PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN: Sáng kiến: “Hướng dẫn giáo viên vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết dạy luyện tập, luyện tập chung, ôn tập toán nhằm nâng cao chất lượng
Trang 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-BÁO CÁO SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến: “Hướng dẫn giáo viên vận dụng một số phương pháp dạy
học tích cực trong tiết dạy luyện tập, luyện tập chung, ôn tập toán nhằm nâng cao chất lượng môn toán trong nhà trường”
- Họ và tên: Nguyễn Thị Hoa
- Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ tháng 15/08/ 2012 đến tháng 02/2013
I
SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN :
- Trong quá trình dự giờ kiểm tra đánh giá và xây dựng tiết dạy giỏi cho giáo trong nhà trường Qua các tiết dạy luyện tập và luyện tập chung Trên tiết dạy thực tế của giáo viên cho thấy có nhiều giáo viên còn lúng túng khi dạy các tiết này Hầu hết giáo viên đã chú trọng đổi mới phương pháp nhưng chưa đi thực chất vào chiều sâu, chưa triệt để, chỉ mới dừng lại ở cải tiến phương pháp Ít chú trọng đến cách dẫn dắt học sinh tìm hiểu khám phá và lĩnh hội kiến thức Do không nắm được phương pháp dạy luyện tập Những hạn chế nêu trên thể hiện qua nội dung bài soạn còn thiếu chưa đủ nội dung cần dạy trong tiết luyện tập nên hiệu quả tiết dạy chưa cao
- Khi dạy các tiết luyện tập, luyện tập chung giáo viên thường tiến hành một cách đơn giản cho một HS làm bài tập trên bảng lớp cả lớp làm vở nháp HS làm xong, GV cho HS nhận xét,
GV nhận xét cho điểm và sửa sai nếu có (Tiết luyện tập biến thành tiết sửa bài tập) nhiều khi bài khó giáo viên làm hộ cho HS GV chưa đưa ra hệ thống câu hỏi để củng cố và khắc sâu kiến thức cho HS Từ đó tiết dạy học toán chưa phát huy được năng lực tư duy cần thiết trong giải toán, chưa rèn cho HS cách tự tư duy tài liệu để tìm ra kiến thức cần học Chưa chỉ và tập cho học sinh cách tự học cụ thể( Phương pháp tự học )
- Mặc dù một số giáo viên đã chuẩn bị bài rất công phu, bên cạnh đó một số giáo viên chưa chuẩn bị bài giảng đúng với trọng tâm, bài giảng còn mang hình thức chung chung, chưa phân loại đối tượng học sinh Chưa chỉ cho học sinh được đường đi cụ thể, chưa chỉ ra được các thiếu sót
cụ thể, hướng khắc phục cho học sinh dù đó là những lỗi nhỏ nhất
- Giáo viên chưa mạnh dạn điều chỉnh nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng của BGD & ĐT đề phù hợp với đối tượng lớp mình phụ trách
- Mặc dù đã chú trọng trong việc huy động kiến thức cũ để khơi gợi kiến thức mới song chưa thường xuyên (thể hiện chưa rõ trong phần bài soạn)
- Các tiết trả bài kiểm tra giáo viên chưa chỉ ra được các thiếu sót cụ thể, hướng khắc phục cho học sinh dù đó là những lỗi nhỏ nhất
HS không có phương pháp học tốt luôn thụ động chờ GV giảng
Một số em bị hổng kiến thức dẫn đến chán nản Khả năng tiếp thu còn hạn chế và chưa linh động trong cách làm bài Học sinh chưa xác định đúng đắn động cơ học tập, học một cách thụ động, làm bài một cách qua loa, đại khái, ý thức phần đấu vươn lên chưa cao
- Nhiều tiết dạy luyện tập thực hành hầu như học sinh chưa có thói quen đặt câu hỏi ngược lại cho giáo viên thường là học sinh trả lời câu hỏi của giáo viên
II PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN:
Sáng kiến: “Hướng dẫn giáo viên vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết dạy luyện tập, luyện tập chung, ôn tập toán nhằm nâng cao chất lượng môn toán trong nhà trường”
Thực hiện trong các khối lớp tại trường tiểu học phường 9
Trang 2III MÔ TẢ TẢ SÁNG KIẾN (Cách giải quyết): Hướng dẫn giáo viên Vận dụng các phương pháp tích cực
*A Phương pháp dạy học các bài luyện tập, thực hành:
Mở chuyên đề giúp giáo viên nắm vững vị trí, mục tiêu chung của tiết luyện tập
1 Vị trí của tiết luyện tập.
Tiết luyện tập có tác dụng hoàn thiện các kiến thức cơ bản mà tiết lý thuyết vừa cung cấp Nâng cao lý thuyết trong chừng mực có thể
Làm cho học sinh nhớ và khắc sâu hơn những vấn đề lý thuyết đã học
2 MỤC TIÊU CHUNG CỦA TIẾT LUYỆN TẬP
a - Hoàn thiện hoặc nâng cao ở mức độ phổ thông cho phép đối với phần lý thuyết của tiết học trước thông qua một số tiết học trước, thông qua một hệ thống bài tập đã được sắp xếp hợp lý theo kế hoạch lên lớp
* Hệ thống bài tập gồm: Các bài tập trong SGK,
b - Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng, thuật toán hoặc nguyên tắc giải toán dựa trên cơ sở nội dung lý thuyết đã học và phù hợp với đa số học sinh một lớp, thông qua hệ thống bài tập SGK
c - Thông qua phương pháp và nội dung rèn luyện cho học sinh nề nếp làm việc có tính khoa học, phương pháp tư duy cần thiết
* Một vài điều cần lưu ý:
Tiết luyện tập không phải chỉ là tiết giải các bài tập đã cho học sinh làm ở nhà hay sẽ cho học sinh làm trên lớp mà còn phải là tiết dạy cách suy nghĩ giải toán
Trong tiết luyện tập phải xác định rõ:
* Thầy phải luyện cái gì?
