1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công cụ phái sinh và sử dụng công cụ phái sinh trong bộ phận nguồn vốn Ứng dụng về giao dịch quyền chọn

50 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 615,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Hợp đồng này chỉ được thực hiện khi đáo hạn: Đến thời điểm đáo hạn người giữ vị thế đoản vị phải thực hiện bán tài sản cho người giữ vị thề trường vị và nhận một khoản tiền từ người mu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG



BÁO CÁO LÀM VIỆC NHÓM

QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH NGUỒN VỐN

TRONG NGÂN HÀNG

Đề tài: Công cụ phái sinh và sử dụng công cụ phái sinh

trong quản lý nguồn vốn

Các giao dịch thực tế tại Việt Nam và quy định hiện hành

Nhóm thực hiện: Nhóm 5 Nhóm trưởng: Đinh Thị Lệ Xuân Lớp: QH2008E-TCNH

Hà Nội, tháng 3 năm 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG



BÁO CÁO LÀM VIỆC NHÓM

QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH NGUỒN VỐN

TRONG NGÂN HÀNG

Đề tài: Công cụ phái sinh và sử dụng công cụ phái sinh

trong quản lý nguồn vốn

Các giao dịch thực tế tại Việt Nam và quy định hiện hành

Nhóm thực hiện: Nhóm 5 Nhóm trưởng: Đinh Thị Lệ Xuân Lớp: QH2008E-TCNH

Hà Nội, tháng 3 năm 2012

Trang 3

Mục lục

Lời mở đầu 5

Phần I: Tổng quan về các công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam 6

1. Hợp đồng kỳ hạn 6

1.1. Khái niệm 6

1.2. Đặc điểm 6

1.3. Ví dụ 6

1.4. Liên hệ thực tế hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam 7

1.5. Hợp đồng kỳ hạn của CitiBank (giáo trình) 8

1.5.1. Giao dịch kỳ hạn tiền tệ 8

1.5.2. Giao dịch kỳ hạn lãi suất 10

2. Hợp đồng giao sau 11

2.1.Khái niệm 11

2.2.Đặc điểm 11

2.3.Ví dụ 12

2.4.Liên hệ thực tế giao dịch giao sau tại Việt Nam 13

2.5.Giao dịch giao sau tại ngân hàng CitiBank 14

3. Hợp đồng hoán đổi 14

3.1. Khái niệm 14

3.2. Đặc điểm 14

3.3. Ví dụ 15

3.4. Liên hệ thực tế giao dịch hoán đổi tại Việt Nam 15

3.5. Hợp đồng hoán đổi tại ngân hàng Citybank (Giáo trình) 16

3.5.1. Giao dịch hoán đổi lãi suất 16

3.5.2. Giao dịch hoán đổi tiền tệ 17

4. Quyền chọn (Option) 18

4.1. Khái niệm 18

4.2. Đặc điểm 19

4.3. Ví dụ các loại quyền chọn 19

4.3.1. Mua quyền chọn mua 19

4.3.2. Bán quyền chọn mua 20

4.3.3. Mua quyền chọn bán 20

4.3.4. Bán quyền chọn bán 21

4.4. Hợp đồng quyền chọn ở CitiBank 22

4.4.1. Giao dịch quyền chọn tiền tệ 22

4.4.2. Quyền chọn FXA 23

4.4.3. Giao dịch quyền chọn lãi suất 23

Trang 4

Phần II: Phân tích giao dịch quyền chọn 25

1. Mục đích sử dụng giao dịch quyền chọn trong ngân hàng 25

1.1.Bảo hiểm rủi ro 25

1.2.Cung cấp một công cụ tài chính cho mục đích đầu cơ 26

1.3.Cân đối lợi nhuận từ cung ứng hợp đồng quyền chọn 26

2. Điểm sơ qua các giao dịch quyền chọn ở Việt Nam 27

2.1.Các quy định chung 27

2.2.Sơ lược quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ 28

2.3.Sơ lược quyền chọn tiền Đồng Việt Nam 30

2.4.Sơ lược quyền chọn vàng 31

2.5.Sơ lược quyền chọn lãi suất 31

3. Chi tiết các giao dịch quyền chọn ở Việt Nam 32

3.1.Tình hình chung 32

3.2.Quyền chọn ngoại tệ 33

3.3.Quyền chọn tiền Đồng 35

3.4.Quyền chọn vàng 36

3.5.Quyền chọn lãi suất 37

Phần III: Phân tích giao dịch mua bán hợp đồng quyền chọn của Bộ phận nguồn vốn của ngân hàng Maritime Bank 38

1 CVGD tập hợp thông tin khách hàng 38

2 Xác định mức phí quyền chọn áp dụng 38

3 Khi khách hàng đồng ý thực hiện giao dịch 39

4 Kiểm tra và phê duyệt giao dịch 39

5 Thực hiện hợp đồng và theo dõi thực hiện 40

6 Quản lý và kiểm soát rủi ro 41

7 Chế độ báo cáo 42

Tổng kết 44

Phụ lục: Bảng phí quyền chọn ngân hàng Sài Gòn Thương Tín 45

Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm 5 46

Lời mở đầu

Trong khối Kinh doanh nguồn vốn, có một bộ phận đóng vai trò hết sức quan trọng là Bộ phận kinh doanh ngoại tệ và hàng hóa, phái sinh, thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, các nghiệp vụ kinh doanh hàng hóa và các nghiệp

Trang 5

vụ phái sinh Các sản phẩm phái sinh thông thường được dùng vừa như một công

cụ bảo hiểm, vừa là một công cụ đầu cơ Chúng mang đến cho khách hàng một cơ hội để giới hạn số lỗ tiềm năng và cơ hội để nắm lấy những lợi nhuận có thể có

Việc sử dụng và cung ứng các sản phẩm phái sinh của bộ phận này trong các ngân hàng đã tạo tiền đề cho sự phát triển ổn định hơn, an toàn hơn cho nền kinh tế Vậy, những công cụ phái sinh đó là gi? Các quy định pháp lý của chúng như thế nào? Và đặc biệt là quy trình nghiệp vụ về dịch vụ công cụ phái sinh tại

bộ phận Kinh doanh nguồn vốn trên thực tế xảy ra như thế nào? Hãy cùng nhóm thuyết trình tìm hiểu.

