1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý và kiểm soát các rủi ro thanh khoản, rủi ro giá cả, và rủi ro hối đoái, liên hệ thực tế với ngân hàng VIB

38 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 114,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản chất của rủi ro: Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mongđợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuậnthực tế s

Trang 1

Cùng với việc các cam kết hội nhập WTO bắt đầu có hiệu lực và lộ trình tăngvốn lên 10.000 tỷ đồng vào năm 2015, các ngân hàng Việt Nam đang thực sự bướcvào giai đoạn cạnh tranh mới quyết liệt hơn với nhiều định chế tài chính quốc tế lớnngay trên thị trường nội địa truyền thống của mình Để có thể tồn tại và phát triển bềnvững, các ngân hàng thương mại phải nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, một mặtkhông ngừng gia tăng các dịch vụ và mặt khác nâng cao năng lực quản trị trong đónăng lực quản trị rủi ro được xem là quan trọng hàng đầu.

I Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng và một số loại rủi ro

1 Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

Với tốc độ tăng trưởng khá cao của ngành ngân hàng - “mạch máu của nềnkinh tế”, cùng xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới,thêm vào đó là những gì đã diễn ra trên thị trường tiền tệ Việt Nam trong thời gian gầnđây cho thấy vấn đề quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa cấpbách cả về lý luận và thực tiễn

Bản chất của rủi ro:

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mongđợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuậnthực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thànhđược một nghiệp vụ tài chính nhất định

 Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhautrong một phạm vi nhất định

 Khi đề cập đến rủi ro, người ta thường nhắc đến hai yếu tố mang tính đặc trưngcủa rủi ro là biên độ rủi ro: mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra và tần suất xuất hiện rủiro; số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện/tổng số trường hợp đồng khả năng

 Rủi ro là yếu tố khách quan, nên người ta không thể nào loại trừ được hẳn màchỉ có thể hạn chế sự xuất hiện và những tác hại của chúng gây ra

Rủi ro xảy ra gây nhiều tổn thất về tài sản cho ngân hàng Những tổn thấtthường gặp là mất vốn khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận,giảm sút giá trị của tài sản,

Rủi ro cũng làm giảm uy tín của ngân hàng Một ngân hàng kinh doanh bị lỗliên tục hoặc thường xuyên không đủ khả năng thanh khoản có thể dẫn đến một cuộcrút tiền quy mô lớn và con đường phá sản là tất yếu

Trang 2

Như một hệ quả, rủi ro khiến ngân hàng bị lỗ và bị phá sản, sẽ ảnh hưởng đếnhàng triệu người gửi tiền, hàng ngàn doanh nghiệp không được đáp ứng vốn làm chonền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng cao, sức mua giảm sút, thất nghiệp tăng, gây rốiloạn trật tự xã hội, và hơn nữa sẽ kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàngtrong nước và khu vực Ngoài ra, sự phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảngloạn của hàng loạt ngân hàng khác và ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế

2 Một số loại rủi ro.

2.1 Rủi ro thanh khoản

a) Định nghĩa

Rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk): là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp

ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặthoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán

b) Nguyên nhân:

- Dòng vốn tiền gửi của các thành phần kinh tế trong xã hội vào các NHTM bị hạn chế do tác động của lạm phát và lòng tin

Về phía các NHTM, điều kiện kinh doanh thuận lợi trong những năm gần đây

đã làm nảy sinh tư tưởng chủ quan, tăng trưởng tín dụng quá nóng trong khi lại buônglỏng chính sách quản lý rủi ro làm mất cân đối một số tương quan cơ bản trong cơ cấutài sản, không đảm bảo đúng các tỷ lệ an toàn theo tiêu chuẩn của NHNN Việt Nam.Trong bối cảnh đó, khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt mộtcách quyết liệt nhằm thu về một khối lượng tiền mặt đồng Việt Nam khá lớn từ lưuthông thì một số NHTM không thể xoay chuyển kịp thời, bị mất thanh khoản do cơcấu đầu tư

- Các NHTM không thực hiện chính sách quản lý rủi ro thanh khoản một cách khoa học và bài bản Do tính chất hệ thống đặc biệt chặt chẽ của ngành trong quan

hệ vốn giữa các ngân hàng, chỉ cần một vài ngân hàng mất khả năng thanh khoản sẽ gây hiệu ứng dây chuyền, nhanh chóng lan toả trong toàn hệ thống ngân hàng.

- Do tính lỏng của tài sản không ổn định

Một tổ chức tài chính (ngân hàng) có thể mất khả năng thanh khoản nếu chỉ sốtín nhiệm tín dụng của tổ chức này giảm sút, tổ chức này đối mặt với tình trạng lượngtiền ra ồ ạt không dự kiến được trước hay một sự kiện nào đó khiến cho các đối táckhông muốn giao dịch hoặc cho vay đối với tổ chức đó Tổ chức này cũng đối mặt với

Trang 3

rủi ro thanh khoản nếu thị trường hoạt động của tổ chức này có nguy cơ mất khả năngthanh khoản.

