1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUYÊN NHÂN THỰC SỰ CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ SỐ MỆNH CỦA ĐỒNG EURO

23 539 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 229 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động vào hệ thống ngân hàng vốn dễ bị tổn thương ởIreland và thị trường bất động sản ở Tây Ban Nha, khi chính phủ các nước ra tay cứu trợ đãchuyển phầ

Trang 1

ĐỀ TÀI: NGUYÊN NHÂN THỰC SỰ CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG

CHÂU ÂU VÀ SỐ MỆNH CỦA ĐỒNG EURO

I/ NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CHÂU ÂU

I 1 Nguyên nhân bên ngoài

Richard Baldwin and Daniel Gros (2010) cho rằng nguyên nhân bên ngoài đẩy Châu

Âu vào vị thế nghiêm trọng đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.

Khủng hoảng nợ dưới chuẩn bùng nổ vào tháng 8/ 2007 và trở thành cuộc khủng hoảngtài chính toàn cầu vào 9/2008 đã đẩy châu Âu vào vị thế hết sức nghiêm trọng trên 2 phương

diện Một là, suy thoái kinh tế đã kích hoạt cơ chế tự động điều chỉnh của nền kinh tế đã làm cho

thâm hụt ngân sách của các nước châu Âu trở nên nghiêm trọng hơn Tức là nợ công tích lũynhanh hơn Thu thuế giảm trong khi chi tiêu xã hội tăng vọt Trên hết, cuộc suy thoái làm cho

chính phủ đi vượt quá cơ chế tự động điều chỉnh để chống lại suy thoái với mở rộng chính sách

tài khóa Tất nhiên, điều đó có nghĩa là khoảng cách giữa thu và chi ngân sách chính phủ ngàycàng rộng Sự sụp đổ trong giá tài sản và thương mại toàn cầu đã đặt thêm nhiều gánh nặng lênthuế thu nhập Nhưng đó không phải là tất cả những thiệt hại của suy thoái kinh tế

Hai là, suy thoái kinh tế làm suy yếu tính bền vững thông qua mẫu số của tỉ lệ nợ Tốc độ

tăng trưởng trung bình giảm từ + 3% xuống -4% năm 2007, với các nước GIPs thì mức độ suygiảm còn lớn hơn, Ireland từ +6% còn -7%, các con số cho Hy Lạp, Bồ ĐÀo Nha, Tây Ban Nhacũng rất lớn Điều này tự nó làm cho nợ công khu vực châu Âu trở nên kém bền vững, và rõ néttrong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm bùng nổ bong bóng nhà đất ở khu vực châu Âutrước hết ở Ireland và Tây Ban Nha

Khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động vào hệ thống ngân hàng vốn dễ bị tổn thương ởIreland và thị trường bất động sản ở Tây Ban Nha, khi chính phủ các nước ra tay cứu trợ đãchuyển phần nợ tư thành nợ công làm tăng mức độ nợ quốc gia

I 2 Nguyên nhân bên trong- nguyên nhân thực sự

Richard Baldwin and Daniel Gros (2010): Sự phối hợp của chính sách tài chính quốc

gia thuận lợi nhờ sự phối hợp của Ủy Ban Châu Âu (EU) và Hội đồng Bộ trưởng khu vực Euro

Trang 2

Khuôn khổ chính sách của đồng tiền chung được xây dựng với giả định thị trường tàichính làm việc tốt Các “kỹ sư” EU khi tạo dựng ra một eurozone đã không nghĩ tới viễn cảnhcơn bão “khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008” có thể xảy ra.

Sai lầm căn bản là ở hiệp ước Maastricht, Masstricht tạo khung sườn pháp lý cho sự vận

hành kinh tế EU, trong đó, tỉ lệ lãi suất được ấn định chung Điều này không khác gì một cái áođược thiết kế cho tất cả, là điều không tưởng nhất mà EU ấn định cho các thành viên của mình

Tỉ lệ lạm phát không đồng đều với một chính sách lãi suất chung tạo ra lãi suất thực khácnhau với các xu hướng khác nhau Khách hàng ở Ireland và Tây Ban Nha trước cảnh lãi suấtthực âm đã ồ ạt vay để đầu tư vào các tài sản như nhà ở Ngược lại, Đức đã tạo ra lãi suất thực

tương đối cao với hiệu ứng ngược Hiện tượng này gọi là “luận điểm của Walters” có thể nhìn

thấy trong sự bùng nổ giá nhà ở các nước eurozone giai đoạn 2000 – 2007

Nhưng tại sao cuộc khủng hoảng chỉ tập trung ở khu vực đồng tiền chung Châu Âu mà không lan sang các nước khác? Lý do có phải là ở đồng Euro? Hay do sai lầm nội tại của bản thân khu vực đồng tiền chung? Nơi mà người ta vẫn gọi là “ngôi nhà chung” nhưng lại không

có “tiếng nói chung”?

