Do đó tiền đúc rất ít khi được rút ra, nó đã trở thành khoản tiền nhàn rỗi, nên những người bảo quản tiền tệ dùng nó cho vay để kiếm lời.Do sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng h
Trang 1Xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô khoa Tài Chính – Ngân Hàng trường Đại học Thương Mại, những người đã giảng dạy em trong suốt thời gian học tập tại trường Những kiến thức bổ ích từ giảng đường đại học sẽ theo em trong suốt quá trình học tập và làm việc sau này.
Xin chân thành cảm ơn khoa Tài chính – Ngân hàng trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện tốt nhất để em thực hiện khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn cô Trương Thị Loan cũng như các anh chị tại Ngân hàng Nông Nhiệp và Phát Triển Nông Thôn chi nhánh huyện Hữu Lũng – Lạng Sơn đã tận tình hướng dẫn và giúp em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Cuối cùng , con xin nói lên lòng biết ơn sâu sắc tới Cha Mẹ, người đã cho con tất cả những gì tốt nhất ngày hôm nay, người đã ủng hộ, động viên tinh thần để con hoàn thành tốt quá trình học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nông Văn Đăng
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHNo & PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế hoạt động ngân hàng và thị trường tài chính tiền tệ đã trở nên một trong những lĩnh vực kích thích nhất, nhạy cảm nhất của toàn bộ nền kinh tế Hoạt động ngân hàng đem lại sự hồi sinh cũng như nó giữ một vai trò quan trọng trong việc khơi nguồn vốn đến những người cần vốn bao gồm các cá nhân, tổ chức kinh tế - xã hội Tạo cho họ cơ hội đầu tư sinh lợi, đem lại sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế thị trường
Hệ thống NHTM đóng một vai trò rất to lớn và quan trọng trong việc huy động mọi nguồn lực dư thừa và các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho mục đích xây dựng và phát triển sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển
Với vai trò nhu“ Một nguời môi giới” đi vay để cho vay, NHTM đã tập trung được một nguồn lực lớn còn dư thừa nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư và phát triển Cũng vì vậy NHTM đã dung hoà được mâu thuẫn của xã hội là cùng tại một thời điểm có nhiều chủ thể kinh tế thừa vốn đồng thời nhiều chủ thể kinh tế còn thiếu vốn để sản xuất kinh doanh
Mặt khác nhờ có hệ thống NHTM, dịch vụ thanh toán qua ngân hàng làm tăng tốc độ thanh toán trong nền kinh tế, khối lượng vốn luân chuyển nhiều hơn, góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, tạo công ăn việc làm cho nhiều người, ổn định được đời sống, xã hội, đảm bảo quá trình sản xuất được diễn ra liên tục
Đồng thời NHTM cũng là một chủ thể kinh tế trong xã hội và là một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, vì vậy cũng như mọi doanh nghiệp khác, lợi nhuận kinh doanh của NHTM đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM
Do đó việc nâng cao lợi nhuận kinh doanh của NHTM là mối quan tâm hàng đầu của NHTM và điều đó cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của xã hội NHTM là chiếc cầu nối giữa các tổ chức kinh tế, các đơn vị,
cá nhân… trong xã hội nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu về vốn Chúng ta
Trang 4cứ thử tưởng tượng nếu tất cả các NHTM đều làm ăn thua lỗ sẽ dẫn đến một ngày nào đó hệ thống NHTM bị sụp đổ vì phá sản thì lúc đó ai sẽ là người điều hoà vốn sản xuất kinh doanh của xã hội được liên tục Có thể nói lúc đó mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội đều ngừng trệ vì không có người tiếp sức cho nó Và khi
đó nền kinh tế chắc chắn sẽ không phát triển được
1 Lý do chọn đề tài
Việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là điều cần thiết cho chính các NHTM và cho cả cộng đồng Xuất phát từ ý nghĩa trên cùng với lý luận cơ bản đã được các thầy cô trang bị và từ thực tế tại NHNo&PTNT Hữu lũng,
em mạnh dạn chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng NHNo&PTNT Hữu lũng”
2 Mục đích nghiên cứu:
Phân tích, đánh giá hiệu quảhoạt động kinh doanh tại chi nhánh NHNo & PTNT Hữu Lũng – Lạng Sơn từ đó chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục cũng như những nguyên nhân của những tồn tại đó
Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh củaChi nhánh NHNo & PTNT Hữu Lũng – Lạng Sơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh NHNo
& PTNT Hữu Lũng – Lạng Sơn
Phạm vi nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu các năm 2011, 2012, 2013
4 Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp các vấn đề nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu các phương pháp được sử dụng một cách linh hoạt – kết hợp hoặc riêng rẽ để giải quyết vấn đề một cách tốt nhất Ngoài
ra chuyên đề còn sử dụng các sơ đồ, bảng biểu để minh họa qua đó rút ra kết luận tổng quát
Trang 55 Kết cấu khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm 3 chương:
Chương I : Cơ sở lý luậnvề hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Chương II : Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Hữu Lũng
Chương III : Giải pháp nhằm nâng cao hiêu quả hoạt đông kinh doanh NHNo & PTNT Hữu Lũng
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 – HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm, sự ra đời, đặc trưng của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả,
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
NHTM được hình thành và phát triển trong một quá trình lâu dài, trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội của loài người Mầm mống của ngân hàng được xuất hiện từ khi có sản xuất và trao đổi hàng hoá Thời kỳ mỗi quốc gia, thậm chí mỗi địa phương sử dụng một loại tiền riêng Khi sản xuất, trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển thì việc sử dụng nhiều loại tiền để trao đổi hàng hoá sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó có nhiều thương nhân đã đứng ra kinh doanh tiền tệ tạo thành một tổ chức chuyên nghề kinh doanh tiền tệ Nghiệp vụ lúc đầu của họ chỉ là trao đổi tiền vùng này lấy đồng tiền vùng kia và ngược lại Trong số đó có một số người làm
Trang 6nghề kim hoàn, họ là những người giàu có, có nhiều tiền vàng Những người này có năng lực quan trọng đó là năng lực cất trữ vì họ có phương tiện lưu trữ an toàn các kim loại quý, các loại tiền đúc, tiền nén Bởi vậy các thương gia thường gửi tiền vào đây để đảm bảo an toàn Đây là hình thức tiền gửi đầu tiên lúc đầu tiền gửi không thay đổi “nghĩa là gửi vào đồng tiền nào lấy ra đồng tiền đó” Người gửi tiền phải trả lệ phí cho người giữ tiền, khi các thương gia gửi tiền họ được người nhận tiền cấp cho giấy biên nhận Giấy biên nhận đó có thể dùng để thanh toán thuận tiện hơn tiền đúc và tiền nén Đây là hình thức ngân phiếu đầu tiên và thực tế họ đã dùng ngân phiếu này để thanh toán Do đó tiền đúc rất ít khi được rút ra, nó đã trở thành khoản tiền nhàn rỗi, nên những người bảo quản tiền tệ dùng nó cho vay để kiếm lời.