Rủi ro thanh khoản thường đi kèm với nhiều rủi ro khác Nếu một đối tác vaytiền của ngân hàng có nguy cơ vỡ nợ thì ngân hàng sẽ phải huy động tiền từ nhữngnguồn khác để thanh toán khoản đi vay của ngân hàng, bù đắp vào chi trả này Nếungân hàng không có khả năng huy động tiền từ các nguồn khác để thanh toán khoản

nợ thì chính ngân hàng này cũng phải đối mặt với rủi ro vỡ nợ Như vậy, rủi ro thanhkhoản gắn liền với rủi ro tín dụng

Ví dụ:

Năm 2003, NHTM cổ phần Á Châu bị một tin đồn thất thiệt về việc Tổng giámđốc bỏ trốn Thế là, dòng người gửi tiền có kỳ hạn, ào ạt đến rút tiền gửi trước hạn, ởcác chi nhánh tại Tp Hồ Chí Minh NHNN Việt Nam, chi nhánh Tp Hồ Chí Minhkhẩn cấp tiếp vốn bằng tiền mặt cho NHTM cổ phần Á Châu Tổng giám đốc NHTM

cổ phần Á Châu xuất hiện trên truyền hình Việt Nam, cải chính tin đồn thất thiệt, từ

đó mới dẹp được nạn khách hàng gửi tiền có kỳ hạn, ồ ạt đến rút tiền trước hạn, tựnguyện hưởng lãi suất không kỳ hạn, bằng một phần tư lãi suất khi gửi Trong vàingày, NHNN Việt Nam, Chi nhánh TP Hồ Chí Minh tiếp hàng chục tỷ đồng tiền mặtcho NHTM cổ phần Á Châu, dưới hình thức chiết khấu có thời hạn các giấy tờ có giá

và cho vay tái cấp vốn theo các hồ sơ cho khách hàng vay, nhưng chưa đến hạn trả nợNHTM cổ phần Á Châu;

Năm 2005, NHTM cổ phần nông thôn Ninh Bình, bị một tin đồn thất thiệt:NHTM cổ phần này cho một tên lừa đảo vay mấy chục triệu USD, không thu hồiđược Thế là, dòng người gửi tiền có kỳ hạn, ồ ạt đến rút tiền gửi có kỳ hạn trước hạnngày một đông NHNN Việt Nam, chi nhánh tỉnh Ninh Bình phải ra tay cứu trợ, tiếpgần chục tỷ đồng tiền mặt cho NHTM cổ phần nông thôn Ninh Bình, mới thoát nạnRRTK

c) Chiến lược phòng ngừa của Ngân hàng

 Đối với Ngân hàng nhà nước

Ngân hàng nhà nước vẫn cần hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM thông qua cáccông cụ điều hành chính sách tiền tệ Trong bối cảnh thực thi chính sách thắt chặt tiền

tệ, tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát Đối với các NHTM lớn, có nhiều giấy tờ có giá

đủ tiêu chuẩn thì việc hỗ trợ thanh khoản sẽ thông qua nghiệp vụ thị trường mở tạiNHNN Đối với các NHTM nhỏ không đủ giấy tờ có giá hoặc không có khả năng

Trang 4

cạnh tranh trên thị trường mở thì NHNN hỗ trợ thông qua công cụ tái cấp vốn Việc

hỗ trợ này của NHNN rất ngắn hạn và các NHTM được yêu cầu phải điều chỉnh lại cơcấu nguồn và sử dụng nguồn cho phù hợp, hạn chế thấp nhất rủi ro thanh khoản

 Đối với các NHTM

Thực hiện việc cơ cấu lại tài sản nợ và tài sản có cho phù hợp

Đây là công việc hết sức quan trọng để quản lý rủi ro thanh khoản của cácNHTM Các ngân hàng cần xem lại cơ cấu danh mục tài sản nợ, tài sản có cho phùhợp, nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra, đó là cơ cấu lại nguồn vốn huy động

và cho vay trên thị trường; cơ cấu lại dư nợ cho vay ngắn hạn với cho vay trung hạn,giữa nguồn huy động ngắn hạn dùng để cho vay trung, dài hạn

Thực hiện việc phát hành giấy tờ có giá, điều chỉnh cơ cấu cho vay vào các lĩnh vực nhạy cảm và rủi ro nhiều như chứng khoán, bất động sản và tiêu dùng

Các ngân hàng đều phải duy trì một tỷ lệ dự trữ (bao gồm tiền mặt trong ngânhàng, tiền gửi tại Ngân hàng Trung ương và các tài sản có tính lỏng cao khác) Làmnhư vậy để đảm bảo duy trì dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Trung ương và để đối phóvới các dòng tiền đi ra Việc kết hợp giữa dự trữ sơ cấp và dự trữ thứ cấp sẽ giúp ngânhàng chủ động vừa đối phó với rủi ro thanh khoản vừa có thu nhập hợp lý Các ngânhàng cần xem xét lại cơ cấu về danh mục tài sản nợ cho phù hợp nhằm hạn chế rủi ro

ở mức thấp nhất đó là cơ cấu lại nguồn vốn huy động và cho vay trên thị trường I (huyđộng tiền gửi từ các tổ chức và dân cư); cơ cấu lại dư nợ cho vay ngắn hạn với chovay trung, dài hạn, giữa nguồn huy động ngắn hạn dùng để cho vay trung, dài hạn.Thực hiện việc phát hành các giấy tờ có giá, điều chỉnh cơ cấu huy động vốn giữa thịtrường I và thị trường II (thị trường liên ngân hàng); điều chỉnh cơ cấu cho vay vàocác lĩnh vực nhạy cảm và rủi ro cao như chứng khoán, bất động sản và tiêu dùng

Thực hiện tốt quản lý rủi ro lãi suất khe hở lãi suất

Cần hoàn thiện các quy định liên quan đến huy động và cho vay (nhất là huyđộng, cho vay trung, dài hạn) theo lãi suất thị trường; cần có cách giải quyết khoa học

để không xảy ra tình trạng các khách hàng gửi tiền rút tiền trước hạn khi lãi suất thịtrường tăng cao hoặc khi có các đối thủ khác đưa ra lãi suất cao, hấp dẫn khách hànghơn Hiện nay, xuất hiện một thực tế là các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng đến hạnkhông chịu trả nợ vay vì họ e ngại sau khi trả sẽ rất khó vay lại được tiền từ ngânhàng Vì thế, họ sẵn sàng chịu phạt lãi suất quá hạn ghi trong hợp đồng vì như vậy, so

Trang 5

ra vẫn còn thấp hơn lãi suất cho vay mới Chính điều này đã gây ảnh hưởng lớn đếnkhả năng thanh khoản của ngân hàng.

