Bằng phương pháp thu thập thông tin nguồn thứ cấp, phương pháp tổng hợp, phântích thông tin thu thập được; đề tài đã chỉ ra nội dung quản lý nhà nước với phạm vitrung ương và tỉnh Hải Dư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Giáo viên hướng dẫn:
- Họ và tên: TS Thân Danh Phúc
- Bộ môn: Kinh tế thương mại
Sinh viên thực tập
- Họ và tên: An Thị Thanh Thanh
- Lớp: 46F2
Trang 2HÀ NỘI, 2014 TÓM LƯỢC
Việc nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại cácchợ là rất cần thiết đối với sự phát triển thương mại cả nước nói chung và hoạt độngthương mại trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng Chợ là một loại hình thương mạitruyền thống, lâu đời không thể không đề cập đến khi nghiên cứu về hạ tầng thươngmại Thông qua hoạt động kinh doanh chợ góp phần thúc đẩy tiêu dùng, thúc đẩy tiêuthụ sản phẩm và gắn kết thị trường, cuối cùng thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển;
do đó làm tăng thu nhập, mức sống người dân nâng cao đảm bảo ổn định và tiến bộkinh tế xã hội Để hoạt động kinh doanh tại các chợ diễn ra hiệu quả thì vai trò của cơquan chức năng trong việc ban hành và thực thi chính sách quản lý; định hướng, dẫndắt các hộ kinh doanh, thương nhân trong quá trình hoạt động thực hiện theo đườnglối đúng đắn là rất quan trọng
Bằng phương pháp thu thập thông tin nguồn thứ cấp, phương pháp tổng hợp, phântích thông tin thu thập được; đề tài đã chỉ ra nội dung quản lý nhà nước với phạm vitrung ương và tỉnh Hải Dương về hoạt động kinh doanh tại các chợ; trình bày hệ thốngchợ của tỉnh Hải Dương và kết quả kinh doanh tại các chợ, thực trạng công tác quản lýđối với hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây
Từ đó, thấy được những mặt tích cực, những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lýnhà nước, sự cần thiết của việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinhdoanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương để có những giải pháp, kiến nghị hợp lýphát triển hệ thống chợ nhằm phát triển hạ tầng thương mại tạo nền tảng cho hoạtđộng thương mại hiệu quả
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu đề tài tốt nghiệp, ngoài nỗ lực của bản thân về việctìm hiểu, thu thập thông tin em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân,tập thể trong và ngoài nhà trường
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Trường Đại Học ThươngMại, các thầy cô giáo Khoa Kinh tế _ Luật đã có những định hướng đúng đắn cho emtrong học tập và rèn luyện đạo đức trong suốt 4 năm học
Đặc biệt, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Thân Danh Phúc –Trưởng bộ môn Kinh tế thương mại đã dành nhiều thời gian hướng dẫn tận tình giúp
em hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Và cuối cùng, em xin cảm ơn phòng Quản lý thương mại của Sở Công ThươngHải Dương đã tạo điều kiện thuận lợi, chỉ bảo, giúp đỡ em trong thời gian thực tập tạiđơn vị
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2014
Sinh viên
An Thị Thanh Thanh
Trang 4MỤC LỤC TÓM LƯỢC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan công trình nghiên cứu liên quan 2
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 3
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 5
5.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 5
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CHỢ 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.1 Khái niệm chợ 6
1.1.2 Hoạt động kinh doanh tại chợ 7
1.1.3 Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại chợ 8
1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ 8
1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về chợ 8
1.2.2 Một số quy định của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại chợ 11
1.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ 16
1.3.1 Do vai trò của chợ và lợi ích kinh doanh tại các chợ 16
Trang 51.3.2 Xu hướng phát triển hệ thống thương mại 17
1.3.3 Do hạn chế trong phát triển chợ và kinh doanh tại các chợ 17
1.3.4 Thực trạng quản lý chợ còn những hạn chế 17
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 18
2.1 Khái quát hệ thống chợ và hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 18
2.1.1 Hệ thống chợ 18
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh tại các chợ 21
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ 24
2.2.1 Công tác ban hành, phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp luật 24
2.2.2 Tổ chức quản lý kinh doanh và khai thác chợ 25
2.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chợ 27
2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và công tác quản lý nhà nước tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 31
2.3.1 Những kết quả đạt được của quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 31
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 32
2.3.3 Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 34
CHƯƠNG III: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 37
3.1 Quan điểm, định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 37
3.1.1 Định hướng phát triển hệ thống chợ và hoạt động kinh doanh tại chợ 37
3.1.2 Quan điểm hoàn thiện QLNN đối với HĐKD tại các chợ 38
3.1.3 Định hướng hoàn thiện QLNN đối với HĐKD tại chợ 38
3.2 Đề xuất giải pháp để hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 39
Trang 63.2.1 Về tổ chức quản lý và ban hành, phổ biến chính sách, pháp luật 39
3.2.2 Giải pháp thu hút vốn đầu tư, chuyển đổi mô hình quản lý chợ 41
3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý 42
3.2.3 Giải pháp về công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 43
3.3 Các kiến nghị để hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 44
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 44
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Công Thương 44
3.3.3 Kiến nghị với Sở Tài chính 44
3.3.4 Kiến nghị với Sở Kế hoạch và đầu tư 44
3.3.5 Kiến nghị với Công an tỉnh Hải Dương 44
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số lượng chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2013
Bảng 2.2 Hiện trạng một số chợ loại 1 và loại 2 trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Bảng 2.3 Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng, cải tạo chợ giai đoạn 2011-2013