Do sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá là sự phát triển của nghành thương nghiệp đã thúc đẩy nghề kinh doanh tiền tệ phát triển và mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của mình, họ đã huy động vốn bằng cách trả lãi cho người gửi tiền Bên cạnh đó họ còn làm các nghiệp vụ khác như thanh toán, vận chuyển tiền… và lấy phí Tất cả những nghiệp vụ đó đã trở thành nghề chuyên môn và hệ thống Ngân hàng đã ra đời
Khi sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển thì trong bối cảnh nhiều NH phát hành với nhiều loại giấy bạc khác nhau đã gây cản trở cho việc phát triển kinh
tế Vì vậy Nhà nước đã can thiệp vào hoạt động NH bằng cách ban hành các đạo luật để hạn chế số lượng NH được phép phát hành Từ đó NH chia ra làm loại:
+ Các NH phát hành (NH nhà nước)
+ Các NH trung gian trong đó chủ yếu là NHTM
Vậy NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và hoạt động tín dụng mà hoạt động chủ yếu của nó là nhận tiền gửi và cho vay Các NHTM hoạt động kinh doanh tiền tệ và tín dụng nhằm hướng tới đạt lợi nhuận ngày càng cao Ngoài ra NHTM còn là trung gian thanh toán cho các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội NHTM có chức năng mang tính chất đặc thù, đó là chức năng tạo tiền Trong quá trình hoạt động kinh doanh, với đặc trưng riêng của ngành NH và với cơ chế hoạt
Trang 7động của hệ thống các NHTM thì các NHTM đã tạo ra lượng tiền cung ứng cho xã hội Do đó NHTM có khả năng tạo tiền.
1.1.2 Vị trí, vai trò của ngân hàng thương mại
NHTM là một pháp nhân, một thực thể kinh tế với tư cách là NH kinh doanh nên NHTM là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình
NHTM nhận tiền gửi, cấp tín dụng cho nền kinh tế và làm dịch vụ NH Mọi hoạt động về nguồn vốn, sử dụng vốn, kết quả kinh doanh được phản ánh một cách đầy đủ, chính xác trên tài khoản, sổ sách thích hợp của kế toán NH
NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ vừa là phương tiện vừa là mục đích kinh doanh khi NH thực hiện kinh doanh, tạo ra lợi nhuận đòi hỏi phải tìm đầu ra trước, sau đó định ra việc huy động vốn đầu vào Khách hàng là người bạn đồng hành của NH, hiệu quả kinh doanh của NH phụ thuộc vào hiệu quả của kinh doanh của khách hàng
Trong kinh doanh NH phải tập trung vốn từ khách hàng, đồng thời phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn để thu hút được mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong
xã hội vào NH, tạo nên nguồn vốn của NH để đầu tư cho nền kinh tế
Muốn có lợi nhuận tối ưu thì ngoài việc tạo ra thu nhập, giá thành về vốn thấp (chi phí đầu vào thấp để tạo ra chênh lệch giữa thu nhập và chi phí cao), còn phải phân bổ hợp lý tài sản có sinh lời, giảm thấp tỷ lệ rủi ro trong họat động kinh doanh
Trong quá trình tuần hoàn vốn của nền kinh tế, NHTM đóng vai trò là một tổ chức môi giới, vừa là người đi vay, vừa là người cho vay Nói cách khác NHTM “đi vay để cho vay”
