1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2009

30 354 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác dụng xấu của lạm phát thì đã được biết, và đối với Việt Nam, sự bất ổn định giá đã được tranh luận là một yếu tố mạnh mẽ trong nền kinh tế phát triển nóng Trần Văn Thọ và cộng sự

Trang 1

KINH TẾ HỌC ỨNG DỤNG

CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH LẠM PHÁT VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2001 - 2009

Huu Minh Nguyen, Tony Cavoli and John K Wilson

GVHD: TS Nguyễn Khánh Nam Thực hiện: Phan Minh Thơng

Lê Minh Tuấn Phạm Tấn Độ

Trang 2

NỘI DUNG TRÌNH BÀY

Phần I Giới thiệu

Phần II Tình hình lạm phát ở Việt Nam

Phần III & IV: Trình bày và phân tích về mô hình lạm phát

bằng cách sử dụng dữ liệu từ Việt Nam Phân tích này sử dụng mô hình (OLS), tự hồi quy

vector (VAR), và các bài kiểm tra quan hệ nhân quả Granger

Phần V: Kết luận và một số đề xuất chính sách

Trang 3

I GiỚI THIỆU:

Nghiên cứu này xem xét các yếu tố quyết định lạm phát Việt Nam (một nền kinh tế đang phát triển) Các tác dụng xấu của lạm phát thì đã được biết, và đối với Việt Nam, sự bất ổn định giá đã được tranh luận là một yếu tố mạnh

mẽ trong nền kinh tế phát triển nóng (Trần Văn Thọ và cộng sự, 2000) Ví

dụ, trong suốt những năm 1980 và đầu những năm 1990, Việt Nam chịu áp lực lạm phát đáng kể, đỉnh điểm tới 587% vào năm 1986 (Đặng Phong, 2008) Trong lúc siêu lạm phát như thế này đã được kiểm soát tương đối, mức cao nhất của toàn bộ châu Á là 27% vào tháng bảy năm 2008 (Mydans 2008)

Nghiên cứu theo Công trình Goujon (2006)

 Những gì diễn ra ở Việt Nam không phải là duy nhất về sự bất ổn định giá Quan trọng là các cơ chế lạm phát tác động đến nền kinh tế, đặc biệt là đến các nước đang phát triển

 Lạm phát là khá dai dẳng và sự tăng trưởng của nguồn cung tiền và các

Trang 4

II LẠM PHÁT VIỆT NAM

II.1 Tóm tắt lịch sử lạm phát Việt Nam

- Sau 1975 (thành lập CHXHCN Việt Nam), Lê Duẩn tuyên bố “một tương lai vinh quang cho đất nước”: mỗi gia đình Việt Nam sẽ có một TV, một radio và

tủ lạnh trong mười năm tới  Tư tưởng quân bình trong chủ nghĩa xã hội dẫn đến sự đình trệ, thiếu lương thực, lạm phát tràn lan (Đặng Phong, 2008)

- Năm 1985, cải cách kinh tế theo hướng KTTT gói cải cách “Giá-Lương-Tiền” được đưa ra, tuy nhiên, lại làm cho lạm phát tăng vọt (Đặng Phong, 2008) Trong vòng 1 năm thực hiện cải cách này, tỷ lệ lạm phát đạt đỉnh điểm 587% Sau đó nó vẫn ở mức cao trong suốt những năm còn lại của thập kỷ 80

- Năm 1988-1989, một số biện pháp, bao gồm tăng lãi suất, giảm trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước, ngăn chặn sự gia tăng tiền lương, cắt giảm chi tiêu công và thâm hụt ngân sách, đã giúp kiềm chế sự tăng giá phi mã (Đặng Phong, 2008, Nguyễn Tri Hùng 1999) Trong hầu hết những năm của thập kỷ

90, Việt Nam chỉ trải qua lạm phát khiêm tốn (theo chuẩn của các nước đang phát triển)

Trang 5

II LẠM PHÁT VIỆT NAM

Giai đoạn từ đầu thế kỷ 21 chia thành ba tiểu giai đoạn: 2001-03, 2004-07 và

Trang 6

II LẠM PHÁT VIỆT NAM

Khi nền kinh tế tăng tốc, tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam đạt 7,79% trong năm 2004, rồi 8,44% vào năm 2005, mức cao nhất kể từ năm 1996 Tăng trưởng tín dụng cũng tăng mạnh (Tổng Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) 2009; IMF năm 2005) Tăng trưởng này tạo áp lực lên mức giá Ngoài ra, hạn hán, dịch cúm gia cầm và một số cú sốc bên ngoài, bao gồm cả giá gạo và giá dầu tăng, đã cùng nhau đẩy giá lương thực tăng, chiếm gần 50% trong rổ chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam

Kết quả là, lạm phát hai con số tái phát: lạm phát hàng năm là 10% trong tháng

9 năm 2004 Tuy nhiên tỷ lệ này đã giảm còn 7,5% trong năm 2006, một con số chấp nhận được, mặc dù vẫn nằm trong nhóm cao nhất ở châu Á (xem Bảng 1) (2005 IMF, 2006a)

Trang 7

II LẠM PHÁT VIỆT NAM

- Một điểm nhấn tiếp theo về tăng trưởng cao là nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng "quá nóng" trong năm 2007 Điều này, trong mối liên hệ với giá cả hàng hóa tăng dần, đặc biệt là sự gia tăng đáng kể trong giá dầu, dẫn đến sự

gia tăng mạnh trong chỉ số giá tiêu dùng

- Năm 2008 đã chứng kiến sự gia tăng đáng báo động trong tỷ lệ lạm phát, đạt đỉnh gần 30% khoảng tháng bảy tháng tám Khi kiềm chế lạm phát đã trở thành ưu tiên của quốc gia chứ không phải là duy trì tăng trưởng, chính phủ

đã cố gắng giảm nhập khẩu để cắt giảm thâm hụt ngắn hạn (tăng hơn 9,5% GDP trong năm 2007 (IMF 2009) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cũng đã thắt chặt cung tiền Tỷ lệ tái cấp vốn được giữ nguyên ở mức 6,5% cho mười bốn tháng qua, cũng đã tăng 7,5% trong tháng 2 năm 2008, sau đó

từ 7,5% đến 15% trong tháng Sáu (Farber et al 2008) Với những biện pháp thích hợp này, cũng như của suy thoái kinh tế toàn cầu đang diễn ra, lạm phát đã giảm bớt, thậm chí là âm trong những tháng cuối năm 2008 (IMF 2009)

Trang 8

II LẠM PHÁT VIỆT NAM

II.2 Các nghiên cứu về lạm phát ở Việt Nam

- Các bài báo của Nguyễn Trí Hưng vào năm 1999: nghiên cứu toàn diện duy nhất bằng tiếng Anh về lịch sử lạm phát Việt Nam kể từ giai đoạn chuyển đổi đất nước sang nền kinh tế thị trường trong những năm 1980 Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn phân chia quá trình chuyển đổi Việt Nam thành ba tiểu giai đoạn: 1980-1984, 1985-1989 và 1990-1995, khéo léo kể lại và phân tích diễn biến lạm phát trong mỗi tiểu giai đoạn

- Thêm nữa, tóm tắt hơn, lịch sử lạm phát và giai đoạn chuyển tiếp này cũng được cung cấp bởi Võ Trí Thành et al (2002) và Lê Anh Minh (2008) trong nghiên cứu của họ về cấu trúc kinh tế vĩ mô của Việt Nam Trong các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố quyết định lạm phát, khi thời gian và/hoặc các phương pháp phân tích khác nhau đã đạt được những kết quả khác nhau

Trang 9

II LẠM PHÁT VIỆT NAM

II.2 Các nghiên cứu về lạm phát ở Việt Nam

- Shinichi và Phạm Thái Bình (2005) và Lê Việt Hùng và Pfau (2008), trong khi kiểm tra, một cách tương ứng, cầu tiền và cơ chế tác động của tiền tệ tại Việt Nam, tất cả đều nhìn vào mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát

- Trước đây, việc sử dụng mô hình vector sửa chữa sai sót (VeCM) trên dữ liệu 1993-2004, thấy rằng: tốc độ tăng trưởng của tiền rộng trong nước luôn có một mối tương quan thuận chiều với mức lạm phát, và chính sách tiền tệ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xác định mức giá chung Tuy nhiên, sau này, bằng cách sử dụng VAR trong giai đoạn 1996-2005, cho thấy có mối liên hệ đáng kể giữa cung tiền và sản lượng thực tế nhưng không thấy có liên hệ đáng

kể nào giữa tiền và lạm phát

Trang 10

II LẠM PHÁT VIỆT NAM

- Võ Trí Thành et al (2002) kết luận rằng những thay đổi trong cung tiền và

tỷ giá hối đoái chứa đựng rất ít thông tin trước đó về lạm phát Việt Nam Kết quả này tương phản với kết quả của Võ Văn Minh (2009) trong những kiểm nghiệm về tỷ giá hối đoái trong giai đoạn 2001-07 Minh thấy rằng những

biến động tỷ giá có ảnh hưởng đến giá tiêu dùng, mặc dù ông cũng thừa nhận rằng những ảnh hưởng này là ít và ngắn ngủi Nguyễn Cao Đức (2006), bằng cách sử dụng phương thức tiếp cận tiền tệ, đã thấy rằng những yếu tố quyết định chính đến lạm phát tại Việt Nam là lạm phát quá khứ,

cung tiền, tỉ giá hối đoái và lãi suất

- Toàn diện hơn, Camen (2006) và Goujon (2006) kết hợp cả hai cấu trúc chi phí đẩy và cầu kéo vào các mô hình của họ để xác định các tác nhân của lạm phát Camen (2006), bằng cách sử dụng VAR, xác định tổng lượng tín dụng

cho nền kinh tế, giá cả hàng hóa, tỷ giá VND/USD và nguồn cung đồng USD (như một thước đo tính thanh khoản quốc tế) là những tác nhân quan trọng trong thời gian 1996-2004 Goujon (2006), sử dụng phương pháp hai bước tính toán phức tạp hơn, xác nhận có sự tác động của tỷ giá hối đoái và

giá cả hàng hóa đến lạm phát, nhưng nhấn mạnh việc giải thích lạm phát là

do dư thừa tiền hơn là do tổng lượng tín dụng

Trang 11

II LẠM PHÁT VIỆT NAM

- Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã tiến hành hai nghiên cứu riêng biệt về lạm phát tại Việt Nam (IMF 2003b, 2006) cuối những năm 1990 đầu những năm

2000 Sử dụng phương pháp khác nhau (đệ quy VAR và VEC), các nghiên cứu này tạo ra kết quả tương tự  lạm phát quá khứ, tăng trưởng tiền rộng,

tỷ giá, điều kiện nhu cầu trong nước và giá cả hàng hóa (đặc biệt là giá dầu)

là yếu tố quyết định quan trọng của lạm phát Ngoài ra, họ kết luận rằng tính trì trệ/quá tính của lạm phát đóng một vai trò quan trọng hơn ở Việt Nam so với nhiều nước khác ở châu Á

- Trong tất cả các nghiên cứu thực nghiệm nói trên, Goujon (2006), có lẽ là đáng chú ý nhất, không chỉ vì nó có thể nắm bắt các yếu tố từ các lý thuyết chính của lạm phát, mà nó còn cung cấp một mô hình lạm phát rõ ràng về mặt lý thuyết cho một nền kinh tế mở nhỏ tạo lập giá chuẩn Mô hình này sẽ được thảo luận chi tiết hơn dưới đây

Trang 12

III MÔ HÌNH LẠM PHÁT CHO VIỆT NAM

Mô hình được phát triển bởi Goujon (2006) Mô hình này đưa ra một số giả thuyết khác nhau liên quan đến quá trình lạm phát và được thiết lập trong

một nền kinh tế bị đô la hóa nhỏ Do đó, nó chứa các tính năng cấu trúc, thích hợp cho việc phân tích một nước đang phát triển như Việt Nam Cấu trúc của mô hình được trình bày chi tiết dưới đây

(CPI) tỷ lệ lạm phát là 1 hàm đo lường tỉ lệ những thay đổi trong giá hàng hóa

có thể giao dịch và không thể giao dịch, cụ thể:

∆pt = θ∆ptT +(1- θ ) ∆ ptNT (1)

Trong đó:

p: log of chỉ số giá tiêu dùng (CPI),

r và pNT : log of giá cả hàng hóa có thể giao dịch và không thể giao dịch,

Y: là hằng số tỷ trọng của giá cả hàng hóa có thể giao dịch chỉ số giá tiêu dùng (0 <θ <1)θ <θ <1)1)