Thực hiện tốt quản lý rủi ro kỳ hạn

Sự không cân đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng là lý doquan trọng làm cho các ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản trong thời gian qua Vấn

đề sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn với tỷ trọng lớn hoặc cùng là ngắnhạn và trung, dài hạn nhưng thời hạn cụ thể khác nhau (ví dụ như huy động trung, dàihạn hai năm nhưng cho vay trung hạn ba năm) cũng làm cho ngân hàng khó khăntrong việc kiểm soát dòng tiền ra và dòng tiền vào của mình

Thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro

Thị trường tiền tệ phái sinh ở Việt Nam còn rất hạn chế, tuy nhiên, sau đợt biếnđộng của thị trường tiền tệ trong thời gian qua, chắc chắn các ngân hàng sẽ quan tâmnhiều hơn và nó sẽ giúp cho ngân hàng quản lý tốt hơn tài sản nợ, tài sản có của mình.Thị trường REPO là công cụ khá hiệu quả trong việc tạo ra tính lỏng cao cho cácchứng khoán nợ và cơ cấu tài sản có nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng mộtcách nhanh chóng Forward và Future cũng là những công cụ để cầm giữ lãi suất giaodịch nhằm hạn chế rủi ro khi lãi suất thị trường biến động Đặc biệt SWAP là công cụquan trọng để các ngân hàng có thể cơ cấu lại tài sản nợ, tài sản có trên bảng cân đốitài sản của mình, nhằm hạn chế các tác động của rủi ro lãi suất, rủi ro kỳ hạn

Tóm lại

Với thực trạng thị trường như hiện nay, vấn đề nâng cao chất lượng quản lý rủi

ro thanh khoản nhằm giảm thiểu rủi ro vỡ nợ là mối quan tâm hàng đầu, là bài toánkhó đặt ra không chỉ với một ngân hàng riêng lẻ mà đối với toàn hệ thống từ Ngânhàng Nhà nước cho tới các ngân hàng thương mại

Quản lý rủi ro thanh khoản không đơn thuần chỉ là vấn đề của các dòng tiền,vấn đề cơ cấu của tài sản Nợ - Có trên bảng cân đối tài sản mà nó chính là hoạt độngquản trị của một NHTM Vì thế, các NHTM cần hiểu rõ tầm quan trọng của quản lýrủi ro thanh khoản, chủ động xây dựng chính sách khung về quản lý rủi ro thanhkhoản, thiết lập các quy trình cụ thể nhằm xác định, đo lường, kiểm soát các rủi ro vềthanh khoản có thể xảy ra Các ngân hàng cần có được khả năng dự báo với độ chínhxác cao các luồng tiền vào, luồng tiền ra, đặc biệt là các luồng tiền liên quan tới cáccam kết ngoại bảng và các nghĩa vụ tài sản nợ để chủ động đưa ra kế hoạch hoạt độngtrong các tình huống bất ngờ

Trang 6

Cuối cùng, các ngân hàng cũng cần hiểu rõ mối quan hệ hữu quan giữa các loạirủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá với rủi ro thanh khoản để có được địnhhướng đúng đắn trong việc hoạch định chính sách kinh doanh của mình.

2.2 Rủi ro hối đoái

a) Định nghĩa

Rủi ro tỷ giá hối đoái (Foreign Exchange Rate (Forex) Risk): là loại rủi ro

phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biếnđộng theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng

Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của ngân hàngcũng như của khách hàng Nhưng nhìn chung, bất cứ hoạt động nào mà ngân lưu thuphát sinh bằng một loại đồng tiền trong khi ngân lưu chi phát sinh một loại đồng tiềnkhác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá thể hiện ở chỗ khi tỷ giá thayđổi làm cho ngân lưu thay đổi theo

b) Nguyên nhân

Do rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh khi có sự biến động tỷ giá theo chiều hướngbất lợi cho Ngân hàng, hầu hết các dịch vụ ngân hàng thương mại hình thành bên tàisản Nợ, tài sản Có hay các khoản thanh toán bằng ngoại tệ đều chịu ảnh hưởng của rủi

ro và tổn thất ngoại hối Rủi ro tỷ giá của NHTM có thể phát sinh qua những hoạtđộng sau đây:

- Hợp đồng với khách hàng nội địa liên quan đến tài sản Có, tài sản Nợ và cácgiao dịch ngoại bảng bằng ngoại tệ

- Hợp đồng với khách hàng nước ngoài liên quan đến tài sản Có, tài sản Nợ vàcác giao dịch ngoại bảng bằng ngoại tệ hay nội tệ

- Mua và bán ngoại tệ (giao ngay và kỳ hạn) với khách hàng hoặc cung cấp dịch

vụ phòng ngừa tổn thất ngoại hối cho khách hàng

- Giao dịch ngoại tệ trên tài khoản riêng của NHTM, chẳng hạn như giao dịchkinh doanh ngoại tệ của ngân hàng trên thị trường quốc tế

Bất luận là giao dịch gì, phát sinh như thế nào, suy cho cùng các giao dịch nàycũng hình thành nên các khoản phải thu và phải trả bằng ngoại tệ đối với NHTM, từ

đó gây ra rủi ro tỷ giá, dẫn tới tổn thất cho NHTM khi tỷ giá thay đổi

c) Chiến lược phòng ngừa của Ngân hàng

Trang 7

Đứng trước rủi ro tỷ giá, nhà quản lý phải ra quyết định: (1) chấp nhận trạngthái mở với kỳ vọng kiếm lợi nhuận do thay đổi tỷ giá hay là (2) sử dụng các giải pháp

để phòng ngừa rủi ro tỷ giá Đây là một quyết định không đơn giản Để ra quyết địnhnày, trước hết, nhà quản lý ngân hàng phải dựa vào thông tin có ảnh hưởng để dự báo

tỷ giá, từ đó hình thành kỳ vọng về tỷ giá ngoại tệ trong tương lai Kế đến, dựa vàothái độ của nhà quản lý đối với rủi ro để ra quyết định có nên phòng ngừa rủi ro tỷ giáhay không Nếu quyết định nên phòng ngừa rủi ro để tránh tổn thất ngoại hối thì bướctiếp theo nhà quản lý xem xét các giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá như thế nào