Nhìn lại quãng thời gian 10 năm Euro đồng hành cùng liên minh Châu Âu tồn tại, một quãng đường không phải quá dài đối với sự tồn tại của một đồng tiền nhưng không là ngắn để

có thể nhận ra một hành động hay chính sách sai lầm Đồng Euro, một trong hai đồng tiền mạnh nhất thế giới đã từng là niềm hi vọng và tự hào của người dân châu Âu, để rồi, sau mười năm tồn tại, nó lại trở thành biểu tượng của “ thảm họa” trong mắt không chỉ “cha mẹ” của mình

mà ngay cả “hàng xóm” và “bạn bè” trên toàn thế giới, ngay trong lần sinh nhật thứ 10 của

mình Người ta nói rằng vì sử dụng đồng tiền chung nên châu Âu mới rơi vào khủng hoảng,

điều này có phải là sự thật?

Wcoats (8/2011) cho rằng: Nguyên nhân cơ bản là các nước có phát triển khác nhau lại

sử dụng một đồng tiền chung, điều này là không tương thích” Wcoats cho rằng việc sử dụng

chung đồng Euro không phải là nguyên nhân gốc rễ của cuộc khủng hoảng Như một người hoặcmột gia đình ở Mỹ(hoặc bất cứ nơi nào khác trên thế giới) có thể chi tiêu nhiều hơn thu nhập củamình trong một thời gian dài và tiềm ẩn một vấn đề thì vấn đề này không liên quan gì tới việcngười đó sử dụng chung đồng tiền với những người còn lại trong nước Một người có thể vaymượn một cách hợp lý để trang trải các khoản chi phí lớn miễn là họ có thu nhập trả nợ trongtương lai, nhưng nếu tiếp tục vay mượn số tiền mà thu nhập kỳ vọng hợp lý không đủ khả năng

Trang 3

thanh toán, vấn đề sẽ phát sinh Ngoài ra, thường thì sự vỡ nợ xảy ra khi có sự biến động trái kìvọng trong tương lai về tài sản Điều quan trọng là tất cả các nước đều có thủ tục pháp lý đểtránh gửi con nợ đến “nhà tù” của chủ nợ Miễn là mỗi người, mỗi gia đình sống trong khả năngcủa nó, thì không có lý do gì sự khác nhau của họ lại không thể cùng tồn tại một cách hài hòa.

Tóm lại, theo Wcoats nguyên nhân không phải vì dùng chung đồng euro mà căn bản là

vì các quốc gia đã duy trì một chính sách tài khóa thiếu trách nhiệm, ở đó các quyết định chi tiêuquá lớn so với nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế

Ramon Marimon (2010): Vào buổi bình minh của eurozone, Hy Lạp như một hình mẫu

chuẩn Có ý kiến cho rằng, các nước PIGs sẽ trở thành những nền kinh tế năng động và cạnhtranh nhất thế giới Các nước PIGs đã vượt qua các tiêu chuẩn Masstricht và trở thành viên chínhthức của ngôi nhà chung EU và được hưởng được nhiều lợi ích từ khu vực

Với lãi suất vô cùng ưu đãi, không có rủi ro tỉ giá, một số nước như Hy Lạp, Bồ Đào Nha

và sau đó là Ireland và Tây Ban Nha bắt đầu vay mượn và vay mượn ngày càng nhiều Sự vaymượn quá mức trên thị trường vốn quốc tế làm cho thị trường bất động sản nóng lên (giá cả vàđầu tư tăng) nhanh chóng Khả năng cạnh tranh kém đi do chi phí lao động tăng so với Đức