* Trò phải tập cái gì?
Các bước thực hiện tiết luyện tập, luyện tập chung.
a
Bước 1 :
Cho HS trình bày lời giải các bài tập cũ đã cho HS làm ở nhà., nhằm kiểm tra:
- HS hiểu lý thuyết đến đâu
- Kỹ năng vận dụng lý thuyết trong việc giải bài tập
- HS mắc những sai phạm nào?
- Cách trình bày lời giải bằng ngôn ngữ, bằng kí hiệu chuẩn xác chưa ?
b Bước 2:
- Giáo viên chốt lại những vấn đề có tính chất trọng tâm, chưa chỉ ra được các thiếu sót cụ thể, hướng khắc phục cho học sinh dù đó là những lỗi nhỏ nhất chưa chỉ ra được các thiếu sót cụ thể, hướng khắc phục cho học sinh dù đó là những lỗi nhỏ nhất Giáo viên chốt lại vấn đề theo nội dung sau:
- Chỉ ra những sai sót của học sinh, những sai sót thường mắc phải mà giáo viên tích luỹ được trong quá trình giảng dạy Nhắc lại một số vấn đề chủ yếu về lý thuyết mà học sinh chưa vận dụng được khi giải bài tập
+ Phân tích những sai lầm và nguyên nhân dẫn đến những sai lầm đó ( nếu có)
+ Khẳng định những chỗ làm đúng, làm tốt của học sinh để kịp thời động viên
+ Đưa ra những cách giải khác ngắn gọn hơn, hay hơn hoặc vận dụng lý thuyết linh hoạt hơn (nếu có thể) Hướng dẫn cho HS cách trình bày, diễn đạt bằng ngôn ngữ, ký hiệu toán học…
c Bước 3:
Làm thêm bài tập mới có trong hệ thống bài tập SGK, nhằm đạt được yêu cầu:
- Kiểm tra ngay sự hiểu biết của học sinh phần lý thuyết mở rộng mà giáo viên đưa ra ở đầu giờ học (nếu có)
- Hoàn thiện lý thuyết, khắc phục sai lầm HS thường mắc phải
Trang 3- Rèn luyện một vài thuật toán cơ bản mà HS cần ghi nhớ trong quá trình học tập
- Rèn luyện cách phân tích bài toán, tìm phương hướng giải quyết bài toán
- Khắc sâu hoàn thiện lý thuyết qua các bài tập có tính chất phản ví dụ, các bài tập vui có tính thiết thực
d Bước 4: Củng cố sau tiết luyện tập, hướng dẫn học bài về nhà
- Hệ thống lại những dạng toán đã luyện, phương pháp giải các dạng toán đó
- Kiến thức sử dụng trong tiết luyện tập
- Dặn dò chuẩn bị cho tiết học sau
* Tóm lại
Tiết luyện tập, luyện tập chung nào thì cũng có ba phần chủ yếu:
- Hoàn thiện lý thuyết.
- Rèn luyện kỹ năng thực hành.
- Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh
Vì vậy trong tiết luyện tập thực hành điều quan trọng là không phải học sinh làm được nhiều bài và giáo viên cung cấp thêm nhiều bài tập cho học sinh mà chính là giáo viên cùng học sinh khai thác được các tiềm năng trong các bài tập có sẵn trong sách giáo khoa, tổ chức trao đổi ý kiến về các cách làm bài của học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau và củng cố nhiều lần về kiến thức trọng tâm của tiết luyện tập đã đề ra
* Khi soạn bài giáo viên cần phân loại đối tượng học sinh trong từng tiết dạy, chỉ ra đường
đi cụ thể cho học sinh, chốt kiến thức sau mỗi bài, lượng giá được tỉ lệ % học sinh thực hiện được
* Trong dạy luyện tập thực hành cần cho học sinh có thói quen đặt câu hỏi ngược lại cho giáo viên
* Mỗi giáo viên cần mạnh dạn điều chỉnh nội dung, kế hoạch dạy học sao cho sát với đối tượng của lớp mình phụ trách
* Phần kiểm tra bài cũ việc huy động kiến thức cũ để khơi gợi kiến thức mới cần phải thực hiện thường xuyên kể cả trong bài soạn (tránh tình trạng khi dự giờ, lên tiết tốt mới thực hiện)
* Trong lúc chấm chữa bài cho học sinh và đặc biệt chấm chữa bài qua các tiết kiểm tra giáo viên cần phải nêu ra được các thiếu sót cụ thể chỉ ra được hướng khắc phục cho học sinh cho
dù đó là lỗi nhỏ nhất (cần thống kê đầy đủ số liệu từng phần cụ thể)
3 QUI TRÌNH SOẠN BÀI
*Nghiên cứu tài liệu:
- Trước hết phải nghiên cứu lại phần lý thuyết mà học sinh được học Qua đó phải xác định kiến thức nào là kiến thức cơ bản, trọng tâm, kiến thức nào nâng cao, mở rộng cho phép
- Tiếp theo là nghiên cứu các bài tập trong SGK:
a) Cách giải từng bài toán như thế nào?
