Giả thuyết nghiên cứu Nếu sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 mà người nghiên cứu xây dựng thì việc kiểm tra đánh giá môn học được chính xác, khách quan, thuận lợi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
KHÓA SƯ PHẠM KỸ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐẶNG THỊ THANH THẢO
Trang 2LÝ LỊCH KHOA HỌC
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ và tên: Đặng Thị Thanh Thảo Giới tính: Nữ
Ngày sinh: 16/07/1986 Nơi sinh: Bến Tre
Quê quán: Bến Tre Dân tộc: Kinh
Chức vụ, đơn vị công tác trước khi học tập, nghiên cứu: Giáo viên trung tâm dạy nghề huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre
Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: ấp Hưng Hòa Đông, xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
Điện thoại di động: 0946152489 Email:thanhthao160786@gmail.com
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:
1 Đại học:
Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo: từ 09/2004 đến 05/2008
Nơi học: Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Tp.HCM
Ngành học: Kỹ thuật nữ công
Môn thi tốt nghiệp 1: Quản lý bếp ăn công nghiêp
Môn thi tốt nghiệp 2: Quản lý sản xuất ngành may
2 Trình độ ngoại ngữ (biết ngoại ngữ gì, mức độ): Chứng chỉ B anh văn
III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC:
Thời gian Nơi công tác Công việc đảm nhiệm 9/2008-5/2011 Trung tâm dạy nghề
huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre
Giáo viên
9/2013 đến nay Cao đẳng nghề Đồng Giáo viên
Trang 4LỞI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng10 năm 2013
Người cam đoan
Đặng Thị Thanh Thảo
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn:
-Thầy TS Phan Gia Anh Vũ đã tận tình hướng dẫn những kiến thức, kinh nghiệm quý báu của mình
- Thầy TS Nguyễn Văn Tuấn- Khoa sư phạm kỹ thuật trường Đại học sư phạm kỹ thuật TP.HCM
- Quý thầy cô giảng dạy lớp cao học trường Đại học sư phạm kỹ thuật TP.HCM
- Phòng đào tạo trường đại học sư phạm kỹ thuật TP.HCM
- Phòng giáo dục huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre
- Ban giám hiệu trường THCS Hưng Nhượng, THCS Thị Trấn, THCS Tân Hào huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Quý anh chị lớp Giáo dục học K19B đã hỗ trợ để hoàn thành luận văn của mình
Đã rất tận tình giúp đỡ trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng10 năm 2013
Người nghiên cứu Đặng Thị Thanh Thảo
Trang 6TÓM TẮT
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần phương tiện để kiểm tra khả năng học tập của học sinh Để việc kiểm tra đánh giá môn học được chính xác, khách quan, thuận lợi và nhanh chóng giáo viên cần lựa chọn phương pháp kiểm tra thích hợp Trắc nghiệm khách quan là phương pháp có các ưu điểm nổi bậc nói trên Bên cạnh đó, hiện nay, được sự chỉ đạo của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được đưa vào các kỳ kiểm tra, thi học
kỳ, thi tốt nghiệp Để đáp ứng các yêu cầu thực tiễn trên, người nghiên cứu đã thực hiện luận văn tốt nghiệp: “ Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre” Nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá
Chương 2: Khảo sát thực trạng dạy và kiểm tra đánh giá môn Công nghệ
6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre
Chương 3: Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức môn Công nghệ 6
Qua quá trình nghiên cứu, luận văn đã đạt được kết quả sau:
Biên soạn được 300 câu hỏi trắc nghiệm cho môn Công nghệ 6 Kết quả phân tích thu được 277 câu hỏi đảm bảo các tiêu chuẩn của câu hỏi trắc nghiệm;
2 câu có độ phân cách âm và 21 câu có độ phân cách kém sẽ được lưu lại điều chỉnh và thử nghiệm sau
Trang 7ABSTRACT
Teaching must go well with testing and assessment In order to assess objectively, correctly and conveniently, teachers should select a suitable testing method Multiple Choice is one of the outstanding methods that contain the characteristics mentioned Under the directions and regulations of Vietnam Ministry of Education and Training, moreover, Multiple Choice is adopted in periodic examinations, graduation examinations, and entrance examinations into universities Realizing the necessities of the multiple choice application in Vietnamese context, I have composed the thesis: “Composition of the multiple choice question set for the Technology subject at grade six in secondary schools
in GiongTrom District, Ben Tre Province” The thesis falls into three chapters:
Chapter 1: Theoretical basis of the composition of the set of multiple choices in assessment
Chapter 2: Inspection and Survey of the current teaching and testing Technology subject at grade six in secondary schools in GiongTrom District, Ben Tre Province
Chapter 3: Composition of the set of multiple choice questions for the Technology subject at grade six
After conducting research, there are results gained as follows: Compiled 300 multiple choice questions for teachnology subject Analysis resulfts, obtained 277 questions to ensure the standards of multiple choice questions; 2 sentences negative resolution and 21 questions with resolutions is inconsistent; will be saved to tuning and testing follows
Trang 8GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
KTĐG Kiểm tra đánh giá
NHCHTN Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm
Trang 9Bảng 3.9: Bảng tổng hợp tỉ lệ các câu hỏi được thiết kế đưa vào bộ câu hỏi –
Công nghệ 6 Trang 52
Bảng 3.10: Bảng thống kê các ý kiến tham khảo về bộ câu hỏi trắc nghiệm
Trang 53
Bảng 3.11: Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra học kỳ I Trang 54
Bảng 3.12: Bảng số liệu thống kê bài kiểm tra học kỳ I, Lớp Thực nghiệm
Trang 55
Bảng 3.13: Bảng số liệu thống kê bài kiểm tra học kỳ I, lớp đối chứng
Trang 55
Bảng 3.14: Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra học kỳ II Trang 56
Bảng 3.15: Bảng số liệu thống kê bài kiểm tra học kỳ 2, lớp thực nghiệm
Trang 10Bảng 3.19: Thống kê độ phân cách chương II Trang 60
Bảng 3.20: Thống kê độ khó và độ phân cách các đề kiểm tra cuối chương
Trang 61
