1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng kiến thức văn học nhằm nâng cao hứng thú học tập phần Lịch sử Việt Nam lớp 10

28 590 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 201 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hiện nay, với chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo về đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm đồng thời với phong trào xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích c

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Môn lịch sử có vai trò quan trọng đối với việc giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ

thành những con người phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, phát

triển năng lực cá nhân, hình thành nhân cách Do đặc trưng của môn Lịch sử,

các loại tài liệu tham khảo ngoài sách giáo khoa có ý nghĩa quan trọng trong

việc khôi phục, tái hiện hình ảnh, tạo biểu tượng lịch sử Một trong những tài

liệu đó là văn học

Ai cũng biết, thơ văn có tính chất” mềm mại” hơn kiến thức lịch sử nên sử

dụng thơ văn, nhất là thơ ca trong dạy học lịch sử có nhiều ưu thế, cụ thể như:

- Thơ văn vốn được học sinh tiếp xúc thường xuyên và rất gần gũi

- Hiện nay, với chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo về đổi mới

phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm đồng thời với phong trào xây

dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực”, việc dùng thơ văn vào dạy học

lịch sử cũng là một ưu thế góp phần nâng cao tính tích cực của học sinh, tạo cho

các em ý thức tự học, tích cực sưu tầm tư liệu, xây dựng mối liên hệ kiến thức

giữa các bộ môn

- Dựa vào thơ văn, giáo viên có thể minh họa, kiểm tra kiến thức lịch sử

của học sinh, giúp học sinh có những kĩ năng: tái hiện, suy luận, liên hệ

- Văn học, nhất là thơ ca thường được xây dựng trên lối văn vần, học

sinh sẽ dễ nhớ và nhớ lâu hơn kiến thức lịch sử mà học sinh vốn cho rằng rất khô

cứng và khó nhớ Cụ thể như để giúp cán bộ học tập lịch sử nước nhà, Bác Hồ

của chúng ta đã soạn “ Lịch sử nước ta” bằng thể thơ lục bát Mỗi ngày, các

đồng chí ở quanh Bác phải học thuộc mười câu Cứ sáng dậy, còn nằm trong

chăn, Bác đã bảo từng người đọc Ai thuộc sẽ được “đi tàu bay” nghĩa là được

mọi người hoan hô, rất vui Đến nay, diễn ca lịch sử có nhiều đồng chí vẫn còn

thuộc Đó là một minh chứng cho chúng ta thấy được ưu thế của việc sử dụng

thơ văn vào dạy- học lịch sử

Với những ưu thế đó, trong quá trình dạy học, nếu giáo viên biết kết hợp

giữa việc thuyết trình với việc dẫn dắt, sử dụng những câu thơ văn có liên quan

sẽ tạo cho bài giảng thêm phần sinh động, hấp dẫn, gây sự hứng thú học tập cho

học sinh, góp phần nâng cao ý thức tự học cho các em (như tự sưu tầm và tìm

Trang 2

hiểu kiến thức lịch sử thông qua một số tư liệu văn học…) đồng thời giúp cho

nhận thức của học sinh đối với kiến thức lịch sử sẽ dễ dàng hơn, nhớ lâu hơn

Tuy nhiên , qua một số tiết dự giờ của đồng nghiệp, ở những bàicần thiết sử dụng tư liệu văn học thì giáo viên chưa thật sự chú ý Giáo viên ít

vận dụng hoặc vận dụng một cách hời hợt, chưa có chiều sâu nên hiệu quả chưa

cao, tiết học đó chưa thực sự gây được hứng thú với học sinh Từ thực trạng trên

cùng với một số năm giảng dạy lịch sử khối 10, cùng là những bài học đó, so

sánh giữa năm chưa áp dụng với năm áp dụng đề tài này, tôi thấy hiệu quả khác

hẳn Với những lí do trên, tôi xin mạnh dạn chọn đề tài: “V n d ng ki n th c ận dụng kiến thức ụng kiến thức ến thức ức

văn h c nh m nâng cao h ng thú h c t p ph n L ch s Vi t Nam l p ọc nhằm nâng cao hứng thú học tập phần Lịch sử Việt Nam lớp ằm nâng cao hứng thú học tập phần Lịch sử Việt Nam lớp ức ọc nhằm nâng cao hứng thú học tập phần Lịch sử Việt Nam lớp ận dụng kiến thức ần Lịch sử Việt Nam lớp ịch sử Việt Nam lớp ử Việt Nam lớp ệt Nam lớp ớp

10” để chia sẻ cùng quý đồng nghiệp.

