Lao động là vốn quý, là yêu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển củamọi hình thức kinh tế xã hội, chính vì lẽ đó Đảng và nhà nước ta luôn đặt vấn đề vềdân số, lao động, việc làm
Trang 1KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ
BỘ MÔN QUẢN TRỊ
-TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: NGUỒN NHÂN LỰC
Đề tài:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước”.
Trang 2M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Các khái niệm về nguồn nhân lực 5
1.2 Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng con người Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp, hóa hiện đại hóa 6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 7
2.1 Số lượng lao động 7
2.2 Cơ cấu nguồn lao động có nhiều bất cập 9
2.3 Nguyên nhân gây ra những bất cập 17
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 22
4.1 Những giải pháp chung 22
4.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 25
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
Trang 3Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học đã thực sự trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp, với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa học và công nghệhiện đại, con người càng tỏ rõ vai trò của mình trong tiến trình phát triển của xã hội
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội.Song con người chỉ trở thành động lực cho sự phát triển khi và chỉ khi họ có điều kiện
đã sử dụng sức lao động của họ để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội Quátrình kết hợp sức lao động và điều kiện sản xuất là quá trình người lao động làm việchay nói cách khác là khi họ có được việc làm
Lao động là vốn quý, là yêu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển củamọi hình thức kinh tế xã hội, chính vì lẽ đó Đảng và nhà nước ta luôn đặt vấn đề vềdân số, lao động, việc làm vào vị trí hàng đầu trong các chính sách kinh tế xã hội.Chính sách đó được thể hiện trong việc hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế xãhội của đất nước, đặt con người và việc làm là vị trí trung tâm lấy lợi ích của conngtười làm điểm xuất phát của mọi chương trình kế hoạch phát triển
Con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, thể hiện mức độchế ngự thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho con người, mà còn tạo ra những điềukiện để hoàn thiện chính bản thân con người
Đối với Việt Nam, là một nước đông dân trên thế giới, có nguồn lao động dồidào nhưng trình độ còn thấp, muốn đáp vứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệphoá hiện đại hoá đất nước, nhất là đáp ứng cho yêu cầu của kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội cần phải có một kế hoạch rõ ràng về đào tạo, huy động, và sử dụng lực lượnglao động
Nước ta tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện tiềm lực kinh tếcòn nhỏ bé, tích luỹ từ nội bộ kinh tế còn thấp Ngoài ra tiềm lực con người, tàinguyên khoáng sản không nhiều… Do đó để tiếp cận với nền khoa học, kỹ thuật đangtiến nhanh như vũ bão của thế giới, từng bước rút ngắn và đuổi kịp với sự phát triểncủa các nước; Đảng ta đã xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong suốt quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, lànhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Sự khẳng định này là bài học rút
Trang 4ra từ lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta Nguyên nhân của mọi nguyênnhân dẫn đến thành công hay thất bại đều do chính con người quyết định
Xuất phát từ những nhận thức trên, em đã chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước” để
hoàn thành bài tiểu luận này
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 51.1 Các khái niệm về nguồn nhân lực
- Nguồn nhân lực với tư cách là nơi cung cấp cho xã hội, nó bao gồm toàn bộdân cư có cơ thể phát triển bình thường, không kể bị khuyết và dị tật bẩm sinh
- Nguồn nhân lực có thể với tư cách là một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế –
xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhómdân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
- Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những conngười cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinhthần được huy động vào quá trình lao động Với cách hiểu này, nguồn nhân lực baogồm những người bắt đầu bước vào tuổi lao động trở lên có tham gia vào nền sản xuất
xã hội
- Là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làmnội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc tìnhtrạng khác (những người nghỉ việc hoặc hưu trước tuổi theo quy định của bộ luật laođộng )
- Nguồn nhân lực là tiềm năng của lao động trong thời kỳ xác định của mộtquốc gia, suy rộng ra có thể xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng.Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội
Nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số
có thể tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội Số lượng nguồn nhân lực được thể hiệnbằng các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ phát triển Chất lượng nguồn nhân lực được thểhiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ kiến thức, tay nghề, tácphong nghề nghiệp, cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi, giới tính, thiên hướng ngành nghề,phân bố lãnh thổ, khu vực thành thị – nông thôn… các phương thức tác động và sựphát triển về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực bao gồm : công tác dân số kếhoạch hoá gia đình, công tác phân bố nguồn nhân lực theo vùng, lãnh thổ, các chương
Trang 6trình dinh dưỡng, công tác y tế chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, công tác giáo dục đàotạo và dạy nghề
Nguồn nhân lực gồm hai bộ phận:
Trang 7THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH
CNH-HĐH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Số lượng lao động
Việt Nam là một nước có tổng số dân số thuộc loại cao trên thế giới Trongnhững năm vừa qua, chúng ta đã cố gắng giảm tốc độ tăng dân số tự nhiên và đã đạtđược những thành công đáng kể Đó là giảm được tốc độ tăng dân số từ trên 2%/nămxuống còn 1,7%/năm vào năm 1999 Tuy nhiên với tình hình dân số đông như vậy vẫn
là một áp lực lớn cho toàn xã hội Ta hãy xét bảng sau để đánh giá tình hình dân sốcũng như lực lượng lao động của Việt Nam:
Bảng 1: Dự báo dân số việt Nam 1/4 năm 1994-2024
Trang 8Bước sang năm 2005, theo dự báo của bảng trên sẽ có khoảng 8853,3 nghìnngười bước vào độ tuổi lao động và đây là con số đủ khả năng cung cấp nhu cầu laođộng của xã hội.