Bảng 3.21: Thống kê độ khó và độ phân cách của các đề kiểm tra cuối học kỳ I,
học kỳ II Trang 62
Bảng 3.22: Bảng phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ khó Trang 63
Bảng 3.23: Bảng phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ phân cách
Trang 11Hình 3.4: Biểu đồ phân bố độ khó của câu trắc nghiệm Trang 63 Hình 3.5: Biểu đồ phân bố độ phân cách của các câu trắc nghiệm Trang 64
Trang 12MỤC LỤC
PHẦN A: MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 5
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 5
2.2 Khách thể nghiên cứu 5
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 6
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Giả thuyết nghiên cứu 6
5 Giới hạn vấn đề nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 6
6.2 Phương pháp chuyên gia 6
6.3 Phương pháp thực nghiệm 7
6.4 Phương pháp thống kê toán học 7
PHẦN B: NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIÊN SOẠN BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 8
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8
1.1.1 Trên thế giới 8
1.1.2 Tại Việt Nam 9
1.2 Kiểm tra đánh giá và trắc nghiệm 10
1.2.1 Khái niệm kiểm tra và đánh giá 10
1.2.2 Khái niệm trắc nghiệm 11
1.2 3.Mục đích sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm 12
1.2.4 Phân loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan 15
1.2.4.1 Trắc nghiệm “đúng sai” 15
1.2.4.2 Trắc nghiệm nhiều lựa chọn 16
1.2.4.3 Trắc nghiệm ghép đôi 18
1.2.4.4 Trắc nghiệm điền khuyết hay câu trả lời ngắn 20
1.2.5 Đánh giá một bài trắc nghiệm khách quan 21
1.2.5.1 Phân tích câu hỏi 21
1.2.5.2.Độ khó 22
1.2.5.3.Độ phân biệt 23
1.2.5.4 Phân tích các mồi nhử của câu trắc nghiệm 24
Trang 131.2.6.Quy trình xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 29
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN CÔNG NGHỆ 6 TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE 29
2.1.Thực trạng công tác dạy và học và nhu cầu phát triển bộ môn công nghệ 6 ở trường THCS thuộc địa bàn huyện Giồng Trôm 29
2.1.1.Vị trí địa lý và bố trí trường lớp của huyện 29
2.1.1.1.Vị trí địa lý 29
2.1.1.2 Bố trí trường lớp 29
2.1.2.Thực trạng dạy và học môn công nghệ lớp 6 ở các trường THCS trong huyện 29
2.1.2.1.Quá trình triển khai dạy và học bộ môn cùng các điều kiện giáo dục: 29
2.1.2.2 Chất lượng giáo dục bộ môn thông qua thực hiện nội dung chương trình 30
2.1.3 Đánh giá thực trạng và nhu cầu cấp thiết để thông qua bộ môn công nghệ lớp 6 giáo dục học sinh toàn diện một cách có hiệu quả 31
2.1.3.1.Đánh giá 31
2.1.3.2.Nhu cầu cấp thiết để nâng cao nội dung giáo dục 33
2.2 Thực trạng về kiểm tra đánh giá môn Công nghệ 6 34
2.3 Phân phối chương trình môn Công nghệ 6 (Áp dụng từ năm học 2011 -2012) 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40
CHƯƠNG 3: BIÊN SOẠN BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC MÔN CÔNG NGHỆ 6 41
3.1 Một số định hướng cơ bản cho việc biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn công nghệ 6 41
3.1.1 Tính khoa học 41
3.1.2 Tính phát triển toàn diện người học 41
3.1.3 Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành 41
3.1.4 Đảm bảo yêu cầu phân hóa và đạt hiệu quả cao 41
3.2 Giới thiệu môn học công nghệ 6 42
3.2.1 Vị trí môn học 42
3.2.2 Chương trình môn công nghệ 6 42
3.2.3 Mục tiêu của môn học 43
3.3 Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm 48
3.3.1 Phân tích nội dung môn học 48
3.3.2 Mục tiêu kiểm tra đánh giá 48
3.3.3 Lập dàn bài trắc nghiệm 49
3.3.4 Tổ chức thực nghiệm, phân tích câu trắc nghiệm 54
3.3.4.1 Thực nghiệm 54
Trang 143.3.4.2 Phân tích câu trắc nghiệm 58
3.3.5 Biên soạn bộ câu hỏi cho môn học 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71
PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
1 Kết luận 72
2 Tự đánh giá những đóng góp của đề tài: 72
2.1 Về mặt lý luận 72
2.2 Về mặt thực tiễn 72
3 Hướng phát triển của đề tài 73
4 Kiến nghị 73
4.1 Đối với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: 73
4.2 Đối với Sở Giáo Dục và Phòng Giáo dục và Đào Tạo: 73
4.3 Đối với các trường THCS 74
4.4 Đối với các giáo viên 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 15PHẦN A: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kiểm tra đánh giá là một hoạt động thường xuyên, giữ một vai trò quan trọng và quyết định chất lượng đào tạo Đó là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy học Đây là khâu cuối cùng của quá trình dạy học nhưng nó có tác động chính, trực tiếp đến mục tiêu dạy học và là động lực của quá trình dạy học
Theo bộ Giáo dục và Đào tạo ( bộ GD&ĐT) từ năm học 2009-2010, tập trung chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá( KTĐG) thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) các môn học và hoạt động giáo dục, khắc phục tình trạng
dạy học theo lối đọc- chép Để đáp ứng được hướng đổi mới PPDH thì Bộ
GD&ĐT cũng đưa ra các yêu cầu khi đổi mới đánh giá kết quả học tập: Kiểm tra đánh giá phải hướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp cấp Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của học sinh Đổi mới PPDH, đổi mới KTĐG nhằm góp phần tích cực quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục trung học
Trong tất cả các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập hiện nay thì trắc nghiệm khách quan là hình thức đáp ứng được yêu cầu của kiểm tra đánh giá bộ môn và yêu cầu về đổi mới đánh giá kết quả học tập của Bộ GD&ĐT Đề trắc nghiệm khách quan thường phủ kín toàn bộ nội dung môn học qua từng bài,
từng chương tránh dạy tủ, học tủ Đồng thời đối với bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan, việc chấm và cho điểm tương đối khách quan, công bằng và
chính xác
Theo thứ trưởng bộ GD&ĐT Bành Tiến Long” .Đến năm 2008 tất cả các môn thi tốt nghiệp đều kiểm tra trắc nghiệm trừ môn Văn…”Trắc nghiệm khách quan ngày càng được áp dụng rộng rãi do tính ưu việt của nó và trong
giai đoạn thực hiện cuộc vận động 2 không“Nói không với tiêu cực trong thi