Để kiểm soát rủi ro do tỷ giá mang lại, các ngân hàng thường sử dụng các giảipháp sau:

Giải pháp chiến lược

Giải pháp này phát sinh từ các nghiệp vụ vốn có của hầu hết các ngân hàngthương mại là hoạt động cho vay và huy động vốn Muốn áp dụng hiệu quả giải phápnày, các nhà quản trị ngân hàng phải điều chỉnh các khoản cho vay và huy động vốnngoại tệ một cách sáng suốt, tỉnh táo có kết hợp với việc nghiên cứu sự biến động củathị trường trong nước và quốc tế

Trong thực tế, biện pháp này đã được các ngân hàng thương mại thường xuyên

áp dụng Chẳng hạn, ở Việt Nam trong những năm 1994 - 1996, tỷ giá (VND/ USD)tương đối ổn định, các ngân hàng thương mại đã chuyển một số USD khá lớn thànhcác khoản tín dụng bằng VND để hưởng khoản lợi nhuận đặc biệt do sự chênh lệch lãisuất giữa hai đồng tiền mang lại Trong thời điểm này, nhiều ngân hàng thương mạiduy trì trạng thái ngoại hối âm (đoản thế) về USD Đến giữa năm 1997, khi USD códấu hiệu lên giá, các ngân hàng có trạng thái ngoại hối ở tình thế đoản đã làm giảmkhoảng chênh lệch giữa tài sản có USD và tài sản nợ USD của mình bằng cách: tăngcác khoản dự trữ bằng USD; hạn chế việc chuyển đổi USD thành các khoản tín dụngVND; thu hút các nguồn tiền gởi USD v v Kết hợp với một số chính sách về quản lýngọai hối của Nhà nước, các biện pháp trên đã giúp các ngân hàng thương mại vượtqua cuộc khủng hoảng về tài chính Tuy nhiên, biện pháp này đòi hỏi nhà quản trị mộtthời gian tương đối dài để có thể biến ý tưởng thành hiện thực Vì vậy, nó thườngđược dùng để khắc phục các rủi ro tương đối dài hạn

Giải pháp chiến thuật

Trong trường hợp các giải pháp chiến lược diễn ra ngoài dự kiến, các nhà quảntrị ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp chiến thuật Biện pháp chiến thuật bắt nguồn

Trang 8

từ các giao dịch ở thị trường tiền tệ, thị trường vốn và các giao dịch có kỳ hạn(Futures, Swaps, Options) Cụ thể, nếu một ngân hàng đang ở trạng thái trường vềUSD nhưng ngân hàng dự đoán trong ba tuần sau USD sẽ giảm giá, để đối phó với rủi

ro này, ngân hàng sẽ thực hiện các giao dịch bán USD có kỳ hạn ba tuần ở thị trườngtiền tệ Giả sử ba tuần sau, USD hạ giá như dự đoán, ngân hàng đã giảm được mộtkhoản thiệt hại đáng kể về ngoại hối Biện pháp này thường được dùng để hạn chế cácrủi ro trung hạn

Giải pháp kinh doanh

Bên cạnh mục đích tìm kiếm lợi nhuận, các ngân hàng thương mại còn sử dụngnghiệp vụ mua bán ngoại tệ để kiểm soát rủi ro ngoại hối của mình nữa Trong thực tế,các biện pháp này được áp dụng rất linh động, nhạy bén và có một vai trò rất lớn; bởi

vì, nó giúp cho nhà quản trị giải quyết tình thế ngoại hối của mình trong vài phút.Điểm cần lưu ý khi áp dụng giải pháp này là nếu các biện pháp chiến lược và chiếnthuật do các nhà quản trị cấp cao và cấp trung thực hiện thì biện pháp kinh doanh lại

do một vài nhân viên cấp thấp thi hành Chính vì đặc điểm trên, ban giám đốc ngânhàng cần phải quản lý liên tục, phải thiết lập các tình thế cụ thể và phải giới hạn mức

lỗ tối đa cho từng nhân viên để họ có thể chủ động đưa ra lệnh mua, lệnh bán hiệu quảnhưng vẫn đảm bảo tính an toàn trong kinh doanh

Tóm lại

Do có sự khác biệt về mức độ phát triển của thị trường tài chính của từng nước,chính sách quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia, cũng như năng lực quản lý của từngngân hàng nên việc áp dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro tỷ giá hối đoái giữa cácngân hàng trên thế giới cũng khác nhau Ngân hàng ở các nước đang phát triển thường

áp dụng các biện pháp chiến lược để hạn chế rủi ro tỷ giá Trong khi tại các nước cóthị trường tài chính phát triển, các ngân hàng lớn thích áp dụng các biện pháp chiếnthuật, biện pháp kinh doanh để kiểm soát tỷ giá Mỗi biện pháp đều có những mặtmạnh, điểm yếu riêng Do đó, việc áp dụng khoa học, sáng suốt các biện pháp kiểmsoát nhằm đưa ngân hàng vượt qua rủi ro tỷ giá hối đoái là việc làm mà thiết nghĩ cácnhà quản trị ngân hàng nên quan tâm

2.3 Rủi ro giá cả

a) Định nghĩa

Một trong những cách để có thể đạt được lợi nhuận trên thị trường tài chính lànắm bắt những thay đổi có lợi trong lãi suất thị trường và tạo nên trạng thái bất cân

Trang 9

30%/1 năm

20%/6 tháng <=20%/ 6 tháng

30%/ 1 năm

20%/6 tháng 40%/6 tháng

xứng giữa các dòng tiền của ngân hàng Với những cơ hội này nếu như dự đoán đúng

sự thay đổi của lãi suất thì chúng ta có một khỏan lợi nhuận, ngược lại nếu biến độnglãi suất trái với kì vọng thì chúng ta bị tổn thất