b) Có thể có bao nhiêu cách giải bài toán này
c) Cách giải nào là thường gặp? Cách giải nào là cơ bản?
d) Ý đồ của tác giả đưa ra bài toán này để làm gì ?
e) Mục tiêu và tác dụng của từng bài tập như thế nào?
- Nghiên cứu sách tham khảo, sách giáo viên kỹ sau đó tập trung xây dựng nội dung tiết luyện tập và phương pháp luyện tập
* Nội dung bài soạn:
a) Mục tiêu của tiết luyện tập
b) Cấu trúc tiết luyện tập:
b.1- kiểm tra kiến thức cũ:
- Số lượng bài tập, dự kiến thời gian
- Chốt lại vấn đề gì qua các bài tập này?
Trang 44 b.2-Cho học sinh làm bài tập mới
- Số bài tập trong SGK
- Số lượng bài tập, dự kiến thời gian cho mỗi bài tập
- Bài tập đưa ra có dụng ý gì ?
b.3- Hướng dẫn học sinh học bài, làm bài ở nhà sau tiết bài tập
- Hệ thống các bài tập cho về nhà làm (nhưng bài ở lớp HS làm chưa xong.)
- Gợi ý gì đối với từng bài tập cho học sinh yếu, học sinh giỏi?
* Thực hiện nội dung đã nêu ở trên trong tiết luyện tập
Tiến trình được thực hiện trên lớp thế nào để phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học
- Các bài tập trong các tiết luyện tập thực hành thường sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó,
từ đơn giản đến phức tạp, từ thực hành và luyện tập trực tiếp đến vận dụng một cách tổng hợp và linh hoạt hơn GV có thể tổ chức dạy học các bài ôn tập thực hành như sau:
a) Hướng dẫn học sinh nhận ra kiến thức đã học trong đó có dạng bài tương tự đã làm trong các bài tập
- Nếu học sinh tự đọc đề bài và nhận ra được dạng bài tương tự đã làm hoặc các kiến thức
đã học thì tự học sinh sẽ biết cách làm bài và trình bày bài làm
- Nếu HS nào chưa tự nhận ra được dạng bài tương tự hoặc các kiến thức đã học thì GV hướng dẫn gợi ý hoặc tổ chức đôi bạn giúp nhau để tự HS nhớ lại kiến thức, cách làm GV không làm thay những gì HS có thể làm được
VD: Khi HS làm các bài tập về số thập phân ở lớp 5, GV giúp HS tự nhớ lại cách làm dạng bài tương tự đã có khi học số tự nhiên, nhớ lại kiến thức mới học số thập phân có liên quan đến việc làm bài tập đó Đây là cơ hội để HS củng cố các kiến thức và kỹ năng cơ bản về các phép tính cộng trừ nhân chia.Chẳng hạn khi làm các bài tập cộng trừ nhân chia số thập phân có mang tên đơn vị thì GV cho HS hoạt động nhóm cùng trao đổi nhớ lại quy tắt thực hiện 4 phép tính đã học như: cộng số thập phân, trừ số thập phân, nhân số thập phân, chia số thập phân lần lượt
- Cần chú ý cách đặt tính ở phép tính cộng và trừ số thập phân, đánh dấu phẩy vào kết quả
ở phép tính nhân số thập, cách thực hiện chia số thập phân cho số thập phân( Xoá dấu phẩy ở số chia và dời dấu phẩy ở số bị chia sang phải)
- Ví dụ: Bài tập1/ tiết luyện tập chung tuần 11
- GV cho học sinh hoạt động nhóm để tìm hiểu cách tính bài toán tìm X, nêu kết quả và cách thực hiện
b) Giúp HS tự làm bài theo khả năng của từng HS:
- GV nêu yêu cầu HS làm bài lần lượt theo yêu cầu chuẩn kiến thức kỹ năng Chẳng hạn như tiết luyện tập chung tuần 11 có 5 bài tập thì chuẩn kiến thức kỹ năng yêu cầu GV hướng dẫn HS hoàn thành bài tập 1, 2 và 3 cho cả lớp, riêng bài 4, 5 khuyến khích cho HS trong lớp có thể làm được vào vở bài tập luyện buổi chiều
- Không nên bắt HS phải chờ đợi nhau trong quá trình làm bài, HS đã làm xong bài tập nào nên tự kiểm tra( hoặc nhờ bạn, cô giáo kiểm tra) rồi chuyển sang bài tập tiếp theo
- GV phải chấp nhận tình trạng trong cùng một khoảng thời gian, có HS này làm được nhiều bài tập hơn HS khác GV nên hỗ trợ hoặc tổ chức cho HS khá giỏi hỗ trợ HS yếu cách làm bài không làm thay cho HS yếu GV khuyến khích HS khá giỏi hoàn thành các bài tập mà chuẩn kiến thức không yêu cầu ngay ở lớp Ở trên lớp GV giúp HS cả lớp tìm được cách giải quyết hợp lý
- Ví dụ: Bài tập 2/ SGK tiết luyện tập tuần 16
- GV cho HS đọc đề bài - tìm hiểu đề - trao đổi trong nhóm lớn nhớ lại kiến thức tìm tỷ số phần trăm của 2 số - đưa ra bước giải của bài toán