Theo Alessi (2012), cuộc khủng hoảng nợ ở Hy Lạp là do chi tiêu và tiêu dùng quá mức,

cùng với sự tăng thêm của tiền lương và lợi ích của chính phủ, trong những năm sau khi Hy Lạpđược sử dụng đồng Euro Bên cạnh đó, Chính phủ Hy Lạp còn lập các báo cáo khống để che giấucác khoản nợ khổng lồ của nước này Sai lầm trong quản lý và không trung thực khi công bố sốliệu kinh tế trong nhiều năm khiến người dân và các nhà đầu tư mất niềm tin

Theo Stein (2011), các khoản nợ nước ngoài của các nước châu Âu là cốt lõi của cuộc

khủng hoảng hiện nay Theo ông, cuộc khủng hoảng xuất phát từ việc thâm hụt ngân sách củachính phủ (Hy Lạp, Bồ Đào Nha) hoặc các khoản nợ nước ngoài cao của khu vực tư nhân(Ireland, Tây Ban Nha) Tầm quan trọng của nợ nước ngoài có thể được minh họa bằng trườnghợp của Bồ Đào Nha Ở quốc gia này, mặc dù nợ công và tỷ lệ thâm hụt khá cao nhưng cũng chỉtương tự như của Pháp Vấn đề quan trọng nhất mà Bồ Đào Nha đang phải đối mặt, không phải

là chính sách tài chính, mà là các khoản nợ nước ngoài cao của khu vực tư nhân: các ngân hàng

và các doanh nghiệp Bồ Đào Nha

Điều đáng nói ở đây là tình trạng nợ khổng lồ và thâm hụt ngân sách nghiêm trọng mà các quốc gia châu Âu phải cùng gánh vác trong khi họ không có bất kỳ cấu trúc chung nào để

Trang 4

EU đưa ra các qui định thâm hụt ngân sách không quá 3% GDP và lạm phát không quá 3%/năm Tuy nhiên EU lại không có cơ chế kiểm soát những qui định trên ECB lại bị cấm cho vay trực tiếp đến một quốc gia bị khủng hoảng nợ (chỉ cho phép cho vay gián tiếp qua hệ thống ngân hàng nước sở tại) Hơn nữa, liên minh tiền tệ chưa bao giờ hòa hợp với liên minh chính trị

để giải quyết vấn đề liên quan đến ngân sách và thuế má, giúp đỡ các nền kinh tế thành viên khi

có những thay đổi và xáo trộn.

Theo Richard Baldwin and Daniel Gros (2010): Sai lầm từ cơ chế quản lý nội tại của

Châu Âu Ngân hàng trung ương châu âu(ECB) được chỉ định để duy trì tỉ giá ổn định với tưcách một tổ chức chính trị độc lập Liên minh tiền tệ mà không có một liên minh tài chính khiếncho chính phủ có thể bị cám dỗ vào những món nợ không bền vững và tạo áp lực làm cho ECBthổi phồng chúng đi, hoặc nợ ở mức độ cao sẽ gây ra ngoại tác lan truyền tiêu cực tới các thànhviên khác

Cựu chủ tịch ECB, Jacques Delors (2011) khi trả lời phỏng vấn của Daily Telegraph

(Anh), cho rằng Eurozone đã mắc phải sai lầm ngay từ khi mới hình thành vì bước đi trên đôi

chân khập khiễng, chân mạnh là đồng tiền chung và chân yếu là vấn đề quản trị Nói cách

khác là thiếu trụ cột quyền lực trung tâm để điều phối các chính sách kinh tế là nguyên nhânkhiến các thành viên rơi vào rắc rối về các khoản nợ xấu

Ludger Schuknecht, Philippe Moutot ,Philipp Rother and Jürgen Stark (2011) nhận

định cuộc khủng hoảng nợ công là triệu chứng cho thấy những thất bại trong chính sách và thiếu

sót trong phối hợp tài khóa Chín năm đầu tiên của đồng Euro đã không được tận dụng hiệu quả

để cải thiện tài chính công, trong khi hiệp ước tăng trưởng và ổn định đã được làm dịu đi Ngoạitác lan truyền của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính đã tập hợp những khó khăn tài chính ở

Châu Âu, đặc biệt trong những quốc gia nhất định Nó phản ánh những thách thức chưa được

giải quyết về việc làm thế nào để đặt tài chính công vào những bước đi đầy đủ hợp lý trongEMU