2 Mục đích nghiên cứu đề tài:

Nghiên cứu đề tài này không nằm ngoài mục đích góp phần nâng cao hứng thú

học tập phần Lịch sử Việt Nam lớp 10

3 Giới hạn đề tài:

Việc vận dụng kiến thức thơ văn vào giảng dạy lịch sử có thể thực hiện ở

nhiều khối lớp, cấp học Song trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, tôi

chỉ xin được giới hạn ở một số bài Lịch sử 10 Hi vọng giới hạn này không làm

ảnh hưởng đến chất lượng của sáng kiến

4 Phương pháp tiến hành:

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp như:

- Phương pháp thống kê- phân loại;

- Phương pháp phân tích;

- Phương pháp so sánh ,đối chiếu;

- Phương pháp tổng hợp, đánh giá

5 Tính mới của đề tài:

Có thể nhiều giáo viên đã từng áp dụng phương pháp này nhưng chỉ là

theo ngẫu hứng khi giảng bài, chưa có sự chuẩn bị một cách kĩ lưỡng, có hệ

thống, do vậy, hiệu quả chưa cao Với đề tài này, việc chuẩn bị chu đáo những

kiến thức văn học sẽ giúp giáo viên chủ động hơn khi giảng bài và góp phần

giúp học sinh hiểu bài một cách thấu đáo Qua đó, những kiến thức lịch sử

trong sách giáo khoa được làm sáng tỏ hơn với những bài thơ, đoạn văn, câu

Trang 3

chuyện sinh động, giàu hình ảnh, làm cho bài giảng thêm phong phú, gây được

nhiều hứng thú với học sinh, vì vậy, chất lượng bài giảng cũng được nâng cao

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận

Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạy học

ở trường phổ thông nói chung, môn Lịch sử nói riêng Bộ môn lịch sử ở trường

phổ thông cung cấp cho học sinh những tri thức về nhiều lĩnh vực của đời sống

xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc và thế giới Vì vậy, kiến thức

lịch sử liên quan đến rất nhiều các tri thức về cả khoa học tự nhiên và khoa học

xã hội Chính những kiến thức được đề cập đến các môn học đó bổ sung cho

nhau, làm rõ hơn kiến thức mà học sinh học được trong mỗi môn học Có như

vậy, học sinh mới nắm vững kiến thức và việc giáo dục tư tưởng thông qua môn

học mới có kết quả Đối với học sinh, dạy học liên môn và tính kế thừa trong

việc học tập các khóa trình lịch sử làm cho các em nhận thức sự phát triển của xã

hội một cách liên tục, thống nhất, mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời

sống xã hội, hiểu được tính toàn diện của lịch sử Điều này, khắc phục được tình

trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của học sinh Nắm được mối liên hệ kiến

thức giữa các môn học, tính hệ thống của các tri thức lịch sử sẽ giúp các em có

khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, quy luật chi phối sự phát triển

của lịch sử Phương pháp này đòi hỏi sự nỗ lực lớn của người thầy và học sinh

Sử dụng tư liệu văn học trong giảng dạy lịch sử là biểu hiện của phương pháp

dạy học liên môn

Từ trước đến nay, trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới,tài liệu văn học có vai trò to lớn đối với việc dạy, học lịch sử ở trường phổ thông

trong đó có khối lớp 10 Trước hết, các tác phẩm văn học với những hình tượng

cụ thể có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm người đọc, phản ánh chân

thực bức tranh hiện thực của mỗi thời đại cùng với những quy luật của đời sống

xã hội Giữa văn học và khoa học nói chung, lịch sử nói riêng có mối liên hệ

khăng khít Trong khi sáng tác một tiểu thuyết lịch sử, nhà văn phải nghiên cứu

các tư liệu lịch sử Không ít tác phẩm văn học tự nó là một tư liệu lịch sử: Hịch

tướng sỹ( Trần Quốc Tuấn), Đại cáo bình Ngô( Nguyễn Trãi), Tuyên ngôn độc

lập( Hồ Chí Minh) Không ít các nhà văn, nhà thơ đồng thời là nhà Sử học mà

Bác Hồ là một ví dụ tiêu biểu Bác đã từng dạy ta rằng:

Trang 4

“Dân ta phải biết sử Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.”