* GV gợi ý 2 khái niệm mới đối với HS: số % đã thực hiện được và số % vượt mức so với
kế hoạch cả năm
- HS trao đổi trong cả lớp - độc lập giải toán
Trang 5- Cùng kiểm tra kết quả của nhau trong bàn
c) Tạo ra sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng HS:
- GV cho HS trao đổi ý kiến (nhóm, cả lớp) về cách giải 1 bài tập khuyến khích HS nêu nhận xét về cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm để hoàn chỉnh cách giải của mình
- Sự hỗ trợ giữa các HS trong nhóm, lớp giúp HS tự tin vào khả năng của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học cách làm bài của mình và tự sửa chữa thiếu sót của bản thân
- HS phải nhận ra điều hỗ trợ giúp đỡ bạn cũng có ích cho bản thân
d) HS cần có thói quen tự kiểm tra đánh giá kết quả luyện tập thực hành:
e) HS cần có thói quen tìm và lựa chọn phương án hợp lý nhất để giải quyết vần đề của bài tập, không nên thoả mãn với các kết quả đã đạt được
- Khi HS chữa xong bài GV nêu gương những HS hoàn thành tốt bài cũng như những HS
đã có cố gắng trong luyện tập thực hành tạo cho HS niềm tin vào sự tiến bộ của bản thân
- Khuyến khích HS tìm ra nhiều cách giải cho 1 bài toán
* Với những phương pháp dạy học trên GV không nhất thiết phải lựa chọn thêm bài tập cho đối tượng HS, mà chỉ giúp HS khai thác, thực hiện phần nội dung mà chuẩn kiến thức kỹ năng yêu cầu cần đạt ở mỗi bài học Dạy học trên cơ sở chuẩn kiến thức kỹ năng sẽ góp phần thực hiện chương trình đạt mức chất lượng cơ bản về dạy học Tạo sự ổn định trong dạy học để nâng cao chất lượng Tạo cơ hội để hỗ trợ cho HS yếu và là cơ sở để phát triển năng lực cá nhân của HS, tạo cho HS có hứng thú tìm tòi, sáng tạo trong học toán
VD: Khi dạy các bài luyện tập thực hiện các phép tính nhân, chia ở lớp 3 học sinh thường
gặp một số khó khăn, sai lầm sau:
a- Học phép nhân:
- Khi nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số có nhớ 2, 3 lần liên tục, học sinh thường chỉ nhớ lần đầu tiên mà quên không nhớ các lần tiếp theo
VD: 1719
x 4
4876
- Trong phép nhân có nhớ nhiều hơn 1( nhớ 2, nhớ 3 ) học sinh thường chỉ nhớ 1
VD: 2913
x 4
9652
* Giáo viên phân tích và sửa sai cho học sinh: Đối với 2 lỗi trên, giáo viên cần khắc phục cho
học sinh bằng cách: yêu cầu các em nhẩm thầm trong khi tính (vừa tính, vừa nhẩm) như phép tính mẫu trong sách giáo khoa và viết số cần nhớ ra lề phép tính
- Lúc đầu khi mới học nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số, học sinh còn hay sai trong cách ghi kết quả
VD:
26
X 3
618
* Giáo viên phân tích và sửa sai cho học sinh: Ở đây, ta cần giải thích cho học sinh rằng: Nếu
làm như vậy thì tích có tới 61 chục, nhưng thực ra chỉ có 7 chục mà thôi Vì:
+ Ở lượt nhân thứ nhất: 3 nhân 6 đơn vị được 18 đơn vị, tức là 1 chục và 8 đơn vị, viết 8 ở
cột đơn vị, còn 1 chục nhớ lại( ghi bên lề phép tính)để thêm vào kết quả lượt nhân thứ hai – nhân hàng chục
+ ở lượt nhân thứ hai: 3 nhân 2 chục được 6 chục, thêm 1 chục đã nhớ là 7 chục, viết 7 ở cột chục
Trang 66 Giáo viên cũng có thể một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của phép tính bằng cách: Phân tích từ số 26 = 2 chục + 6 đơn vị và hướng dẫn học sinh nhân bình thường theo hàng ngang rồi cộng các kết quả lại
b- Học phép chia:
- Học sinh thường ước lượng thương sai trong phép chia có dư nên dẫn đến tìm được số dư lớn hơn số chia và lại thực hiện chia số dư đó cho số chia Cuối cùng, tìm được thương lớn hơn số chia
* Nguyên nhân của lỗi sai này là:
- Do học sinh chưa nắm được quy tắc “ Số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia ”
- Học sinh không thuộc bảng nhân, bảng chia, kĩ năng trừ nhẩm để tìm số dư còn chưa tốt
*Để sửa chữa sai lầm này:
- Khi dạy học sinh cách ước lượng trong phép chia , cần lưu ý cho học sinh quy tắc trong
phép chia có dư: “ Số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia”.