EMU ra đời trong đầu những năm 1990, sau một thời gian đặc trưng bởi chi tiêu công có

xu hướng tăng, thâm hụt ngân sách kinh niên và tỷ lệ nợ công tại nhiều quốc gia khu vực đồngeuro trong tương lai gia tăng nhanh chóng Đến năm 1991, nợ công trung bình gần 60% GDPtrong 12 quốc gia đầu tiên của khu vực euro, tiếp cận hoặc vượt quá 100% của GDP

Trang 5

Hình 1: Cho thấy đồng euro có một khởi đầu tốt khi thâm hụt trung bình được cải thiện từgần 5% GDP vào năm 1992 chỉ hơn 2% trong năm 1998 Nhưng gần như ngay sau khi đồngEuro ra mắt, chính sách tài khóa được mở rộng môt cách thoải mái, đặc biệt là trong thời giansuy thoái nhẹ đầu những năm 2000, lãi suất tăng nhẹ nhờ vào EMU đã được dung để tăng chitiêu và cắt giảm thuế Trước năm 2007, đã có một sự cải tiến mới trong cân đối tài chính nhưngchỉ là một sự cải thiện khiêm tốn theo chu kỳ Tăng trưởng mạnh và doanh thu tăng do sự bùng

nổ trong thị trường bất động sản đã che đậy cho các chính sách chi tiêu mở rộng của một số quốcgia

Những người sáng lập ra EMU đã cố gắng gắn các qui tắc tài chính vào hiệp ướcMaastricht và hiệp ước Ổn định và Tăng trưởng và đầu những năm 1990 Tuy nhiên sau 2 lần cảicách vào 2003-2005 và 2010- 2011, trường phái hoài nghi chiếm ưu thế Lần cải cách mới đâytiếp tục cho thấy sự không sẵn sàng trong việc chuyển giao chủ quyền tài chính vĩ mô cần thiếthướng đến bình ổn châu Âu

Trang 6

Jonung and Drea (2009) đã từng cảnh báo về việc thành lập một eurozone không có sự

kiểm soát về tài khóa Nhưng lúc này, lãnh đạo châu Âu đã đảm bảo rằng một số biện pháp bảo

vệ cơ bản chống lại sự hoang phí tài chính đã được nêu trong hiệp ước Masstrict: ngăn cấm tàitrợ tiền mặt cho thâm hụt quốc gia thông qua ngân hàng trung ương, khu vực công không đượcquyền truy cập vào các tổ chức tài chính, nguyên tắc” không cứu trợ tài chính” nhằm tránh việcchia sẻ trách nhiệm tài chính giữa các quốc gia thành viên, và yêu cầu nhằm tránh thâm hụt ngânsách quá nhiều và nợ công cao( thêm hụt không quá 3% GDP và nợ công không quá 60% GDP)

Như một hệ quả của vị thế tài chính khởi đầu nghèo nàn, khi khủng hoảng tài chính toàncầu xảy ra, như một phản ứng đối phó, chính phủ các nước đưa ra một loạt các biện pháp nhằm

ổn định khu vực tài chính và hỗ trợ hoạt động kinh tế tổng thể (van Riet, 2010) Tài chính công

của eurozone xấu đi một cách đáng kể (xem hình)

Hình 2: Chỉ ra thâm hụt trung bình tăng 5%, đạt 6% năm 2010 như là động cơ của việckhông điều chỉnh chi tiêu để thay đổi mức thâm hụt và động cơ của sản lượng và thu ngân sách

Trang 7

Nợ công đạt gần 85% /GDP trong khu vực đồng tiền chung, tăng gần 20% so với trước khủnghoảng.

Tại sao cuộc khủng hoảng tập trung chủ yếu ở khu vực đồng tiền chung châu Âu mà không lan sang các nước khác?

Kenneth Matziorinis (2011) giải thích như sau:

Một là, khi các nước khu vực đồng tiền chung Châu Âu tham gia Liên minh kinh tế tiền

tệ Châu Âu EMU (European Monetary System) và đổi sang dùng đồng Euro thay vì đồng tiền

nước họ, các nước đã phải đánh đổi hai công cụ quan trọng để quản lý kinh tế của mình: một là

sức mạnh tạo ra tiền và thiết lập lãi suất (chính sách tiền tệ), hai là việc tự do quyết định sự biếnđổi tỉ giá để điều chỉnh sự bất cân bằng nội bộ hoặc phòng ngừa các cú sốc từ bên ngoài (chínhsách tỉ giá) Nếu các nước như Hy lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và Italia thực thichính sách tiền tệ thắt chặt và lãi suất cao trong thời kỳ 2001- 2008, không vay mượn nhiều trongthời kỳ 2008 - 2010, mở rộng chính sách tiền tệ để cho đồng tiền của mình giảm giá nhằm khôiphục khả năng cạnh tranh và điều chỉnh từ những cú sốc bên ngoài từ cuộc suy thoái kinh tế toàncầu thì các quốc gia này sẽ không rơi vào khủng hoảng nợ như ngày nay