Cách diễn đạt của Người thật gần gũi, dễ hiểu và dễ đi vào lòng người

Thứ hai, các tư liệu văn học góp phần làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn,

nâng cao hứng thú học tập của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục

của bài học, giúp học sinh nhớ lâu hơn những kiến thức đã học

2 Cơ sở thực tiễn( thực trạng của vấn đề)

Có thế khẳng định rằng, tác dụng của môn Lịch sử không chỉ cung cấp

kiến thức về quá khứ mà còn có tác dụng giáo dục về tình cảm, phẩm chất, đạo

đức, quan điểm chính trị( giáo dục) , về nhận thức tư tưởng và khả năng hành

động( phát triển) Tuy nhiên trong những năm qua, do những nguyên nhân khách

quan và chủ quan, chất lượng học tập lịch sử ngày càng sa sút, đến mức báo

động Nhiều năm nay, số lượng học sinh thi khối C ngày càng ít, cứ sau mỗi lần

thi Đại học nhiều phương tiện thông tin đại chúng, nhiều tờ báo từ trung ương

đến địa phương liên tục thay nhau đưa ra những thông tin … buồn!Học sinh thi

môn lịch sử có đến vài trăm em bị điểm 0, điểm 0.5 … Vậy làm thế nào để nâng

cao chất lượng bộ môn lịch sử ? Đó là điều trăn trở không chỉ của giáo viên dạy

lịch sử mà còn của cả xã hội Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập

một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa

rèn luyện kĩ năng tư duy, liên hệ kiến thức bộ môn lịch sử với các bộ môn khác

Học sinh vô tình cô lập nội dung của các môn học , chưa có sự liên kết kiến thức

giữa các môn học với nhau vì vậy mà chưa phát triển tư duy lô ggic và tư duy hệ

thống Các em cho rằng kiến thức lịch sử chỉ toàn là sự kiện, ngày tháng rất khó

nhớ, mau quên, có nhiều em rất “sợ” học lịch sử Một nguyên nhân quan trọng

dẫn đến thực trạng này phải kể đến phương pháp dạy học của giáo viên Nếu

giáo viên lịch sử chỉ nói lại những gì viết trong SGK thì tiết học sẽ trở nên hết

sức nhàm chán, đơn điệu, buồn tẻ, khô cứng, và vì vậy mà càng làm cho học

sinh thấy thiếu hứng thú khi đến giờ học Lịch sử Do vậy, để làm tiết học trở nên

phong phú, sôi động hơn, học sinh hứng thú hơn, hăng hái phát biểu hơn , nói

tóm lại làm nâng cao được hiệu quả của tiết dạy, giáo viên cần kết hợp các

phương pháp , biết sử dụng các kiến thức của các môn học khác để minh họa cho

bài giảng mà môn học gần gũi với lịch sử nhiều là văn học

Tuy nhiên, một số giáo viên, khi soạn những tiết dạy cần thiết sử dụng tư

liệu văn học thì phần lớn ngại tìm tòi Mặc dù có quan hệ họ hàng rất gần gũi với

Trang 5

giáo viên dạy văn, nhưng giáo viên Lịch sử lại chưa thật sự biết khai thác mối

quan hệ này, cứ nghĩ rằng những kiến thức văn học học sinh đã biết, không cần

nhắc lại Điều này, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giờ dạy Hơn nữa, qua

tìm hiểu từ thực tế, tôi nhận thấy một số giáo viên ở chuyên ngành lịch sử có

gợi, có hướng cho học sinh những kiến thức văn học liên quan, song chưa

thường xuyên và cũng chưa thực sự có chiều sâu Chẳng hạn như khi giảng về

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, cô giáo có nhắc đến Tác phẩm Bình Ngô đại cáo của