Nhìn vào bảng trên ta cũng thấy dân số trong độ tuổi lao động liên tục tăng quacác năm Cụ thể , năm 1994 chiếm 53,34% so với dân số, năm 1999 chiếm 57,91% vànăm 2004 sẽ chiếm khoảng 61,77% Con số này cho chúng ta biết tỷ lệ tăng trưởngdân số tuy đã hạ xuống nhưng vẫn ở mức cao, áp lực công việc nặng nề, nếu không cónhững phương pháp giải quyết thích hợp sẽ dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp cao
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao cũng cho chúng ta thấy một khả năngdồi dào về lao động, có đủ khả năng giải quyết mọi công việc Trên thực tế, năm 1998,
cả nước có khoảng 45,2 triệu lao động, so với năm 1995 tăng 3,91 triệu người, trungbình tăng 1,3 triệu người hàng năm Đây là kết quả của tốc độ tăng dân số tương đốicao và ổn định của những năm trước Trong đó số lao động có khả năng lao động cũngtăng từ 83,7% năm 1995 lên 84,4% năm 1998 Năm 1996, lực lượng lao động nước ta
là 35,9 triệu người Tốc độ tăng bình quân 2,95%/năm.Với số lao động mới tăng thêm,
4 triệu người, số lao động thất nghiệp hoàn toàn chưa được giải quyết việc làm năm
1996 là 0,7 triệu người, năm 1997 là 1,05 triệu người; số lao động dôi ra do chuyểndịch cơ cấu kinh tế dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sắpxếp lại doanh nghiệp phải tìm việc làm mới cho khoảng 3 triệu người; yêu cầu của việcnâng quỹ thời gian lao động trong nông thôn đã được sử dụng 72,11% năm 1996 lên
Trang 975% năm 2000 Trong 4 năm (1996-2000) đã có 8 triệu người cần được giải quyết việclàm.