Thứ hai, chỉ thị yêu cầu vốn (CRD) của EU về việc áp dụng Basel II về quy tắc an toàn

vốn cho phép các ngân hàng khu vực đồng Euro gán tỷ lệ rủi ro là 0% cho các khoản nợ của quốc gia thành viên bằng nội tệ Các ngân hàng khu vực đồng Euro mua các trái phiếu chính

phủ mệnh giá bằng đồng Euro của các nước khu vực đồng tiền chung mà không có bất kỳ khoảnbảo lãnh nào (vì các nước này được xem là không có rủi ro) Ý tưởng về nguy cơ chủ quyềntrong khu vực đồng tiền chung là việc không tưởng Nhiều tiêu chuẩn đã được thỏa thuận tronghiệp ước ổn định và phát triển (SGP), theo đó, các quốc gia Châu Âu muốn vào khu vực Châu

Âu phải đảm bảo lạm phát không quá 1,5%/năm, việc giữ thâm hụt ngân sách không quá 3%GDP và duy trì một tỷ lệ nợ so với GDP ít hơn 60% Để đáp ứng tiêu chí này, nhiều quốc gia đãthông qua ngân sách nghiêm ngặt bằng cách cắt giảm chi tiêu công và tăng thuế

Các ngân hàng Châu Âu có thể vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất ngắn hạnthấp và đầu tư vào trái phiếu chính phủ dài hạn của các nước khu vực đồng tiền chung như Hylạp và Bồ Đào Nha và đạt rủi ro lây lan cao trên thị trường chứng khoán Vì vậy các ngân hàngchủ chốt trong khu vực đồng Euro như Pháp và Đức, đổ xô đi mua trái phiếu ngoại vi châu Âu.Với những nước vay nợ như Hy Lạp, việc bán trái phiếu chính phủ cho các ngân hàng Đức trở

Trang 8

nên rất hấp dẫn và là cách dễ dàng để bù đắp cho sự sụt giảm tính cạnh tranh và sự gia tăng bấtcân đối trầm trọng trong thanh toán khi gia nhập khu vực đồng tiền chung.

Thứ ba, trong khi các nước ngoại vi Châu Âu mất khả năng cạnh tranh so với Đức thì

toàn bộ khu vực đồng tiền chung châu âu lại mất khả năng cạnh tranh với đô la Mỹ, nhân dân

tệ và các ngoại tệ khác Sự đánh giá cao đồng euro trong giai đoạn 2001-2008 (64.2% so vớiUSD) cũng như được coi như đồng ngoại tệ dự trữ toàn cầu làm cho các quốc gia thành viên khókhăn hơn trong việc tăng xuất khẩu, bao gồm cả nhập khẩu và làm chậm lại tốc độ tăng trưởngtổng thể của GDP và thu thuế Vấn đề là ECB chú trọng vào việc bình ổn giá hơn là tăng trưởngkinh tế Đáng lưu ý là các gói hỗ trợ tài chính tiền tệ được đưa ra trong cuộc khủng hoảng toàn

cầu là quá nhỏ (18% GDP) trong khi ở Mỹ là 74% GDP và Anh 73% (Alessandri và Halhane,

2009).