Nguyễn Trãi, rồi chuyển nhanh sang phần khác, một phần vì bài 19 quá dài,

phần nữa là do giáo viên nghĩ, chỉ cần nhắc thế là đủ, kiến thức này các em đã

được học trong chương trình văn học rồi, không cần nhắc lại nữa Như vậy,

các em sẽ rất khó hình dung, khó nhớ về cuộc khởi nghĩa với những nét tiêu

biểu Đúng là những kiến thức văn học này các em được học rồi nhưng tại sao

chúng ta lại không khai thác vốn kiến thức đã biết của các em để làm phong phú

hơn tiết học, tạo điều kiện khuyến khích các em thể hiện hiểu biết văn học để

làm rõ hơn các sự kiện lịch sử, có điều kiện để liên hệ kiến thức giữa hai môn

học, để các em nhớ bài nhanh hơn

Cụ thể:

Khi giảng về nguyên nhân thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn một

phần quan trọng là do xuất phát từ tư tưởng “ nhân nghĩa”, “ lấy dân làm gốc”

của Lê Lợi, Nguyễn Trãi , giáo viên có thể cho học sinh chứng minh điều này

bằng cách đọc một số câu trong Bình Ngô đại cáo? Học sinh trả lời bằng việc

huy động kiến thức văn học được học trong chương trình lớp 10:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Hay:

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo”

Hoặc trình bày về những chiến thắng liên tiếp của quân và dân ta và

ngược lại là sự thất bại thảm hại của kẻ thù, giáo viên tương tự yêu cầu học sinh

chứng minh điều này bằng cách đọc một số đoạn trong tác phẩm này( xin được

trình bày ở phần sau) Như vậy, học sinh sẽ tham gia xây dựng bài hăng hái hơn,

làm tiết học trở nên sôi nổi hơn, kiến thức lịch sử sẽ trở nên dễ tiếp thu hơn, dễ

nhớ hơn và nhớ lâu hơn.Từ đó, hiệu quả bài giảng, mục đích giáo dục sẽ được

nâng cao

Trang 6

Xuất phát từ thực trạng trên, với mong muốn được góp một phần nhỏ bé

của mình vào việc nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử, tôi xin được tổng kết

một số kinh nghiệm mà mình đúc rút được trong quá trình giảng dạy một số bài

lịch sử Việt Nam 10 cần thiết sử dụng tư liệu văn học bằng sáng kiến : “Vận

dụng kiến thức văn học nhằm nâng cao hứng thú học tập phần Lịch sử Việt Nam

lớp 10” để chia sẻ với các quý thầy cô.

3 Các bước tiến hành

3.1 Chuẩn bị:

3.1.1 Giáo viên:

- Đối tượng, phạm vi vận dụng của đề tài là một số bài trong chương trình lịch

sử Việt Nam lớp 10 Vì vậy, trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình

này xem bài nào, mục nào cần thiết sử dụng tư liệu văn học Đây là một thao

thác quan trọng, góp phần xác định đúng mức độ vận dụng của đối tượng là học

sinh lớp 10

- Tiến hành sưu tầm tư liệu thơ văn theo mục đích yêu cầu từng mục, từng bài

giảng và tính chất của từng sự kiện, hiện tượng lịch sử thuộc phạm vi nghiên cứu

+ Việc sử dụng các tài loại tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường

THPT phải đảm bảo 2 tiêu chuẩn cơ bản: giá trị giáo dưỡng- giáo dục và giá trị

văn học Tài liệu ấy phải là một bức tranh sinh động về những sự kiện, những

nhân vật lịch sử của thời đại đang học, phải miêu tả được bối cảnh của xã hội cụ

thể, phải phục vụ nội dung, yêu cầu của từng bài học, phải phù hợp với trình độ

nhận thức của học sinh, không làm loãng nội dung bài lịch sử, phân tán sự chú ý

của học sinh vào những vấn đề đang học

+ Phải loại bỏ những truyện kiếm hiệp, tiểu thuyết xuyên tạc lịch sử, có

ảnh hưởng xấu đến việc hình thành tri thức lịch sử, giáo dục tư tưởng, tình cảm

cho học sinh Cần lưu ý, không phải trong một bài thơ liên quan có thể khai thác

hết cả bài mà nên lựa chọn những đoạn thơ sát nhất, “đắt” nhất để sử dụng

- Phân loại tư liệu văn học liên quan theo từng bài, từng mục

- Vận dụng kiến thức văn học vào từng bài lịch sử cụ thể

Trang 7

- Sau khi khai thác, vận dụng kiến thức văn học đó vào những tiết dạy của

mình, tôi thấy kết quả khả quan hơn nhiều so với khi chưa áp dụng Vì vậy, tôi

mạnh dạn trao đổi với các đồng nghiệp cùng thực hiện Bản thân tôi trực tiếp dự

giờ để có điều kiện kiểm chứng, so sánh và rút kinh nghiệm

3.1.2 Học sinh:

Sau mỗi tiết dạy, giáo viên dành khoảng vài 3 đến 5 phút để củng cố, dặn

dò học sinh chuẩn bị bài mới Chúng ta không nên dặn dò một cách chung chung

mà cần yêu cầu học sinh chuẩn bị nội dung một cách cụ thể, học sinh sẽ dễ dàng

tiếp thu kiến thức Đối với những bài cần thiết sử dụng tư liệu văn học, bên cạnh

việc hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu SGK Lịch sử trước khi đến lớp, giáo viên

cần định hướng cụ thể cho các em nội dung văn học nào cần thiết sử dụng cho

bài học tiếp theo để các em sưu tầm( có thể nguồn tư liệu văn học này trong

chương trình văn học 10 mà các em đang học sẽ rất thuận lợi, hay từ những kiến

thức các em đã được học hoặc tài liệu tham khảo khác) Điều đó sẽ khơi dậy

tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh, các em sẽ có sự chuẩn bị kĩ lưỡng hơn

cho bài mới tạo điều kiện cho việc dạy của giáo viên cũng như việc học của học

sinh Con đường hình thành tri thức trong đầu học sinh là như vậy, như nhà văn

Lỗ Tấn khẳng đinh: “ Kỳ thực ra trên đời này làm gì có đường, người ta đi mãi

rồi thành đường đó thôi”

3.2 Những lưu ý khi khai thác, vận dụng thơ văn trong dạy học lịch sử

- Trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, giáo viên thường sử

dụng các loại tài liệu văn học chủ yếu sau: Văn học dân gian; tiểu thuyết lịch sử,

tác phẩm văn học ra đời vào thời kì xảy ra sự kiện lịch sử tiểu thuyết lịch sử; Hồi

kí cách mạng

- Không nên ôm đồm, quá tải trong việc vận dụng kiến thức thơ văn

- Luôn luôn đảm bảo tính vừa sức của học sinh (đối tượng vận dụng là học

sinh lớp 10)

- Khi có những từ khó hiểu, giáo viên phải giải thích cặn kẽ giúp học sinh

hiểu một cách chính xác, tránh gây hiểu lầm

3.3 Các phương pháp vận dụng thơ văn vào dạy học lịch sử

- Thứ nhất, đưa vào bài giảng một đoạn thơ, văn ngắn nhằm minh họa

những sự kiện lịch sử đang học, làm cho nội dung bài học được phong phú và

giờ học thêm sinh động;

Trang 8

- Thứ hai, dùng một đoạn trích, kể một câu chuyện để cụ thể hóa sự kiện,

nêu ra một kết luận khái quát giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn một thời kì, một sự

kiện lịch sử

3.4 Thể nghiệm đề tài: ở một số bài sau( lịch sử Việt Nam 10)

Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam

Như chúng ta đã biết, ca dao là một nguồn tư liệu phong phú và bổ ích đối

với sử học Đọc ca dao mà có thể biết, hiểu thêm lịch sử Ca dao có thể hỗ trợ

đắc lực cho việc dạy và học lịch sử nếu người dạy và học lịch sử có thái độ đúng

và phương pháp sử dụng đúng đối với nguồn tư liệu quý giá này Có lẽ, đối với

mỗi người dân Việt Nam, câu ca dao sau đây đã không còn xa lạ:

“Ai về Phú Thọ cùng ta Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mồng mười”

Trích “Ca dao lịch sử”,Phạm Hồng Việt sưu tầm

Mục 1: Quốc gia Văn Lang- Âu Lạc:

Nhằm giúp học sinh có thể dễ dàng biết, hiểu và tiếp thu nhanh nhất lịch

sử dân tộc trong buổi đầu dựng nước và giữ nước, bên cạnh việc thuyết trình

giáo viên có thể liên hệ đọc những vần thơ sau đây:

Hồng Bàng là tổ nước ta, Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.