1.1.3 Khái quát các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại.
NHTM là ngân hàng thực hiện nhiều loại nghiệp vụ khác nhau Các nghiệp
vụ ngân hàng phát triển theo sự phát triển kinh tế của đất nước Hoạt kinh tế càng lớn mạnh thì nghiệp vụ ngân hàng càng trở nên quan trọng và phức tạp hơn
Trang 8Để khái quát được toàn bộ hoạt động của NHTM người ta quy các nghiêp vụ kinh doanh của NHTM thành các nghiệp vụ cụ thể chủ yếu sau:
- Các nghiệp vụ tài sản nợ
- Các nghiệp vụ tài sản có
- Các nghiệp vụ trung gian
1.1.3.1- Các nghiệp vụ tài sản nợ (nghiệp vụ nguồn vốn)
Các nghiệp vụ bên nợ của các NHTM phục vụ cho việc huy động vốn Mặc
dù dưới các hình thức khác nhau nhưng thực chất của các nghiệp vụ bên nợ là ngân hàng nhận tín dụng
Nguồn vốn là cơ sở để hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, tạo nguồn vốn
là nghiệp vụ đầu tiên của chức năng trung tâm tín dụng của NHTM “Đi vay để cho vay” hoạt động của nghiệp vụ này quyết định đến các nghiệp vụ sử dụng vốn và các nghiệp vụ khác
Nguồn vốn tạo ra các tài sản nợ của Ngân hàng bao gồm:
a)Nguồn vốn huy động:
Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các khoản tiền nhàn rỗi của các chủ thể trong xã hội Thông thường nguồn vốn huy động chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn của NHTM, đây là nguồn vốn quan trọng và chủ yếu để đáp ứng mọi nhu cầu vốn của nền kinh tế
Nguồn vốn huy động bao gồm: Nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn
- Tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp, của cá nhân (còn gọi là tiền gửi giao dịch hay tiền gửi trên tài khoản séc)
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Đây là khoản tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào tiền gửi dưới hình thức này là do khách hàng không có điều kiện mở tài khoản hoặc không muốn mở tài khoản tiền gửi thanh toán mà chỉ mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn nhằm mục đích an toàn tài sản và hưởng một khoản lãi nhất định
Trang 9- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian giữa người gửi tiền và Ngân hàng Nó được hình thành từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
và tạm thời chưa sử dụng đến của khách hàng Mục đích gửi tiền của khách hàng là
để đảm bảo an toàn vốn, tránh rủi ro, được hưởng lãi và để dự trữ
b)Nguồn vốn đi vay:
Khi nhu cầu tín dụng của nền kinh tế vượt quá tổng số nguồn vốn huy động,
để đảm bảo cho mọi hoạt động của nền kinh tế thì ngoài các nguồn vốn trên, Ngân hàng thương mại có thể đi vay vốn trên thị trường hoặc vay Ngân hàng trung ương
- Vay vốn vủa Ngân hàng TW: Ngân hàng TW cho các NHTM vay vốn trong trường hợp NHTM thiếu vốn tạm thời trong hoạt động thanh toán chi trả, hình thức vay chủ yếu là vay tái chiết khấu các giấy tờ có giá Ngân hàng TW với tư cách là người cho vay cuối cùng đối với NHTM, Ngân hàng TW không bao giờ cho NHTM vay để đầu tư chính vì thế nên khoản cho vay luôn luôn là khoản cho vay ngắn hạn và với lãi suất thường thấp Tuy nhiên việc cho vay nằm trong khuôn khổ chính sách quản lý tài chính tiền tệ của Nhà nước
- Vay ở các tổ chức tín dụng khác: ở bất kỳ một thời điểm nào cũng có những Ngân hàng dự trữ thừa tại tài khoản tiền gửi thanh toán của họ ở Ngân hàng
TW, khoản dự trữ này không sinh lời Bởi vậy họ sẵn sàng cho các Ngân hàng khác vay trong một thời gian ngắn Quá trình cho vay lẫn nhau giữ các NHTM trên thị trường liên Ngân hàng được diễn ra khá phổ biến dưới nhiều hình thức Thời hạn cho vay, lãi suất cho vay thường rất linh hoạt đảm bảo khả năng chi trả vào bất kỳ lúc nào của NHTM
c)Nguồn vốn tự có của Ngân hàng thương mại:
Vốn tự có là vốn riêng của Ngân hàng được hình thành qua quá trình tạo lập
ở một Ngân hàng và thuộc sở hữu của Ngân hàng, nó được hình thành khi thành lập Ngân hàng và không ngừng được bổ sung trong quá trình hoạt động Do tính chất
ổn định và thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng, vốn tự có được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, thiết bị làm việc và tham gia làm vốn liên doanh liên kết, mua cổ phần vốn tự có – có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Trang 10thương mại, sự tăng trưởng vốn tự có thể hiện tiềm lực trong sự phát triển của Ngân hàng đó.
d)Các nguồn vốn khác của Ngân hàng thương mại:
Đây là nguồn vốn Ngân hàng có thể sử dụng kinh doanh tạm thời Đó là nguồn vốn do Ngân hàng nhận làm uỷ thác, làm đại lý cho Chính phủ, Nhà nước hoặc các tổ chức nước ngoài Đây cũng là một nguồn vốn rẻ của Ngân hàng
Ngoài ra các nguồn vốn khác của Ngân hàng còn có nguồn vốn trong thanh toán, đó là nguồn phát sinh trong quá trình thanh toán như: Séc trong luân chuyển, các khoản ký quỹ, đặt cọc
Việc hình thành trên các tài sản Nợ nó sẽ tạo nên các khoản chi chủ yếu và thường xuyên của Ngân hàng đó là chi trả lãi Do vậy để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thì mỗi Ngân hàng cần có các biện pháp để quản lý các tài sản Nợ một cách linh hoạt Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi trả lãi và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng
1.1.3.2 - Nghiệp vụ tài sản Có ( sử dụng vốn)
Nghiệp vụ tài sản có là nghiệp vụ sử dụng vốn để phân bổ các nguồn vốn vào các mục đích kinh doanh Nó phản ánh các nội dung sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại, phản ánh cơ cấu tài sản của Ngân hàng thương mại Đây là những khoản mục chủ yếu mang lại thu nhập cho Ngân hàng Trong nghiệp vụ tài sản có bao gồm:
-Nghiệp vụ ngân quỹ
-Nghiệp vụ tín dụng
-Nghiệp vụ tài chính
a)Nghiệp vụ ngân quỹ:
Đây là khoản tiền dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán của mỗi Ngân hang Để đảm bảo an toàn cho hoạt động của NHTM, Ngân hàng TW phải thường xuyên duy trì một phần tài sản dưới hình thức quỹ dự trả bao gồm: dự trữ tiền mặt
Trang 11tại quỹ, tiền gửi tại Ngân hàng TW và các tổ chức tín dụng khác, tiền dự trữ bắt buộc trong đó mỗi quỹ dự trữ có một ý nghĩa khác nhau.