Châu Âu đã tự đặt ra cho mình những chuẩn tài chính, tiền tệ rât cao, có thể gọi là chuẩnvàng, nhưng lại gây khó khăn cho hầu hết các thành viên trong chu kỳ giảm nợ vào 2008, saukhủng hoảng tài chính toàn cầu và chịu những cú sốc do suy thoái kinh tế 2009 Kết quả của tácđộng kép này đã tạo nên một lỗ hổng tài khóa lớn trong ngân sách của các quốc gia đồng tiềnchung trong khi một số nước trong vị thế ngày càng dễ bị tổn thương do sự bùng nổ của bongbóng nhà đất, tỉ lệ nợ cao hoặc không đủ năng lực cạnh tranh quốc tế Nếu như các quốc gia này

có thể có quyền lực hạ giá đồng tiền của mình hoặc tạo thêm tiền để tài trợ cho thâm hụt củamình, như Mỹ và Anh đã làm thì khủng hoảng nợ công Châu Âu đã không xảy ra

Nói cách khác, các thành viên EU có quyền lập chương trình tài khóa riêng nhưng lại không có quyền liên quan đến điều phối tiền tệ Khi có khó khăn về khủng hoảng, hầu hết các nước có 3 lựa chọn: nâng thuế, giảm chi tiêu hoặc in tiền Giới chính trị thường tránh nâng thuế

và giảm chi tiêu, vì vậy in tiền là lựa chọn tốt nhất, nhưng các nước thành viên eurozone lại không thể thực hiện được.

Michael C Burdaand Stefan Gerlach (2010) phát biểu: Mặc dù hiệp ước Ổn định và

Tăng trưởng có mục đích tốt, nhưng nó đã không thành công vì không có gì xảy ra nếu các chínhphủ phá vỡ các quy tắc Nhưng một khi nguyên tắc này bị phá vỡ, nghịch lý nguyên tắc ổn định

sẽ tạo nên khả năng bất ổn Một sự vỡ nợ của Hy Lạp, bị trói buộc bởi nguyên tắc không cứu trợtài chính, nguy cơ như một Lehman khác của làn sóng đóng băng tín dụng, sự bất ổn trong hệthống ngân hàng Châu Âu, và lan sang thị trường tài chính toàn cầu Một cách đơn giản, chỉ cần

Trang 9

đặt điều lệ không cứu trợ vào sự mâu thuẫn trực tiếp với mục tiêu ổn định tài chính, sẽ thấy nókhông hiệu quả và đáng tin.

I 3 Kết luận phần nguyên nhân

Tới đây, nhóm chúng tôi xin khép lại những tranh cãi trong việc tìm ra đâu là nguyên nhân gốc rễ của của cuộc khủng hoảng nợ đang gây ác mộng cho người dân châu Âu những năm gần đây Chúng ta nhận ra rằng cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu là sự bùng phát hiển nhiên của của một cơ thể yếu kém Bản thân đồng Euro không có lỗi, nếu có thì đó là lỗi của người sử dụng chúng Trước hết đó là do “người” tạo nó không cho nó một cơ thể đủ “khỏe mạnh” để có thể chống chọi trước những cú sốc từ bên ngoài Tiếp theo, đó là do những người

sử dụng nó coi nó như một công cụ hiển nhiên và chi tiêu một cách thiếu trách nhiệm; không có chi phí cũng như rủi ro tỉ giá, lãi suất thực âm trong một thời gian dài, họ chi tiêu một cách mù quáng và che đậy sai lầm của mình bằng những con số không thực Để rồi, khi nạn dịch “khủng hoảng toàn cầu” tấn công, ”cơ thể” vốn yếu ớt dốc hết sức lực cuả mình để chống chọi, cho đến lúc không thể cứu vãn, mọi thứ được phơi bày thì nỗ lực của “bậc cha mẹ” có lẽ đã quá muộn.

Đến đây, tôi xin dẫn lời của giáo sư Charles Wyplosz , 2010 ( “The Eurozone’s

levitation”) cho rằng Eurozone đã có những điều kiện thuận lợi để dấu các vết nứt trong một

thời gian, nhưng khi cuộc khủng hoảng Hy Lạp mở rộng đã chứng minh tất cả Đồng Euro luôn

là một “dự án chính trị”, không dựa trên nguyên tắc kinh tế Vấn đề chỉ là thời gian khi các khó

khăn kinh tế phát sinh Các chính trị gia bảo thủ sẽ thấy rằng quyền lợi chính trị của họ trở lại bình thường bằng việc tái thiết đồng tiền mà họ ấp ủ Kết thúc một trải ngiệm thú vị, một kinh nghiệm đau thương, đồng euro đang đi xuống.

Có lẽ, đó thực sự đã là một dự án chính trị qui mô lớn và được ấp ủ trong nhiều năm Mặc dù vậy, dự án đó đã có phần thành công khi đồng Euro đã có thể trở thành đồng tiền mạnh thứ 2 thế giới trong vòng chưa tới một thập kỷ, tạo sức mạnh đặc biệt cho tiếng nói của các nước

EU, đặc biệt là Pháp và Đức trong các diễn đàn kinh tế thế giới.