Trang 6

Phần I Tổng quát về các công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam

Công cụ tài chính phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những sản phẩm đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo

vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận… Hiện nay trên thị trường Việt Nam có các hợp đồng tài chính phái sinh như: Quyền chọn (Option), tương lai (Future), kỳ hạn (Forward), hoán đổi (Swap)

1. Hợp đồng kỳ hạn

1.1. Khái niệm

Là một công cụ tài chính phái sinh đơn giản Đó là một thoả thuận mua hoặc bán một tài sản ( hàng hoá hoặc các tài sản tài chính) tại một thời điểm trong tương lai với một giá đã xácđịnh trước.

1.2. Đặc điểm

Thông thường hợp đồng này được thực hiện giữa các tổ chức tài chính (TCTC) với nhau, hoặc giữa TCTC với các khách hàng là doanh nghiệp phi tài chính (các hợp đồng này thường được ký kết song phương).

Trong hợp đồng này người mua được gọi là người giữ thế trường vị ( long position ), người bán được gọi là người giữ thế đoản vị (short position).

Hợp đồng này chỉ được thực hiện khi đáo hạn: Đến thời điểm đáo hạn người giữ vị thế đoản vị phải thực hiện bán tài sản cho người giữ vị thề trường vị và nhận một khoản tiền từ người mua với mức giá cả đã định trước trong hợp đồng, cho dù vào thời điểm đó giá thị trường của tài sản

đó có cao hơn hoặc thấp hơn giá xác định trong hợp đồng Nếu giá thị trường cao hơn giá hợp đồng thì người giữ vị thế trường vị sẽ có lãi (có giá trị dương), còn người giữ vị thế đoạn vị bị giá trị âm; và ngược lại.

1.3. Ví dụ

Công ty Export Co.Ltd có một hợp đồng xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài,

6 tháng nữa sẽ được thanh toán số tiền 1 triệu USD Công ty lo sợ đến lúc đó giá đồng USD sẽ giảm nên đã sử dụng hợp đồng kỳ hạn.

Trang 7

Tỷ giá giao ngay (USD/VND) ở thời điểm hiện tại: S m = 15990 và S b = 15992

Lãi suất tiền gửi (VND): 7,8%/năm

Lãi suất cho vay (USD): 4,25%/năm

Thời hạn thanh toán: n = 6*30 = 180 ngày

Tại thời điểm hiện tại, công ty sẽ ký hợp đồng bán kỳ hạn USD cho VCB bank với tỷ giá mua kỳ hạn(F m ) được VCB bank xác định theo công thức sau:

F m (USD/VND) = S m +

= 15990 + = 16273

Sau 6 tháng, công ty thu về khoản tiền 1 triệu USD từ hợp đồng nhập khẩu, lấy 1 triệu USD đó trả cho VCB bank, và nhận về từ VCB khoản tiền: 16273*1000000 = 16273 triệu VND theo hợp đồng kỳ hạn.

Vậy nhờ sử dụng hợp đồng kỳ hạn, công ty Export Co.Ltd đã bảo hiểm được khoản phải thu 6 tháng, công ty chắc chắn sẽ nhận được 16273 triệu VND từ hợp đồng nhập khẩu dù cho tỷ giá USD sau 6 tháng cao hay thấp.

1.4. Liên hệ thực tế hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam

Ở Việt Nam giao dịch hối đoái có kỳ hạn chính thức ra đời từ khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/01/1998 Các giao dịch kỳ hạn được thực hiện trong hợp đồng mua bán USD và VND giữa ngân hàng thương mại với doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoặc với các ngân hàng thương mại khác được phép của ngân hàng nhà nước Quy chế này cũng xác định tỷ giá giao dịch do ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển yết giá hoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tính toán và thỏa thuận với nhau, nhưng phải bảo đảm

Trang 8

Hợp đồng kỳ hạn hối đoái (FXA)

Hợp đồng phái sinh kỳ hạn thực sự

Hợp đồng phái sinh kỳ hạn thực sự

Giao dịch kỳ hạn lãi suất

Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (FRA)

Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (FRA)

trong biên độ quy định giới hạn tỷ giá kỳ hạn hiện hành của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký kết hợp đồng.

1.5. Hợp đồng kỳ hạn của Citibank (giáo trình)

1.5.1. Giao dịch kỳ hạn tiền tệ

Có hai loại giao dịch kỳ hạn tiền tệ: (1) một hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ (FX)

và (2) một hợp đồng kỳ hạn hối đoái (FXA) Như các bạn sẽ thấy, chỉ có FXA là một công cụ phái sinh thực sự.

Hãy xem ví dụ để thấy cách mà mỗi loại hợp đồng được sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của một khách hàng phòng FX.

Ví dụ: Giả sử một khách hàng của một ngân hàng Thụy Sĩ kỳ vọng sẽ nhận

được một khoản 1 triệu $ sau đây 1 năm Vị khách dự đoán $ sẽ giảm và muộn có một tỷ giá đảm bảo cho $ trên Francs Thụy Sĩ (CHF).

Hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ (FX)

Một giải pháp mà ngân hàng có thể chào là thỏa thuận ngay hôm nay mua

1 triệu $ từ vị khách này sau 1 năm và trả 1,5 triệu CHF vào thời điểm đó (với

$/CHF=1.5) Thỏa thuận này gọi là một hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ, một trong những hợp đồng thông dụng nhất mà các ngân hàng đang cung ứng đó là một thỏa thuận đổi một đồng tiền ra một đồng tiền khác tại một giá cố định vào một thời gian xác định trong tương lai.

Trang 9

Hợp đồng kỳ hạn hối đoái (FXA)

Lưu ý ví dụ trên, chúng ta hãy so sánh hợp đồng kỳ hạn FX với một hợp đồng kỳ hạn hối đoái (FXA), ít được sử dụng hơn bởi các ngân hàng nhưng hoàn toàn là một hợp đồng phái sinh Một FXA là một thỏa thuận để đổi từ thị trường giao ngay giá trị của một hợp đồng một lượng của một động tiền đổi lấy một hợp đồng thỏa thuận trước về lượng của một đồng tiền khác Lượng phải thanh toán được phát sinh từ sự chênh lệch tỷ giá giao ngay thực tế và tỷ giá của hợp đồng.