Bảng 2.4 Doanh thu và tỷ trọng LCHH qua các chợ trên địa bàn tỉnh Hải DươngBảng 2.5 Tỷ trọng doanh thu tại các chợ phân hạng tỉnh Hải Dương
Bảng 2.6 Mức thu phí chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Bảng 2.7 Số vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn tỉnhHải Dương trong những năm 2011-2013
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 2.1 Cơ cấu hàng hóa tại chợ Hải Dương
14%
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong những năm gần đây, mặc dù bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế song với
xu hướng toàn cầu hóa, kinh tế xã hội thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn cónhững bước chuyển tích cực, thu nhập và chất lượng cuộc sống ngày càng được cảithiện, nhu cầu trao đổi cũng thay đổi theo chiều hướng hiện đại hóa Vì vậy có nhiềuphương thức lưu thông hàng hóa ra đời như: siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng
tự chọn…đang dần chiếm được sự hài lòng của người tiêu dùng Tuy nhiên, theo Cụcdân số và kế hoạch hóa gia đình có hơn 70% số dân Việt Nam sống tại khu vực nôngthôn nơi mà điều kiện kinh tế xã hội chưa phát triển, thói quen tiêu dùng của hầu hếtngười dân còn mang tính chất truyền thồng là mua sắm tại chợ Vì vậy có thể nói chợ
đã trở thành một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong mạng lưới thương mại khôngchỉ ở nông thôn mà cả khu vực thành thị Sự phát triển của hoạt động kinh doanh tạichợ góp phần vào sự phát triển thương mại
Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọngđiểm Bắc bộ, cũng là một tỉnh có hệ thống chợ được hình thành và duy trì từ lâu Hệthống chợ của Hải Dương là nơi các hộ kinh doanh, các thương nhân thực hiện cácgiao dịch hàng ngày, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân trên địa bàn tỉnh Tuynhiên, tại một số huyện, thị xã thuộc tỉnh Hải Dương, HĐKD ở các chợ còn kém hiệuquả bởi một số nguyên nhân sau:
- Nhiều chợ được hình thành tự phát, phân bố không đồng đều nên công tácquản lý không được kiểm soát chặt chẽ, cũng như HĐKD tại các chợ này không đượcquy định, điều chỉnh theo chính sách, pháp luật
- Cơ sở vật chất kĩ thuật tại hầu hết các chợ chưa được đầu tư hợp lý, nguồn vốn huyđộng cho đầu tư xây dựng chợ còn hết sức khó khăn, nên công tác xử lý rác thải trong hoạtđộng trao đổi tại các chợ chưa được quan tâm, gây ô nhiễm môi trường và không đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các mặt hàng tươi sống Bên cạnh đó, hệ thống an ninh,phòng, chống cháy nổ không đầy đủ gây nguy cơ cháy nổ cao
- Các chính sách về quản lý chợ hiện nay chưa phù hợp với quy hoạch toànngành thương mại, quy hoạch mạng lưới chợ trên địa bàn, công tác quản lý chợ củacác bộ phận chịu trách nhiệm còn nới lỏng tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanhkhông hiệu quả, không khoa học, phi pháp diễn ra Bên cạnh đó là ý thức chấp hànhquy định, chính sách của các hộ kinh doanh và người tiêu dùng còn yếu
Với các hạn chế này, cần thiết có sự vào cuộc của cơ quan chức năng để hoànthiện nội dung, chính sách quản lý đối với các HĐKD tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải
Trang 11Dương để hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh là một bộ phận không thể tách rời trong hệthống kết cấu hạ tầng thương mại của toàn tỉnh.
Qua các vấn đề cơ bản trên, em xin đề xuất đề tài “ Hoàn thiện quản lý nhà
nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương”
2 Tổng quan công trình nghiên cứu liên quan
Về vấn đề QLNN đối với HĐKD tại các chợ có nhiều công trình nghiên cứu.Dưới đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan:
Nguyễn Thu Quỳnh (2012), Hoàn thiện quản lý nhà nước của Sở Công
thương Hà Nội nhằm phát triển hệ thống chợ trên địa bàn thành phố, Luận văn tốt
nghiệp khoa Thương mại và kinh doanh quốc tế - Đại học Kinh tế Quốc dân
Luận văn đã làm rõ thực trạng đầu tư, phân bố, quy hoạch, kinh doanh tại cácchợ trên địa bàn, cũng như hoạt động QLNN của Sở Công thương Hà Nội nhằm pháttriển hệ thống chợ Và công trình nghiên cứu này cũng đã phát hiện được các vấn đềcòn hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế về công tác QLNN đối với hệthống chợ Luận văn đã đưa ra định hướng và giải pháp khá chi tiết để giải quyết vấn
đề tồn tại nhằm phát triển hệ thống chợ trên địa bàn Hà Nội, đặc biệt là các giải phápliên quan tới cơ chế, chính sách quản lý
Vũ Thị Lý (2011), Chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh thương mại ở các chợ trên địa bàn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, Luận
văn tốt nghiệp khoa Kinh tế - Đại học Thương Mại
Luận văn này chủ yếu nghiên cứu đối tượng là các chính sách QLNN đối vớiHĐKD ở các chợ, đi sâu nội dung và thực trạng thực hiện các chính sách đó trên địabàn nghiên cứu Trình bày chi tiết về các thủ tục, quy định về đăng ký kinh doanh, mặthàng kinh doanh, đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm, thu phí tại cácchợ Vì vậy đề tài cũng đã phát hiện ra các nguyên nhân từ phía nhà nước đối với cáchạn chế trong chính sách quản lý HĐKD chợ, từ đó đưa ra các giải pháp cũng hướng
về phía các cơ quan chức năng nhằm ban hành và thực thi hiệu quả các chính sáchquản lý HĐKD tại các chợ trên địa bàn thành phố Ninh Bình
Hà Thị May (2011), Chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh ở các trung tâm thương mại và siêu thị trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, Luận văn
tốt nghiệp khoa Kinh tế - Đại học Thương Mại
Luận văn nghiên cứu hoạt động thương mại tại các trung tâm thương mại vàsiêu thị, là loại hình thương mại hiện đại hiện nay Bài nghiên cứu đã sử dụng các môhình nghiên cứu về thương mại quốc tế, các lý thuyết kinh tế của các trường phái cổđiển và cả các lý thuyết kinh tế hiện đại để làm cơ sở nghiên cứu đề tài Luận văn đãnêu rõ thực trạng HĐKD và thực trạng QLNN đối với các HĐKD tại các trung tâm
Trang 12thương mại và siêu thị trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, tập trung vào nghiên cứu nội dungcác chính sách QLNN của trung ương và địa phương; đưa ra các giải pháp mang tínhchiến lược đối với tỉnh Bắc Giang để hoàn thiện chính sách QLNN về HĐKD tại cácloại hình kinh doanh thương mại này.