2.2 Cơ cấu nguồn lao động có nhiều bất cập
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước không chỉ đòihỏi đội ngũ lao động có trình độ cao về tay nghề và trí tuệ mà còn phải có cơ cấu hợp
lý Chất lượng nguồn lao động nước ta hiện nay nhìn chung thấp, điều đó không chỉthể hiện ở tình trạng sức khoẻ và trình độ chuyên môn kỹ thuật yếu mà còn thể hiện ởnhững bất cập trong cơ cấu nguồn lao động
Về sức khoẻ, mặc dù đã có những tiến bộ trong công tác chăm sóc sức khỏe chongười dân nhưng do xuất phát điểm là một nước nghèo, đông dân nên phần lớn dân sốnước ta chưa đảm bảo về sức khoẻ, đặc biệt là trẻ em và bộ phận dân số ở khu vựcnông thôn, vùng sâu, vùng xa
Về lề lối, tác phong làm việc, do ảnh hưởng của cơ chế kế hoạch hoá tập trungnên còn chậm chạp, thiếu động lực sáng tạo trong lao động
Về mặt cơ cấu lao động của nước ta quả thật còn rất nhiều nan giải cần phải giảiquyết được thể hiện qua thực trạng sau:
Thứ nhất, tuy tỷ lệ biết chữ của nước ta cao so với một số nước nhưng trình độ
văn hoá vẫn thuộc loại thấp, thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế phân theo
Trang 10Chưa tốt nghiệp cấp I 20,9 56,4 20,3 55,5 18,5 56,1
Đã tốt nghiệp cấp I 27,8 49,7 28,1 49,2 29,4 45,3
Đã tốt nghiệp cấp II 32,1 48,3 32,4 48,1 32,3 48,3
Đã tốt nghiệp cấpIII 13,5 44,1 14,1 44,0 16,0 44,2
Nguồn: Thực trạng lao động - Việc làm ở Việt Nam, nxb Thống kê 1996-1998
Theo số liệu của bảng trên, tỷ lệ người chưa biết chữ đã giảm, là kết quả củachương trình xoá mù chữ do Chính phủ thực hiện trong những năm qua Số lao độngchưa tốt nghiệp cấp I trong hai năm 1997-1998 đẫ giảm từ 20,3% xuống 18,5% nhưng
tỷ lệ này vẫn còn cao và tốc độ chậm, trong khi đó cơ cấu lao động theo trình độ cấp I,
II, III chuyển biến còn rất chậm Thực tế là tỷ lệ lao động tốt nghiệp cấp I năm 1996 là27,8% nhưng đến năm 1998 cũng mới chỉ là 29,4%; lao động tốt nghiệp cấp III năm
1996 là 13,5% đến năm 1998 là 16% Trong khi đó, tỷ lệ lao động tốt nghiệp cấp IIIchiếm một tỷ lệ không cao trong toàn lao động, do đó cơ hội tìm việc làm là rất khókhăn
Thứ hai, vẫn tồn tại một cách quá cao tình trạng thừa lao động phổ thông, thiếu
lao động kỹ thuật Thực hiện CNH-HĐH là chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạtđộng sản xuất, kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủcông là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động cùng với công nghệ cao,phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao dộng xã hội cao.Thực chất đây là quá trình chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế côngnghiệp Bước chuyển này sẽ vô cùng khó khăn nếu không đi trước một bước trongviệc chuẩn bị lực lượng lao động có trình độ học vấn, tay nghề cao, có cơ cấu hợp lý
và đồng bộ
Nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH song tỷ lệ lao độnggiản đơn còn quá cao (88%), cơ cấu nguồn lao động còn quá lạc hậu so với nhiềunước, nhất là các nước công nghiệp phát triển
Trong khi lực lượng lao động lành nghề ở các nước công nghiệp chiếm tới 35%trong tổng số lực lượng lao động xã hội thì nước ta chỉ có 5,5% Lực lượng lao động
có trình độ chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư, và các nhà khoa học của họ chiếm tới 30%
Trang 11còn nước ta mới có 6,5% Chúng ta đang rất thiếu đội ngũ lao động kỹ thuật (tính đếngiữa năm 1999 số này mới có khoảng 14%) Trong một số ngành kinh tế quan trọngcần nhiều lao động kỹ thuật nhưng hiện có rất ít Chẳng hạn, ngành công nghiệp sảnxuất hàng tiêu dùng1,6%, ngành nông lâm ngư nghiệp 7% (hiện nay lực lượng laođộng của ngành này chiếm tới 3/4 tổng lao động xã hội) Vùng đồng bằng sông CửuLong - một trong những vùng sản xuất lương thực lớn nhất - nhưng lực lượng lao động
đã qua đào tạo chỉ đạt 3,68%, trong đó công nhân kỹ thuật có bằng 0,6%, trung cấp1,55% và đại học 0,74% Một số khu chế xuất, khu công nghiệp cần tuyển lao động có