Để giúp người khách hàng Thụy Sĩ này, ngân hàng có thể chào một hợp đồng kỳ hạn hối đoái để đổi một giá trị thị trường giao ngay của 1 triệu $ 1 năm sau đổi lấy 1 hợp đồng được xác định trước 1 lượng 1.5 triệu CHF Hãy cùng xem cách nó vận hành

Nếu tỷ giá giao ngay vẫn là 1$ = 1.5 CHF vào thời điểm kết thúc 1 năm, khách hàng sẽ bán 1 triệu dolar trên thị trường giao ngay lấy 1.5 triệu CHF và không phải trả gì cho ngân hàng

Tuy nhiên, nếu tỷ giá giao ngay giảm xuống 1$= 1.4 CHF vì khách của chúng ta sẽ chỉ nhận 1.4 triệu CHF cho khoảng 1 triệu $ trên thị trường giao ngay Trong trường hợp này, ngân hàng đã tạo ra 1 khoảng chênh lệch bằng cách trả cho khách hàng 0.1 triệu CHF.

Mặt khác, nếu tỷ giá giao ngay tăng lên 1$= 1.6 CHF vị khách này sẽ nhận 1.6 triệu CHF cho khoản 1 triệu $ trên thị trường giao ngay, trong trường hợp này khách hàng sẽ trả 0.1 triệu CHF dư thừa cho ngân hàng.

Chú ý rằng với một FXA, chỉ sự chênh lệch giữa lượng của hợp đồng và giá thị trường giao ngay sau 1 năm là được trả bởi ngân hàng hoặc khách hàng Khách hàng phải bán 1 triệu $ trên thị trường giao ngay kỳ hạn năm, không phụ thuộc vào mức biến động tỷ giá giao ngay.

Hợp đồng phái sinh kỳ hạn thực sự.

FXA hoàn toàn là một hợp đồng phái sinh bởi khoản phải trả được tạo ra vào cuối kỳ thị ban đầu còn chưa biết, nó sẽ được phát sinh vào thời hạn của khoản phải trả bằng việc suy ra từ tỷ giá trên thị trường ngoại hối giao ngay Mặc dù hợp đồng kỳ hạn ở bất kỳ loại nào đều thường được gọi là hợp đồng phái

Trang 10

sinh, giờ đây các bạn có thể nhìn ra sự khác biệt giữa 1 hợp đồng kỳ hạn thông dụng hơn với 1 hợp kỳ hạn phái sinh thực sự.

1.5.2. Giao dịch kỳ hạn lãi suất: Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (FRA)

Hợp đồng kỳ hạn cũng được dùng để giúp khách hàng – những người cần một khoản vay và lo ngại về lãi suất trong trường hợp này, một hợp đồng kỳ hạn lãi suất (FRA) có thể là một lựa chọn đúng đắn Một FRA là một thỏa thuận đổi một lượng lãi suất được xác định bởi thị trường trên một lượng quy chuẩn được đưa ra lấy 1 mức lãi suất được xác định trước trên thị trường

Sản phẩm này tương tự FXA ngoại trừ việc nó phát sinh khoản trả dựa trên sự đối chiếu lãi suất của hợp đồng với lãi suất thị trường hiện hành vào thời điểm đáo hạn hợp đồng Một điểm khác biệt nữa giữa FXA và FRA dựa trên một thực tể rằng lãi suất khoản vay dài hạn đặt ra ở đầu năm nhưng lại được trả ở cuối năm, thỏa thuận của hợp đồng FRA có thể hoặc ở cuối kỳ hoặc ở đầu kỳ Khi thỏa thuận được lựa chọn khoản trả sẽ được khấu trừ vào giá trị hiện tại.

Cùng nhìn vào một ví dụ của hợp đồng FRA với một thỏa thuận vào cuối năm.

Nếu LIBOR tại ngày hợp đồng là 10%, khách hàng sẽ trả cho ngân hàng lãi suất 12% trên khoản vay (tức 120.000$) Trong trường hợp này, không phải trả khoản nào cho hợp đồng FRA.

Nếu LIBOR tại ngày hợp đồng tăng lên 11.5%, khoản lãi phải trả sẽ tăng 1 khoản 15.000$ khách hàng trả 13.5% cho khoản vay (tức 135.000$) và ngân hàng trả cho khách hàng 15.000$ trên hợp đồng FRA Khoản phải trả ròng của khách hàng bằng 120.000$.

Trang 11

Nếu LIBOR vào ngày hợp đồng rơi xuống 8%, khoản lãi phải trả sẽ giảm 20.000$ khách hàng trả ngân hàng 100.000$ tiền lãi cộng với 20.000$ trên hợp đồng FRA Khoản trả ròng của khách hàng bằng 120.000$.

Khoản ròng mà khách hàng sẽ trả trên khoản vay và FRA là 120.000$ cho

dù tỷ giá tăng, giảm, hay không đổi.

FRA hoàn toàn là một hợp đồng phái sinh Khoản phải trả được phát sinh

từ lãi suất thị trường tiền tệ định giá vào thời điểm đáo hạn Ban đầu, các bên không biết bên nào sẽ phải trả vào đáo hạn hay lượng tiền phải trả.

2. Hợp đồng giao sau (Hợp đồng tương lai)

2.1. Khái niệm

Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo tỉ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi sở giao dịch

2.2. Đặc điểm

Niêm yết trên sở giao dịch: Một giao dịch hợp đồng giao sau nói chung được xử lý trên một Sở giao dịch Điểm này cho phép giá cả được hình thành hợp lý hơn, do các bên mua bán được cung cấp thông tin đầy đủ và công khai.

Xoá bỏ rủi ro tín dụng: Trong các giao dịch hợp đồng giao sau được niêm yết trên sở giao dịch, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về đối tác giao dịch của mình Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ như một trung gian trong tất cả các giao dịch Người bán bán cho công ty thanh toán bù trừ, và người mua cũng mua qua công ty thanh toán bù trừ Nếu một trong hai bên không thực hiện được hợp đồng thì vẫn không ảnh hưởng gì đến bên kia.

Tiêu chuẩn hoá: Các hợp đồng kỳ hạn có thể được thảo ra với một hàng hoá bất kỳ, khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận chung giữa hai bên bán, mua Tuy nhiên, các hợp đồng giao sau niêm yết trên sở giao dịch đòi hỏi việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước.

Trang 12

Điều chỉnh việc đánh giá theo mức giá thị trường (Marking to market): Trong các hợp đồng kỳ hạn, các khoản lỗ, lãi chỉ được trả khi hợp đồng đến hạn Với một hợp đồng giao sau, bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó Trên thực

tế, vì không bên nào biết về đối tác của mình trong giao dịch, nên những người thua đều trả tiền cho công ty thanh toán bù trừ, và công ty này sẽ trả tiền cho những người thắng.