Những kế thừa và rút kinh nghiệm từ các công trình nghiên cứu trên:
- Đề tài đã đưa ra hệ thống lý luận chặt chẽ, phù hợp với phạm vi nghiên cứu,
đi sâu vào nội dung thực trạng QLNN đối với HĐKD tại chợ trên địa bàn nghiên cứu
- Kế thừa những nghiên cứu về nội dung các quy định, chính sách QLNN đốivới HĐKD ở các chợ thuộc phạm vi cả nước về đăng ký kinh doanh, mặt hàng kinhdoanh đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm để có sự đối sánh khi phân tích thựctrạng nội dung và việc thực hiện các hoạt động quản lý tại các cấp địa phương HảiDương
Sự khác biệt của luận văn với ba công trình nghiên cứu trên:
- Đề tài nghiên cứu công tác QLNN đối với HĐKD tại các chợ trên địa bàntỉnh Hải Dương là đề tài có sự khác biệt về đối tượng và phạm vi nghiên cứu so với bacông trình trên
- Đề tài không đi sâu nghiên cứu nội dung các chính sách mà chỉ ra những kếtquả đạt được và những mặt còn hạn chế trong QLNN để có những giải pháp phù hợphoàn thiện hơn QLNN đối với HĐKD trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Vì vậy có thể khẳng định đề tài “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt
động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương” có tính mới về nội dung
và không trùng lặp với đề tài nghiên cứu nào khác
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Cùng với sợ phát triển của kinh tế thị trường, sự phát triển ngày càng nhanh và
đa dạng các loại hình thương mại bên cạnh các hình thức thương mại truyền thống Để
hệ thống chợ Việt Nam nói chung và chợ trên địa bàn Hải Dương nói riêng không bịlạc hậu trong sức ép của quá trình hội nhập và có đủ sức cạnh tranh với các nhà phânphối trong nước và nước ngoài, Nhà nước cần quan tâm đầu tư xứng đáng trong việcđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, ban hành các chính sách quản lý thiết thực và có tínhlâu dài
Nhận định rõ tính cấp thiết trong việc hoàn thiện QLNN đối với HĐKD tại chợhiện nay, đề tài đã tập trung nghiên cứu và trả lời các câu hỏi liên quan đến: Chợ là gì?Hoạt động kinh doanh là gì? Thế nào là hoạt động kinh doanh tại chợ? QLNN vềHĐKD tại chợ là như thế nào? Có những nội dung gì trong QLNN đối với HĐKD tạichợ? Tỉnh Hải Dương đã ban hành các nội dung quản lý nào? Việc thực hiện các chínhsách quản lý của tỉnh đã phù hợp hay chưa, có sự phối hợp với các Bộ, Sở, ban ngành
Trang 13như thế nào? Tỉnh Hải Dương đã đạt được kết quả gì trong QLNN đối với HĐKD tạichợ trong thời gian qua? Những giải pháp nào là cần thiết để khắc phục các hạn chếnhằm hoàn thiện QLNN đối với HĐKD tại chợ trên địa bàn tỉnh?
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu HĐKD thương mại trong mối quan hệ với đầu tư phát triển chợ đểđảm bảo điều kiện kinh doanh cho các hộ buôn bán trong chợ và thúc đẩy thương mạitrên địa bàn tỉnh Hải Dương
Các công cụ, chính sách của nhà nước và của tỉnh Hải Dương đối với quản lýcác HĐKD tại các chợ; tác động của các chính sách đó đối với các hộ kinh doanh,thương nhân và người tiêu dùng trong quá trình tham gia mua bán tại chợ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu một số nội dung quản lý của nhà
nước và tỉnh Hải Dương đang áp dụng về quy định kinh doanh khai thác và quản lýchợ, các mô hình kinh doanh khai thác và quản lý chợ, quản lý điểm kinh doanh chợ,nội quy liên quan tới HĐKD của các thương nhân, mặt hàng kinh doanh, công tácthanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
- Phạm vi thời gian: Thực trạng HĐKD và thực thi các nội QLNN về HĐKD tại
các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong 3 năm 2011- 2013 Đề ra định hướng pháttriển, giải pháp hoàn thiện QLNN đối với HĐKD tại các chợ cho năm 2014 và cácnăm tiếp theo
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về các HĐKD tại các chợ
trên địa bàn tỉnh Hải Dương và hoạt động của các cơ quan quản lý HĐKD tại chợ liênquan gồm Sở Công Thương, UBND huyện, xã
4.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Về lý luận: Đề tài khái quát các lý luận, cung cấp cái nhìn tổng quát về cácchính sách QLNN đối với HĐKD tại chợ Đồng thời, trình bày nội dung các công việcchủ yếu của QLNN thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương, các sở quản lýngành của địa phương liên quan tới quản lý các HĐKD tại chợ; từ đó làm cơ sở choviệc nghiên cứu đề tài
- Về thực tiễn:
+ Chỉ ra nội dung, biện pháp quản lý trong 3 năm 2011-2013 của các cơ quanchức năng tỉnh Hải Dương đối với HĐKD tại các chợ trên địa bàn tỉnh dựa trên cáchướng dẫn của cơ quan Trung ương
+ Xem xét việc thực hiện các quy định về HĐKD tại chợ Hải Dương của cácchủ thể tham gia kinh doanh cũng như của cán bộ quản lý
Trang 14+ Đánh giá hiệu quả của công tác quản lý và thi hành quy định trong QLNN đốivới HĐKD tại chợ bằng cách chỉ ra những thành công, phát hiện được vấn đề là hạnchế cũng như nguyên nhân của hạn chế đó.
+ Từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị với các cơ quan chức năng có thẩm quyền
để giải quyết được các hạn chế nêu trên
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Các thông tin của luận văn được tổng hợp từ nguồn dữ liệu sơ thứ cấp Dữ liệuthứ cấp: Là các thông thông tin, dữ liệu đã được phân tích, thống kê, thảo luận, diễngiải Các nguồn thu thập thông tin thứ cấp để phục vụ nghiên cứu đề tài bao gồm: giáotrình, sách báo, tạp chí, internet, luận văn, báo cáo của phòng Quản lý thương mại của
Sở Công thương Hải Dương…
5.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
Các thông tin, dữ liệu thu thập được từ các nguồn thứ cấp là các văn bản phápluật, các quyết định, các tài liệu có liên quan được chọn lọc, phân tích và tổng hợp,luận giải theo nội dung từng vấn đề nghiên cứu
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp kết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ
trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Chương III: Các đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt
động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Trang 15CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CHỢ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm chợ
a, Khái niệm chợ
- Theo Đại Từ điển tiếng Việt - NXB Văn hoá Thông tin - 2004 (tr.155): "Chợ
là nơi tụ họp giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hoá, thực phẩm hàng ngàytheo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên)
- Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP về phát triển và quản lý chợ , Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 01 năm 2003 “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được
hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theoquy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khuvực dân cư"
Vậy, chợ là một loại hình thương mại có tính chất truyền thống, là bộ phận cấuthành quan trọng trong mạng lưới thương mại xã hội; chợ là nơi diễn ra hoạt động traođổi mua bán để thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của người dân; được hình thành và pháttriển do yêu cầu sản xuất, lưu thông và tiêu dùng xã hội
b, Phân hạng chợ
Theo cách phân hạng chợ trong Điều 3 Nghị định số 11/VBHN-BCT về phát
triển và quản lý chợ, Chính phủ ban hành, ngày 23 tháng 1 năm 2013, dựa trên các tiêu
chuẩn nhất định chợ được phân hạng như sau:
- Chợ hạng 1: Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên
cố, hiện đại theo quy hoạch Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quantrọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế vàđược tổ chức họp thường xuyên Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạtđộng của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa,kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, vệsinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác
- Chợ hạng 2: Là chợ có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh,
được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch Được đặt ở trung tâmgiao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thườngxuyên Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức cácdịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch
vụ đo lường, vệ sinh công cộng
Trang 16- Chợ hạng 3: Là các chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được
đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hànghóa của nhân dân trong xã, phường và địa bàn phụ cận
c, Một số khái niệm khác
- Phạm vi chợ: là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao
gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, khohàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ
- Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hóa lớn
từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tụcphân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác
- Chợ kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên 10 năm.
- Chợ bán kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng từ 5 đến 10 năm.
- Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng được
bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩn tốithiểu là 3m2/ điểm
- Chợ chuyên doanh: là chợ kinh doanh chuyên biệt một ngành hàng hoặc một
số ngành hàng có đặc thù và tính chất riêng
- Chợ tổng hợp: là chợ kinh doanh nhiều ngành hàng.
- Chợ dân sinh: là chợ hạng 3 (do xã, phường quản lý) kinh doanh những mặt
hàng thông dụng và thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của người dân
- Chợ tạm: là chợ nằm trong quy hoạch nhưng chưa được xây dựng kiên
cố hoặc bán kiên cố
- Chợ nông thôn: là chợ xã của các huyện và ở khu vực ngoại thành, ngoại thị.
1.1.2 Hoạt động kinh doanh tại chợ
a, Hoạt động kinh doanh
HĐKD được hiểu là một quá trình liên tục từ nghiên cứu thị trường và tìm cáchđáp ứng nhu cầu đó thông qua việc thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng để đạt được mụcđích lợi nhuận
HĐKD là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tếhàng hóa, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương diện mà chủ thểkinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu
tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ…) trên cơ sở vận dụng các quy luật giá trịcùng với các quy luật khác, nhằm đạt được nhằm mục tiêu vốn sinh lời cao nhất
b, Hoạt động kinh doanh tại chợ
HĐKD tại chợ là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nềnkinh tế hàng hóa, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương diện mà chủ
Trang 17thể hoạt động ở chợ sử dụng để thực hiện các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóadịch vụ của mình tại các chợ trên cơ sở vận dụng các quy luật giá trị cùng với các quyluật khác, nhằm mục tiêu vốn sinh lời cao nhất.
1.1.3 Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại chợ
a, Quản lý nhà nước về thương mại
Trước tiên ta tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến QLNN:
Quản lý nhà nước: là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhànước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì vàphát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng
và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổquốc xã hội chủ nghĩa
QLNN về kinh tế: là quá trình tác động có ý thức và liên tục, phù hợp với quyluật của các cơ quan quản lý nhà nước trên tầm vĩ mô đến các hoạt động kinh tế, cácquy trình kinh tế nhằm tạo ra kết quả theo mục tiêu xác định trong điều kiện môitrường luôn biến động
QLNN về thương mại: là một bộ phận hợp thành của QLNN về kinh tế, là sựtác động có hướng đích, có tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý trên tầm vĩ mô vềthương mại các cấp đến hệ thống bị quản lý thông qua việc sử dụng các công cụ vàchính sách quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện môi trường xác định
b, Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại chợ
QLNN đối với HĐKD tại chợ là sự tác động của cơ quan quản lý Nhà nước đếnhoạt động trao đổi mua bán của các chủ thể kinh tế hoạt động tại chợ bằng các công
cụ, chính sách, biện pháp quản lý nhằm đạt được mục tiêu
- Cơ quan quản lý: là ngành công thương và các sở ngành liên quan như tàichính, môi trường, y tế, an ninh…
- Đối tượng quản lý: là hoạt động trao đổi, mua bán của các chủ thể tại chợ
- Công cụ quản lý: bao gồm các chính sách, hệ thống văn bản quy phạm phápluật, thủ tục, quy định liên quan đến HĐKD ở chợ
- Mục tiêu quản lý: nhằm đảm bảo các HĐKD tại chợ diễn ra đúng với quy địnhcủa pháp luật để duy trì sự ổn định và phát triển hệ thống chợ
1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ 1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về chợ
a, Nội dung quản lý nhà nước về chợ
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, phương hướng phát triển chợ từng thời kỳ phùhợp với quy hoạch, kế hoạch, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa
Trang 18phương, khu vực, đáp ứng nhu cầu của sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng củanhân dân.