Δ : là nhà điều hành khác biệt đầu tiên

Trang 13

III MÔ HÌNH LẠM PHÁT CHO VIỆT NAM

Khi 1 cty thay đổi sản lượng và giá sản phẩm thì không làm ảnh hưởng đến thị trường  có thể xem như cạnh tranh hoàn hảo, tỷ lệ thay đổi giá cả hàng hóa có thể giao dịch là:

∆p t NT = α EC t-1 + ζ ∆et (3)

EC đại diện cho tiền dư thừa và ζ tác động của giá đô la bằng tiền cụ thể không thể giao dịch hàng hóa EC là dưới hình thức tụt hậu, vì nó được cho là những người giữ tiền thừa vào lúc bắt đầu của giai đoạn hiện nay sẽ điều chỉnh cổ phần của họ và lạm phát nhiên liệu cuối cùng

Phương trình lạm phát có nguồn gốc bằng cách thay thế (2) và (3) vào (1):

∆p t = [ λθ + (1-θ)ζ ] ∆et + θµ ∆pt W + (1- θ) α EC t-1 (4)

và có thể được viết dưới hình thức giảm như:

Trang 14

III MÔ HÌNH LẠM PHÁT CHO VIỆT NAM

Goujon (2006) không sử dụng nguồn cung tiền vào mô hình này, duy trì việc

mở rộng cung tiền có thể là, một phần là ít nhất, hấp thụ bởi sự gia tăng nhu cầu tiền Các yếu tố thực sự gây ra lạm phát, nó được lập luận, là dư thừa tiền Theo phương pháp này, phương trình (5) chỉ có thể được ước tính bởi nhu cầu tiền ước tính đầu tiên, và sau đó tiền dư thừa

Thay vì thực hiện một quá trình dự toán giai đoạn hai, nghiên cứu này sẽ đưa vào tài khoản cả nguồn cung tiền quy ước và tổng cầu, mà nhu cầu tiền phụ thuộc: một cách tiếp cận được sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác về lạm phát Lãi suất cũng được bao gồm năng suất đặc điểm kỹ thuật thực nghiệm của chúng tôi:

∆pt = k1∆et + k2 ∆pt W + k3∆M2t+ k4Yt + k5∆rt + εt (6)2

nơi εt biểu thị sai

Trang 15

III MÔ HÌNH LẠM PHÁT CHO VIỆT NAM

∆pt = k1∆et + k2 ∆ptW + k3∆M2t+ k4Yt + k5∆rt + εt (6)2

Điều kiện tiền tệ được xác định bởi lãi suất tái cấp vốn tỷ lệ r và cung tiền M2, được định nghĩa như là các cổ phiếu tổng số tiền, bao gồm các đồng nội tệ (VND) trong lưu thông Yt đại diện cho sản lượng trong nước và được đo bằng sản xuất công nghiệp hàng tháng Giá có thể giao dịch hàng hoá quốc

tế không thể được tính trực tiếp

+ Như là một proxy, Goujon (2006) sử dụng cả hai biện pháp lạm phát nước ngoài (FI, tính toán như là một trung bình có trọng số của tỷ lệ lạm phát trong mười đối tác thương mại chính của Việt Nam) và giá xuất khẩu đồng

đô la Mỹ bằng tiền của gạo Việt Nam Các phương pháp tương tự được thông qua ở đây nhưng, kể từ khi dầu cũng có thể giao dịch lớn ở Việt Nam, giá gạo sẽ được thay thế bởi một chỉ số tổng hợp của cả gạo và giá dầu (IOR)

Trang 16

IV ƯỚC LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ

Dữ liệu giá cả hàng hóa quốc tế của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), cung cấp những số liệu thống kê về giá cả hàng hóa quốc tế

Dữ liệu về tỷ giá hoái đối, cung tiền, CPI và giá dầu được sử dụng trong nghiên cứu này được tập hợp từ IFS Sản lượng công nghiệp và lãi suất được lấy từ dữ liệu của GSO và báo cáo của SBV Giá gạo được lấy từ dữ liệu của FAO Toàn bộ, dữ liệu của chúng tôi thiết lập bao gồm những quan sát hàng tháng từ 01/2001 đến 02/2009 với một ngoại lệ của sản lượng công nghiệp chỉ

có giá trị từ 01/2004

Trang 17

IV ƯỚC LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ

IV.2 Ước lượng OLS

Những kết quả từ kiểm định ADF và kiểm định KPSS phát hiện rằng dữ liệu chuỗi thời gian (trong khác biệt log) được sử dụng trong nghiên cứu này là phần lớn không đổi