2.3. Ví dụ

Công ty Import Co.Ltd sau 6 tháng nữa sẽ phải trả một khoản tiền 1 triệu USD cho hợp đồng nhập khẩu hàng hóa với một công ty nước ngoài.

Khoản phải trả: 1 triệu USD

Thời hạn thanh toán: 6 tháng

Tỷ giá giao ngay (USD/VND) ở thời điểm hiện tại: S m = 15990 và S b = 15992 Công ty sẽ sử dụng hợp đồng giao sau để phòng trường hợp đồng USD tăng giá, công ty sẽ làm như sau:

Tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng nhập khẩu, công ty sẽ thực hiện mua

100 hợp đồng ngoại tệ giao sau, mỗi hợp đồng trị giá 10.000 USD với thời hạn 6 tháng Công ty sẽ mở tài khoản thanh toán với phòng thanh toán bù trừ trực thuộc sở giao dịch và ký quỹ lần đầu theo yêu cầu của sở giao dịch Chẳng hạn ký quỹ mỗi hợp đồng là 1,5 triệu VND thì tổng số tiền ký quỹ sẽ là 1,5*100 = 150 triệu VND.

Giữa thời điểm hiện thỏa thuận và thời điểm đáo hạn: công ty sẽ giao dịch ghi nhận và thanh toán hàng ngày đối với hợp đồng giao sau Trong thời gian này, nếu:

Nếu USD lên giá so với VND, công ty sẽ lãi từ hợp đồng giao sau và được ghi có vào tài khoản thanh toán một số tiền bằng 100*10.000*(S t+1 – S t ) trong đó S t là tỷ giá giao ngay ngày t và S t < S t+1

Nếu USD xuống giá so với VND, công ty sẽ bị lỗ và bị ghi nợ vào tài khoản thanh toán một số tiền bằng: 100*10.000*(S t - S t+1 ) với S t > S t+1

Trang 13

Tại thời điểm đáo hạn: giao dịch mua 1 triệu USD theo tỷ giá giao ngay khi hợp đồng nhập khẩu đến hạn, có 2 khả năng xảy ra:

Nếu tỷ giá USD/VND ở thời điểm hợp đồng đáo hạn (S 180 ) cao hơn tỷ giá tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng (S 0 ), khi đó công ty sẽ bị lỗ một khoản bằng: 1*(S 180 – S 0 ) triệu VND Mặt khác công ty sẽ lại được lãi một khoản tiền từ hợp đồng giao sau do tỷ giá USD/VND tăng, số tiền lãi đó bằng: 100*10.000*( S 180 – S 0 ) VND, số tiền lãi này sẽ làm giảm thiểu tổn thất của khoản phải trả, nhờ vậy rủi ro được kiểm soát.

Nếu tỷ giá USD/VND tại thời điểm hợp đồng đáo hạn thấp hơn tỷ giá giao ngay tại thời điểm thỏa thuận, tức S 180 < S 0 , khi đó công ty sẽ lãi một số tiền bằng 1*(S 0 – S 180 ) do tỷ giá USD/VND giảm Tuy nhiên do USD giảm giá so với VND nên công ty bị lỗ ở hợp đồng giao sau một khoản tiền: 100*10.000*(S 0 – S 180 ), số tiền lỗ tích lũy này sẽ được bù bởi khoản lãi chênh lệch tỷ giá của khoản phải trả, rủi ro vẫn được kiểm soát.

2.4. Liên hệ thực tế giao dịch giao sau tại Việt Nam

Việt Nam chưa có văn bản pháp luật quy định cho các quan hệ hợp đồng giao sau Và do vậy, thị trường giao sau ở Việt Nam chưa phát triển, chỉ có một số hàng hóa như ngoai tệ, vàng được các ngân hàng thực hiện Các giao dịch về café, gạo cũng được một số nhà kinh doanh thực hiện trên thị trường quốc tế.

Giao dịch bằng hợp đồng giao sau lần đầu tiên trên thị trường Việt Nam được thực hiện là giữa ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam và Công ty đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lawsk (Inexim Đắk Lawsk) đã mang lại những hiệu quả thấy rõ trong việc kinh doanh cà phê Nhiều giao dịch trực tiếp giữa Inexim Đắk Lắk tại thị trường kỳ hạn London, thông qua nhà môi giới Techcombank, đã đem lại lợi ích không chỉ cho DN xuất khẩu mà còn cho cả người trồng cà phê

Trang 14

2.5. Giao dịch giao sau tại ngân hàng CitiBank

Hợp đồng giao sau là sự tiêu chuẩn hóa của hợp đồng kỳ hạn

Một thị trường thông dụng hơn cho giao dịch kỳ hạn cũng tồn tại bên cạnh

đó Hợp đồng giao sau tài chính được tạo ra để giảm rủi ro tín dụng bao gồm giao dịch kỳ hạn cũng như ấn định sự đa dạng trong các vấn đề kế toán và tính thuế Những hợp đồng giao sau là những hợp đồng được chuẩn hóa, đòi hỏi những nguyên tắc về tính lãi lỗ liên tục (được gọi là biến động ký quỹ khoản phải trả) và việc ký quỹ đối với một khoản phải trả tiềm năng (gọi là ký quỹ ban đầu)

Hợp đồng giao sau Đô la Châu Âu cũng tương tự như hợp đồng FRA được

đề cập trên Hợp đồng siao sau USD/ CHF tương tự như hợp đồng kỳ hạn hối đoái (với những nguyên tắc thực sự chuyển đổi giữa các đồng tiền), nhưng cũng có sự biến động khoản phải trả ròng của hợp đồng FXA Điều này là bởi vì hợp đồng giao sau có thể ưu tiên bù đắp cho tới khi đáo hạn và sau đó hoàn toàn được xóa

bỏ như một điều bắt buộc.

Các hợp đồng hoán đổi thường được dùng để phòng ngừa các loại rủi

ro tài chính (như rủi ro về lãi suất thay đổi, rủi ro về tỉ giá, rủi ro về giá cổ phiếu),

để hưởng các ưu đãi dành cho các công ty trong nước, hoặc để nhằm mục đích đầu cơ.