Thiếu niên ta rất vẻ vang Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời Tuổi tuy chưa đến chín mười,

Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.

An Dương Vương thế Hùng Vương, Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân

Trích “ Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh

Hay giáo viên có thể gợi mở, hướng cho học sinh tìm hiểu một số truyền

thuyết sau (sau khi loại bỏ những yếu tố huyền bí, giáo viên giúp học sinh tìm ra

cốt lõi sự kiện lịch sử được phản ánh trong các truyền thuyết này):

+ Truyện Âu cơ- Lạc Long Quân giúp học sinh hiểu rõ hơn về nguồn

gốc bản địa của các dân tộc sống trên lãnh thổ nước ta( các di tích về người tối

cổ tìm được ở VN đã xác nhận điều này.)

Trang 9

+ Truyện Bánh chưng, bánh dày; Trầu cau giúp học sinh hiểu thêm về đời

sống vật chất và tinh thần của người Việt cổ, qua đó thấy được nguồn gốc của

những phong tục của dân tộc ta ngày nay: nấu bánh chưng ngày Tết, ăn trầu cau(

Miếng trầu là đầu câu chuyện…)

+ Giúp học sinh hiểu rõ hơn về cơ sở hình thành nhà nước Văn Lang- Âu

Lạc cũng như về cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm và công cuộc chinh phục

thiên nhiên của ông cha ta từ buổi đầu dựng nước : kể chuyện Sơn Tinh- Thủy

Tinh( trị thủy, chống lũ lụt), Thánh Gióng( cuộc đấu tranh của dân tộc ta chống

ngoại xâm( giặc Ân), nêu rõ thời kì này nhân dân ta biết sử dụng đồ sắt- áo giáp

sắt, roi sắt…( sự chuyển biến về kinh tế)

+ Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy( Chương trình Ngữ

văn 10 tập 1): Với các sự kiện, nhân vật, chi tiết, hình ảnh giàu ý nghĩa biểu

trưng, có thể xem câu chuyện này là một cách giải thích nguyên nhân mất nước

Âu Lạc – bắt đầu thời kì ngàn năm Bắc thuộc của đất nước ta( 179TCN-938);

qua đó, nhân dân muốn nêu lên bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù

và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ riêng- chung, cá nhân- cộng đồng

Hoặc:

Cũng để nói về việc nước ta bị rơi vào tay nhà Triệu, giáo viên có thể đọc

đoạn thơ sau trong bài “Tâm sự” của nhà thơ Tố Hữu trong tập thơ “Ra trận”:

…Tôi kể ngày xưa truyện Mị Châu Trái tim lầm chỗ để trên đầu.

Nỏ thần vô ý trao tay giặc, Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Bài 16: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập

Mục 2: Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu thời Bắc thuộc:

Nhằm khắc họa hình ảnh những anh hùng tài năng với nhân cách cao đẹp

và cuộc khởi nghĩa mà họ lãnh đạo trong thời kì này, qua đó, giáo dục học sinh

lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và biết ơn tổ tiên, có thể đọc những đoạn thơ

sau:

- Khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Nước Tàu cậy thế người đông Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,

Trang 10

Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?