- Khi dạy về nhân, chia trong bảng, giáo viên cần yêu cầu học sinh phải học thật thuộc các bảng nhân, chia trước khi dạy chia viết
- Dạy cho học sinh làm tính chia phải được tiến hành từ dễ đến khó, theo từng bước một
- Một sai lầm nữa thường thấy ở học sinh khi học chia viết là: Các em thường quên chữ số
“0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương
*Nguyên nhân và cách khắc phục lỗi sai này:
- Do học sinh không nắm được quy tắc thực hiện chia viết “có bao nhiêu lần chia thì có bấy nhiêu chữ số được viết ở thương” Giáo viên cũng cần lưu ý học sinh: Chỉ duy nhất trong lần chia đầu tiên là được lấy nhiều hơn một chữ số ở số bị chia để chia, còn các lần chia tiếp theo lấy từng chữ số để chia và khi lấy một chữ số để chia thì phải viết được một chữ số ở thương
- Bên cạnh đó, giáo viên cũng lưu ý học sinh nên viết đủ phép trừ ở các lượt chia như sau: VD: 816 4
016 28
- Hướng dẫn học sinh cách nhân khi thực hiện phép chia có dư trong mỗi lượt chia như sau: VD: 43 : 5
Cách 1: Đếm ngược từ 43 cho đến khi gặp một tích( hoặc số bị chia) trong bảng nhân
5( chia 5) : 43 ; 42 ; 41 ; 40
40 : 5 = 8
Vậy 43 : 5 = 8 ( dư 3 )
Cách 2 : Tìm số lớn nhất( không vượt quá 43) trong các tích (số bị chia) của bảng nhân
(chia 5) ta được 40 ; 40 : 5 = 8 Vậy 43 : 5 = 8 ( dư 3 )
Học sinh yếu kém về toán là những học sinh có kết quả học tập toán thường xuyên dưới trung bình Việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết ở những học sinh này thường đòi hỏi nhiều công sức và thời gian so với những học sinh khác Học sinh yếu kém nhiều khi vấp ngay
từ bước đầu tiên, không hiểu bài toán nói gì do đó không thể tiếp tục quá trình giải toán Vì vậy, giáo viên nên lưu ý giúp các em hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm, tạo điều kiện cho các em vượt qua sự vấp váp đầu tiên đó Để hiểu một kiến thức, rèn luyện một kĩ năng nào đó, học sinh yếu kém cần những bài tập cùng thể loại và mức độ với số lượng nhiều hơn so với các em khá giỏi và trung bình
Đặc biệt, giáo viên cần đấu tranh kiên trì với những thói quen xấu của học sinh như: chưa học
lý thuyết đã lao vào làm bài tập, không đọc kĩ đầu bài trước khi làm bài tập, viết nháp lộn xộn,
* Quy trình dạy các bài ôn tập cuối năm:
1 Tổ chức lớp
2 Định hướng mục đích, nhiệm vụ học tập
3 Tổ chức cho học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa trên cơ sở đã được chuẩn bị trước nhằm xây dựng nên những bảng tổng kết, các sơ đồ, biểu đồ,
Trang 74 Tổng kết bài học
5 Hướng dẫn công việc ở nhà
Các hoạt động dạy học ôn tập
Có nhiều cách dạy học ôn tập, một phương án là: Hoạt động hóa người học thông qua việc bài tập hóa những kiến thức cơ bản
Giờ học được thiết kế theo chùm 4 bài tập tương ứng với 4 loại đối tượng học sinh là: Giỏi
- Khá - Trung bình - Yếu, kém
Phương pháp chủ yếu là mỗi đối tượng học sinh được giao một bài tập thích hợp theo mức
độ tăng dần Bài tập được chuẩn bị theo bảng sau:
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3 Mức độ 4
Học sinh Yếu,
Học sinh Trung
Học sinh Khá Bài 3.1 Bài 3.2 Bài 3.3 Bài 3.4
Học sinh Giỏi Bài 4.1 Bài 4.2 Bài 4.3 Bài 4.4
Ghi chú: Mức độ được tăng dần từ mức 1 đến mức 4 (có thể phân bậc mịn hơn nữa càng tốt),
trong đó:
Bài 1.4 tương đương bài 2.1
Bài 2.4 tương đương bài 3.1
Bài 3.4 tương đương với bài 4.1,
Với sự chuẩn bị như vậy, giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh tự giác chiếm lĩnh tri thức Giờ học được diễn biến theo tiến trình:
Hoạt động 1 Giáo viên giao nhiệm vụ bằng cách, yêu cầu mỗi đối tượng làm một bài
tập thích hợp Tất nhiên là có sự hạn chế thời gian
Hoạt động 2 ra những hướng dẫn hoặc gợi ý cho mỗi đối tượng, học sinh độc lập làm bài.Giáo viên theo dõi hoạt động của học sinh và giải đáp thắc mắc cũng như đưa
Hoạt động 3
Kiểm tra kết quả công việc sau khoảng thời gian cho phép
Nếu học sinh nào làm đúng, nhanh nhất sẽ được khen và được thưởng (thông qua việc mời học sinh đó chữa bài cho cả lớp), giáo viên đừng quên cho điểm
Còn với những học sinh chưa hoàn thành công việc trong thời gian cho phép thì cần học tập lời giải của bạn và tự điều chỉnh
Giáo viên cần giúp học sinh lấp được lỗ hổng trong kiến thức của HS
Hoạt động 4 Giáo viên chuẩn hóa kiến thức Chú ý thông qua hoạt động này, giáo viên giúp
học sinh nắm được tri thức và tri thức phương pháp
Các hoạt động được diễn ra và lặp lại cho đến khi hoạt động nhận thức được thực hiện
Ưu điểm, nhược điểm hoạt động hóa người học thông qua việc bài tập hóa những kiến thức cơ bản