Trên góc độ thị trường tài chính quốc tế, hoán đổi có hai loại: hoán đổi lãi suất và hoán đổi tiền tệ: Hoán đổi lãi suất là sự trao đổi các khoản thanh toán lãi

Trang 15

cố định để lấy các khoản thanh toán lãi thả nổi bởi 2 bên, hoán đổi tiền tệ là trao đổi một khoản nợ bằng một đồng tiền này cho một khoản nợ bằng một đồng tiền khác

3.3. Ví dụ

Ví dụ 1:

Một hợp đồng SWAP kiểu "cố định - biến động" theo đó, bên A trả cho bên

B một tỉ lệ lãi suất bằng với lãi suất LIBOR + 50 điểm(0.5%), để đổi lại bên B cho bên A hưởng một tỉ lệ lãi suất cố định là 13%/năm.

Đến kì thanh toán, giả sử 1 năm sau, lãi suất LIBOR lúc đó là 10.7%, vậy lãi suất A thanh toán cho B là 1.2%, do đó, sau khi bù trừ A sẽ được nhận số tiền lãi với lãi suất là 13 - 11.2 = 1.8% Lãi suất cố định (ở ví dụ này là 3%) được gọi là lãi suất swap

Như vậy trong trường hợp này, hợp đồng SWAP tương tự như một vụ cá cược về lãi suất LIBOR, nếu lãi suất LIBOR mà lớn hơn 12.5% thì B có lợi, còn thấp hơn 12.5% thì A có lợi.

Ví dụ 2:

A có khả năng vay tiền với lãi suất 12% hoặc LIBOR+2%, trong khi B có khả năng vay với lãi suất 10% hoặc LIBOR+1%

Coi như đây là chi phí sử dụng vốn của 2 công ty, thì bằng lý thuyết lợi thế

so sánh có thể thấy A có lợi thế so sánh về lãi suất động còn B có lợi thế so sánh về lãi suất cố định

Vậy A nên vay vốn theo lãi suất biến động LIBOR+2% còn B nên vay vốn theo lãi suất cố định 10%, sau đó A và B có thể sử dụng hợp đồng SWAP để hoán đổi lãi suất theo một tỉ lệ nhất định để cả hai cùng có lợi.

3.4. Liên hệ thực tế giao dịch hoán đổi tại Việt Nam

Ở Việt Nam thì Giao dịch hoán đổi cũng xuất hiện khá sớm theo quyết định

số 430/QĐ-NHNN13 ngày 24/12/1997 và sau này là quyết định số 893/2001/QĐ-NHNN ngày 17/7/2001 của thống đốc NHNN Tuy nhiên đây chỉ là những giao dịch hoán đổi thuận chiều giữa NHNN và NHTM Nó chỉ được sử dụng trong trường hợp các NHTM dư thừa ngoại tệ và khan hiếm VND.

Trang 16

Theo quyết định số 1133/QĐ- NHNN ngày 30/09/2003 về quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cho phép mở rộng danh mục các NHTM và các TCTD, các DN được sử dụng công cụ hoán đổi lãi suất Hoán đổi lãi suất được thực hiện đối với cả VND và ngoại tệ giữa các ngân hàng với DN vay vốn tại NH; giữa NH với những DN vay vốn tại các tổ chức tín dụng (TCTD) khác, kể cả vay vốn nước ngoài; giữa các NH trong nước với nhau và giữa các ngân hàng thương mại trong nước với các TCTD nước ngoài Trên cơ sở nới lỏng quản lý của NHNN, nhiều NHTM đã triển khai cung cấp Hợp đồng hoán đổi lãi suất cho các doanh nghiệp (DN), tìm kiếm đối tác là các TCTD nước ngoài để ký kết hợp tác Tuy nhiên, giao dịch phái sinh trong đó có hoán đổi lãi suất được coi là hoạt động ngoại bảng của NH do đó hướng dẫn hạch toán từ phía NHNN đối với các nghiệp

vụ này đang được xem là điều kiện đủ để các NHTM đẩy mạnh cung cấp dịch vụ này cho khách hàng.

Từ khi NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất trên thị trường Việt Nam (từ 1/2003), đã có một só ngân hàng như ABN, Citibank thực hiện hoán đổi lãi suất trong phạm vi đồng USD từ ngày 1/3/2005 tới 2/2006 Tuy nhiên, giao dịch hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền USD và VND (hoán đổi lãi suất chéo) đã được thực hiện, từ trước khi có quy định chính thức của ngân hàng nhà nước.

Ở một mức cao hơn, các công cụ lai tạp có nguồn gốc từ hoán đổi như hoán đổi lãi suất cộng dồn, hoán đổi lãi suất kèm theo điều kiện quyền chọn, hoán đổi lãi suất bắt đầu thực hiện trong tương lai …cũng đã xuất hiện và triển khai trên thị trường ngoại hối trong thời gian gần đây

3.5. Hợp đồng hoán đổi tại ngân hàng CityBank (Giáo trình)

Hợp đồng kỳ hạn vừa đề cập ở trên chỉ có một ngày thỏa thuận nhất định khoản thanh toán được quyết định Một số hợp đồng phái sinh có nhiều kỳ hạn để đáp ứng được nhu cầu khách hàng Những hợp đồng nhiều kỳ hạn này được gọi

là hợp đồng hoán đổi.

3.5.1. Giao dịch hoán đổi lãi suất

Ví dụ:

Trang 17

Giả sử khách hàng trong ví dụ FRA không chỉ lo lắng về lãi suất kỳ tới săp sửa đặt ra cho khoản vay 1 triệu $ của mình, mà còn lo về việc đặt lại lãi suất trong 5 năm tới Trong trường hợp này, ngân hàng có thể chào năm hợp đồng FRA riêng biệt, mỗi hợp đồng ấn định vào một ngày đặt lãi suất của khoản vay Khách hàng ký 5 hợp đồng và nhờ đó có thể rằng một hợp đồng FRA riêng sẽ có một lãi suất đảm bảo riêng Để thuận tiện, ngân hàng tốt hơn là mời chào một hợp đồng với lãi suất cố định và được ấn định 5 lần.

Hợp đồng này gọi là hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS)_ trong một số định chế tài chính nó có thể được suy ra thành một hợp đồng gọi là hợp đồng chuyển đổi lãi suất (interest rate conversion agreement hay IRCA) Hợp đồng hoán đổi liệt kê những khoản vay, những ngày ấn định, và một lãi suất xác định trước dùng để cố định trước lãi suất thị trường Một điểm khác biệt giữa FRA và IRS là hầu hết các khoản trả FRA được khấu trừ và trả trước, trong khi khoản thanh toán của IRS lại được thực hện vào cuối giai đoạn.