cử và bệnh thành tích trong giáo dục” do ngành Giáo dục phát động hiện
Trang 16nay Nó là sự lựa chọn cần thiết và đang được khuyến khích trong các kỳ thi, kiểm tra đánh giá
Đối với xã hội, kiểm tra đánh giá không dừng lại ở mức độ là nói lên kết quả của quá trình dạy học, mang đến thông tin cho người dạy và người học, nó còn mang ý nghĩa xác định năng lực cuối cùng của một cá nhân trên một phương diện nào đó Việc xây dựng ra một công cụ hay một cân đo với độ chính xác cao, có tính ổn định đánh giá được chính xác của người học về kiến thức, kỹ năng là điều rất cần thiết Kết quả điều đó sẽ dẫn đến việc nhà trường, cơ quan giáo dục cấp văn bằng chứng chỉ cho người học được chính xác, xã hội trả lương cho người lao động đúng với thực lực, giúp xã hội phát triển, công bằng
và ổn định Ngược lại nếu kiểm tra đánh giá sai, văn bằng chứng chỉ sai, không chính xác sẽ đưa đến việc trả lương không đúng với thực lực, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội và tính công bằng trong xã hội
Vì các lý do trên và đồng thời với vai trò vừa là học viên lớp cao học giáo dục vừa là một giáo viên trẻ, qua quá trình tìm hiểu môn Công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre người nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài: “ Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre”
2 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6
- Các giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Công nghệ 6 để góp ý, chỉnh sửa
và đánh giá câu trắc nghiệm và phần mềm dùng trong kiểm tra đánh giá
Trang 173 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Biên soạnbộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Khảo sát thực trạng dạy và kiểm tra đánh giá môn công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Biên soạn bộ câu trắc nghiệm môn Công nghệ 6
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 mà người nghiên cứu xây dựng thì việc kiểm tra đánh giá môn học được chính xác, khách quan, thuận lợi, nhanh chóng khi thu thập kết quả học sinh và nâng cao chất lượng dạy học
5 Giới hạn vấn đề nghiên cứu
Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 tập trung biên soạn câu trắc nghiệm: đúng- sai, 4 lựa chọn, ghép hợp, câu điền khuyết
Số câu trắc nghiệm thô là 300 câu, thử nghiệm với số lượng khoảng 135 học sinh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tham khảo các tài liệu có liên quan đến luận văn viết về trắc nghiệm khách quan như sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng thực hiện chương trình môn Công nghệ 6, tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức,
kĩ năng môn Công nghệ THCS, các tài liệu tham khảo khác… nhằm đề ra giả thuyết khoa học và nội dung luận văn
6.2 Phương pháp chuyên gia
- Phỏng vấn giáo viên dạy môn Công nghệ 6 để làm rõ thực trạng công tác kiểm tra đánh giá của môn học này
Trang 18- Lấy ý kiến các chuyên gia về các câu hỏi trắc nghiệm đã được biên soạn
6.3 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã được biên soạn thông qua các bài kiểm tra 15 phút, kiểm tra một tiết, kiểm tra học kỳ Qua phương pháp thực nghiệm nhằm chứng minh tính đúng đắn và tính khả thi của luận văn khi áp dụng vào quá trình kiểm tra, thi cử cũng như quá trình dạy học môn Công nghệ 6
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Dùng các phương pháp thống kê toán học để tổng hợp, phân tích câu hỏi trắc nghiệm
Trang 19PHẦN B: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIÊN SOẠN BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Trắc nghiệm có nguồn gốc từ các nước phương Tây do các nhà tâm lý học nghiên cứu vào giữa thế kỷ XIX Khởi đầu vào năm 1879, Wichelm Weent thiết lập phòng thí nghiệm tâm lý học tại Leipzig ở Đức
Việc học và thi trên thế giới đã diễn ra từ hàng nghìn năm trước đây nhưng khoa học về đo lường trong giáo dục thật sự có thể xem như bắt đầu cách đây chỉ khoảng trong một thế kỉ Trong thế kỉ XX khoa học này phát triển xuất phát từ Châu Âu và tăng tốc mạnh mẽ khi du nhập vào Hoa Kỳ E Thorndike
là người đầu tiên đã dùng trắc nghiệm như một phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức học sinh, bắt đầu dùng với môn số học
và sau đó là đối với một số loại kiến thức khác
Năm 1905, Alfred Binet và Theodore Simon đã xây dựng thành công Trắc nghiệm trí tuệ Simon – Binet và tiếp đến được cải tiến tại đại học Stanford
Mỹ bởi Lewis Terman năm 1916, sau đó nó được cải tiến liên tục và ngày nay
được sử dụng với tên gọi là Trắc nghiệm trí tuệ IQ (Interlligence Quotient)
Vào năm 1923 tại Mỹ Bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Acheevement Test ra đời
Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy IBM năm 1935, việc thành
lập Hội quốc gia về Đo lường trong giáo dục (National Council on Measurement in Eduacation – NCME) vào thập niên 1950, sự ra đời hai tổ chức
tư nhân Eduacation Testing Services (ETS) năm 1947 và American College Testing (ACT) năm 1959, hai tổ chức làm dịch vụ trắc nghiệm lớn thứ nhất và
thứ hai Hoa Kỳ, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành Các thành tựu lý luận quan trọng của khoa học về đo lường trong giáo dục đạt được cho đến thập niên 70 của thế kỷ trước là “lý thuyết trắc nghiệm cổ điển” (Classical
Trang 20test theory) Còn bước phát triển về chất của nó trong khoảng 4 thập niên vừa
qua là “lý thuyết trắc nghiệm hiện đại” hoặc “lý thuyết đáp ứng câu hỏi” (Item Response Theory – IRT) IRT đã đạt được những thành tựu quan trọng nâng cao
độ chính xác của trắc nghiệm và trên cơ sở lý thuyết đó, công nghệ trắc nghiệm
thích ứng máy tính (Computer Adaptive Test – CAT) ra đời.[11; Trang16]
Đến nay khoa học về đo lường trong tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục Mặc dù, những phê bình chỉ trích đối với khoa học này cũng xuất hiện thường xuyên nhưng chúng không đánh đổ được nó mà chỉ làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn
1.1.2 Tại Việt Nam
Theo các chuyên gia cho rằng “ Trắc nghiệm khách quan về thành quả học tập đã áp dụng tại Việt Nam từ lúc nào thì khó mà xác định được.”