Cách dạy học ôn tập như thế có những ưu điểm, nhược điểm chính sau:
Ưu điểm: Học sinh được hoạt động độc lập, tự giác hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức phù
hợp với trình độ nhận thức của mình
Nhược điểm: Chuẩn bị vất vả, điều khiển giờ học phức tạp vì có nhiều học sinh hiểu
không giống nhau, nếu điều khiển không khéo giờ học sẽ bị phân tán và phản tác dụng Mặt khác, trong quá trình tự học như vậy, học sinh nào tự giác tích cực sẽ đạt hiệu quả cao hơn, ngược lại một số học sinh kém, hoạt động chậm hơn luôn bị động và rất dễ dẫn đến chán học
Trang 88 Khi dạy ôn tập giáo viên cần lưu ý:
Để chuẩn bị cho tiết ôn tập, yêu cầu học sinh làm việc ở nhà: trả lời các "câu hỏi tự kiểm tra" và chuẩn bị các bài tập
Mục "Tóm tắt những kiến thức cần nhớ" trong SGK nhằm mục đích để cho học sinh tra cứu nếu cần thiết, không nên giảng lại cho học sinh trong giờ học ôn tập
Tiết ôn tập không phải là để giáo viên nhắc lại các kiến thức đã học, mà là để giúp học sinh
nhớ lại, làm lại và tìm ra mạch kiến thức cơ bản của một nội dung được học"sợi chỉ " liên kết
các kiến thức ấy với nhau Giúp học sinh nhận ra kiến thức mới ( kiến thức đã học) để huy động Nếu học sinh tự đọc đề bài, tự nhận ra các dạng bài tương tự, các kiến thức đã học thì nội dung bài dạy và học sinh học sẽ thuận lợi hơn Nếu học sinh chưa nhận ra kiến thức đã học trong bài tập thì giáo viên giúp học sinh bằng cách gợi ý, hướng dẫn nhớ lại kiến thức (hoặc nhờ học sinh giúp bạn
nhớ lại) không nên vội làm thay cho học sinh.
* Giúp học sinh tự thực hành theo khả năng của học sinh ( phân hóa đối tượng )
- Giáo viên bao giờ cũng yêu cầu học làm các bài tập đã sắp xếp thứ tự trong sách giáo khoa hoặc do giáo viên sắp xếp Không tự ý bỏ bài nào kể các bài tập học sinh cho là dễ ( đây là dạng bài tập phổ cập bắt buộc 100 % học sinh phải thực hiện được.)
- Không nên bắt buộc học sinh phải chờ đợi nhau trong quá trình làm bài Học sinh làm được bài nào nên tự kiểm tra (hoặc giáo viên, hoặc bạn kiểm tra rồi chuyển sang làm bài tập tiếp theo)
- Trong cùng một khoảng thời gian của tiết học, phải chấp nhận có học sinh làm được nhiều bài tập hơn học sinh khác Hãy giúp học sinh yếu, không làm thay (giáo viên – bạn chỉ dùm) Học sinh khá, giỏi có thể làm hết các bài tập trong sách giáo khoa hoặc bài tập phát triển giáo viên đã chuẩn bị
Tạo ra sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh
- Tăng cường cho học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ
- Sự hỗ trợ giữa các học sinh trong nhóm giúp học sinh tự sửa chữa và tự điều chỉnh Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành luyện tập
- Tập cho học sinh thói quen tự kiểm tra lại kết quả một cách chính xác
- Trong một số trường hợp giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra bài của bạn mình rồi báo cáo kết quả cho giáo viên
- Khuyến khích học sinh tự nêu những hạn chế trong bài của mình hoặc của bạn
Tập cho học sinh thói quen tìm nhiều phương án để giải quyết vấn đề :
- Khi sửa bài hoặc khi đánh giá kết quả của học sinh giáo viên nên động viên, nêu gương học sinh
đã hoàn thành bài tập tạo cho các em niềm tin và sự tiến bộ của bản thân
- Khuyến khích học sinh tìm ra nhiều cách giải và chọn cách giải tối ưu nhất
Nên có các bảng hệ thống thể hiện mối liên quan hệ thống của kiến thức cần ôn tập, qua đó khắc sâu, hệ thống và nâng cao các kiến thức cơ bản đã học Các kiến thức trong bảng liên quan với nhau cả theo hàng lẫn theo cột Tận dụng các sơ đồ để hệ thống kiến thức
Trong tiết ôn tập trên lớp, giáo viên chọn một vài bài tập có nội dung tổng hợp liên quan đến nhiều kiến thức cần ôn tập và cùng làm việc với học sinh, qua đó nhắc lại, khắc sâu, hệ thống và nâng cao các kiến thức cần nhớ và phương pháp giải Không nên đi sâu vào những tính toán cụ thể
Luôn luôn thay đổi hình thức ôn tập cho phong phú, đa dạng và hiệu quả khoảng 10/15
phút cho mỗi hình thức Trong bất kì hình thức nào, HS cũng phải được chủ động tham gia vào quá trình ôn tập kiến thức
Tóm lại biết phát huy tính tích cực chủ động của HS trong học toán, cũng như khai thác được khả năng vô tận của các em, thì kết quả học tập của HS sẽ nâng cao rõ rệt Chúng ta sẽ góp phần hình thành cho các em các phẩm chất năng động, sáng tạo, những phẩm chất cần thiết cho con người phát triển toàn diện của thời kỳ đất nước bước vào công nghiệp hóa hiện đại hóa
Trang 9*B Phương pháp dạy học phân hóa đối tượng.