Dự trữ tiền mặt, tiền gửi tại Ngân hàng TW và tiền gửi tại các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán chi trả của Ngân hàng Việc dự trữ tiền mặt cao hay thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động của Ngân hàng, phụ thuộc vào tỷ
lệ thanh toán bằng tiền mặt trong tổng khối lượng tiền thanh toán và phụ thuộc vào các nhu cầu mang tính thời vụ về tiền mặt
Dự trữ dưới hình thức tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng TW thì mức độ dự trữ cao hay thấp phụ thuộc vào nhu cầu thanh toán giữa các Ngân hàng, đặc biệt là trong thanh toán bù trừ
Đối với dự trữ bắt buộc đây là hình thức dự trữ theo quyết định của Ngân hàng TW là công cụ chủ yếu để Ngân hàng TW điều hành chính xác tiền tệ, các tài sản dự trữ trong nghiệp vụ này không đem lại một chút lợi nhuận nào cho NHTM song nó đáp ứng cho yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, hạn chế hệ số tạo tiền của Ngân hàng thương mại
b)Nghiệp vụ tín dụng:
Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của NHTM, là nghiệp vụ cơ bản đóng vai trò quyết định cho việc kinh doanh và phương hướng phát triển của Ngân hàng Nghiệp vụ cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số tài sản có của Ngân hàng Xu hướng chung muốn nâng cao tỷ trọng của nghiệp vụ này vì hoạt động sinh lời chủ yếu của NHTM là cho vay, tuy nhiên nghiệp vụ này còn gặp nhiều rủi ro Vì vậy NHTM phải tuân thủ nguyên tắc quản lý các khoản cho vay như sau:
- Sàng lọc và giám sát khách hàng để tránh rủi ro, muốn vậy Ngân hàng phải kiểm tra kỹ các thông tin về khách hàng, những thông tin đó phải trung thực chính xác.- Giám sát khách hàng: để giảm bớt rủi ro, Ngân hàng yêu cầu khách hàng chỉ
sử dụng tiền vay cho những mục đích nhất định, Ngân hàng phải giám sát thường xuyên theo các mục đích đã ấn định
Trang 12- Ngân hàng phải đặt mối quan hệ lâu dài với khách hàng từ đó sẽ làm giảm chi phí tập hợp thông tin và việc sàng lọc khách hàng được dễ dàng hơn.
Ngoài ra, trong nghiệp vụ cho vay cần phải thực hiện đảm bảo tín dụng vì đây là công cụ quan trọng để hạn chế rủi ro Nghiệp vụ tín dụng được chia thành nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trung hạn và nghiệp vụ tín dụng dài hạn Đối với Ngân hàng thương mại thì tín dụng ngắn hạn là chủ yếu vì nó đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng
c)Nghiệp vụ tài chính:
Đây cũng là một trong những nghiệp vụ sinh lời của Ngân hàng Nghiệp vụ tài chính bao gồm:
+ Đầu tư vào chứng khoán của Nhà nước
+ Đầu tư vào chứng khoán của Công ty
+ Hùn vốn liên doanh, liên kết để thành lập công ty
- Đầu tư chứng khoán: là NHTM mua các chứng khoán nhằm đa dạng hoá hoạt động, nâng cao lợi tức và sử dụng các chứng khoán là vật ký quỹ khi vay vốn của NHTM và các tổ chức tín dụng Đặc biệt là đối với các trái phiếu của Kho bạc
là loại có thể bán bất cứ lúc nào với rất ít rủi ro về lãi suất
Nghiệp vụ sử dụng vốn với mục tiêu chung của quản lý tài sản là nhằm đạt lợi nhuận kinh doanh cao nhất, giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an toàn cao nhất cho các Ngân hàng Muốn vậy NHTM trong quá trình thực hiện nghiệp vụ của mình phải mở rộng công tác quảng cáo tiếp thị; tuân thủ những nguyên tắc trong quản lý tiền vay; kiểm tra giám sát thường xuyên khách hàng; đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình
từ nội dung chi tiết trong sử dụng vốn; quản lý trạng thái lỏng của tài sản Như vậy phải xác lập được mỗi quan hệ giữa nguồn và tài sản; vốn nào cho loại tài sản nào
1.1.3.3 - Nghiệp vụ trung gian.
Trang 13Đặc trưng cơ bản nghiệp vụ này là Ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán, do vậy không phải bỏ vốn ra để kinh doanh, nhưng vẫn thu nhập thông qua thu phí thanh toán.