Từ đầu thập niên 1950 học sinh Việt Nam được tiếp xúc với trắc nghiệm qua các cuộc khảo sát khả năng ngoại ngữ do các cơ quan quốc tế tổ chức
Từ năm 1960, các tập san giáo dục có đề cặp đến trắc nghiệm khách quan, tâm lý- giáo dục một cách sơ lược
Năm 1964 ở miền Nam đã thành lập một cơ quan đặc trách về trắc
nghiệm và lấy tên “Trung tâm trắc nghiệm và hướng dẫn” cơ quan này phổ biến
nhiều tài liệu trắc nghiệm
Đến cuối năm 1969 , các môn trắc nghiệm thành quả học tập và thống kê giáo dục- tâm lý mới được chính thức giảng dạy ở các lớp Cao học và Tiến sĩ giáo dục tại đại học Sư phạm Sài gòn
Năm 1972, chính quyền Sài Gòn đã thành lập hội đồng cải tổ thi cử ở miền Nam; hội đồng này đã phân tích những nhược điểm của kì thi Tú tài theo
lối cũ ( Phương pháp tự luận) và quyết định chuẩn bị cho một kì thi Tú tài cải tiến bằng trắc nghiệm khách quan( TNKQ) tiêu chuẩn hóa
Đến năm 1974, lần đầu tiên các bài thi trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa được
áp dụng trong kì thi Tú tài tại miền Nam.[17; trang 167]
Trang 21Đầu năm 1996 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Trần Hồng Quân đã quyết định triển khai thí điểm áp dụng trắc nghiệm khách quan vào thi tuyển sinh đại học tại trường Đại học Đà Lạt Huy động lực lượng để chuẩn bị NHCHTN cho 8 môn thi Tổ chức thi trắc nghiệm thử tại Đà Lạt, Nha Trang, TP HCM
Theo thứ trưởng bộ GD& ĐT Bành Tiến Long” Đến năm 2008 tất cả các môn thi tốt nghiệp đều kiểm tra trắc nghiệm trừ môn Văn…”
1.2 Kiểm tra đánh giá và trắc nghiệm
1.2.1 Khái niệm kiểm tra và đánh giá
Việc kiểm tra, đánh giá là một khâu cơ bản, là một nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường là một yếu tố thúc đẩy sự rèn luyện và học tập của Học sinh( HS), quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục
* Khái niệm kiểm tra (Testing)
- Theo Trần Khánh Đức: Kiểm tra là một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi người học sau
khi học đã nắm được gì (kiến thức), làm được gì (kỹ năng) và bộc lộ thái độ ứng
xử ra sao ,đồng thời có được những thông tin phản hồi để hoàn thiện quá trình
dạy-học [6; trang 2]
- Theo Nguyễn Văn Tuấn: Kiểm tra là công cụ để đo lường trình độ kiến
thức, kỹ năng, kĩ xảo của học sinh.[19; Tr.91]
- Theo từ điển Giáo dục học: Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình họat động dạy nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh
* Khái niệm đánh giá (Evaluation)
- Theo Dương Thiệu Tống: Đánh giá là quá trình thu thập, phân tích và giải thích thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến các mục tiêu giảng huấn về phía học sinh Đánh giá có thể thực hiện bằng phương
pháp định lượng (đo lường) hay định tính (quan sát)[18; Tr.362]
- Theo Nguyễn Văn Tuấn: Đánh giá là xác định mức độ của trình độ kiến
thức kỹ năng, kỹ xảo của học sinh.[19; Tr.91]
Trang 22- Theo Trần Thị Tuyết Oanh: Đánh giá là bộ phận hợp thành rất quan
trọng, một khâu không thể tách rời của quá trình GD& ĐT.[11; Tr.7]
1.2.2 Khái niệm trắc nghiệm
Trắc nghiệm: Trắc nghiệm hay Test theo tiếng Anh Theo nghĩa chữ Hán
“ trắc” có nghĩa là “đo lường”, nghiệm là “ suy xét, chứng thực” [18; tr.13]
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý
học và Giáo dục học Trong giáo trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”,
tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã trích dẫn định nghĩa của tác giả Gronlund như
sau: “Trắc nghiệm là một công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà một cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể” [ 11; tr.61]
Theo GS.TS Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay
phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái (behavior) để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh với những người khác hay so với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập được dự kiến” [ 11; tr.364]
- Trắc nghiệm chuẩn mực: là trắc nghiệm được soạn nhằm cung cấp một
số đo lường thành tích mà người ta có thể giải thích được căn cứ trên vị thế tương đối của một cá nhân so với một nhóm người nào đó đã được biết [11;
tr.364]
- Trắc nghiệm tiêu chí: là trắc nghiệm được soạn nhằm cung cấp một số
đo lường mức thành thạo mà người ta có thể giải thích được căn cứ trên một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập đã được xác định và đã được giới hạn [ 11;
tr.369]
- Trắc nghiệm dùng ở lớp học: là trắc nghiệm do giáo viên tự chế tác để
sử dụng trong quá trình giảng dạy, có thể chưa được thử nghiệm và chỉnh sửa công phu, thường chỉ sử dụng trong các kỳ kiểm tra với số ít học sinh và không thật quan trọng[17]
Trắc nghiệm trong giảng dạy cũng là một phép thử(một phương pháp kiểm tra đánh giá) nhằm đánh giá khách quan trình độ, năng lực cũng như kết
quả học tập của học sinh trước, trong và khi kết thúc một giai đoạn học tập nhất
Trang 23định Trắc nghiệm thường có các dạng sau: trắc nghiệm thành quả để đo lường thành quả học tập của người học; trắc nghiệm năng khiều hoặc năng lực để đo lường khả năng và dự báo tương lai; trắc nghiệm theo tốc độ hoặc không theo tốc độ…Phương pháp trắc nghiệm có thể là khách qua hoặc chủ quan
Thuật ngữ “ trắc nghiệm” được dùng trong đề tài này là loại trắc nghiệm
khách quan dùng ở lớp học; người ta thường hiểu bài trắc nghiệm khách quan là một phương pháp kiểm tra gồm những bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có kèm theo những câu trả lời sẵn, yêu cầu học sinh sau khi suy nghĩ, dùng một ký hiệu đơn giản để trả lời Trắc nghiệm nâng cao được tính khách quan cho quá trình kiểm tra đánh giá, mang lại kết quả chính xác, công bằng và giảm thiểu được những tiêu cực trong quá trình tổ chức thi nên được nhiều người quan tâm, ủng hộ
- Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn học: là tập hợp một số lượng tương đối lớn các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và đáp án Trong đó, mỗi câu hỏi đã được định cỡ, tức là được gắn với các thành phần nội dung và