DHPH là phương pháp dạy học có tính đến sự khác biệt của người học (cá nhân) hoặc nhóm người học Ở tiểu học DHPH thường được thể hiện ở việc lấy chuẩn kiến thức kỹ năng làm nền cơ bản, ngoài kế hoạch dạy học thông thường phân hóa để có những kế hoạch dạy học phù hợp đưa HS yếu kém đạt chuẩn và giúp các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc khá, giỏi phát triển ở mức cao hơn
- Quy trình thực hiện DHPH trong môn toán ở TH thường diễn ra như sau: Đánh giá,
phân loại trình độ, năng lực học toán của HS là Xây dựng kế hoạch, nội dung và lựa chọn hình thức, PPDH cho phù hợp với từng nhóm đối tượng hoặc từng đối tượng đặc biệt à Tổ chức triển khai thực hiện à Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh, hoàn thiện
1- Kết hợp nhiều hình thức kiểm tra để đánh giá, chẩn đoán, phân loại đối tượng HS theo trình độ
- Kết hợp kiểm tra định kỳ, kiểm tra thường xuyên và quan sát lớp học: GV cần thận trọng khi
đưa ra kết luận một HS nào đó thuộc nhóm trình độ nào Do vậy cần phải kết hợp nhiều hình thức kiểm tra trong dạy học để có kết quả khách quan và chính xác Ngoài việc kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên, GV nên có sổ tay ghi chép kết quả quan sát, theo dõi hàng ngày, trong đó lưu ý đến những trường hợp đặc biệt, hoặc quá xuất sắc hoặc quá yếu để tiến hành DHPH phù hợp
- Kết hợp kiểm tra độ khó và độ nhanh, tăng cường cho HS tự đánh giá: Hiện nay GV
thường chỉ thiết kế đề kiểm tra theo độ khó Để có thể phân loại sâu hơn, GV thiết kế đề kiểm tra kết hợp độ khó và độ nhanh, tức là tăng số lượng bài tập trong mỗi lần kiểm tra, kết quả đánh giá không theo thang điểm 10 mà là GV ghi nhận trong cùng một khoảng thời gian đó, HS làm đúng được bao nhiêu bài Cách làm này khuyến khích HS phát huy hết khả năng của mình đồng thời có thể tự đánh giá khả năng của mình so với các bạn
2- Phân bậc nhiệm vụ trong thiết kế kế hoạch bài dạy
DHPH trong môn toán thường được vận dụng vào khâu dạy kiến thức mới; thực hành
giải bài tập toán và giao bài tập về nhà.