Để giúp khách hàng, ngân hàng có thể thỏa thuận một lãi suất hoán đổi cố định 10,5% trên một khoản vay dự kiến 1 triệu $ với những kỳ định lãi suất là vào ngày 1 tháng 3 vào mỗi năm trong 5 năm tới Nếu lãi suất LIBOR 1 năm là trên 10,5% ở tại mọi ngày định lãi suất, ngân hàng sẽ trả kaix suất dôi ra cho khách hàng Nếu LIBOR 1 năm giảm xuoogs dưới 10,5% tại mọi ngày định lãi suất, khash hàng sẽ thanh toán khoản phải trả cho ngân hàng.

Cũng thế, bên đối tác (ở đây là ngân hàng) của hợp đồng có lợi cho những khách hàng với tài sản có lãi suât thả nổi

3.5.2. Giao dịch hoán đổi tiền tệ

Đôi khi khách hàng của ngân hàng vay tiền và tạo ra một khoản nợ trên một đông tiền này, nhưng lại muốn chuyển khoản nợ này sang một đông tiền khác.

Ví dụ:

Ví dụ, một khách hàng Mỹ có một khoản nợ bao gồm khoản vay gốc 1,5 triệu CHF và tiền lãi Mặc dù khoản trả gốc chưa đến hạn với 5 năm thì khoản lãi đến hạn trả hàng năm tại mức lãi suất 9% Nếu khách hàng muốn có một khoản

nợ $ lãi suất cố định, Khoản nợ CHF sẽ chịu một rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất.

Trang 18

Cũng thế, Bộ phận Kinh doanh nguồn vốn có thể giúp đỡ, vào thời điểm này, với một hợp đồng hoán đổi tiền tệ (Ở một số tổ chức, nó có thể được gọi là một hợp đồng hoán đổi lãi suất chéo tiền tệ CCIRCA) Sản phẩm này như một hợp đồng IRS ngoại trừ việc bao gồm hai đồng tiên khác nhau Thanh vì thanh toán khoản phải trả ròng, thì ở đây khoản vay gốc và tiền lãi ở cả hai đồng tiền đã được hoán đổi.

Ngân hàng có thể chào trả cho khách hàng một khoản lãi cố định hàng năm trên khoản vay 1,5 triệu CHF cộng với khoản gốc 1,5 triệu CHF vào đáo hạn Đổi lại cho những khoản thanh toán này, ngân hàng nhận về một lượng tiền lãi bằng USD mỗi năm và khoản tiền 1 triệu USD vào đáo hạn Khoản lãi USD có thể

là lãi thả nổi hoặc lãi cố định Trong trường hợp của vị khách Mỹ, ngân hàng chào một lãi suất cố định bởi khách hàng muốn một khoản nợ lãi suất cố định.

Nếu vị khách ban đầu vay bằng ngoại tệ, nhưng thực ra lại muốn đồng USD, ngân hàng có thể chào giao dịch với việc nhận về từ khách hàng khoản gốc CHF và trả lại một lượng tương đương bằng USD tại tỷ giá giao ngay hiện hành Giao dịch này gọi là hoán đổi tiền tệ, cho dù khoản trả có phải là trả trước khay không.

Trang 19

Có hai kiểu thực hiện hợp đồng quyền chọn, đó là thực hiện hợp đồng

quyền chọn theo kiểu Mỹ và theo kiểu châu Âu Theo kiểu Mỹ là thực hiện quyền chọn vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn Theo kiểu châu Âu là thực hiện quyền chọn chỉ trong ngày đáo hạn Hiện nay trên các thị trường chứng khoán hầu hết thực hiện theo kiểu Mỹ.

Những yếu tố cấu thành một quyền lựa chọn:

Tên của hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua theo quyền.

Loại quyền (chọn mua hay chọn bán).

Thời hạn của quyền.

Mức giá thực hiện theo quyền.

4.2. Đặc điểm

Người mua quyền có thể: thực hiện quyền, hay bán quyền cho một người mua khác; hay không thực hiện quyền Để có quyền này, khi ký hợp đồng, người cầm hợp đồng phải trả quyền phí ; giá trong hợp đồng được gọi là giá thực hiện hay là giá nổ (Strike price); ngày định trong hợp đồng gọi là ngày đáo hạn hay hày thực hiện.

Một điểm đáng chú ý là: trong khi người mua hợp đồng lựa chọn call mong muốn giá của sản phẩm hợp sẽ tăng lên trong ngày đáo hạn thì người mua hợp đồng lựa chọn Put lại hy vọng giá xuống

4.3. Ví dụ các loại quyền chọn.

Gọi PT là giá trị thị trường của các hàng hoá, ngoại tệ, chứng khoán vào

lúc đáo hạn, P là giá xác định tại thời điểm thoả thuận hợp đồng và P là giá trị nhận được của quyền chọn vào lúc đáo hạn.

4.3.1. Mua quyền chọn mua:

Vào lúc đáo hạn, nếu thực hiện quyền, người mua sẽ mua với giá P HĐ Nếu mua trên thị trường, người mua sẽ trả với giá PT.

Trường hợp1: P T > P HĐ Nếu thực hiện quyền người mua sẽ mua với giá P HĐ , trong khi nếu ra thị trường thì phải mua với giá P T Như vậy, nếu P T > P HĐ , người mua quyền chọn mua sẽ thực hiện quyền và nhận được giá trị P = P T – P HĐ

Trang 20

Trường hợp 2: P T <= P HĐ Nếu thực hiện quyền, người mua sẽ mua với giá

P HĐ , trong khi hoàn toàn có thể ra thị trường để mua với giá P T < P HĐ Như vậy, nếu P T <= P HĐ , người mua quyền chọn mua sẽ không thực hiện quyền và nhận được giá trị P = 0.

Ví dụ:

Ngày 10/5/N, công ty T ký hợp đồng quyền chọn mua xi măng với công ty

C, giá thực hiện PHĐ = 55.000đ Nếu vào ngày đáo hạn 10/8/N, giá xi măng là P T

= 60.000đ, thì người mua quyền thực hiện quyền và mua 1 bao xi măng với giá 55.000đ

Nếu không có quyền chọn mua sẽ phải mua trên thị trường với giá 60.000đ

Khoản lợi thu được P = P T – P HĐ = 5.000đ/bao

Ngược lại, giả sử vào ngày đáo hạn giá xi măng là P T = 50.000đ Nếu thực hiện quyền, người nắm giữ quyền sẽ mua với giá 55.000đ/bao, trong khi nếu mua trên thị trường thì chỉ phải trả giá 50.000đ/bao Như vậy, người giữ quyền sẽ không thực hiện quyền và nhận được bằng 0.

