Habubank với vốn điều lệ là 4.815 tỷ đồng, tổng tài sản xấp xỉ

71 ngàn tỷ đồng, dư nợ cho vay đạt hơn 29 tỷ, huy động khách hàng ở mức hơn 34.78 tỷ đồng.Lợi nhuận sau thuế năm 2011 đạt 753 tỷ đồng, tăng 52.33% so với năm 2010

Ngày đăng: 04/04/2015, 16:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w