- Phân bậc nhiệm vụ học tập đối với nội dung mang tính lý thuyết:
Kỹ thuật cơ bản cho việc thiết kế này là chia nhỏ nội dung học tập ra thành nhiều nhiệm
vụ HS khá giỏi sẽ thực hiện nhiệm vụ khó hơn hoặc nhiều nhiệm vụ hơn hoặc thực hiện không có
sự hướng dẫn HS TB hoặc yếu sẽ thực hiện ít nhiệm vụ đơn giản hơn hoặc ít hơn, hoặc được những chỉ dẫn, hỗ trợ nhiều hơn
- Đối với dạng bài toán có lời văn, kỹ thuật nâng dần độ khó thường dùng là:
+ Giữ nguyên bài toán mẫu thay đổi số liệu
+ Thay tình huống bài toán bằng tình huống tương tự cùng bản chất về mối quan hệ
+ Thay một dữ liệu đã cho bằng một bài toán đơn sau đó kết nối bài toán đã cho thành bài toán phức hợp hơn
+ Kết hợp nhiều bài toán đơn để tạo ra bài toán phức hợp hơn
+ Cho tình huống mở, HS tự điền dữ liệu và thực hiện
+ Cho dữ liệu, HS tự đặt tình huống (ngữ cảnh) và thực hiện
Về phân loại mức độ khó xét về mục đích dạy học toán để rèn luyện và phát triển tư duy cho HSTH, tác giả Trần Ngọc Lan đã phân ra làm 3 dạng theo mức độ từ dễ đến khó như sau:
Dạng 1: Các bài tập rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản Chẳng hạn các bài tập dạng cơ
bản đại trà như đọc số, viết số, so sánh số, tính toán thuần túy trong bảng hoặc ngoài bảng, đếm số hình, đổi đơn vị đo, giải bài toán đơn, )
Ví dụ: Đọc số 195080126 (Toán 4, tr.160, bài 3)
HS đọc Một trăm chín mươi lăm triệu không trăm tám mươi nghìn một trăm hai mươi sáu
GV hỏi: Để đọc được số này, em thực hiện phân lớp như thế nào? ( phân lớp đơn vị, lớp nghìn, lớp triệu
Trang 1010 Chữ số 9 trong số trên có giá trị là bao nhiêu? (90000000), chữ số 8 trong số trên có giá trị bao nhiêu? (80000)
Dạng 2: Các bài tập này có ưu thế trong việc rèn luyện và phát triển tư duy hình thức
(như các kỹ năng trình bày, diễn đạt, suy luận logic ) Chẳng hạn các dạng toán “ Tìm số thỏa mãn điều kiện cho trước, các bài toán có lời văn điển hình, các bài toán có nội dung hình học gắn liền thực tiễn, bài toán suy luận đơn giản,
Với dạng toán này, khi tổ chức thực hiện GV cần chú ý đến yêu cầu HS trình bày những lâp luận logic để giải bài toán Ví dụ: Tìm x biết 57 < x < 62 và a) x là số chẵn; b) x là số lẻ; c) x
là số tròn chục
- Sau khi HS thực hiện câu a) với kết quả là 58, 60 GV có thể đặt câu hỏi Vì sao x không thể là 59 và 61 ? (vì x phải là số chẵn) Hoặc x cần tìm thỏa mãn mấy điều kiện Đó là những điều kiện nào?
Dạng 3: Một số bài tập có ưu thế trong việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy thuật
giải, tư duy sáng tạo, Chẳng hạn như dạng toán phát hiện lỗi sai và chữa lại cho đúng, tính
nhanh, giải bài toán bằng nhiều cách, bài toán mở , )
Khi tổ chức DHPH nội dung thực hành luyện tập và sửa bài tập toán, thường yêu cầu cao
về năng lực tổ chức và quản lý lớp học của người GV Do đó GV cần dự kiến về thời gian và biện pháp sao cho phù hợp nhất để phát huy khả năng của từng HS
3- Linh hoạt trong tổ chức hoạt động nhóm khi DHPH
Tùy theo mục tiêu dạy học, việc chia nhóm có thể theo nhiều cách: Nhóm đôi (nhóm đối
ngẫu), nhóm ngẫu nhiên, nhóm hỗn hợp và nhóm phân theo trình độ Trong DHPH, nhóm hỗn hợp được sử dụng khi nhiệm vụ của các nhóm là như nhau, với mục đích là HS giỏi sẽ giúp đỡ
HS yếu hơn Nhóm theo trình độ được sử dụng khi mức độ yêu cầu của nhiệm vụ từng nhóm
khác nhau, như ví dụ nêu ở trên hoặc trong thực hành giải bài tập để mỗi nhóm được yêu cầu làm những bài tập với độ khó khác nhau
4- Giao tiếp trong dạy học phân hóa
Đối với GV, lời nói của GV trong dạy học hoặc giao tiếp với HSTH rất có ý nghĩa vì đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi này là rất vô tư và hồn nhiên, các em đặt rất nhiều niềm tin vào giáo viên Do vậy GV cần có kỹ thuật nói rõ ràng, tốc độ vừa phải dễ nghe, thân thiện nhưng nghiêm túc và luôn khuyến khích Không nên gay gắt hay nặng lời với những HS yếu kém Với mỗi trường hợp, cần tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ HS phù hợp
Đối với HS, GV nên khuyến khích HS nói lại bằng ngôn ngữ của mình khi hiểu một nội dung học tập nào đó Ví dụ như mô tả lại cách hiểu các mối quan hệ trong một bài toán, cách thực hiện các bước giải một bài toán, để giúp HS hiểu sâu sắc và ghi nhớ tốt hơn, đồng thời giúp GV có cơ sở để đánh giá HS trung thực hơn
Để DHPH thành công, trong giao tiếp hàng ngày với HS, GV cần lưu ý về sự tinh tế trong ứng xử đối với các nhóm HS để tạo điều kiện cho mọi HS đều cố gắng vươn lên phát triển tối đa
và tối ưu khả năng của mình, đồng thời cũng lưu ý đến sự “phân biệt” làm tổn thương về mặt tâm
lý đối với HS khi DHPH Do đó GV cũng lưu tâm đến giáo dục cảm xúc trí tuệ và giáo dục giá trị cho HS như cần phải yêu thương, giúp đỡ nhau trong học tập, biết trung thực trong học tập, biết tôn trọng kết quả của mình và của người khác, không coi thường người khác khi mình giỏi hơn, không bi quan khi mình chưa giỏi như bạn Ngoài ra GV cũng cần tăng cường trao đổi và giao tiếp tốt với phụ huynh HS hoặc các tổ chức giáo dục ngoài trường để phối hợp trong việc giáo dục toàn diện cho HS nói chung và môn toán nói riêng