- Ban hành các chính sách đầu tư, xây dựng, khai thác và quản lý hoạt động chợ
- Quản lý các chợ Nhà nước đầu tư xây dựng theo quy định về phân cấp quản lý
- Chỉ đạo, hướng dẫn các BQL chợ, doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản
Bộ Công Thương có trách nhiệm:
- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu trình Chính phủ banhành, sửa đổi, bổ sung các chính sách và phương hướng về phát triển và quản lý hoạtđộng chợ
- Chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa BQL chợ
- Ban hành Nội quy chợ mẫu và các văn bản hướng dẫn về quản lý hoạt độngkinh doanh chợ
- Quy định cụ thể và hướng dẫn chế độ báo cáo hoạt động chợ
- Chỉ đạo việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý chợ
- Chỉ đạo khen thưởng, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật và Nội quy chợ
- Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển chợtrong từng thời kỳ và hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện
- Xây dựng, điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống chợ trên toàn quốc
- Hướng dẫn và chỉ đạo UBND cấp tỉnh xây dựng hoặc điều chỉnh quy hoạchphát triển hệ thống chợ, ban hành các quy định cụ thể về phát triển, quản lý và khaithác chợ phù hợp với điều kiện của địa phương
Ngoài ra, QLNN về chợ còn có sự tham gia phối hợp của các bộ ngành liênquan, bao gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính, Bộ Nội vụ, Bộ Xây dựng, BộTài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Công an và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
c, Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
UBND các cấp có trách nhiệm chỉ đạo việc lập Quy hoạch phát triển chợ, quản
lý đầu tư xây dựng chợ theo phân cấp về đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện chức năngQLNN về chợ và các quy định sau:
UBND cấp tỉnh:
Trang 19- Quyết định giao hoặc tổ chức đấu thầu lựa chọn doanh nghiệp kinh doanh khaithác chợ.
- Quyết định thành lập và quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức củaBQL chợ đối với những chợ hạng 1 (do Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ vốn đầu tư xâydựng) đang hoạt động do BQL chợ điều hành
- Quy định cụ thể về việc sử dụng, thuê điểm kinh doanh tại chợ
- Quy định cụ thể Nội quy chợ trên cơ sở Nội quy mẫu do Bộ Công Thương banhành và phê duyệt nội quy của các chợ hạng 1
- Quy định cụ thể việc xử lý vi phạm Nội quy chợ
- Ban hành các cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm huy động, khai thác cácnguồn lực của địa phương, nhất là nguồn lực của các chủ thể sản xuất kinh doanh vànhân dân trên địa bàn để phát triển mạng lưới chợ
- Chỉ đạo việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch đầu tư xây dựng chợ hàng nămphù hợp với quy hoạch phát triển chợ cả nước và của từng địa phương; chủ động bố trínguồn vốn từ ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng chợ, đồng thời sử dụng đúngmục đích, có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ đầu tư chợ từ ngân sách trung ương
- Chỉ đạo việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch chuyển đổi các BQL chợ hạng 1
do Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng sang doanh nghiệp hoặc hợp tác
xã kinh doanh, quản lý chợ
- Chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật và chínhsách về phát triển, quản lý chợ; chỉ đạo thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động của các chợ trên địa bàn tỉnh
UBND cấp huyện:
- Quyết định thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chứccủa BQL chợ đối với các chợ hạng 2, hạng 3(do Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ vốn đầu
tư xây dựng) đang hoạt động do BQL chợ điều hành
- Phê duyệt Nội quy chợ của các chợ hạng 2 và 3
- Chỉ đạo xây dựng và phê duyệt kế hoạch chuyển đổi các BQLchợ hạng 2,hạng 3 do Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng sang doanh nghiệp hoặchợp tác xã kinh doanh, quản lý chợ
- Tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật và chínhsách về phát triển, quản lý chợ; đồng thời tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm nângcao hiệu quả hoạt động của các chợ trên địa bàn huyện
UBND cấp xã: có trách nhiệm quản lý và thực hiện các phương án chuyển đổiBQl hoặc TQL các chợ hạng 3 sang doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh) quản lý
Trang 20chợ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với các cơ quan cấp tỉnh, cấphuyện quản lý các chợ hạng 1 và hạng 2 trên địa bàn.
1.2.2 Một số quy định của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại chợ
a, Mô hình tổ chức quản lý kinh doanh và khai thác chợ
Ban quản lý chợ:
BQL chợ là đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải các chi phí, có tư cách phápnhân, có con dấu và tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước
BQL chợ có trách nhiệm quản lý tài sản nhà nước và các hoạt động trong phạm
vi chợ của một hoặc một số chợ; thực hiện ký hợp đồng với thương nhân về thuế, sửdụng điểm kinh doanh; kinh doanh các dịch vụ tại chợ; tổ chức bảo đảm công tácphòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và an toàn thực phẩm trongphạm vi chợ; xây dựng Nội quy của chợ theo đúng quy định để trình UBND cấp cóthẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ; điều hành chợ hoạt động và tổ chứcphát triển các hoạt động tại chợ; tổng hợp tình hình HĐKD của chợ và báo cáo định kỳcho các cơ quan quản lý nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Công Thương
Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ:
Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ là doanh nghiệp được thànhlập, đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, có tráchnhiệm tổ chức thực hiện các quy định dưới đây:
- Tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ
- Bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự
- Tổng hợp tình hình HĐKD của chợ và báo cáo định kỳ cho các cơ quan quản
lý Nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Công Thương
b, Nội quy chợ
Trang 21Tất cả các chợ đều phải có Nội quy chợ để áp dụng trong phạm vi chợ Nội quy
chợ được xây dựng trên cơ sở các quy định của Nghị định số 11/VBHN-BCT về Phát
triển và quản lý chợ và các quy định hiện hành của pháp luật, bao gồm:
- Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh tại chợ
- Quy định về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh tại chợ
- Quy định về người đến giao dịch, mua bán tại chợ
- Quy định về bảo đẩm an toàn phòng cháy chữa cháy
- Quy định về bảo đảm an ninh, trật tự tại chợ
- Quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm
- Yêu cầu về xây dựng chợ văn minh thương mại
- Yêu cầu về tổ chức, tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội tại chợ
c, Quy định về mặt hàng kinh doanh tại chợ
Hàng hóa, dịch vụ kinh doanh tại chợ được quy định tại Điều 12 Nghị định 11/
VBHN- BCT là hàng hóa, dịch vụ không thuộc danh mục pháp luật cấm kinh doanh và
không thuộc các loại :
- Hàng hóa có chứa chất phóng xạ và thiết bị phát bức xạ i-on hóa
- Các loại vật liệu nổ, các loại chất lỏng dễ gây cháy nổ như xăng dầu (trừ dầuhỏa thắp sáng), khí đốt hóa lỏng (gas), các loại khí nén
- Các loại thuốc bảo vệ thực vật thuộc danh mục hạn chế kinh doanh
- Các loại hóa chất độc hại thuộc danh mục kinh doanh có điều kiện
- Để đảm bảo trật tự và văn minh thương mại, hàng hóa kinh doanh tại chợ cầnđược sắp xếp theo ngành hàng, nhóm hàng và không bố trí gần nhau các loại hàng hóa
có ảnh hưởng xấu đến nhau
d, Quy định về hoạt động kinh doanh tại chợ của thương nhân
- Thương nhân có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với phạm vi ngànhnghề của từng loại chợ đều được quyền vào chợ kinh doanh sau khi có hợp đồng sửdụng điểm kinh doanh hoặc hợp đồng thuê điểm kinh doanh tại chợ với BQL chợhoặc với doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ
Trang 22- Thương nhân kinh doanh tại chợ phải thực hiện theo phương án bố trí, sắpxếp ngành nghề kinh doanh của chợ.