các tham số xác định như độ khó, độ phân cách theo lý thuyết trắc nghiệm [22]
1.2 3.Mục đích sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm
Khi nói đến trắc nghiệm thì người ta thường nghĩ đến việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra trình độ của học sinh, ít người nghĩ đến những mục đích khác của trắc nghiệm Theo tác giả Lê Đức Ngọccâu hỏi trắc nghiệm được
sử dụng với ba mục đích chính là để giảng dạy, để học tập và để kiểm tra đánh
giá.[ 6; trang 123]
Ba mục đích trên có thể được hiểu cụ thể như sau:
- Sử dụng để giảng dạy: Trong việc giảng dạy thì ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có thể được dùng để:
+ Đổi mới phương pháp giảng dạy: sử dụng các câu hỏi cho học sinh, sinh viên chuẩn bị ở nhà, thảo luận và tranh luận trên lớp, phụ đạo và hướng dẫn cách học, làm tăng hứng thú học tập cho người học vì được đối thoại, tránh độc thoại
Trang 24+ Chuẩn hóa kiến thức môn học: các giảng viên mới, các giảng viên khác nhau, dạy theo ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm sẽ cho kết quả tiếp thu môn học như nhau, tránh dạy tùy tiện, sai sót trong việc truyền thụ kiến thức
+ Dạy nhận thức và tư duy bậc cao: quá trình phân tích, đánh giá và thảo luận các câu hỏi trắc nghiệm tại lớp đã góp phần dạy nhận thức và tư duy bậc cao cho học viên Nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa thầy già, thầy trẻ vì đều dạy nhận thức bậc cao theo cùng một công cụ là ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Giúp người học tự học, tự tìm tòi và tự kiểm tra nhận thức của mình, mở rộng kiến thức qua các tài liệu tham khảo khác nhau mà không nhất thiết phải là những tài liệu do giảng viên giới thiệu Trong khi soạn câu trắc nghiệm dùng để học tập thì người soạn trắc nghiệm không chỉ dùng lại ở những kiến thức trong giáo trình mà còn mở rộng, đào sâu vấn đề nên người học phải đi tìm tòi những tài liệu để giải quyết nó
Giúp người học có thể tự tổ chức học nhóm, học tổ, phụ đạo lẫn nhau, trao đổi thảo luận các quan điểm, nhận thức cách giải quyết vấn đề với nhau trên cơ sở các câu hỏi đặt ra có trong ngân hàng câu hỏi môn học, học phần
- Sử dụng để kiểm tra đánh giá
Trang 25Việc sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá thành quả học tập của học sinh hiện nay được áp dụng khá rộng rãi trong các kỳ thi kết thúc phần lớn các môn học của một trường học đến một số môn trong các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học và cả kỳ thi đại học Việc sử dụng trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá nhằm để:
+ Ra đề thi đánh giá tiếp thu môn học của học viên theo năng lực nhận thức và tư duy mức cao Thực hiện kiểm tra giữa kỳ mà bấy lâu nay phần lớn chưa thực hiện được vì không có thời gian để chấm bài
+ Đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên cả về khối lượng lẫn chất lượng giảng dạy môn học, học phần
+ Hạn chế tiêu cực trong thi cử Trong một cuộc thi, nếu xây dựng nhiều
đề thi bằng cách hoán vị đồng thời thứ tự câu, thứ tự câu đúng và câu nhiễu trong từng câu và không đánh số thứ tự câu hỏi thi thì học viên không thể bảo nhau làm bài mặc dù các đề thi khác nhau đều hình thành từ cùng một số câu trắc nghiệm khách quan
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan có thể dùng với ba mục đích nói trên trong đó mục đích thứ ba là sử dụng để kiểm tra đánh giá hiện nay được các nhà giáo và người học biết đến nhiều nhất và cũng được các nhà nghiên cứu về trắc nghiệm quan tâm trong suốt một thời gian dài Còn hai loại trắc nghiệm với mục đích dùng để giảng dạy và dùng để học tập thì chưa có được sự quan tâm nhiều,
nó chỉ trong giai đoạn khởi sự Ngày nay, do nhu cầu tự học ngày càng cao cho nên việc nghiên cứu việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm dùng trong tự học ngày càng mang tính cấp bách
Qua lý luận khoa học về trắc nghiệm khách quan, người nghiên cứu nhận thấy có những đặc điểm sau:
Đối với giáo viên: nâng cao năng lực dạy học, đánh giá, tăng hiệu quả dạy học; sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm như là một nhiệm vụ để yêu cầu học sinh tự thu thập thông tin, xử lí thông tin, tìm lời giải đáp để tăng tính tích cực trong học tập
Trang 26Đối với người học: căn cứ vào ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn học,
học phần để lập kế hoạch tự học và tổ chức học, để nắm vững nội dung chuẩn xác và tăng thêm lòng tin về tính khách quan của việc đánh giá thành quả học tập; thúc đẩy tính tích cực chủ động và động cơ học tập, đạt mục tiêu môn học
đề ra
Đối với nhà trường: Tăng uy tín của nhà trường thông qua việc nâng cao năng lực của đội ngũ GV về các phương pháp dạy - học - đánh giá; có các công
cụ để kiểm tra nhanh chóng và chính xác thành quả học tập; nâng cao hiệu quả
và tiết kiệm thời gian trong việc đánh giá
1.2.4 Phân loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan [18; trang 67]
1.2.4.1 Trắc nghiệm “đúng sai”
Câu đúng sai là câu trắc nghiệm yêu cầu người thi phải phán đoán đúng hay sai đối với một câu trần thuật hoặc câu hỏi, cũng chính là để người thi tuỳ ý lựa chọn một trong hai đáp án đưa ra
Ưu điểm:
- Ra đề dễ dàng Đề thi vừa có thể là câu trần thuật vừa có thể là câu hỏi
Ý nghĩa của đề thi vừa có thể là khẳng định, cũng có thể là phủ định
- Người thi trả lời thuận tiện
- Có thể dùng máy để đánh giá, đọc bài thi trắc nghiệm, tiết kiệm được thời gian, sức lực, lại chính xác, khách quan
- Tất cả các môn học đều có thể sử dụng
- Hiệu suất trắc nghiệm khá cao Trong một tiếng đồng hồ trả lời của người tham gia trắc nghiệm đúng sai nhiều hơn rất nhiều đề thi có nhiều lựa chọn
Nhược điểm:
Nhược điểm lớn nhất của đề thi đúng sai là chịu ảnh hưởng tương đối lớn của khả năng đoán mò đáp án Vì vậy nó có độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho học sinh thuộc lòng hơn là hiểu Học sinh giỏi có thể không thoả mãn khi phải
chọn “đúng sai” khi câu hỏi viết chưa kĩ càng
Trang 27Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu đúng / sai:
- Câu nên hỏi những điều quan trọng, nội dung có giá trị chứ không phải
là những chi tiết vụn vặt, không quan trọng
- Câu nên trắc nghiệm khả năng lí giải, chứ không chỉ là trắc nghiệm trí nhớ Càng không nên chép lại những câu trong tài lệu giảng dạy, để tránh cho
SV thuộc lòng sách máy móc mà không hiểu gì
- Trong một câu chỉ có một vấn đề trọng tâm hoặc một ý trong tâm,
không thể xuất hiện hai ý (phán đoán) hoặc nửa câu đúng, nửa câu sai
- Tránh sử dụng các từ ngữ có tính giới hạn đặc thù mang tính ám thị Khi
ý của đề là chính xác thì nên tránh dùng những từ “nói chung”, “thường thường”, “thông thường”, “rất ít khi”, “có khi”, “một vài”, “có thể” để tránh cho đối tượng tham gia dựa vào những từ này đưa ra đáp án “đúng” từ đó đoán đúng
câu trắc nghiệm
- Tránh những điều chưa thống nhất
1.2.4.2 Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Câu hỏi trắc nghiệm yêu cầu người thi tuỳ ý lưa chọn đáp án chính xác trong một số đáp án được gọi là câu hỏi nhiều phương án lựa chọn, gọi tắt là câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu hỏi nhiều lựa chọn tuy chủng loại nhiều, nhưng nhìn về kết cấu mà
nói thì do hai bộ phận câu dẫn (chủ đề) và câu lựa chọn tạo nên Bộ phận chủ đề
chính thường dùng các từ, câu hỏi, hoặc câu trần thuật để biểu thị Phần trả lời
đã có thể dùng các câu ngắn gọn hoặc các nhóm từ để biểu thị Trong 4 đến 5 phương án lựa chọn có một phương án hoặc một vài phương án đúng, các
phương án còn lại là sai, còn gọi là phương án nhiễu
Ưu điểm:
- Nó thích hợp sử dụng cho tài liệu nhiều loại tầng bậc nhận thức
- Trả lời thuận tiện, đọc đề thi tiết kiệm thời gian, sức lực và đánh giá khách quan
Trang 28- Cơ hội đoán đúng đáp án giảm đi Nếu đối tượng thi toàn bộ làm dựa vào đoán thì cơ hội đoán đúng ở mỗi câu đúng sai là 50%, còn cơ hội để đoán đúng ở câu có 5 phương án lựa chọn chỉ là 20%
- Số lượng câu để tạo nên một lần trắc nghiệm cũng khá lớn, phạm vi lấy mẫu đề thi cũng rộng, tính đại diện mạnh, vì thế nó chính là phương pháp áp dụng nhiều để tiêu chuẩn hoá trắc nghiệm
- Độ tin cậy cao hơn Yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều so với các loại TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên
- Tính giá trị tốt hơn Với bài viết trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn, người ta có thể đo được khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lí, định luật
…,tổng quát hoá … rất hữu hiệu
- Thật sự khách quan khi chấm bài Điểm số của bài trắc nghiệm khách quan không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của học sinh và trình độ người chấm bài …
Nhược điểm:
- Viết câu hỏi rất khó khăn.Vì việc biên soạn và đáp án chính xác vừa có khác biệt bản chất nhưng về bề mặt là có những chỗ tương đồng như 3, 4 phương án nhiễu, thực sự không phải là một việc dễ dàng
- Các nhân tố để đoán đúng đáp án đã giảm đi so với câu đúng sai nhưng
nó vẫn tồn tại
- Loại câu hỏi này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý Ngoài ra phải soạn câu hỏi thế nào đó để đo được các mức trí năng cao hơn mức biết, mức hiểu
- Có những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thoả mãn
- Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi TNTL soạn kĩ
Trang 29Ngoài ra, tốn kém giấy mực để in đề các loại câu hỏi này so với các loại câu hỏi khác và cũng cần nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi
Những nguyên tắc khi soạn câu TNKQ nhiều lựa chọn:
- Câu TNKQ loại này có thể dùng thẩm định năng lực nhận thức ở hiểu, khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn Vì vậy khi soạn câu hỏi loại này cần lưu ý
- Trong việc soạn các phương án trả lời sao cho câu đúng phải đúng một
cách không tranh cãi được (không có điểm sai và những chỗ tối nghĩa), còn các
câu nhiễu đều phải có vẻ hợp lí
- Các câu nhiễu phải có tác động gây nhiễu với các SV có năng lực tốt và tác động thu hút các SV kém hơn
- Các câu trả lời đúng nhất phải được đặt ở các vị trí khác nhau một số lần tương đương ở mỗi vị trí A, B, C, D, E Vị trí các câu trả lời để chọn lựa nên được sắp xếp theo một thứ tự ngẫu nhiên
- Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, diễn đạt rõ ràng một vấn đề hay nên
mang trọn ý nghĩa Nên tránh dùng những câu có vẻ như câu hỏi loại “đúng sai”
không liên hệ nhau được sắp chung một chỗ
- Các câu trả lời trong các phương án cho sẵn để chọn lựa phải đồng nhất với nhau Tính đồng nhất có thể dựa trên căn bản ý nghĩa, âm thanh, độ dài, hoặc cùng là động từ, tính từ hay danh từ
- Nếu có 4 hoặc 5 phương án để chọn cho mỗi câu hỏi Nếu số phương án trả lời ít hơn thì yếu tố may rủi tăng lên Ngược lại, nếu có quá nhiều phương
án để chọn thì giáo viên khó tìm được câu nhiễu hay và SV mất nhiều thời gian
Trang 30bị Khi trả lời yêu cầu học viên dự thi chọn ra một phương án thích hợp nhất từ trong các lựa chọn trong mỗi vấn đề Mỗi lựa chọn có thể sử dụng một lần, cũng
Nhược điểm:
- Nhược điểm của nó vẫn là tồn tại những nhân tố đoán mò
- Loại câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi không thích hợp cho việc thẩm định các khả năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức Muốn soạn lại loại câu hỏi này để đo mức trí năng cao đòi hỏi nhiều công phu Ngoài ra nếu danh sách mỗi cột dài thì tốn nhiều thời gian cho học sinh đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi
Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu ghép đôi:
- Trong mỗi cột phải có ít nhất là sáu câu và nhiều nhất là mười hai câu
Số câu chọn lựa trong cột trả lời nên nhiều hơn số câu trong cột câu hỏi, hoặc một câu trả lời có thể được sử dụng nhiều lần để này sẽ giúp giảm bớt yếu tố may rủi
- Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một câu của cột trả lời và câu trả lời tương ứng
- Phải nói rõ mỗi câu trả lời chỉ được sử dụng một lần hay được sử dụng nhiều lần Các câu hỏi nên có tính chất đồng nhất hoặc liên hệ nhau Sắp xếp các câu trong các cột theo một thứ tự hợp lý nào đó