Thế nhưng, điều mà EU đang phải đối mặt hiện nay không chỉ là cuộc khủng hoảng nợ

mà còn là vấn đề nguy cơ sụp đổ đồng Euro Vậy có hay không nguy cơ sụp đổ của đồng Euro? Đồng euro nên hay không nên tồn tại?

Trang 10

II/ SỐ MỆNH ĐỒNG EURO

II 1 Khả năng và hậu quả: Sự sụp đổ đồng euro

Có một chút nghi ngại rằng sự tồn tại của đồng tiền chung phụ thuộc vào khả năng gắnmình vào một liên minh chính trị của nó Nó còn bao hàm cả việc chuyển giao một số chủ quyềntrong việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô khác sau này hơn là chính sách tiền tệ và tổ chức cáchình thức tối thiểu của sự đoàn kết tụ động giữa các quốc gia thành viên ngay cả khi một số trong

đó có những hành vi không xứng đáng (Paul De Grauwe, 2010).

Wim Boonstra (2010): Cho rằng, việc lập luận về việc rời bỏ đồng Euro là tương đối đơn

giản, các nước có đã đi vào những vấn đề kinh tế nghiêm trọng, và đã phải đối mặt với một thờigian điều chỉnh dài và nhiều tổn thất Vấn đề cơ bản là khi gia nhập eurozone, lãnh đạo các quốcgia không hiểu rằng đó là việc gia nhập vào một tổ chức với các nền kinh tế cạnh tranh nhất thếgiới, đặc biệt là Đức Gia nhập eurozone đã giúp các nước tăng vị thế chính trị của mình nhờ vàoảnh hưởng kinh tế, đó không phải là một sai lầm ngu ngốc

Theo ông, một quốc gia chỉ hưởng lợi với đầu tiền giá rẻ nếu như duy trì được quyền truynhập và thì trường xuất khẩu Câu hỏi là liệu một quốc gia có còn là thành viên của một “thị trườngduy nhất “ sau khi đã vứt vỏ một loạt các hiệp ước quốc tế

Tác giả cho rằng khi một quốc gia rời bỏ đòng tiền chung, sẽ tạo ra một sự hoảng loạnkhông chỉ cho chính nó mà còn cho các quốc gia còn lại Họ phải chấp nhận một sự tổn thất danhtiếng rất lớn, hôc trợ hệ thống ngân hàng nước mình và sống trong sự mất niềm tin của cộng đồngtài chính quốc tế, cả các nước thành viên còn lại cũng sẽ bị yêu cầu một phần bù rủi ro cao hơn.Sau tất cả những điều này, nước rời bỏ cũng bị “yêu cầu” rút khỏi thị trường vốn quốc tế, nhu cầuchính trị cũng bị chối bỏ

Boonstra khẳng định không thể có một sự tan rã có trật tự cho đồng tiền chung và nó sẽ

tạo nên hiệu ứng tài sản tiêu cực sẽ lớn hơn bất kỳ lợi ích lâu dài nào

Ignazio Angeloni And André Sapir (11/2011): Châu Âu được biết đến là nơi có điều

kiện sống hàng đầu thế giới với cuộc sống vật chất và tinh thần rất cao, chế độ chính trị và xã hộikhá ổn định, đồng tiền chung của 16 quốc gia ngày càng khẳng định được vị thế, tạo sự tin cậy,từng bước thay thế vị trí độc tôn của USD trong gần chục năm qua về thanh toán và dự trữ quốctế Tỷ trọng của Euro trong quỹ dự trữ của các Ngân hàng trung ương trên thế giới vào cuối

Trang 11

năm 2009 đã lên tới gần 30%, so với mức 17,9% từ khi ra đời Nhưng khi một số nước Châu Âurơi vào cuộc khủng hoảng nợ, các món nợ khổng lồ và chồng chéo nhau được lộ rõ, thì sức muacủa Euro suy giảm sút mạnh Tính đến tháng 7/2010(ii), Euro đã giảm giá khoảng 15,7% so vớiUSD, 8,5% so với GBP và 20% so với JPY… Những gì đang diễn ra bên trong eurozone, khiếnnhiều người phải đặt câu hỏi về sự gắn kết ở khu vực này.Tương lai của Euro sẽ ra sao? Tiếp tụctồn tại và phát triển hay đồng tiền chung Châu Âu bị tan vỡ…?