- Thương nhân kinh doanh tại chợ ngoài việc chấp hành các quy định của phápluật còn phải nghiêm chỉnh thực hiện Nội quy chợ và chịu sự quản lý của BQL chợhoặc của doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ
- Thương nhân được sang nhượng điểm kinh doanh hoặc cho thương nhân khácthuê lại điểm kinh doanh đang còn trong thời hạn hợp đồng
- Những người thuộc diện sản xuất nhỏ, tự tiêu thụ sản phẩm của mình (nôngdân, thợ thủ công ) và những người buôn bán nhỏ, hàng rong, quà vặt được bố trí bánhàng trong chợ ở khu vực riêng dành cho người kinh doanh không thường xuyên tạichợ và phải chấp hành Nội quy chợ
e, Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ tại chợ
Theo Quyết định số 772/2003/QĐ-BTM ngày 24/6/2003 của Bộ Thương mại
Về đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm
- Mọi người hoạt động, đi lại trong phạm vi chợ phải giữ gìn vệ sinh chung,không phóng uế, vứt (xả) rác, đổ nước, chất thải, xác động vật chết, hàng hóa kémphẩm chất, thức ăn ôi thiu bừa bãi trong phạm vi chợ
- Không đưa đồ vật bẩn, động vật vào trong nhà lồng chợ, trừ những loại nhốttrong lồng để kinh doanh Không chứa chấp, lưu giữ trong phạm vi chợ những đồ vậtgây ô nhiễm, mất vệ sinh, là mầm bệnh
- Từng điểm kinh doanh phải tự trang bị dụng cụ đựng rác riêng; hàng ngàytrước khi nghỉ bán hàng hay dọn hàng về phải quét dọn sạch sẽ điểm kinh doanh; việc
đổ rác, chất thải, đi vệ sinh cá nhân phải đúng nơi quy định
- Tham gia tổng vệ sinh chung phạm vi chợ theo lịch do đơn vị quản lý - khaithác chợ quy định .
- Các điểm kinh doanh hàng thực phẩm, ăn uống phải bảo đảm luôn sạch sẽ,thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm:phải có thiết bị, tủ kính che đậy thức ăn, thiết bị chuyên dùng để bảo quản thức ăn vàdụng cụ đựng rác, chất thải có nắp đậy kín; phải đổ rác, chất thải hàng ngày; dùngnước sạch để đun nấu, ngâm rửa thực phẩm và đồ dùng; dụng cụ phải sạch sẽ vàthường xuyên làm vệ sinh; dùng bao gói sạch để gói, đựng hàng cho khách; làm vệsinh sạch sẽ nơi bày hàng trước và sau bán hàng
- Nghiêm cấm người kinh doanh hoạt động kinh doanh khi tự phát hiện hoặc bịphát hiện đang bị mắc các bệnh truyền nhiễm theo quy định của ngành y tế
Trang 23Ngoài ra, mọi HĐKD tại chợ phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo Luật số
55/2010/QH12, Luật an toàn thực phẩm, Quốc hội ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2010.
Về phòng chống cháy nổ
- Mọi người phải có trách nhiệm và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định phápluật về PCCC; chấp hành sự phân công, điều động của đơn vị quản lý - khai thác chợkhi có sự cố xẩy ra; nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng hỏa hoạn để xâm phạm tài sảncủa Nhà nước, của tập thể và của công dân
- Nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng các chất, vật liệu, dụng
cụ dễ cháy nổ trong phạm vi chợ; không được lập bàn thờ, thắp hương (nhang), xôngtrầm; đốt nến, hóa vàng mã, đốt các loại giấy tờ, chất liệu khác ; không đun nấu (kể
cả việc sử dụng bếp gas, bếp điện để đun nấu), xông đốt, sử dụng lửa trần và không sửdụng bàn là ở điểm kinh doanh cũng như trong phạm vi chợ
- Khu vực được phép sử dụng bếp đun nấu (như ở nơi bán hàng ăn), sử dụngbàn là (như cửa hàng may mặc, giặt là) trong phạm vi chợ phải bảo đảm tuyệt đối antoàn về PCCC và an toàn điện; bếp đun phải đảm bảo không khói, không gây ô nhiễmmôi trường; khi nghỉ kinh doanh mọi bếp đun nấu phải dập tắt lửa hoàn toàn, phải ngắtbàn là, bếp điện khỏi nguồn điện
- Không treo hàng, bày hàng vào hành lang an toàn, hệ thống dây điện, thiết bịđiện, đường cản lửa (dưới đất, trên không), lấn chiếm đường đi lại, đường thoát nạn,cửa ra vào, cửa thoát nạn
- Phải chấp hành các quy định an toàn về điện, chỉ được sử dụng các thiết bị, vật liệuđiện được đơn vị quản lý - khai thác chợ cho phép và/hoặc đã ghi trong hợp đồng ; nghiêmcấm sử dụng thiết bị, vật liệu điện tự tạo (như dùng giấy bạc hoặc dây kim loại khác khôngphù hợp để thay thế cầu chì bị đứt, áp tô mát bị hỏng ) hoặc tự ý sửa chữa, mắc thêm dâyđiện, ổ cắm, công tắc (lắp bảng điện), các thiết bị tiêu thụ điện ngoài thiết kế có sẵn; cấm
sử dụng điện để đun nấu ; không được tự ý đưa các nguồn điện khác và thiết bị phát điệnvào sử dụng trong phạm vi chợ Trường hợp hộ kinh doanh có nhu cầu sử dụng điện chomáy chuyên dùng hay sử dụng tăng công suất đã quy định trong hợp đồng phải đăng ký vàđược phép của đơn vị quản lý - khai thác chợ mới được sử dụng Thực hiện tự kiểm tra antoàn điện ở điểm kinh doanh; không sử dụng thiết bị, vật liệu điện hư hỏng, không bảo đảm
an toàn Khi mất điện hoặc nghỉ bán hàng, phải ngắt tất cả các thiết bị tiêu thụ diện (ngắtcầu giao, công tắc điện ) ở điểm kinh doanh ra khỏi nguồn điện, phải bảo đảm thực sự antoàn trước khi ra về
- Mỗi hộ kinh doanh thường xuyên, cố định trong chợ phải tự trang bị từ 1 đến
2 bình cứu hỏa đúng tiêu chuẩn cho phép để bảo đảm chữa cháy tại chỗ kịp thời; khihết hạn sử dụng hoặc không còn tác dụng chữa cháy phải thay bình cứu hỏa mới
Trang 24- Các phương tiện, biển báo cháy nổ, thoát hiểm, cảnh báo, đề phòng nguyhiểm phải được giữ gìn và bảo quản, không được làm hư hại, không được tự ý tháo
dỡ, di chuyển, sử dụng vào mục đích khác; không để hàng hóa, vật cản che lấp thiết bị,dụng cụ chữa cháy