kỹ thuật thì lao động của nước ta chỉ đáp ững được rất ít Ví dụ: Khu chế xuất LinhTrung cần tuyển 7000 công nhân nữ có trình độ tay nghề bậc 3/7 trở lên nhưng chỉ đápứng được 1500 người Khu chế xuất Tân Thuận cũng ở tình trạng tương tự: cần tuyển
15000 công nhân kỹ thuật, ta chỉ đáp ứng được 3000 Cái thiếu của ta là lao dộng kỹthuật trong khi lại dư thừa lao động phổ thông Bởi vậy, cơ cấu nguồn lao động khôngđáp ứng được yêu cầu thị trường trong nước, chưa nói đến yêu cầu tham gia cạnh tranhtrên thị trường quốc tế
Thứ ba, tình trạng thừa thầy thiếu thợ ở mức khá nghiêm trọng Tức là ngay
trong lực lượng lao động có trình độ chuyên mộ kỹ thuật đã ít lại còn có cơ cấu bấthợp lý Có thể thấy tình trạng đó ở bảng sau:
Bảng 3: Cơ cấu lực lượng lao động k thu t Vi t Nam giai o n 1979-1999ỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 1979-1999 ật ở Việt Nam giai đoạn 1979-1999 ở Việt Nam giai đoạn 1979-1999 ệt Nam giai đoạn 1979-1999 đoạn 1979-1999 ạn 1979-1999
1979 1989 1997 1999
Công nhân kỹ thuật 68,6 44,9 40,8 30,3
Trung học chuyên nghiệp 21,7 35,2 35,4 36,8
Cao đẳng , đại học 9,7 19,9 23,8 32,9
Nguồn: Thời báo kinh tế, số 13 ngày 31/1/2000
Trang 12Nhìn vào biểu trên ta thấy, nếu như năm 1979, cơ cấu lực lượng lao động kỹthuật của nước ta là tương đối phù hợp với yêu cầu thực hiện CNH-HĐH đất nước (tỷ
lệ phổ biến của cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật của các nước đã thành công trongCNH-HĐH là 1 đại học, cao đẳng/ 4 trung học chuyên nghiệp/10 công nhân kỹ thuật
và lúc đó tỷ lệ tương ứng của ta là 1/2, 2/7, 1) Nhưng sau 10 năm (đến năm 1989) tỷ
lệ đó chuyển dịch theo hướng lệch đi (1/1, 8/2 ,2), bộc lộ rõ tình trạng “thừa thầy, thiếuthợ”, đến năm 1997 là 1/1,5/1,7 và đến năm 1999 tỷ lệ này càng chệch hướng thêmnữa (1/1,2/0,92), nó gần như “lộn ngược” với các nước khác Cũng từ biểu trên ta thấy
số lao động có trình độ đại học, cao đẳng trở lên từ năm 1979 đến năm 1989 tăng rấtnhanh (3,4 lần), trong thời gian đó số công nhân kỹ thuật lại giảm rất nhanh (2,26 lần)
Vì thế, chúng ta đang còn ở trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” rất nghiêm trọng.Theo báo cáo của bộ giáo dục và đào tạo, trong 10 năm (1986-1996), số học sinh họcnghề giảm 35%, số giao viên dạy nghề giảm 31%, số trường dạy nghề giảm 41%,trong khi đó có 70-80% số sinh viên tốt nghiệp đại học cao đẳng ra trường không cóviệc làm, riêng nghành y hiện nay có trên 3000 bác sỹ không có việc làm
Thứ tư, lực lượng lao động là chủ yếu trong cơ cấu lao động trong ngành Sự
nghiệp CNH đã được tiến hành vài thập kỷ song cho đến nay nền kinh tế nước ta vẫncòn mang nặng dấu ấn một nền kinh tế thuần nông, thể hiện rõ trong cơ cấu nguồn laođộng theo ngành Năm 1993, lao động nông nghiệp chiếm tới 71%, trong khi đó laođộng công nghiệp chỉ chiếm 12% và dịch vụ 17% trong tổng lực lượng lao động xãhội Năm 1998, cơ cấu lao động theo ngành đã có những chuyển biến tích cực, nhưng
so với yêu cầu còn rất chậm: lao động nông nghiệp giảm còn 66% và lao động côngnghiệp, dịch vụ tăng lên 13% và 21% So với một số nước trong khu vực, cơ cấu lựclượng lao động của nước ta như vậy là còn rất lạc hậu Chẳng hạn, năm 1997, tỷ trọnglao động nông nghiệp của Mianma giảm xuống còn 51,8%, Malayxia còn 14,8%,Indonexia còn 39,2%, Phillipin 37,2%, Thái Lan 49,2%
Để có nền kinh tế tiên tiến, hiệu quả vấn đề không chỉ đơn thuần thay đổi cơcấu ngành kinh tế, mà quan trọng hơn là thay đổi cơ cấu lao động, cơ cấu dân số Hiệntại vẫn còn khoảng gần 70% lao động nằm trong khu vực I (nông nghiệp, lâm nghiệp,thuỷ sản) và 80% dân số sống ở vùng nông thôn thì việc thực hiện CNH-HĐH rấtkhông dễ dàng Điều này cho thấy tính phức tạp của việc chuyển từ một nền kinh tế
Trang 13nông nghiệp lạc hậu sang một nền kinh tế có vóc dáng hiện đại, và cũng phải biết từ bỏtham vọng đốt cháy giai đoạn để tránh những bệnh do hình thức mà ra.