Lãi suất trong lĩnh vực ngân hàng được hiểu chính là giá cả, đó là cái giá phảitrả để khách hàng có một khoản tín dụng ngân hàng cung cấp hay cái giá phải trả đểngân hàng có một dòng tiền vào Lãi suất thay đổi sẽ có tác động khác nhau đến lợinhuận của ngân hàng tùy thuộc vào trạng thái giữa dòng tiền ra và vào của ngân hàng

b) Nguyên nhân

Trong những giao dịch trên thị trường tiền tệ, khi thời gian đáo hạn của cáckhoản đầu tư không khớp với thời gian đáo hạn của các khoản ngân hàng đi vay thì rủi

ro giá nảy sinh

Giả sử ngân hàng cho vay (hay đầu tư ) với thời hạn là 1 năm, trong khi đi vaytrên thị trường với thời hạn ngắn hơn là 6 tháng Lãi suất của khoản cho vay là cốđịnh, và sau 6 tháng thì lãi suất thị trường thay đổi, chúng ta phải đi vay với một lãisuất khác để tài trợ cho tài sản trên Ngân hàng luôn kì vọng rằng lãi suất ngắn hạnnày sẽ ít nhất là bằng hoặc thấp hơn lãi suất hiện tại để chi phí mà ngân hàng tài trợcho tài sản hoặc là giữ nguyên hoặc là thấp hơn, và như thế là có lãi hơn,

Tài sản

Nợ

Tuy nhiên nếu lãi suất lại tăng lên cao hơn, chẳng hạn là 40%/6 tháng,chúng ta phải tái đầu tư cho khoản tài sản với lãi suất cao hơn, ngân hàng buộc phảitạo thanh khoản cho tài sản nhưng lại bị thiệt hại

tài sản

nợ

Trang 10

Tương tự với trường hợp ngược lại tức là khi ngân hàng đầu tư, cho vay với thờihạn ngắn hơn thời hạn đi vay để tài trợ cho tài sản Rủi ro giá xuất hiện khi ngân hàngphải đầu tư vào tài sản có với mức giá thấp hơn giá ngân hàng phải trả để có nguồnvốn đầu tư cho tài sản này.

Nói chung rủi ro giá cả xuất hiện khi:

- Với những khoản phải thu hay dòng tiền vào của ngân hàng (tàisản như đầu tư, cho vay ) rủi ro nếu lãi suất giảm hay giá mà ngân hàng nhậnđược từ những khoản đầu tư này giảm thấp hơn so với chi phí nó phải bỏ ra để

có vốn đầu tư

- Với những khoản phải trả hay dòng tiền ra của ngân hàng (khoản

đi vay, tiền gửi của khách hàng ) rủi ro xuất hiện khi lãi suất tăng hay mức giá

mà ngân hàng phải trả cao hơn khoản nó có thể thu về

Chúng ta có thể xét một trường hợp khác là khi lãi suất thay đổi ảnh hưởng tớigiá trị của các khoản đầu tư của ngân hàng như trái phiếu, cổ phiếu Lãi suất tăng làmgiá của những tài sản này giảm, nếu ngân hàng bán đi những tài sản này trong giaiđoạn lãi suất tăng thì phải chịu thiệt hại Đó cũng là một loại rủi ro giá liên quan tới lãisuất

Trang 11

Hội đồng quản trị

Ban Tổng giám đốc

Uỷ ban Quản lý rủi ro

Uỷ ban quản lý tài sản và công nợ (ALCO) Uỷ ban quản lý rủi ro tín dụng

Phòng kiểm toán và kiểm soát nội bộ

II Bộ phận quản trị rủi ro.

1 Mô hình tổ chức chung.

Uỷ ban Quản lý rủi ro đóng vai trò thúc đẩy quá trình phát triển và duy trì một

mô hình quản lý rủi ro tiên tiến và phê duyệt cách thức và phương pháp đo lường địnhlượng rủi ro

Uỷ ban quản lý tài sản và công nợ (ALCO) Mục tiêu của ALCO bao

gồm:Quản lý bảng cân đối kế toán trong hạn mức rủi ro và thu nhập đã được phê

duyệt của ngân hàng; Đảm bảo cơ cấu rủi ro nhất quan với chiến lược về rủi ro của

Hội đồng Quản trị; Xem xét sản phẩm mới và sản phẩm hiện có về các mặt rủi ro, tài

Trang 12

chính và mức vốn; và Đảm bảo cân nhắc đến các yếu tố ảnh hưởng tiềm năng đối với

các quyết định về rủi ro của ngân hàng

Phòng Kiểm toán và kiểm soát nội bộ (ICAD): báo cáo Tổng giám đốc, có vai

trò quan trọng trong việc xác định liệu việc thực thi chiến lược quản lý rủi ro có tuân thủ theo các chính sách quản lý rủi ro đã được thiết lập, và liệu các kiểm soát nội bộ hiện tại có đầy đủ và phù hợp Việc ICAD là bộ phận độc lập với các hoạt động hàng ngày và có nhiệm vụ xem xét hoạt động của tất cả các bộ phần là một vấn đề rất quan trọng

Uỷ ban Quản lý Rủi ro tín dụng: bao gồm các thành viên của Ban Giám đốc và

những cán bộ quản lý tín dụng cấp cao Uỷ ban này chịu trách nhiệm duy trì tính đúng