Trang 311.2.4.4 Trắc nghiệm điền khuyết hay câu trả lời ngắn
Đây là loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhưng có câu trả lời tự do Học sinh biết câu trả lời bằng một hay vài từ hoặc một câu ngắn
Yêu cầu người thi điền vào chỗ trống trong mỗi câu, loại đề thi/ câu trắc nghiệm này gọi là đề thi/ câu điền vào chỗ trống
Nhược điểm:
- Nhìn từ bề ngoài thì đề thi điền vào chỗ trống yêu cầu hoạt động trí lực cao hơn đề thi lựa chọn.Vì nó đưa ra câu trả lời dựa trên cơ sở tái hiện, chứ không phải đưa ra câu trả lời dựa trên cơ sở nhận thức lại Nhưng trên thực tế,
đề thi điền vào chỗ trống không phân tích một cách sâu sắc năng lực nhận thức,
tư duy và lý giải như đề thi lựa chọn
- Khó nắm bắt được đáp án người thi đưa ra, tính chính xác của đáp án đưa ra kém, tính chủ quan của người chấm điểm nhiều hơn
- Khó có thể dùng máy để chấm bài thi và cho điểm
- Khi soạn thảo loại câu hỏi này thường dễ mắc sai lầm là trích nguyên văn câu từ trong sách giáo khoa, rồi bỏ đi một vài từ
- Phạm vi kiểm tra của loại câu hỏi này thường chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặt Việc chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn
Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu điền khuyết:
Trang 32- Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, tránh lấy nguyên văn các câu từ sách để khỏi khuyến khích học sinh học thuộc lòng
- Các khoảng trống nên có chiều dài bằng nhau để SV không đoán mò, nên để trống những chữ quan trọng nhưng đừng quá nhiều
- Trên cơ sở phân loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan, người nghiên cứu nhận thấy để đạt được hiệu quả tối ưu trong việc kiểm tra đánh giá, để kết quả kiểm tra phản ánh chính xác, khách quan, công bằng khả năng của học sinh thì đòi hỏi người ra đề phải đầu tư, suy nghĩ, mất nhiều thời gian để lựa chọn ngôn
từ phù hợp, không gây hiểu lầm đối với học sinh, phân bố số lượng câu hỏi trên từng loại trắc nghiệm khách quan một cách hợp lý, bám sát mục tiêu, chương trình và nội dung môn học, đồng thời các câu trắc nghiệm phải được kiểm định nhiều lần trước khi đưa vào trong kiểm tra đánh giá
1.2.5 Đánh giá một bài trắc nghiệm khách quan
1.2.5.1 Phân tích câu hỏi
Mục đích phân tích câu hỏi: Sau khi chấm bài ghi điểm một bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan, cần đánh giá hiệu quả từng câu hỏi Muốn vậy, cần phải tích các câu trả lời của học sinh cho mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan Việc phân tích này có 2 mục đích:
Kết quả bài kiểm tra giúp giáo viên đánh giá mức độ thành công của phương pháp dạy học để kịp thời thay đổi phương pháp học cho phù hợp
Việc phân tích câu hỏi còn để xem học sinh trả lời mỗi câu hỏi như thế nào, từ đó sửa lại nội dung câu hỏi để trắc nghiệm khách quan có thể đo lường thành quả, khả năng học tập của học sinh một cách hữu hiệu hơn
Phương pháp phân tích câu hỏi: Trong các phương pháp phân tích câu hỏi của một bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan thành quả học tập, chúng ta thường so sánh câu trả lời của học sinh ở mỗi câu hỏi với điểm số chung của toàn bài kiểm tra, với sự mong muốn có nhiều học sinh ở nhóm điểm cao và ít học sinh ở nhóm điểm thấp trả lời đúng một câu hỏi:
Trang 33Việc phân tích thống kê nhằm xác định các chỉ số: độ khó, độ phân biệt,
độ tin cậy của một câu hỏi
1.2.5.2.Độ khó
Khái niệm đầu tiên có thể lưu ý đến là độ khó của câu trắc nghiệm Theo
lý thuyết trắc nghiệm cổ điển, khi nói đến độ khó, hiển nhiên phải xem câu trắc nghiệm là khó đối với đối tượng nào Nhờ việc thử nghiệm trên các đối tượng thí sinh phù hợp, người ta có thể đo độ khó bằng tỷ số phần trăm thí sinh làm đúng câu trắc nghiệm đó trên tổng số thí sinh dự thi: [11; trang 59]
Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm
Để có thể kết luận một câu trắc nghiệm là dễ, khó hay vừa sức học sinh, trước hết ta phải tính độ khó của câu trắc nghiệm ấy rồi so sánh với độ khó vừa phải của loại câu trắc nghiệm này
Mỗi câu trắc nghiệm có độ khó vừa phải là câu có 50% số học sinh làm đúng câu ấy và 50% số học sinh làm sai, nhưng còn tùy thuộc vào từng loại câu trắc nghiệm
Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm bằng trung bình cộng của tỉ lệ may
rủi kỳ vọng (Expected Chance Proportion) của loại câu trắc nghiệm ấy nhân với
100% Tỉ lệ may rủi này thay đổi theo từng loại câu trắc nghiệm
Cụ thể đối với từng loại trắc nghiệm như sau:
Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại đúng sailà trung điểm giữa tỉ
lệ may rủi kỳ vọng và 100%, loại này có tỉ lệ may rủi là 50% có nghĩa là tỉ lệ may rủi kỳ vọng là 50%
Tức là: % 75 %
2
50
Vậy nếu 75% học sinh trả lời đúngcâu đó thì câu đó có độ khó vừa phải
Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại 4 lựa chọn
Trang 34Với loại câu có 4 lựa chọn thì tỉ lệ may rủi kỳ vọng là 25%
Công thức tính độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm như sau:
Độ khó vừa phải là: % 62 5 %
2
25
Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại ghép hợp
Với loại ghép hợp 3 câu hỏi 6 câu trả lời thì thì tỉ lệ may rủi kỳ vọng của
mỗi câu là
120
1 4
1 5
1 6
Độ khó vừa phải là: % 50 %
2 120
1 100
x
Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại điền khuyết thì độ khó vừa
phải là 50% Loại điền khuyết có tỉ lệ may rủi = 0
Tóm lại: một bài trắc nghiệm được gọi là tốt không phải là bài trắc
nghiệm gồm toàn những toàn những câu trắc nghiệm khó hay dễ mà là bài trắc nghiệm gồm những câu có độ khó trung bình hay là mức độ khó vừa phải
Một bài trắc nghiệm có giá trị và đáng tin cậy thường là những bài gồm những câu trắc nghiệm có độ khó xấp xỉ hay bằng độ khó vừa phải
P càng lớn thì câu hỏi càng dễ: 0 ≤ P ≤ 0,2 :Là câu hỏi rất khó
Để xác định thống kê độ phân biệt người ta tiến hành như sau: chia mẫu học sinh làm 3 nhóm làm bài kiểm tra:
Trang 35+ Nhóm điểm cao{H}: Từ 25%÷ 27% số học sinh đạt điểm cao nhất + Nhóm điểm thấp{L}:Từ 25% ÷ 27% số học sinh đạt điểm thấp nhất + Nhóm điểm trung bình{M1}:Từ 46% ÷ 50% số học sinh còn lại