4.3.2. Bán quyền chọn mua

Vào lúc đáo hạn, nếu P T > P HĐ thì người mua quyền chọn mua sẽ thực hiện quyền Trong trường hợp đó, người bán quyền chọn mua sẽ phải bán cho người mua quyền ở mức giá P HĐ , trong khi lẽ ra có thể bán ra thị trường với giá P T Người bán quyền chọn mua bị lỗ P T – P HĐ , hay nhận được giá trị P = P HĐ – P T Nếu P T <= P HĐ , người mua quyền chọn mua sẽ không thực hiện quyền và như vậy giá trị mà người bán quyền chọn mua nhận được là 0.

Trang 21

Trường hợp P T < P HĐ Nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán với giá P HĐ , trong khi ra thị trường thì phải bán với giá P T < P HĐ Như vậy, nếu

P T < P HĐ , người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và nhận được giá trị P =

P HĐ - P T

Ví dụ:

Quyền chọn bán xi măng có giá thực hiện P HĐ = 55.000đ Nếu vào ngày đáo hạn 10/8/N, giá xi măng là P T = 60.000đ, thì nếu người mua quyền chọn bán thực hiện quyền sẽ bán với giá 55.000đ/bao, trong khi có thể ra thị trường để bán với giá 60.000đ/bao

Như vậy, quyền sẽ không được thực hiện và giá trị nhận được bằng 0 Ngược lại, giả sử vào ngày đáo hạn, giá xi măng là P T = 50.000đ Nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán với giá 55.000đ/bao, trong khi nếu bán trên thị trường thì chỉ có thể bán với giá 50.000đ/bao

Như vậy, người có quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và khoản lợi nhận được là 5.000đ/bao.

Ví dụ:

Trang 22

Quyền chọn bán xi măng có giá thực hiện P HĐ = 55.000đ

Nếu vào ngày đáo hạn 10/8/N, giá xi măng là P T = 60.000đ, thì người mua quyền chọn bán sẽ không thực hiện quyền

Cả người mua lẫn người bán quyền chọn bán nhận được giá trị bằng 0 Nếu vào ngày đáo hạn giá xi măng là P T = 50.000đ thì người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và người bán quyền chọn bán phải mua xi măng với giá 55.000đ trong khi có thể ra mua trên thị trường với giá 50.000đ

Như vậy, người bán quyền chọn bán sẽ bị lỗ 5.000đ/bao.

4.4. Hợp đồng quyền chọn ở CitiBank

Mọi sản phẩm được giới thiệu ở trên đề có khoản phải trả được trả từ một bên của hợp đồng vào 1 ngày thỏa thuận trong tương lai Sản phẩm phái sinh cuối cùng được thảo luận ở đây cho phép một bên có quyền nhận khoản thanh toán phái sinh mà không bị bắt buộc phỉa trả nếu điều kiện thị trường thay đổi.

Để đổi lấy quyền lợi này, bên có quyền phải thanh toán trước cho bên kia.

4.4.1. Giao dịch quyền chọn tiền tệ

Giả sử khách hàng Thụy Sĩ có một khoản thu 1 triệu USD muốn bảo vệ nó trước sự giảm giá đồng USD Khách hàng tin USD sẽ tăng giá vào thời điểm thanh toán và không muốn cố định tỷ giá hối đoái Trong trường hợp này, vị khách này

có thể cần một hợp đồng quyền chọn.

Một quyền chọn tiền tệ cho khách hàng quyền, chứ không phải bắt buộc, bán USD lấy CHF Nếu USD giảm giá, khách hàng sẽ vui vẻ thực hiện hợp đồng Nếu USD tăng giá, khách hàng sẽ chọn bán USD trên thị trường giao ngay và nhận CHF đã giảm kia, một khoản lớn hơn so với thực hiện hợp đồng.

Để cung cấp một hợp đồng tốt, ngân hàng phải thu từ khách hàng một khoản phí gọi là phí quyền, Tương tự như chính sách bảo hiểm, bới lượng rủi ro

và các khoản lỗ có thể được bù trừ bởi những thay đổi tương ứng trong việc khấu trừ phí quyền từ hợp đồng

Trong ví dụ của chúng ta, khách hàng có thể muốn một khoản phí quyền thấp hơn bằng việc hạ tỷ giá CHF xuống CHF 1.45= 1 USD Khi đó, hợp đồng quyền chọn cho khách hàng quyền nhưng không bắt buộc, giao 1 triệu USD đổi

Trang 23

lấy 1,45 triệu CHF Tỷ giá hợp đồng gọi là giá thực hiện của quyền chọn Một giá thực hiện càng tốt cho khách hàng thì ngân hàng càng có quyền trừ phí quyền cao hơn.

Thông thường, khách hàng cân nhắc phí quyền xem có là chi phí quá mức chấp nhận để bảo hiểm rủi ro hay không trên một cơ sở nhất định Họ chỉ dùng quyền chọn để bảo hiểm rủi ro tiền tệ có điều kiện hoặc là ở một trường hợp đặc biệt.

4.4.2. Quyền chọn FXA

Quyền chọn tiền tệ có thể được lập tương tự như phái sinh bằng việc thay thế các điều khoản thỏa thuận tới những cái gần hơn với cấu trúc hợp đồng kỳ hạn ngoại hối hơn là cấu trúc hợp đồng kỳ hạn tiền tệ Trong trường hợp này khách hàng có quyền nhận khoản thanh toán FXA mà không bị ràng buộc phải trả khoản này nếu tỷ giá thực hiện cao hơn giá thực tế.

Ví dụ:

Nếu tỷ giá thực hiện hợp đồng FXA là CHF 1.5/USD với mọi thỏa thận khác

đã thỏa thuận trước, và tỷ giá vào đáo hạn là CHF 1.4/USD, khách hàng nhận 0,1 triệu CHF từ ngân hàng Nếu tỷ giá là CHF 1.7/USD vào đáo hạn thì khách hàng không phải trả gì cho ngân hàng và đương nhiên hợp đồng hết hiệu lực Tất nhiên là, với hợp đồng FXA khách hàng bán triệu USD trên thị trường giao ngay tại tời điểm tỷ giá thị trường là CHF1,7/ USD Khoản trả duy nhất mà khách hàng phải trả là khoản phí đã trả từ trước cho quyền chọn.