đắn của khung quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng, bao gồm: Xây dựng và đề xuất

các chính sách và thủ tục quản lý rủi ro tín dụng để Ban Giám đốc phê duyệt; Xem xétcác giới hạn của danh mục dựa theo chiến lược về rủi ro của ngân hàng; Xem xét các

kế hoạch làm việc và các báo cáo lập bởi bộ phận Kiểm tra tín dụng Độc lập và Kiểm

toán nội bộ; Đánh giá khả năng thu hồi, tính chính xác của việc xếp hạng tín dụng, và

tính đầy đủ của việc lập dự phòng; Đánh giá và giám sát chất lượng danh mục tín dụng và phân bố các thành phần của danh mục tín dụng; Duy trì và xem xét lại mô hình hệ thống cho điểm tín dụng nhằm tuân thủ theo chính sách và nhằm phản ánh đúng các điều kiện thị trường

Năm phòng ban thuộc phần dưới cùng của sơ đồ là nơi cung cấp thông tin đầu tiên cho các Uỷ ban quản lý rủi ro, vì các phòng ban này có liên quan đến các hoạt động córủi ro (Phòng tín dụng, Phòng Kinh doanh ngoại tệ) hay có khả năng thu thập thông tin để đo lường rủi ro (Phòng Kế toán, Phòng tin học)

2 Quy trình thực hiện :

Ban quản trị rủi ro chịu trách nhiệm theo dõi, đánh giá và phân tích cũng như đề xuất các giải pháp và quản trị đối với các loại hình rủi ro về thanh khoản, lãi suất, tỷ giá hốiđoái, giá cả để trên cơ sở đó báo cáo về toàn bộ hiện trạng rủi ro với tổng giám đốc, uỷban ALCO và uỷ ban quản trị rủi ro của hội đồng quản trị đồng thời kiến nghị các giảipháp thích hợp

Chính sách quản trị rủi ro thị trường và các giới hạn rủi ro thị trường do Tổng giám đốc xây dựng phải được thông qua phê duyệt của ALCO và uỷ ban quản trị rủi ro của HĐQT

Hoạt động quản lý rủi ro có thể được xem như là một chu kỳ gồm 4 giai đoạn sau:

Trang 13

Xác định rủi ro Định lượng rủi ro

Xác định rủi ro Định lượng rủi ro Quản lý rủi ro Kiểm soát rủi ro

Quy trình định lượng rủi ro cũng cần phải đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin

Các giới hạn rủi

ro phải thống nhất với các chính sách của Ngânhàng và các giới hạn đã được phê duyệt

Quản lý rủi ro cũng cần bảo đảm các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng không phải gánh chịu những rủi ro làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng cạnh tranh của Ngân hàng

Các báo cáo

về rủi ro cần phải cung cấp những thông tin thcíh hợp, chính xác và kịp thời

về tình trạng rủi ro của ngân hàng cho Ban lãnh đạo

Các cá nhân thực hiện hoạt động kiểm soát rủi ro cần phải độc lập với những người thực hiện việc chấp nhận rủi ro (thực hiện các hoạt động làm phát sinh rủi ro)

3 Chức năng:

Trang 14

Khối quản lý rủi ro là Khối nghiệp vụ trực thuộc Ban điều hành, được thành lập để thực hiện các nghiệp vụ quản lý rủi ro của Ngân hàng.

- Thực hiện báo cáo kết quả giám sát rủi ro, quản trị nội bộ lên Hội đồng quảntrị, Ban điều hành nhằm phục vụ công tác lập ngân sách, điều hành ngân sách, đánhgiá thực hiện ngân sách

- Xây dựng chiến lược và các chính sách quản lý rủi ro trình lên Hội đồngQuản trị, Ban điều hành

- Xác định các rủi ro hiện hành, rủi ro chưa phát hiện và các rủi ro mới củaNgân hàng

- Đề xuất chính sách, quy chế, quy trình, thủ tục, hạn mức và cơ chế kiểmsoát rủi ro

- Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin quản lý, hệ thống đo lường, đánhgiá rủi ro, các biện pháp phòng chống, giảm thiểu rủi ro

- Đào tạo nhân viên, cập nhật về quản lý rủi ro và tự đánh giá hiệu quả quản

lý rủi ro

- Thực hiện tổng hợp các dữ liệu thị trường về lãi suất huy động để tham mưutrong việc xây dựng các phương án, kịch bản huy động, kinh doanh vốn từng thời kỳphù hợp

- Thực hiện kiểm soát rủi ro: Nhận dạng rủi ro, Đo lường rủi ro; Giám sát,kiểm soát; Biện pháp hạn chế rủi ro và xử lý rủi ro

- Xây dựng các quy định, quy trình cụ thể trong kiểm soát rủi hoạt động củaPhòng Nguồn vốn: rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng…

- Giám sát việc tuân thủ các quy trình, quy định của phòng Nguồn vốn để hạnchế các kiểm soát rủi ro hoạt động của Phòng

- Đóng vai trò thúc đẩy quá trình phát triển và duy trì một mô hình quản lý rủi

ro tiên tiến và phê duyệt cách thức, phương pháp đo lường định lượng rủi ro

- Đảm bảo các rủi ro của ngân hàng được nhận thức rõ Đảm bảo bản chất vàquy mô các rủi ro của ngân hàng nhất quán với phương hướng của ban lãnh đạo ngânhàng

- Xem xét báo cáo quản lý rủi ro và có kế hoạch hoạt động khi rủi ro đượcphát hiện không nhất quán với phương hướng của ban lãnh đạo ngân hàng

- Phê duyệt các chính sách quản lý rủi ro và hạn mức cho các rủi ro chính vềtín dụng, thị trường (bao gồm cả rủi ro hối đoái và lãi suất), thanh khoản và hoạt động