Từ năm 1980 đến năm 1997, dân số tăng 1,3 lần, lao động tăng 1,7 lần, riênglao động trong nông nghiệp là 1,75 lần nhưng diện tích trồng trọt là 1,38 lần Do đó,diện tích gieo trồng tính bình quân năm 1997 giảm đi Vì vậy, cần phải tăng mạnhnăng suất lao động trong nông nghiệp để cải thiện tình hình
Thứ năm, thiếu cân đối trong cơ cấu lao động theo vùng lãnh thổ Hiện nay, tỷ
trọng lao động ở hai vùng đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long caonhất nước (20,5% và 21,7% tổng lực lượng lao động xã hội) Trong khi đó vùng TâyNguyên rộng lớn, lực lượng lao động chỉ có 4%, vùng duyên hải Miền Trung 10,4% vàĐông Nam Bộ 12,7% Sự mất cân đối này không chỉ gây nên khó khăn cho vấn đềcông ăn việc làm mà còn ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã hội cũng như an ninhquốc phòng của quốc gia
Thứ sáu, chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra rất chậm theo ngành kinh tế Vai
trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thực ra không dừng lại ở chỗ nó chiếm baonhiêu phần trăm trong GDP mà ở chỗ nó thu hút đến trên 80% lực lượng lao động xãhội (bảng 4 và 5):
Bảng4: Thay đổi lao động trong khu vực nhà nước 1990-1995
Tổng số lao động (nghìn) 30286 30994 31815,2 32718 33663,9 34589,6Khu vực nhà nước 3415,7 3135,7 2975,2 2960,4 2928,3 3053,1
Tỷ trọng (%) 11,3 10,1 9,4 9,0 8,7 8,8Tăng, giảm (nghìn) -280 -160,5 -14,8 -32,1 124,8
Nguồn: Niên giám thống kê
Trang 14Bảng 5: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
Đơn vị: %
1994 1995 1996 1997
(1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2)Tổng số 33,664 8,70 34,950 8,83 35,792 8,77 33,994 8,83Khu vực I
Nông nghiệp và Lâm nghiệp
Thuỷ sản
71,6869,991,69
1,241,231,68
69,7468,001,74
1,211,201,48
69,2267,481,74
1,041,031,49
68,7867,071,70
1,011,001,35
22,7973,3319,0732,2127,25
13,250,609,330,442,88
22,9349,0818,5635,1529,78
12,930,599,190,432,72
23,3746,4819,0939,4630,18
12,520,578,900,412,64
24,7352,619,3838,5634,65
31,628,9817,7734,4341,8865,8656,7291,99
17,025,461,462,260,370,110,161,13
29,0710,516,8324,9637,6669,7951,7252,00
17,850,631,542,390,350,110,211,14
28,169,617,2724,4939,6681,6344,2153,10
18,707,221,402,310,340,110,211,11
26,957,687,1923,0041,7879,6344,1357,60
Trang 15Giáo dục và đào tạo
75,5544,2528,2768,154,00
2,810,810,270,281,65
73,0158,5233,8356,322,71
2,780,820,720,281,66
74,4957,2433,7254,912,78
2,700,800,260,271,61
77,7558,5134,7264,663,68
Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê
(1): Tổng số lao động: Triệu người, cơ cấu lao động là % trong tổng số
(2): Tỷ lệ lao động trong khu vực nhà nước trong tổng số lao động của mỗi ngànhkinh tế
Bảng 4 cho ta thấy lao động trong khu vực nhà nước chỉ chiếm 10% trong tổng
số lao động đang làm việc Năm 1990, tỷ trọng đó là 11,3%, năm 1994 còn 10,1% vànăm 1995 còn 8,8% và duy trì ở mức đó cho đến nay (nhưng trong tương lai sẽ còngiảm) Theo số liệu thống kê thì từ năm 1991 đến năm 1994, khu vực nhà nước đã đưa
ra gần nửa triệu lao động và chính khu vực ngoài quốc doanh đã tiếp nhận phần lớn sốlao động này