- Bộ phận phụ trách về phòng chống hỏa hoạn của chợ có trách nhiệm kiểm tra,đôn đốc các hộ kinh doanh thực hiện tốt các quy định về phòng chống hỏa hoạn Khi
có sự cố xảy ra phải chủ động xử lý, cử người báo ngay cho lãnh đạo đơn vị quản lý khai thác chợ, Công an PCCC địa phương, đồng thời tổ chức huy động mọi ngườicùng tham gia cứu chữa, hạn chế tối đa mọi thiệt hại do cháy nổ
Thương nhân, cán bộ, nhân viên quản lý chợ phải thường xuyên kiểm tra, xemxét tình trạng an toàn PCCC tại điểm đang kinh doanh, nơi đang làm việc Nếu có biểuhiện bất thường phải báo ngay cho người có trách nhiệm của đơn vị quản lý - khai thácchợ để kịp thời xử lý Khi có sự cố cháy nổ xảy ra, phải bình tĩnh (tri) hô báo động vàtìm cách báo ngay với người có trách nhiệm của đơn vị quản lý - khai thác chợ hoặcCông an PCCC theo số điện thoại 114, đồng thời mọi người phải chủ động sử dụngcác phương tiện cứu hỏa tích cực dập tắt, khắc phục cháy nổ, nhanh chóng sơ tánngười và tài sản ra khỏi khu vực bị cháy nổ Nếu để xảy ra cháy nổ, gây thiệt hại vềngười và tài sản do không thực hiện quy định về PCCC, phòng chống thiên tai thìđối tượng vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
f , Công tác quản lý phí và các dịch vụ tại chợ
Quy định các khoản thu từ hoạt động chợ:
BQL chợ, doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ được thu các
khoản sau theo Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Bộ Tài
chính Hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
- Thuế sử dụng điểm kinh doanh tại chợ cung cấp dịch vụ, hàng hoá
- Thuế sử dụng điểm kinh doanh tại chợ theo hợp đồng sử dụng, thuê điểm kinh doanh
- Thu từ việc cung cấp các dịch vụ bốc xếp hàng hoá, kho bãi để lưu giữ hànghoá, dịch vụ bảo vệ theo hợp đồng cụ thể và các dịch vụ khác
- Thu khác: thu được trích để lại theo hợp đồng uỷ nhiệm; thu tiền phạt, tiền bồithường hợp đồng(nếu có) đối với các tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh tại chợ do
vi phạm các quy định trong hợp đồng kinh tế ký kết
Việc quản lý, sử dụng các khoản phí nêu trên phải thực hiện theo quy định củapháp luật về phí, lệ phí, cụ thể:
- Đối với chợ do Nhà nước đầu tư xây dựng, các khoản phí nêu trên là khoảnthu của Ngân sách Nhà nước, BQL chợ, doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý
Trang 25chợ được trích lại một phần từ số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho việc thuphí BQL chợ, doanh nghiệp quản lý và khai thác chợ có trách nhiệm kê khai, nộp vàquyết toán số tiền phí còn lại vào ngân sách nhà nước.
- Đối với chợ không do Nhà nước đầu tư xây dựng hoặc do Nhà nước đầu tưnhưng đã chuyển giao cho BQL chợ hoặc doanh nghiệp để kinh doanh khai thác vàquản lý chợ thì các loại phí thu là phí không thuộc Ngân sách Nhà nước BQL chợ,doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ có nghĩa vụ nộp thuế theo quy địnhcủa pháp luật đối với số phí thu được và có quyền quản lý, sử dụng số tiền phí sau khi
đã nộp thuế
1.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh tại các chợ
1.3.1 Do vai trò của chợ và lợi ích kinh doanh tại các chợ
Trong những năm qua, mạng lưới chợ ở nước ta đóng vai trò rất quan trọngtrong sự phát triển kinh tế - xã hội:
Về mặt kinh tế: Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá, tập trung thu gomcác sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho các thị trường tiêu thụ lớntrong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng HĐKD của cácchợ làm tăng ý thức về kinh tế hàng hoá của người dân Trong các phiên chợ, các buổichợ là cơ hội của người dân giao lưu trao đổi, mua bán, lưu thông hàng hoá của mình,cập nhật thông tin, ý thức xã hội, nó làm tăng khả năng phản ứng của người dân với thịtrường, với thời thế Sự hình thành chợ kéo theo sự hình thành và phát triển các ngànhnghề sản xuất và làm tiền xuất hiện các trung tâm thương mại Mặc khác, chợ vàHĐKD chợ còn mang lại một nguồn thu lớn đóng góp vào ngân sách nhà nước
Về giải quyết việc làm: HĐKD chợ đòi hỏi một lực lượng lao động lớn màkhông cần tay nghề cao, vì thế hình thành chợ và tổ chức kinh doanh tại các chợ gópphần giải quyết việc làm cho một lượng lao động lớn tại các địa phương
Về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc: Có thể nói, chợ là một bộ mặt kinh tế - xã hộicủa một địa phương và là nơi phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tậpquán của một vùng dân cư Tính văn hoá ở chợ được thể hiện rõ nhất là ở miền núi, vùngcao, vùng sâu, vùng xa Trên thực tế, một số chợ truyền thống có từ rất lâu đời đang trởthành một địa điểm thu hút khách du lịch Nếu được đầu tư thoả đáng cả về cở sở vật chấtcũng như sự quan tâm quản lý của Nhà nước, đây sẽ là các địa danh hấp dẫn đối với khách
du lịch trong và ngoài nước, và nó sẽ là tiềm năng về kinh tế du lịch quốc gia
Chợ và HĐKD tại chợ ngày này hình thành, phát triển ngày một nhanh và hiệnđại hơn, để các lợi ích mà HĐKD chợ đem lại không bị mất đi hay biến tướng chỉ vìmục đích lợi nhuận thì vai trò QLNN của các cơ quan chức năng đối với công tác quản
Trang 26lý các HĐKD chợ là rất quan trọng Không những giúp duy trì hoạt động chợ mang lạilợi ích kinh tế lớn mà còn đảm bảo lợi ích văn hóa, xã hội.