4 Quy trình một số nghiệp vụ quản trị rủi ro.

Trang 15

4.1 Quy trình thực hiện nghiệp vụ quản trị rủi ro thanh khoản

4.1.1 Cơ cấu tổ chưc quản lý rủi ro thanh khoản

Cơ cấu tổ chức cần được thiết lâp để thực hiện chiến lược quản lý rủi ro thanh khoản Trách nhiệm quản lý rủi ro thanh khoản được giao cho Uỷ ban quản lý tài sản/công

nợ Giữa các cá nhân chịu trách nhiệm quản lý rủi ro thanh khoản cần phải có liên hệ chặt chẽ với những người chịu trách nhiệm theo dõi các điều kiện của thị trường Điềunày có thể giúp việc ra quyết định và có các hoạt động kịp thời với các thay đổi trên thị trường Sau đây là một số phòng ban quan trọng trong ngân hàng liên quan tới việcquản lý rủi ro thanh khoản:

Hội đồng Quản trị: có nhiệm vụ

- Phê duyệt chiến lược và các chính sách quan trọng liên quan đến quản lý rủi rothanh khoản;

- Giám sát tình hình thanh khoản và cơ cấu rủi ro của ngân hàng một cách định

kỳ để hiểu và đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng

Uỷ ban quản lý rủi ro: có nhiệm vụ

- Đảm bảo rằng hoạt động của ngân hàng phù hợp với chiến lược thanh khoản đãđặt ra;

- Đảm bảo các chính sách và thủ tục cần thiết cho quản lý rủi ro thanh khoản đượcthực hiện;

- Quản lý tình hình thanh khoản và cơ cấu rủi ro của ngân hàng một cách định kỳ đểhiểu và đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng;

- Giám sát hoạt động của Uỷ ban quản lý tài sản/công nợ và việc xử lý các vấn đềquan trọng của Uỷ ban này

Uỷ ban quản lý tài sản/công nợ (ALCO)

ALCO có trách nhiệm quản lý khả năng thanh khoản nói chung, bao gồm các công việc cụ thể như sau:

- Xây dựng và thực hiện các thủ tục quy trình quản lý khả năng thanh khoản, đảmbảo rằng các thủ tục qui trình luôn được cập nhất để đảm bảo tính đầy đủ, thậntrọng;

- Xây dựng và xem xét các hạn mức đảm bảo khả năng thanh toán đầy đủ, cáctrường hợp vượt hạn mức được xem xét và phê duyệt;

Trang 16

- Quyết định cơ cấu bảng cân đối kế toán –các tài sản và công nợ theo tính thanhkhoản và theo thời gian đáo hạn.

- Lập các báo cáo cho Ban Giám đốc, Uỷ ban quản lý rủi ro về các hoạt động thanhkhoản và cơ cấu rủi ro của ngân hàng một cách thường xuyên;

- Lập kế hoạch dự phòng chỉ rõ các hoạt động quản lý trong trường hợp có khủnghoảng và khả năng thanh khoản;

Ban Giám đốc chi nhánh.

4.1.2 Quy trình thực hiện nghiệp vụ quản trị rủi ro thanh khoản.

Quy trình thực hiện nghiệp vụ quản trị rủi ro thanh khoản thực hiện như sau

Việc quản lý rủi ro thanh khoản hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào các quy trình hoạt động và quy trình kiểm soát Những quy trình hoạt động chính bao gồm:

- Hàng ngày theo dõi sát sao các chi nhánh để đảm bảo các thiếu hụt hay thặng dư

về nguồn vốn được phát hiện và giải quyết kịp thời;

- Tận dụng mối liên hệ giữa các ngân hàng để có được sự linh hoạt tài chính và quản

lý tiền mặt hiệu quả

- Quy trình quản lý tiền mặt hàng ngày đi đôi với cơ cấu của chức năng tài chính (vídụ: tâp trung hoá, địa phương hoá )

- Các quy trình liên quan đến các khoản phải trả cho phép ngân hàng tối đa giá trịthời gian của khoản tiền (ví dụ: tận dụng lợi thế của các giảm giá, chiết khấu )

- Các thủ tục thu hồi hiệu quả, bao gồm cả việc nhắc nhỏ và đòi tiền bồi thường dotrả chậm

Bước 1: Nhận biết rủi ro thanh khoản

Trên thực tế, không một ngân hàng nào có thể khẳng định dự trữ thanh khoảncủa ngân hàng mình đã hợp lý hay không, nếu như chưa vượt qua thử thách của thịtrường Do vậy, các nhà quản trị cần chú ý đến các tín hiệu sau đây của thị trườngtài chính:

Kiểm soát rủi

ro thanh khoản

Nhận biết rủi

ro thanh khoản Đo lường rủi rothanh khoản Biện pháp quảntrị rủi ro thanh

khoản

Trang 17

Lòng tin của công chúng: Các cá nhân và tổ chức có lo ngại về khả năng

thanh khoản của ngân hàng?

Sự vận động trong giá cả cổ phiếu: Giá cổ phiếu của ngân hàng đang giảm

sút có phải do nhà đầu tư lo ngại về một cuộc khủng hoảng thanh khoản có thể xãy ra đối với ngân hàng?

Phần bù rủi ro trên chứng chỉ tiền gửi và các khoản cho vay khác: Phần

bù rủi ro này có cao hơn mức bình quân trên thị trường; điều đó thể hiện nhà đầu tư có những lo ngại về tương lai phát triển của ngân hàng?

Tổn thất trong việc bán tài sản: Ngân hàng có phải thường xuyên bán tài

sản với tổn thất đáng kể nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản?

Khả năng đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng: Với khoản tín dụng

chất lượng cao, ngân hàng luôn có khả năng đáp ứng hay từ chối?

Vay vốn từ ngân hàng trung ương: Ngân hàng có phải nằm trong tình

huống bắt buộc phải vay những khoản lớn từ ngân hàng trung ương để đảm bảo khả năng thanh toán?