Ta hãy xét bảng 5 ở trên để thấy được cơ cấu lao động và quá trình phân bổ lạilực lượng lao động trong nền kinh tế từ năm 1994 đến năm 1997 Khu vực I chiếm70% lao động đang làm việc, khu vực II chỉ chiếm vào khoảng 13% và còn lại là khuvực dịch vụ trên dưới 17% Lao đông trong khu vực I có xu hướng giảm, khu vực IIgần như không thay đổi và khu vực III có chiều hướng gia tăng, nhưng nói chung sựthay đổi là không đáng kể, qqua trình phân bổ lại lực lượng lao động giữa các ngànhkinh tế lớn vẫn chưa diễn ra, khu vực I vẫn còn quá lớn và hầu hết là ngoài quốcdoanh Khu vực nhà nước chiếm tỷ trọng lớn và hầu như bao trumg ở những ngànhcông nghiệp, những ngành đòi hỏi có trình độ kỹ thuật và đào tạp tốt Có hay không sựtrùng hợp về lao động từ khu vực nhà nước chảy sang khu vực tư nhân từ năm 1991đến năm 1994 làm cho tỷ lệ tăng trưởng cao, và khi khu vực nhà nước thu hút lao độngtrở lại thì qúa trình tăng trưởng bị giảm sút là điều còn theo dõi và phân tích về sau
Trang 16này Từ bảng trên cho thấy trong khu vực ngoài quốc doanh hầu hết là nông nghiệp vànhững ngành nghề đơn giản, trình độ kỹ thuật thấp, ít được đào tạo, vì thếviệc phân bổlại lực luợng lao động trong thời gian tới sẽ hết sức khó khăn.
Thứ bảy, năng suất lao động của nước ta còn rất thấp Năng suất lao động xã
hội có thể hiểu là lượng GDP do một lao động làm ra trong năm Chúng ta có thể thấymối quan hệ giữa lao động và vốn đầu tư qua bảng sau đây:
B ng 6: N ng su t lao ảng 6: Năng suất lao động và trang bị vốn đầu tư cho lao động ăng suất lao động và trang bị vốn đầu tư cho lao động ất lao động và trang bị vốn đầu tư cho lao động đoạn 1979-1999ộng và trang bị vốn đầu tư cho lao độngng v trang b v n à trang bị vốn đầu tư cho lao động ị vốn đầu tư cho lao động ốn đầu tư cho lao động đoạn 1979-1999ầu tư cho lao động ư cho lao độngu t cho lao đoạn 1979-1999ộng và trang bị vốn đầu tư cho lao độngng
GDP(triệu đồng)/1 LĐ Vốn ĐT(triệu đồng)/1 LĐ
1995 1996 1997 1995 1996 1997Chung trong nền kinh tế 5,65 5,97 6,25 1,68 1,89 2,14Kinh tế nhà nước 25,67 27,79 29,27 6,72 9,73 11,66
Nguồn: Tính toán từ thống kê
Tính theo giá cố định năm 1994, năng suất lao động xã hội năm 1995 là 5,65triệu đồng, năm 1996 là 5,97 triệu đồng và năm 1997 là 6,25 triệu đồng Nghĩa là có sựgia tăng liên tục năng suất lao động trung bình của toàn xã hội nhưng bức tranh năngsuất trong từng ngành lại rất khác nhau: năng suất thấp và hầu như không tăng trongkhu vực I với ngành nông nghiệp và thuỷ sản; ở khu vực III có năng suất khá caonhưng không có gia tăng trong các năm 1995-1997 Kinh tế nhà nước với các ngànhcông nghiệp, dịch vụ có mức năng suất cao và tăng nhanh qua các năm, nhưng ở khuvực I, khu vực lao động của ngoài quốc doanh thì lại có năng suất rất thấp và sự giatăng không đáng kể Nguyên nhân chính là vốn đầu tư cho một lao động ở khu vực II,III cao hơn so với khu vực I và ở khu vực I hầu như không tăng qua các năm 1995-
1997 về mức vốn đầu tư cho một lao động
2.3 Nguyên nhân gây ra những bất cập
Thứ nhất, do có sự suy giảm đáng kể đào tạo nghề dài hạn, mất cân đối với đào
tạo nghề ngắn hạn Điều này có nguồn gốc từ những nỗ lực chưa đủ mức của chínhngành giáo dục và đào tạo