Nghiệp vụ trung gian là việc Ngân hàng đứng ra làm trung gian, làm môi giới để phục vụ theo yêu cầu của khách hàng như nghiệp vụ thu hộ,nghiệp vụ chi
hộ, nghiệp vụ làm trung gian thanh toán qua Ngân hàng, nghiệp vụ hoạt động của Ngân hàng trên thị trường chứng khoán, nghiệp vụ uỷ thác tư vấn Thông qua việc thực hiện các nhiệp vụ này Ngân hàng sẽ được hưởng một khoản lệ phí hoa hồng - đây là khoản thu nhập của Ngân hàng Khi nền kinh tế càng phát triển thì nghiệp vụ này thì càng được mở rộng và đem lại nguồn thu lớn cho Ngân hàng
Do đó trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngoài việc đầu tư vào nghiệp vụ tài sản có, nghiệp vụ tài sản nợ thì Ngân hàng cũng cần quan tâm đến việc đầu tư trang thiết bị, đào tạo đội ngũ cán bộ, áp dụng công nghệ tiên tiến để mở rộng các nghiệp vụ trung gian
Nghiệp vụ tài sản nợ, nghiệp vụ tài sản có và nghiệp vụ trung gian là ba nghiệp vụ chủ yếu của NHTM, các nghiệp vụ này có mỗi liên hệ mật thiết với nhau Nghiệp vụ nguồn vốn quyết định phạm vi, quy mô sử dụng vốn Đồng thời qua nghiệp vụ này phản ánh được phần lớn nhu cầu chi phí của Ngân hàng Nghiệp vụ tài sản có quyết định mức thu nhập của mỗi Ngân hàng Đồng thời nghiệp vụ trung gian cũng góp phần làm tăng thu nhập và phát triển hoạt động của Ngân hàng, từ đó thu hút được khách hàng
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM.
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Theo quan niệm phổ biến hiệu quả là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ tỉ lệ giữa kết quả và chi phí; hay ngược lại
Hiệu quả kinh doanh của NHTM là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí nhỏ nhất
Trang 14Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được đo lường một cách tổng quát thông qua tỷ lệ lợi nhuận với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu Lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, nó được quyết định bởi mức lãi thu được từ các khoản cho vay đầu tư , bởi nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, bởi quy mô, chất lượng
và thành phần của các tài sản có
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM quyết định trực tiếp tới vấn
đề tồn tại và phát tiển của mỗi ngân hàng Nếu NHTM hoạt động có hiệu quả kinh doanh cao thì uy tín ngân hàng đó sẽ được tăng lên, khách hàng sẽ an tâm và tin tưởng vào ngân hàng và từ đó công tác huy động vốn sẽ thuận lợi và phát triển Trên
cơ sở nguồn vốn huy động tăng, ngân hàng mới có khả năng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình và tọa ra được lợi nhuận ngày càng cao, tích lũy được nhiều và có điều kiện nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút khách hàng và tạo hiệu quả kinh doanh ngày càng tăng
Việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua các tỷ
số phải được xem xét qua nhiều thời kỳ khác nhau để thấy được xu hướng phát triển
và quy luật vận động của chúng, ngoài ra việc nghiên cứu phải dựa vào thực tiễn hoạt động của ngân hàng và đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích, từ
đó sẽ dễ dàng xác định nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu và dễ dàng tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Môi trường bên ngoài
• Môi trường vĩ mô:
- Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng đến khả năng tạo lợi nhuận, khả năng ổn định và phát triển vững mạnh của các NHTM Bất cứ sự biến động nào của lạm phát , tăng trưởng kinh tế xã hội, chính sách tiền tệ… cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM, thậm chí còn tạo ra những khủng hoảng do tác động lây lan của kinh tế thị trường Ảnh hưởng rõ rệt nhất của tăng trưởng kinh tế đối với hiệu quả hoạt đọng vốn và hoạt động tín dụng của các
Trang 15NHTM Gắn với quá trình tăng trưởng cao là nhu cầu vốn cũng cao, tăng trưởng kinh tế một cách ổn định và an toàn , hiệu quả chính là nền tảng cho hoạt động của
Nh có hiệu quả
- Các yếu tố văn hóa xã hội: Các yếu tố như trình độ dân trí, tập quán sử dụng tiền mặt và sự hiểu biết của người dân về hệ thống ngân hàng đều có tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Các yếu tố chính sách pháp luật: Hệ thống chính sách pháp luật minh bạch
rõ ràng, đồng bộ sẽ giúp các NH chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình
- Các yếu tố khoa học công nghệ: Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho việc nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí đầu vào, đẩy nhanh quá trình cung cấp các sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp nhất, nhanh chóng
và kịp thời , từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân NH Ngoài ra với công nghệ ngân hàng hiện đại sẽ góp phần vào hội nhập quốc tế và quốc tế hóa trong hoạt động giao dịch của NHTM từ đó hiệu quả kinh doanh sẽ không ngững
mở rộng và nâng cao
• Môi trường vi mô như là các đối thủ cạnh tranh hay khách hàng cũng là các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của NHTM
Môi trường bên trong ngân hàng:
• Năng lực tài chính: đây là yếu tố thể hiện quy mô hoạt động của ngân hàng Trong
xu thế hội nhập và phát triển , tình hình cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng giữa các tổ chức tín dụng, việc các ngân hàng có năng lực tài chính mạnh
sẽ có điều kiện để mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm để chiếm lĩnh thị phần , nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ và tạo ra nhiều tiện ích cho khách hàng
• Năng lực hoạt động kinh doanh
- Chất lượng sản phẩm dịch vụ
- Hệ thống phân phối
- Năng lực quản lý điều hành
- Các chính sách nhân, marketing…
Trang 161.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM có ý nghĩa rất to lớn:
- Các NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ tăng cường khả năng trung gian tài chính như nâng cao mức huy động các nguồn vốn trong nước và phân bổ nguồn vốn
đó vào nơi sử dụng có hiệu quả, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Hoạt động càng có hiệu quả thì việc cung ứng vốn tín dụng và các dịch vụ khác sẽ có chi phí càng thấp, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Khi
đó sẽ có tác động ngược trở lại làm cho các NHTM phát triển càng hoạt động có hiệu quả hơn
- Khi hoạt động có hiệu quả thì NHTM càng có điều kiện để tăng tích lũy, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh không những đối với thị trường trong nước mà còn từng bước vươn ra thị trường nước ngoài, tiếp cận và hội nhập với thị trường tài chính quốc tế
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá tài chính
Chỉ tiêu khả năng mở rộng vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu về khả năng sinh lời:
- Hệ số ROE (tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu)
Đây là chỉ tiêu được xem là xuất phát điểm cho việc đánh giá tình hình tài chính của một NHTM Nếu ROE tương đối thấp sao với những ngân hàng khác thì
sẽ làm giảm đi khả năng thu hút vốn mới cần thiết cho sự mở rộng và duy trì vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường ROE thấp có thể hạn chế tăng trưởng của ngân hàng vì khi đó ngân hàng không có cơ hội tích lũy để tăng vốn chủ sở hữu, trong khi hầu hết các quy định pháp lý đề ràng buộc việc gia tăng tài sản của ngân hàng gắn chặt với việc tăng vốn chủ sở hữu
Trang 17Lợi nhuận sau thuếTổng vốn chủ sở hữuChỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu, hay lợi nhuận thu được trên một đơn vị vốn chủ sở hữu do đó cho biết khả năng lành mạnh trong hoạt động của một ngân hàng Tổng vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại và các quỹ dự trữ của ngân hàng
- Hệ số ROA ( tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản):
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản
Hệ số này phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của ngân hàng, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng bởi vì mọi tài sản có đều
là những khoản đầu tư sinh lãi ngoại trừ tiền mặt và tài sản cố định Nói cách khác nó đo lường khả năng của ban quản lý sử dụng các nguồn lực nói chung và nguồn lực tài chính của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận.
Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có ROA cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước khi những biến động của nền kinh tế.
Để tăng ROA các ngân hàng phải tìm cách gia tăng các khoản mục tài sản
có sinh lời Trong các khoản mục của tổng tài sản thì cho vay là khoản đem lại lợi nhuân chủ yếu cho ngân hàng Để tối đa hóa lợi nhuận, ngân hàng gia tăng các khoản đầu tư tín dụng, tuy nhiên đây là khoản mục chứa đựng nhiều rủi ro nhất Như vậy ROA càng cao thể hiện mức độ rủi ro càng cao mang lại từ tổng tài sản.
- Quan hệ giữa các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời: Trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh, các nhà quản trị luôn quan tâm đến hai chỉ tiêu ROE và ROA, và hai chỉ tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Trang 18Lợi nhuận Lợi nhuận Tổng tài sản
Tổng vốn chủ sở hữu Đẳng thức này cho thấy, tỷ số lợi nhuận vốn chủ sở hữu chính là tích số giữa tỷ số lợi nhuận trên tài sản và tỷ số phản ánh mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của ngân hàng
Mối quan hệ này cho thấy ROE rât dễ biến động do tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu luôn lớn hơn 1 nhiều lần vì thế ROE có độ nhạy cao hơn ROA.
Ngoài ra công thức này còn cho biết khả năng sử dụng vốn chử sở hữu của ngân hàng, có nghĩa là ngân hàng có ROA thấp nhưng vẫn có thể đạt ROE cao với điều kiện nâng cao tỷ trọng vốn huy động Tuy nhiên nếu ROE quá lớn hơn so với ROA thì chứng tỏ vốn chủ sở hữu của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn Như vậy lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu phụ thuộc vào vốn huy động, vì vậy có thể ảnh hưởng đến mức độ an toàn trong kinh doanh của ngân hàng.
+ Thu nhập từ lãi/tổng tài sản có
+ Thu nhập ngoài lãi/tổng tài sản có
+ Thuế TNDN trên tổng tài sản có
1.3.2 chỉ tiêu đo lường rủi ro
Thực trạng rủi ro ở các NHTM Việt Nam tập trung cao ở rủi ro tín dụng Rủi
ro tín dụng bao hàm những tổn thất mà NHTM có thể phải gánh chịu khi khách
Trang 19hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã được NHTM bảo lãnh, hoặc không thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi các khoản tiền vay theo hợp đồng.
- Tỷ lệ cho vay: chỉ tiêu này thường được sử dụng để đánh giá một cách gián tiếp chất lượng tài sản có của NHTM Tỷ lệ cho vay cho biết mức độ theo đó tài sản được sử dụng để cấp tín dụng cho khách hàng
Tỷ lệ cho vay = Dư nợ TK cho vay/ Tổng tài sản *100
Khi ngân hàng có tỷ lệ cho vay cao thì khả năng sinh lợi được cải thiện tuy nhiên nếu tỷ lệ này quá gần bằng 100% thì rủi ro hoạt động của ngân hàng cũng tăng theo vì khi ấy ngân hàng hầu như không có tiền dự trữ cho nhu cầu rút vốn của khách hàng
- Tỷ số thanh khoản: tỷ số cho biết mức độ theo đó ngân hàng có thể sử dụng tài sản
dự trữ để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng
Tỷ số thanh khoản = Tài sản dự trữ / Nợ ngắn hạn phải trả
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: Đây là một chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá mức độ
an toàn về vốn của các NHTM Tỷ số này giúp xác định khả năng bù đắp rủi ro bằng nguồn vốn tự có của ngân hàng
Tỷ lệ an toàn tối thiểu = Vốn tự có/ Tổng tài sản có rủi ro
Vốn tự có của ngân hàng bao gồm vốn tự có cấp 1 và vốn tự có cấp 2 Vốn tự
có cấp 1 là vốn điều lệ và các quỹ dự trữ Đây là nguồn vốn cơ bản quyết định sự tồn tại của mọi hệ thống ngân hàng Nó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cho NHTM Vốn tự có cấp 2 là nguồn vốn bổ sung bao gồm đánh giá lại tài sản cố định và các khoản dư nợ xem như vốn
Tài sản có rủi ro là những khoản mục tài sản có được phản ánh trong và ngoài bảng tổng kết tài sản có thể bị tổn thất trong quá trình kinh doanh như cho vay không thu được nợ, ngân hàng phải trả tiền thay cho khách hàng được bảo lãnh…
- Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro:
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động
Chỉ tiêu đánh giá năng lực huy động vốn
Trang 20- Thực trạng huy động vốn
- Thực trạng mức tăng huy động
- Hệ số tỷ lệ vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu đánh giá năng lực tín dụng
- Quy mô tín dụng: Tình hình dư nợ và tốc độ tăng trưởng tín dụng
- Chất lượng tín dụng:
Chỉ tiêu tổng dư nợ trên vốn huy động
Chỉ tiêu tổng dư nợ trên tổng tài sản có
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu đánh giá năng lục đầu tư: Hoạt động đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết, đầu tư cổ phần, mua chứng khoán…
Chỉ tiêu đánh giá năng lực phát triển dịch vụ
- Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
- Dịch vụ thanh toán
- Dịch vụ thẻ
- Dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Năng lực quản lý và điều hành
Năng lực công nghệ thông tin
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NHNo&PTNT HỮU LŨNG 2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN HUYỆN HỮU LŨNG
2.1.1 Quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức của NHNo & PTNT Hữu Lũng 2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NHNo & PTNT Hữu Lũng:
Trước những khó khăn chung của nền kinh tế những năm đầu của thập
kỷ 90 Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam ra đời theo nghị định 53 ngày 26/03/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ), NHNo & PTNT Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước đặc biệt, tổ chức theo mô hình tổng công ty Nhà nước, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn đầu tư
Trang 21Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Hữu Lũng thuộc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Tỉnh Lạng Sơn và là đơn vị thành viên của Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 10 năm 1998.