Nếu câu trả lời là có cho bất kỳ tín hiệu nào trên đây, nhà quản trị cần xem xét lại chiến lược quản trị và thực tế khả năng thanh khoản để có các quyết định thay đổi phù hợp nhằm mang lại một kết quả tốt hơn cho trạng thái thanh khoản

Bước 2: Đo lường rủi ro thanh khoản

Một số phương pháp xác định rủi ro thanh khoản

Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn:

Phương pháp này bắt nguồn từ hai thực tế đơn giản sau: Một là, khả năng thanhkhoản của ngân hàng tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm Hai là, khả năng thanhkhoản của ngân hàng giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng Hay thực chất củaphương pháp này là đo lường cung cầu thanh khoản, trong đó phần chủ yếu của cungcầu thanh khoản là tiền gửi và cho vay nên phương pháp này tập trung vào đo lườngnhững thay đổi dự tính trong tiền gửi và cho vay của ngân hàng

Bước 1: Dự báo nhu cầu vay vốn và tiền gửi kỳ KH

Để xây dựng mô hình dự báo về tiền gửi và tiền vay trong tương lai, nhàquản trị có thể sử dụng các kỹ thuật thống kê khác nhau cộng với kinh nghiệm củamình Chẳng hạn, một mô hình dự báo về sự thay đổi trong tiền gửi và tiền vay cóthể như sau:

Thay đổi dự kiến của tiền vay phụ thuộc vào các biến số sau:

 Tốc độ tăng trưởng dự kiến của GDP

Trang 18

 Lợi nhuận doanh nghiệp dự kiến.

 Tỷ lệ tăng trưởng về cung tiền của ngân hàng thương mại

 Tỷ lệ tăng trưởng của tín dụng thương mại

 Tỷ lệ lạm phát dự báo

Thay đổi dự kiến của tiền gửi phụ thuộc vào các biến số sau:

 Tăng trưởng về thu nhập cá nhân dự kiến

 Mức tăng bán lẻ dự báo

 Tỷ lệ tăng trưởng cung tiền của ngân hàng trung ương

 Lợi suất dự kiến của tiền gửi trên thị trường tiền tệ

 Tỷ lệ lạm phát dự kiến

Bước 2: Tính sư thay đổi dự tính về cho vay, tiền gửi kỳ KH

Sau khi xây dựng được mô hình dự báo nêu trên, ngân hàng có thể ước lượngnhu cầu thanh khoản bằng cách tính:

Bước 3: Xác định khe hở thanh khoản

Khe hở thanh khoản = Tổng cung thanh khoản - Tổng cầu thanh khoản

- Khe hở thanh khoản > 0: khe hở thanh khoản dương Ngân hàng phải nhanh chóngđầu tư phần thanh khoản thặng dư này để sinh lợi

- Khe hở thanh khoản < 0: Khe hở thanh khoản âm Ngân hàng phải tìm kiếm kịpthời các nguồn tài trợ khác nhau với chi phí thấp nhất để bổ sung thiếu hụt thanhkhoản

Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn

Nếu như phương pháp nguồn vốn và sử dụng vốn giúp ngân hàng đo lường cảnguồn cung và nguồn cung thanh khoản thì phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn chỉquan tâm đến Cầu thanh khoản Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa vàoviệc phân chia cớ cấu nguồn vốn huy động theo khả năng nguồn vốn này bị rút ra khỏingân hàng để xác định yêu cầu thanh khoản của ngân hàng

Trang 19

Phương pháp này được tiến hành theo trình tự hai bước:

Bước 1: Chia các khoản tiền gửi và các nguồn khác thành nhiều loại trên cơ

sở ước lượng xác suất rút tiền của khách hàng Chẳng hạn, tiền gửi và các nguồn

khác của ngân hàng có thể chia thành ba loại:

 Loại 1: Ổn định thấp

 Loại 2: Ổn định vừa phải

 Loại 3: Ổn định cao

Bước 2: Xác định mức dự trữ thanh khoản cho từng loại tiền gửi trên cơ sở

ấn định tỷ lệ dự trữ thích hợp với trạng thái của chúng Ví dụ:

 Loại 1: 95%

 Loại 2: 30%

 Loại 3: 15%

Như vậy, nhu cầu thanh khoản cho tổng các loại tiền gửi được tính như sau:

Dự trữ thanh khoản cho tài sản “Nợ” huy động = 95% x (Loại 1 – DTBB) +

30% x (Loại 2 – DTBB) + 15% x (Loại 3 – DTBB)

Đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng, ngân hàng phải sẵn sàng khi kháchhàng có nhu cầu và đảm bảo các điều kiện tín dụng tức là các khoản vay chất lượngcao Trong trường hợp này, nhu cầu thanh khoản cho các khoản cho vay là:

Dự trữ thanh khoản cho tài sản “Có” cho vay = Dự trữ thanh khoản tài sản

“Nợ” huy động + Nhu cầu tiền vay tiềm năng

PP thang đáo hạn

Phương pháp này xây dựng thang đáo hạn để so sánh các dòng tiền ra và dòng tiền vào trong mỗi ngày hoặc trong một thời kỳ nhất định, qua đó để xác định được các trạng thái thanh khoản ròng và trạng thái thanh khoản tích luỹ

- Các dòng tiền ra có thể được được xếp thứ tự theo ngày mà các tài sản Nợ đáohạn, ngày sớm nhất mà người gửi tiền tiết kiệm thực hiện quyển được rút tiền gửitrước hạn, hoặc ngày sớm nhất mà các nhu cầu về vốn phát sinh một cách đột xuất

- Các dòng tiền vào có thể được xếp thứ tự theo ngày mà các tài sản Có đáo hạnhoặc căn cứ vào ước tính của ngân hàng về dòng tiền

Ngày đăng: 04/04/2015, 15:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình hệ thống cho điểm tín dụng nhằm tuân thủ theo chính sách và nhằm phản ánh  đúng các điều kiện thị trường. - Quản lý và kiểm soát các rủi ro thanh khoản, rủi ro giá cả, và rủi ro hối đoái, liên hệ thực tế với ngân hàng VIB
Hình h ệ thống cho điểm tín dụng nhằm tuân thủ theo chính sách và nhằm phản ánh đúng các điều kiện thị trường (Trang 13)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w