Nhận định về xu hướng này, tác giả cho rằng các nước trong khu vực không dễ dàng để Euro chết yểu, Euro vẫn tồn tại, nhưng sẽ bị giảm giá trong trung hạn Nhận định này được xuất phát từ ba lý do sau:

Một là, cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước eurozone cùng với các kế hoạch cắt giảm

chi tiêu, cứu trợ kinh tế tiếp tục là mối đe dọa nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế củaeurozone Việc cứu trợ Hy Lạp có thể sẽ phải kéo dài, thậm chí có thể phải cơ cấu lại nợ Kếhoạch cứu trợ kinh tế của các nước tiếp theo như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,… sẽ tác động xấuđến tăng trưởng kinh tế của khu vực Euro Vì thế, Châu Âu khó tránh khỏi cuộc suy thoái kinh tếvào năm 2011 và tình trạng trì trệ vào những năm tiếp theo Như vậy, tăng trưởng kinh tế củakhu vực này sẽ chậm hơn các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nền kinh tế pháttriển khác, trong khi lượng tiền không nhỏ đưa ra để cứu trợ, sẽ đẩy nhanh đà mất giá của Euro

Hai là, sự suy giảm niềm tin của giới đầu tư và người tiêu dùng sẽ tiếp tục đặt áp lực

giảm giá Euro Niềm tin đối với triển vọng kinh tế của 16 quốc gia khu vực sử dụng Euro đã sụtgiảm trong quí 2 và 3 năm 2010 Theo số liệu của IMF, chỉ số niềm tin của giới chủ doanhnghiệp và người tiêu dùng tại Eurozone đã giảm từ mức 100,6 điểm trong tháng 4 xuống 94,5điểm trong tháng 6, trong đó, tại Hy Lạp giảm từ mức 69,1 điểm xuống còn 51,9 điểm, tại BồĐào Nha giảm từ 93,8 điểm xuống còn 87,1 điểm Xu hướng giảm giá Euro càng thể hiện rõ khiLiên minh Châu Âu và IMF phải đưa ra quyết định về việc thành lập Quỹ cứu trợ khẩn cấp trịgiá 1.000 tỷ USD, nhằm ngăn ngừa sự sụt giảm liên tục của Euro hiện tại và trong tương lai

Ba là, khi các gói cứu trợ nhằm giúp các nước trong Eurozone thoát khởi cuộc khủng

hoảng nợ, phục hồi tăng trưởng kinh tế, thì việc Euro suy yếu cũng tạo cơ hội để khu vực nàyphát triển Bởi khi Euro mất giá, hàng hóa nhập khẩu vào Châu Âu trở nên đắt hơn, sẽ giúp giảmthâm hụt thương mại, đồng thời tăng cường xuất khẩu, cải thiện sức cạnh tranh vốn đang rất yếucủa các nước trong Eurozone, từ đó thúc đẩy tiến trình phục hồi kinh tế của khu vực

Ngày đăng: 04/04/2015, 15:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Cho thấy đồng euro có một khởi đầu tốt khi thâm hụt trung bình được cải thiện từ gần 5% GDP vào năm 1992 chỉ hơn 2% trong năm 1998 - NGUYÊN NHÂN THỰC SỰ CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ SỐ MỆNH CỦA ĐỒNG EURO
Hình 1 Cho thấy đồng euro có một khởi đầu tốt khi thâm hụt trung bình được cải thiện từ gần 5% GDP vào năm 1992 chỉ hơn 2% trong năm 1998 (Trang 5)
Hình 2: Chỉ ra thâm hụt trung bình tăng 5%, đạt 6% năm 2010 như là động cơ của việc không điều chỉnh chi tiêu để thay đổi mức thâm hụt và động cơ của sản lượng và thu ngân sách. - NGUYÊN NHÂN THỰC SỰ CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ SỐ MỆNH CỦA ĐỒNG EURO
Hình 2 Chỉ ra thâm hụt trung bình tăng 5%, đạt 6% năm 2010 như là động cơ của việc không điều chỉnh chi tiêu để thay đổi mức thâm hụt và động cơ của sản lượng và thu ngân sách (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w