Buổi ban đầu thành lập, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Hữu Lũng phải đối mặt không ít khó khăn, tín dụng cho vay các doanh nghiệp địa phương và các HTX đóng băng lại, do nền sản xuất trong huyện đình đốn, tiền mặt căng thẳng, thu không đủ chi, bộ máy cồng kềnh, biên chế đến hơn 70 người trong khi đó nguồn vốn và dư nợ hữu hiệu quá nhỏ bé chỉ có vài trăm triệu đồng, tỷ trọng nợ quá hạn chiếm đến 75% trên tổng dư nợ Xuất phát điểm khi bước sang kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện miền núi cho thấy nếu có chuyển hướng đầu tư, không cách mạng ngay bản thân chính nội bộ Ngân hàng khó có thể tồn tại được
Trong khi vừa thực hiện chủ trương đổi mới theo cơ chế, vừa tiếp tục nhận bàn giao những khó khăn vốn có do lịch sử để lại, có thể nói giai đoạn này cái cũ còn tồn tại chưa mất đi, cái mới chưa hình thành, thêm vào đó xã hội
có nhiều diễn biến phức tạp
Nhưng gánh nặng đầu tiên của thời kỳ này vẫn là biên chế do lịch sử để lại quá cồng kềnh, cán bộ quá đông, những cán bộ có trình độ kinh doanh, người thực sự biết lo, biết làm việc chiếm tỷ trọng nhỏ, đặc điểm này bộc lộ rất
rõ khi triển khai những công việc khó khăn hoặc nhiệm vụ mới Bên cạnh đó tổ chức bộ máy nhiều khâu chưa hợp lý
Để khắc phục tình trạng ấy hướng tồn tại và phát triển duy nhất là chủ động sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế đồng thời phải mở rộng kinh doanh
Theo đề án của tỉnh Lạng sơn lúc bấy giờ, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Hữu Lũng phải giảm biên từ 70 người xuống 40 người, tỷ
lệ giảm là 42,8 %
Trang 22Đồng thời với việc tinh giản biên chế là mở rộng kinh doanh thực hiện phương châm "đi vay để cho vay" Trước tiên phải lo công tác huy động vốn để tạo lập nguồn vốn cho vay.
Về màng lưới huy động vốn, tiếp tục duy trì các bàn tiết kiệm hoạt động
có hiệu quả, thu toàn bộ phần uỷ nhiệm tiết kiệm giao cho HTX tín dụng trước đây, nay bàn giao lại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện quản lý để giảm bớt chi phí và nâng cao chất lượng quản lý áp dụng mềm dẻo lãi suất và hình thức huy động vốn để có sự hấp dẫn đối với khách hàng Qua các năm công tác huy động vốn đã tăng lên đáng kể từ vài trăm triệu đồng lúc đầu thành lập đến nay đã tăng trên 100 tỷ
Ngay từ ngày đầu thành lập đã thực hiện thí điểm cho vay hộ sản xuất đến nay khách hàng vay vốn 95 % là hộ sản xuất, còn lại là các doanh nghiệp, đây là một đặc thù bất lợi cho hoạt động kinh doanh đa năng của Ngân hàng Thương mại Tuy nhiên cũng từ khi cho vay hộ sản xuất đến tháng 6 năm 1997 đơn vị đã cân bằng thu chi và từ năm 1998 đến nay đã có lãi năm sau cao hơn năm trước đảm bảo mặt bằng tiền lương cho cán bộ CNV theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
2.1.1.2 Khái quát về cơ cấu tổ chức của NHNo& PTNT Hữu lũng:
Ngân hàng Nông nghiêp & PTNT huyện Hữu Lũng có đội ngũ cán bộ công nhân viên gồm 34 đồng chí, trong đó có 33 đồng chí trong biên chế, và 1 đồng chí làm hợp đồng Có 02 phòng chuyên môn nghiệp vụ là Phòng Tín dụng
và Phòng Kế toán-Ngân quỹ-Hành chính Chi nhánh hoạt động đa dạng với phương châm: Phát triển - An toàn - Hiệu quả
Trang 23- Lái xe: 01 đồng chí chiếm 2,9 %
- Bảo vệ, Hành chính: 02 đồng chí chiếm 5,9%
SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC
GIÁM ĐỐC Phó giám đốc
Phụ trách tín dụng
Phó giám đốc
Phụ trách kế toán
Phòng Tín dụng Phòng Kế toán
- Ngân quỹ
- Hành chính
Trang 24Trong đó trình độ cán bộ:
- Đại học: 12 đồng chí chiếm 35,3%
- Trung cấp: 18 đồng chí chiếm 52,9%
- Đang đi hoc đại học: 4 đồng chí : 11,8%
Chỉ tiêu cán bộ nhu trên so với quy định là chưa đạt, hiện nay ngân hàng cơ
sở đang có kế hoạch tiếp tục đào tạo trình độ đại học cho CBVC