Đối với kiểm định ADF, với mức ý nghĩa 1%, giả thiết Ho bác bỏ cho tất cả

các biến, ngoại trừ ∆p Kiểm định KPSS cho thấy rằng tất cả các biến không

đổi

Để nắm bắt tính trì trệ của lạm phát, một giai đoạn lạm phát trễ (∆pt-1) được thêm vào như một biến độc lập và trong Mô hình 1 nó được xem như là yếu tố quyết định quan trọng nhất của sự biến đổi trong lạm phát với hệ số là 0.82

Lãi suất không được xác định là một yếu tố quyết định quan trọng đối với lạm phát

Về cung tiền, chỉ có hệ số ∆M2t-2 có ý nghĩa và có dấu mong đợi, có thể cho thấy rằng có sự trì trễ trong ảnh hưởng của tăng trưởng tiền tệ đến lạm phát

Trang 18

IV ƯỚC LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ

IV.2 Ước lượng OLS

Trang 19

IV ƯỚC LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ

IV.2 Ước lượng OLS

Trang 20

IV ƯỚC LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ

IV.2 Ước lượng OLS

Tác động của cú sốc giá bên ngoài được xác định bởi mức ý nghĩa của hệ số của sự thay đổi chỉ số giá dầu và gạo với hệ số 0.01 và 0.03 là khá nhỏ và có thể được giải thích bởi sự trì trệ của lạm phát

Mô hình 2, chỉ với 61 quan sát bởi chuỗi ngắn hạn hơn của giá trị sản lượng công nghiệp, cho những kết quả gần như tương tự Bao gồm cả tăng trưởng sản lượng cải thiện một cách đáng kể mô hình của chúng ta: ∆rt-2 trở nên có ý nghĩa

ở mức 5%, và cung tiền bây giờ xuất hiện để đóng vai trò lớn hơn trong quá trình lạm phát Nếu ∆M2t-2 tăng 1 điểm phần trăm, ví dụ, lạm phát được dự kiến

sẽ tăng 0.13 Tuy nhiên, ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái không có ý nghĩa Hệ số tăng trưởng sản lượng cũng không có ý nghĩa, và kích thước của nó là không đáng kể

Trang 21

IV ƯỚC LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ

IV.3 Kiểm định Nhân quả

Trang 22

IV ƯỚC LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ

IV.3 Kiểm định Nhân quả

Với 2 độ trễ, giá cả hàng hóa là nguyên nhân Granger gây ra lạm phát, việc cho vay hỗ trợ cho sự chuyển giao của những xáo trộn bên ngoài đến giá cả tiêu dùng

Những kết quả sử dụng những độ trễ khác nhau tương tự rằng họ xác nhận tăng trưởng tiền tệ và cú sốc bên ngoài như những tác nhân của lạm phát Việt Nam Thực sự, với 6 và 12 độ trễ, ∆M2 và ∆FI Granger gây ra lạm phát, nhưng ngược lại với 12 độ trễ, quan hệ nhân quả một lần nữa chạy từ ∆IOR đến ∆p Kiểm định những số liệu thống kê về tỷ giá hoái đối và tăng trưởng sản lượng là hỗn hợp Lãi suất thiếu khả năng giải thích những thay đổi trong tương lai của lạm phát, bất chấp những độ trễ Điều này phù hợp với OLS cho thấy rằng ∆r ít ảnh hưởng đến giá cả

Trang 23

IV ƯỚC LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ

IV.4 Kết quả tự hồi quy vector (VAR)

hiện dưới công thức VAR như sau:

Trang 24

IV ƯỚC LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ

 Bằng cách sử dụng VAR, các biến được sắp xếp như sau:

∆IOR ∆FI ∆M2 ∆r ∆p ∆e ∆Y.

 Hai bộ kết quả được tạo ra: phân rã phương sai và hàm phản ứng đẩy

• Phân rã phương sai (VDs) tách sự biến thiên lạm phát theo sự đóng

góp của các cú sốc của chính nó và các cú sốc của các biến khác trong

mô hình

• Hàm phản ứng (IRFs) hiển thị hiệu ứng của một cú sốc một biến cụ thể

lên lạm phát

Ngày đăng: 04/04/2015, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w