Độ phân cách D của câu trắc nghiệm thứ i
n
D
D cao thap
Với: Dcao : Số học sinh nhóm giỏi trả lời đúng câu trắc nghiệm thứ i
Dthap : Số học sinh nhóm kém trả lời đúng câu trắc nghiệm thứ i
n : tổng số học sinh làm bài trắc nghiệm trong một nhóm ( 25%
÷ 27% tổng số bài làm của học sinh)
Bảng 1.1 Ý nghĩa của chỉ số phân cách [18, trang 159]
Chỉ số phân cách Đánh giá câu trắc nghiệm
D≥0,4 Độ phân cách rất tốt=
D = 0,30,39 Độ phân cách khá tốt nhƣng có thể làm cho tốt hơn
D= 0,20,29 Độ phân cách tạm đƣợc, có thể cần phải hoàn chỉnh
D≤ 0,19 Độ phân cách kém, cần loại bỏ hay sửa chữa lại cho tốt hơn
1.2.5.4 Phân tích các mồi nhử của câu trắc nghiệm
Ngoài việc phân tích độ khó và độ phân cách của mỗi câu trắc nghiệm, ta
có thể làm cho câu trắc nghiệm trở nên tốt hơn bằng cách xem xét tần số của các đáp ứng sai cho mỗi câu hỏi
Để phântích các mồi nhử của câu trắc nghiệm, ta có thể thực hiện theo quy trình sau đây:
Bước 1: Sau khi đã chấm điểm và cộng tổng điểm của từng bài trắc
nghiệm, ta xếp đặt các bài làm của học sinh theo thứ tự tổng điểm từ cao đến thấp
Bước 2: Căn cứ trên tổng số bài trắc nghiệm, lấy 27% của tổng số bài làm
có điểm từ bài cao nhất trở xuống xếp vào nhóm CAO và 27% tổng số bài làm
có điểm từ bài thấp nhất trở lên xếp vào nhóm THẤP `
Trang 36Bước 3: Ghi tần số đáp ứng của học sinh trong mỗi nhóm cho mỗi lựa
chọn (a, b, c, d…) trong mỗi câu trắc nghiệm, đồng thời ghi độ khó và độ phân cách cho mỗi câu trắc nghiệm
Bước 4: Căn cứ vào các chỉ số về độ khó và độ phân cách của các câu
trắc nghiệm, lựa ra những câu trắc nghiệm có độ khó quá thấp hay quá cao, đồng thời có độ phân cách âm hoặc quá thấp, đây là những câu kém cần phải xét lại để loại đi hay để sửa chữa cho tốt hơn
Bước 5: Xem xét lại toàn bộ câu trắc nghiệm kém, nhất là những câu trắc
nghiệm loại có nhiều lựa chọn, trong đó có câu trả lời đúng và số còn lại là những mồi nhử theo nguyên tắc cơ bản sau đây:
Với câu đúng thì số học sinh trả lời câu đúng của nhóm cao nhiều hơn nhóm thấp
Với câu sai thì số học sinh nhóm cao chọn phải ít hơn số học sinh nhóm thấp.Ví dụ phân tích một câu trắc nghiệm số A32
Độ khó của câu là 0.25, độ phân cách là 0.08, đây là câu trắc nghiệm khó
và độ phân cách thấp, do đó ta phải điều chỉnh lại câu trắc nghiệm này
Về lựa chọn đúng D, số học sinh trong nhóm cao trả lời đúng nhiều hơn
nhóm thấp, như thế có tương quan thuận như mong đợi (nghĩa là số học sinh ở nhóm cao làm đúng nhiều hơn số học sinh ở nhóm thấp), nhưng khác biệt (9 - 7)
Trang 37nhử A và C khá cao Điều này cho ta nghi ngờ rằng mồi nhử A và C cũng có phần đúng, nếu giải thích ở phương diện nào đó
Kết luận: Ta cần diễn đạt đáp án D rõ hơn, xem xét sửa lại mồi nhử A và mồi nhử C
Như vậy phân tích các câu trả lời của người học trong một bài trắc nghiệm nó giúp cho người soạn thảo:
- Biết được những câu nào là quá khó, câu nào là quá dễ
- Lựa ra các câu có độ phân cách cao, nghĩa là phân biệt được học sinh giỏi và học sinh kém
- Biết được lí do vì sao câu trắc nghiệm không đạt được hiệu quả mong muốn và cần phải sửa đổi như thế nào cho tốt hơn
- Câu hỏi sau khi được sửa đổi cơ bản có khả năng đạt được tính tin cậy cao hơn là một bài trắc nghiệm chưa được thử nghiệm và phân tích
1.2.6.Quy trình xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học
Đểứngdụngtrắcnghiệmkháchquanđánhgiánănglựcnhậnthứccủangườihọc,
mộtviệcvôcùngquantrọnglàcầnphảixâydựngbộđềthitrắcnghiệmcóchấtlượng,
cóthểmôtả qua lưuđồ (Flowchart) sau: [23]
Trang 38Thử nghiệm và phân tích câu hỏi
Hoàn thiện ngân hàng
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua chương 1 người nghiên cứu đã phân tích và tổng hợp các tài liêu lý thuyết về trắc nghiệm khách quan, hệ thống được những nội dung làm cơ sở lý luận hỗ trợ cho việc biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Tìm hiểu về lịch sử phát triển của trắc nghiệm khách quan trên thế giới
và Việt Nam
- Giải thích các thuật ngữ chính của đề tài
- Hệ thống các phương pháp phân tích, đánh giá câu trắc nghiệm và bài trắc nghiệm để nâng cao tính giá trị, tính tin cậy
Căn cứ vào cơ sở lý luận của đề tài đã được phân tích ở trên, ứng dụng vào biên soạn bộ câu hỏi môn Công nghệ 6 sẽ được thực hiện như sau:
- Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức được xây dựng trên cơ sở của trắc nghiệm tiêu chí và quy trình biên soạn bộ câu hỏi
- Nội dung kiến thức cần đánh giá trong mỗi câu hỏi được xác định từ chuẩn kiến thức môn công nghệ 6
- Hình thức các câu trắc nghiệm: Câu đúng – sai, câu điền khuyết, câu hỏi nhiều lựa chọn và câu ghép hợp
- Việc phân tích các câu trắc nghiệm: Căn cứ kết quả kiểm nghiệm để phân tích các câu hỏi, chỉnh sửa hoặc loại bỏ các câu hỏi không phù hợp
Ngoài cơ sở lý luận, cần xem xét đến cơ sở thực tiễn của đề tài Người nghiên cứu sẽ phân tích cụ thể trong chương 2 của luận văn
Trang 40CHƯƠNG 2
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
MÔN CÔNG NGHỆ 6 TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE
2.1.Thực trạng công tác dạy và học và nhu cầu phát triển bộ môn công nghệ 6 ở trường THCS thuộc địa bàn huyện Giồng Trôm
2.1.1.Vị trí địa lý và bố trí trường lớp của huyện
2.1.1.1.Vị trí địa lý
Giồng Trôm là một huyện thuần nông tiếp giáp với TP Bến Tre.Huyện có
21 xã và 1 thị trấn đặt ở trung tâm huyện Trên địa bàn huyện có đường tỉnh 885 chạy qua.Dân cư ở đây đa số làm nghề nông, còn lại nghề tiểu thủ công là chủ yếu.Chỉ một số hộ kinh doanh ở trung tâm Huyện, các xã và dọc trục lộ
2.1.1.2 Bố trí trường lớp
- Huyện có 20 trường THCS, trong đó có 6 trường THCS với CSVC đáp ứng theo tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT, có phòng thực hành, phòng bộ môn,…,riêng các trường còn lại thường tổ chức cho học sinh thực hành bằng phòng học
- Hiện tại khối lớp 6 ở các trường trong huyện gồm 73 lớp với 2479 học sinh, trường nhiều nhất có 8 lớp 6 với 248 học sinh, trường ít nhất có 1 lớp 6 với