Hai Bà Trưng có đại tài, Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,

Ra tay khôi phục giang san, Tiếng thơm dày tạc đá vàng nước ta…

Trích “Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh Hay “Đại Nam quốc sử diễn ca” của tác giả Lê Ngô Cát có đoạn kể về cuộc

khởi nghĩa Hai Bà Trưng mà rất nhiều người biết đến:

Bà Trưng quê ở Châu Phong Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên Chị em nặng một lời nguyền

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân Ngàn tây nổi áng phong trần

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên…

- Khởi nghĩa Bà Triệu:

Tỉnh Thanh Hóa có một bà Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi Tài năng dũng cảm hơn người, Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương”

Trích “ Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh

- Công lao của Ngô Quyền:

Ngô Quyền quê ở Đường Lâm Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm”

Trích “Lịch sử nước ta” Hồ Chí Minh

Chú thích: “cát lầm ngàn năm” nghĩa là: Ngàn năm Bắc thuộc từ 179 TCN đến

938

=> Ngô Quyền-người đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên chiến thắng Bạch

Đằng lịch sử - một trong những chiến công hiển hách nhất trong lịch sử chống

ngoại xâm của dân tộc Việt Nam kết thúc nghìn năm đô hộ của phong kiến

phương Bắc vào năm 938, mở ra thời đại tự chủ lâu dài của dân tộc ta

Bài 17: Qúa trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến( thế kỉ

X-XV)

Trang 11

Mục I: Buổi đầu của thời đại phong kiến độc lập

Giúp học sinh hiểu rõ hơn về vai trò của Đinh Bộ Lĩnh, trong hoàn cảnh

đất nước rối ren dẫn đến thập nhị sứ quân( loạn 12 sứ quân) sau khi Ngô Quyền

mất 944, ông đã có công dẹp loạn, thống nhất đất nước, lập ra nhà Đinh:

Đến hồi thập nhị sứ quân Bốn phương loạn lạc muôn dân cơ hàn Động Hoa Lư có Tiên Hoàng

Nổi lên gây dựng triều đang họ Đinh

Trích “ Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh

- Giúp học sinh ghi nhớ sâu hơn vai trò của vị vua đầu thời Lí - Lí Công Uẩn:

Công Uẩn là kẻ phi thường Dựng lên nhà Lí cầm quyền nước ta

Mở mang văn hóa nước nhà Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân

Trích “Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh

Bài 18: Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế trong các thế kỉ X-XV

Mục 1: Mở rộng và phát triển nông nghiệp:

Với chính sách trọng nông của nhà Lê sơ cùng với công sức của nhân dân,

mùa màng được tươi tốt, cuộc sống của người dân được ấm no Điều này được

thể hiện qua những vần thơ trong dân gian:

Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn

Bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X- XV

- Mục 1: Cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê:

Làm rõ người đã có công lãnh đạo quân dân ta đánh đuổi giặc Tống,

giành thắng lợi, bảo vệ nền độc lập của đất nước là Lê Hoàn:

Lê Đại Hành nối lên ngôiĐánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành

Trích “ Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh

- Mục 2: Cuộc kháng chiến chống Tống thời Lí,

Trang 12

Để giúp học sinh thấy được tài năng, đức độ, tình yêu quê hương đất nước cũng

như công lao to lớn của người anh hùng lãnh đạo quân dân ta đánh tan quân

Tống, giáo viên có thể đọc đoạn thơ sau:

Lí Thường Kiệt là hiền thần Đuổi quân nhà Tống, quá quân Xiêm Thành Tuổi già phỉ chí công danh

Mà lòng yêu nước trung thành không phai

Trích “Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh

Khi giảng đến cuộc kháng chiến chống Tống thời Lí, chúng ta cũng không thể

không nhắc đến bài thơ được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta

tương truyền là của Lí Thường Kiệt:

Sông núi nước nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Sau đó, cho học sinh rút ra ý nghĩa bài thơ: Bài thơ là lời khẳng định chủ

quyền của dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng yêu nước, căm thù giặc, ý chí quyết

tâm đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi của quân dân Đại Việt, là lời cảnh cáo

đối với kẻ muốn xâm lược Đại Việt, có tác dụng khích lệ tinh thần chiến đấu của

quân sĩ)

- Mục II: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên ở thế kỉ

XIII:

+ Khi giảng về một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của cuộc

kháng chiến chống Mông- Nguyên : do sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của các

vua Trần cùng các tướng lĩnh nhà Trần Để khắc học rõ nét hơn đức độ, tài năng

của các tướng lĩnh, giáo viên cùng học sinh tìm hiểu về một số danh tướng như

Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ Độ thông qua những đoạn trích trong Đại Việt sử kí

mà học sinh được học trong phần văn học lớp 10 sẽ giúp học sinh tiếp thu nhanh

hơn, nhớ nhanh hơn, thuộc bài nhanh hơn: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc

Tuấn hay Thái sư Trần Thủ Độ( Trích Đại Việt sử kí toàn thư) của Ngô Sĩ

Liên( trang 46-47, ngữ văn 10) hay thông qua đoạn trích trong Hịch tướng sĩ của

Trần Quốc Tuấn: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối ruột đau như cắt,

nước mắt đầm đìa chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù;

Trang 13

dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa ta cũng

nguyện xin làm”

Hay cũng nói về triều Trần với những vị anh hùng tiêu biểu góp phần

quan trọng tạo nên “ hào khí Đông A”, tạo nên một triều đại thịnh trị trong lịch

sử phong kiến Việt Nam đã ba lần đánh bại quân xâm lược Mông- Nguyên với

chiến thắng lẫy lừng Bạch Đằng 1288 kết thúc cuộc kháng chiến, giáo viên có

thể đọc những vần thơ sau:

Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang Mênh mông một dải Bạch Đằng

Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh Hai lần đại phá Nguyên binh

Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời Quốc Toản là trẻ có tài

Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền

…Thật là một đấng anh hùng Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo Đời Trần văn giỏi, võ nhiều

Ngoài dân thịnh vượng trong triều hiền minh.

Trích “ Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh

+ Nói về những chiến thắng tiêu biểu của quân dân ta trong cuộc kháng chiến

chống Mông - Nguyên, Trần Quang Khải đã viết nên những vần thơ thể hiện rõ

niềm tự hào, lòng yêu nước, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc:

Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù

Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu

“Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải

Qua đó, giáo dục học sinh lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, sựbiết ơn, noi gương các thế hệ cha anh, xác định được trách nhiệm của mình đối

với Tổ quốc

Trang 14

- Mục III: Phong trào chống quân xâm lược Minh và khởi nghĩa Lam Sơn

Giáo viên có thể liên hệ với tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Cuối

năm 1427, sau chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi viết Đại cáo

bình Ngô nhằm công bố việc bình Ngô thắng lợi để ai nấy đều hay và cũng là để

tổng kết toàn diện về cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược Đây áng

văn yêu nước lớn của thời đại, là bản tuyên ngôn về độc lập chủ quyền, bản cáo

trạng tội ác của kẻ thù, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

+ Làm sáng tỏ tội ác của giặc Minh – nguyên nhân dẫn đến phong trào đấu tranh

chống giặc Minh mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

+ Nguyên nhân quan trọng dẫn đến thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, xuất

phát từ tư tưởng “ Lấy dân làm gốc” của nghĩa quân Giáo viên yêu cầu học sinh

chứng minh điều này bằng cách đọc ra những câu văn( đã ví dụ ở phần trên)

+ Giúp học sinh hình dung rõ hơn về những thắng lợi liên tiếp của ta và sự thất

bại thảm hại của kẻ thù, giáo viên có thể tự đọc hoặc yêu cầu học sinh đọc một

số đoạn trong tác phẩm này:

Ngày 18 trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế Ngày 20 trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu Ngày 25 bá tươc Lương Minh đại bại tử vong Ngày 28 thượng thư Lí Khánh cùng kế tư vẫn…

Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước…

Và cuộc chiến tranh ấy kết thúc bằng chiến thắng hào hùng của dân tộc ta và sự

đầu hàng rút lui nhục nhã của kẻ thù:

Quân giặc các thành khốn đốn cởi giáp ra hàng Tướng giặc bị bắt tù, thương hại vẫy đuôi cầu sống

Uy thần chẳng giết hại, lấy khoan hồng thể bụng hiếu sinh,

Bọn tham chính Phương Chính, nội quan Mã Kỳ được cấp năm trăm thuyền , đã vượt biển vẫn hồn bay phách lạc

Lũ tổng binh Vương Thông, tham chính Mã Anh, được cấp cho mấy nghìn ngựa, đã về nước còn ngực đập chân run.

Ngày đăng: 04/04/2015, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w