1.3.2 Xu hướng phát triển hệ thống thương mại
Nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ qua hệ thống chợ truyền thốngcũng như các loại hình thương mại hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửahàng bán lẻ…của người tiêu dùng trong những năm qua không ngừng tăng lên, đặcbiệt là khu vực nông thôn Vì thế hệ thống thương mại đang ngày càng được quan tâmđầu tư xây dựng, nâng cấp để đáp ứng nhu cầu xã hôi Chương trình xây dựng nôngthôn mới do Đảng khởi xướng 5 năm qua, trong đó có Chương trình phát triển hạ tầngkinh tế- xã hội nông thôn đã đang thu được những kết quả tích cực, sẽ thúc đẩy đầu tư,
hỗ trợ phát triển hạ tầng thương mại nông thôn đặc biệt là hệ thống chợ nông thôn sẽđược nâng cấp và đổi mới theo hướng hiện đại và văn minh hơn Có thể nói chợ và cácloại hình thương mại hiện đại sẽ ngày càng hỗ trợ nhau, làm phong phú và phát triển
hệ thống thương mại, thị trường Vì vậy, tăng cường QLNN đối với hệ thống chợ,HĐKD tại chợ, nhất là chợ nông thôn là cần thiết trong thời điểm này
1.3.3 Do hạn chế trong phát triển chợ và kinh doanh tại các chợ
Mặc dù vai trò chợ và kinh doanh tại chợ đối với kinh tế xã hội là không thểphủ nhận, song có thể nhận thấy hạ tầng thương mại tại nhiều địa phương trên cả nướcchưa được quan tâm đúng mức Hệ thống chợ trên một số địa bàn nông thôn còn hếtsức lạc hậu, thậm chí không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày; cơ sở vật chấtchợ nghèo nàn, xuống cấp; ngoài ra tình trạng chợ tự phát, lều bạt, lán, họp chợ khôngđúng nơi quy định ngày càng nhiều không những gây mất trật tự an ninh mà cònkhông đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Để đảm bảo HĐKD chợ diễn ra có hiệuquả, cần phải hoàn thiện QLNN trong phát triển và quản lý chợ
1.3.4 Thực trạng quản lý chợ còn những hạn chế.
Quản lý chợ cần có sự phối hợp của nhiều sở ban ngành, nhiều cấp địa phương
để có thể quản lý đồng bộ các hoạt động diễn ra tại chợ Tuy nhiên thực trạng quản lýchợ còn những hạn chế ở nhiều mặt Các nội dung, quyết định quản lý ban hành chưathực sự phù hợp với nhu cầu, với điều kiện của chợ; các nội dung quản lý chợ có sựchồng chéo nhau do sự phối hợp còn chưa chặt chẽ của cơ quan các ban ngành, cáccấp; hoạt động quản lý của các BQL chợ chưa hiệu quả, trong khi đó sự tham gia củacác doanh nghiệp kinh doanh khai thác chợ còn dè chừng và chưa sôi nổi; công táckiểm tra, thanh tra còn nhiều sai phạm, làm nảy sinh các hành vi vi phạm quy địnhtrong HĐKD chợ Vì vậy việc hoàn thiện QLNN đối với các HĐKD tại chợ hiện nay
là một trong những vấn đề trọng tâm mà nhà nước cần quan tâm để phát triển hệ thốngchợ đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người dân tốt nhất
Trang 27CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Khái quát hệ thống chợ và hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
2.1.1 Hệ thống chợ
a, Về mạng lưới và quy mô chợ
Theo Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2013 của Sở CôngThương Hải Dương, hiện nay trên địa bàn tỉnh có tất cả 176 chợ với gần 11 nghìn hộkinh doanh, trong đó có 18 chợ có phạm vi ảnh hưởng tới các vùng ngoài tỉnh và cókhả năng phân luồng bán buôn ra các tỉnh lân cận, chi tiết được nêu ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Số lượng chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2013
Nguồn: Phòng Quản lý thương mại – Sở Công Thương Hải Dương
Về phân bố mạng lưới chợ, Hải Dương gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 10huyện có 127 chợ thuộc địa bàn nông thôn (chiếm 72,16%) và 49 chợ thuộc địa bànthành thị (chiếm 27,84%)
Về quy mô các chợ, nhìn chung quy mô các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
còn nhỏ hẹp Theo tiêu thức diện tích: tổng diện tích đất chợ khoảng gần 400000 m2,trong đó chợ có diện tích lớn nhất, nhì là 60000m2 và 30000m2 và chợ có diện tích nhỏnhất chưa đến 300m2 Tổng diện tích chợ hạng 1 và hạng 2 thấp vì trên địa bàn tỉnhchủ yếu là chợ hạng 3
Bảng 2.2 Hiện trạng một số chợ loại 1 và loại 2 trên địa bàn tỉnh Hải Dương