4.4.3. Giao dịch quyền chọn lãi suất

Trần lãi suất

Hợp đồng quyền chọn có thể giúp khách hàng đi vay Mỹ đã đề cập ở trên Nếu người vay tiền muốn loại trừ rủi ro cua một sự tăng lên trong lãi suất LIBOR trong khi muốn giữ lại lợi nhuận trừ một sự giảm của lãi suất LIBOR, một trần lãi suất có thể là một hợp đồng đúng đắn.

Một trần lãi suất là một quyền chọn trên một hợp đồng kỳ hạn lãi suất hoặc một swap lãi suất, cho phép người vay nhận khoản trả FRA (hoặc swap) nếu lãi suất thấp hơn lãi suất hợp đồng Để đổi lấy hợp đồng tuyệt vời này, người vay tiền trả trước một khoản phí cho ngân hàng.

Trang 24

Ví dụ:

Nếu lãi suất trần là 10%, và người vay tiền muốn nhận khoản thanh toán

từ ngân hàng bất cứ khi nào lãi suất LIBOR năm cao hơn 10% vào ngày đặt lãi suất trần (như trong hợp đồng FRA hoặc IRS) NẾu LIBOR dưới trần 10%, người vay sẽ không phải trả gì cho ngân hàng Chi phí thấp hơn của khoản vay lãi suất thả nối này là khoản lợi mà ngân hàng không phải trả cho ngân hàng.

Sàn lãi suất

Hợp đồng quyền chọn lãi suất cũng có thể được dùng cho người cho vay Nếu như FRA hoặc IRS chỉ có thể sử dụng bởi người đi vay để bảo hiểm trước sự giảm lãi suất thì một sàn lãi suất có thể dùng để họ loại trừ rủi ro giảm lãi suất

mà không phải mất đi lợi nhuận tiềm năng của việc tăng lãi suất Trần và sàn lãi suất có thể được dùng trong một kỳ hạn hoặc nhiều kỳ hạn.

Phí cho quyền chọn lãi suất thường rẻ hơn phí cho quyền chọn tiền tệ Bởi

vì vậy, trần lãi suất được dùng nhiều hơn quyền chọn tiền tệ để bảo hiểm rủi ro.

Trang 25

Phần II Phân tích giao dịch quyền chọn

1. Mục đích sử dụng giao dịch quyền chọn trong ngân hàng

Ngân hàng có thể sử dụng hợp đồng quyền chọn để phòng tránh rủi ro về

sự biến động giá của tài sản( bởi các yếu tố tỷ giá, giá chứng khoán, v.vv ) đồng thời NH cũng bán quyền chọn cho các DN có nhu cầu trong nước, giúp DN bảo hiểm tài sản hoặc thực hiện mục đích đầu cơ của mình.

1.1. Bảo hiểm rủi ro

Bảo hiểm tài sản cho chính ngân hàng

Với mỗi nhận định khác nhau trong tương lai mỗi NH sẽ có những chiến lược khác nhau để tự bảo vệ mình:

- Nếu NH nhận định trong tương lai tỷ giá hoặc giá chứng khoán tăng mạnh, khi ấy NH sẽ mua quyền chọn mua từ một ngân hàng khác ( hoặc cũng có thể sử dụng hợp đồng tương lai mua ngoại tệ hoặc chứng khoán)

- Nếu NH nhận định trong tương lai tỷ giá hoặc giá chứng khoán giảm, NH

sẽ mua quyền chọn bán ( hoặc sử dụng hợp đồng tương lai để bán)

- Cần lưu ý, vì phí quyền chọn thường khá lớn, có thể lên đến vài % giá trị hợp đồng nên hợp đồng quyền chọn sẽ chỉ được sử dụng khi NH dự đoán tỷ giá hoặc giá sẽ có sự biến động mạnh, khi ấy lợi nhuận thu được từ quyền chọn mới đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra để mua quyền chọn, hơn nữa khi mà

NH chỉ biết rằng tỷ giá hoặc giá các loại CK sẽ có sự biến động mạnh mà không rõ xu hướng đi lên hay giảm xuống thì có thể kết hợp cả hai quyền chọn mua và bán để bảo vệ nguồn vốn của mình.

Bảo hiểm tài sản cho các DN khác:

- Các doanh nghiệp có các nghiệp vụ kinh doanh liên quan tới ngoại tệ sẽ phải đối mặt với vấn đề tỷ giá, và khi đó họ có thể mua các hợp đồng quyền chọn mua bán ngoại tệ từ các NH cung cấp.

- Không chỉ vấn đề tỷ giá, các doanh nghiệp là tổ chức đầu tư hay các doanh nghiệp bất kỳ mà có khoản mục đầu tư chứng khoán trong danh mục đầu

tư của họ cũng có thể mua hợp đồng quyền chọn từ các NH để phòng ngừa rủi ro trong các mảng đầu tư đó.

Ngày đăng: 04/04/2015, 15:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  quyền  chọn  được  quy  định  khác  nhau  tùy  ngân  hàng. Techcombank quy định hình thức giao dịch quyền chọn kiểu Châu Âu, tức là hợp đồng  chỉ  được  thực  hiện khi đến ngày đáo hạn, thời gian kết thúc giao dịch là 13h Hà Nội hoặc 15h Tokyo - Công cụ phái sinh và sử dụng công cụ phái sinh trong bộ phận nguồn vốn Ứng dụng về giao dịch quyền chọn
nh thức quyền chọn được quy định khác nhau tùy ngân hàng. Techcombank quy định hình thức giao dịch quyền chọn kiểu Châu Âu, tức là hợp đồng chỉ được thực hiện khi đến ngày đáo hạn, thời gian kết thúc giao dịch là 13h Hà Nội hoặc 15h Tokyo (Trang 34)
Bảng phí trên là bảng phí tham khảo. Mức phí này sẽ thay đổi tuỳ theo thị trường tại từng thời điểm. - Công cụ phái sinh và sử dụng công cụ phái sinh trong bộ phận nguồn vốn Ứng dụng về giao dịch quyền chọn
Bảng ph í trên là bảng phí tham khảo. Mức phí này sẽ thay đổi tuỳ theo thị trường tại từng thời điểm (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w