2.2 PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NHNo & PTNT HỮU LŨNG
2.2.1 Chỉ tiêu về khả năng sinh lời
2.2.1.1 Chỉ tiêu ROE
Bảng 2.2.1.1: Chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của NHNo & PTNT
Hữu Lũng giai đoạn 2011- 2013
Đơn vị: Triệu VNĐ
ROE cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì ngân hàng thu về 5,22 đồng lợi nhuận năm 2011, và đạt 6,45 đồng năm 2013 Như vậy khả năng sinh lợi của ngân hàng ngày càng tăng lên
Nhìn vào bảng trên ta thấy rằng lợi nhuận sau thuế của ngân hàng có xu hướng tăng qua các năm Năm 2013 lợi nhuân sau thuế của NHNo & PTNT Hữu Lũng đạt mức tăng 166% với năm 2012 đạt 3.648 triệu đồng Đồng thời vốn chủ sở hữu của ngân hàng cũng được tăng liên tục qua các năm Năm 2012 tăng từ 39.799 triệu đồng lên 56.558 vào năm 2013 đạt 212% Việc tăng vốn chủ sở hữu này nhằm
Trang 25mục đích phát triển, mở rộng thêm các nghiệp vụ kinh doanh để tối da hóa lợi nhuận.
Trong ba năm liên tục từ 2011 đến 2013 chỉ tiêu ROE liên tục tăng do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế nhanh hơn của vốn chủ sở hữu cho ta thấy rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh trên vốn chủ sở hữu của NHNo & PTNT Hữu Lũng ngày càng tăng
Tuy nhiên cần chú ý rằng, ROE của ngân hàng ngày càng tăng nhưng vẫn ở mức thấp so với các ngân hàng khác nên đây cũng là bất lợi với ngân hàng trong việc thu hút vốn mới cần thiết cho sự mở rộng và duy trì vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường và hạn chế tăng trưởng của ngân hàng vì ngân hàng không có
cơ hội tích lũy để tăng vốn chủ sở hữu
2.2.1.2 Chỉtiêu ROA.
Bảng 2.2.1.2: Chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản(ROA) của NHNo & PTNT Hữu Lũng
giai đoạn 2011- 2013
Đơn vị: Triệu VNĐ
Chỉ tiêu ROA cho biết cứ 100 đồng tài sản của ngân hàng tạo ra được 0,52 đồng lợi nhuận sau thuế vào năm 2011; tạo ra 0,46 đồng vào năm 2012 và 0,67 đồng vào năm 2013
Chỉ tiêu ROA của NHNo & PTNT Hữu Lũng tăng qua các năm là do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế lớn hơn tốc độ tăng của tổng tài sản: Như đã phân tích ở trên lợi nhuận sau thuế của ngân hàng liên tục tăng với tốc độ rất nhanh
Trong khi đó xét về tổng tài sản của Ngân hàng cũng liên tục tăng , năm
2013 tăng 115% so với năm 2012 lên mức 542.258 triệu đồng
ROA ngày càng được cải thiện cho thấy hoạt độn của ngân hàng vẫn hiệu quả dù trải qua thời kỳ biến động về vốn
Trang 26Tuy ROA có xu hướng tăng nhưng nếu so sánh với với các ngân hàng khác hiện nay( Khoảng 2%) thì vẫn còn rất khiêm tốn Thực tế, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng chưa thực sự thu hút được khách hàng và được khách hàng chấp nhận nhiều Vì vậy, ngân hàng cần chủ động để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình.
• Mối quan hệ giữa ROE và ROA
Bảng 2.2.1.3: Mối quan hệ giữa ROE và ROA của NHNo & PTNT Hữu Lũng
2.2.2 Chỉ tiêu đo lường rủi ro.
2.2.2.1 Tỷ lệ cho vay.
Bảng 2.2.2.1: Chỉ tiêu tỷ lệ cho vay của NHNo & PTNT Hữu Lũng giai đoạn
2011 – 2013
Đơn vị: triệu VNĐ
Qua phân tích tỷ lệ cho vay trên đây ta thấy thấy ngân hàng có tỷ lệ cho vay khá thấp, chưa đạt đến 40%, mặt khác tất cả các dư nợ cho vay đều là cho vay khách hàng mà không có cho vay trên thị trường liên ngân hàng Điều này cho thấy rằng:
Trang 27- Mức độ rủi ro của ngân hàng thấp
- Tuy nhiên ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng vì ngân hàng sự dụng quá ít tài sản vào mục đích cấp tín dụng để kiếm lợi nhuận Tỷ lệ này quá thấp chứng tỏ rằng hoạt động tín dụng của ngân hàng còn rất yếu kém và hạn chế và ngân hàng chưa có được uy tín cao cũng như được sự chấp nhận của khách hàng
Qua bảng trên ta thấy rằng , tỷ số thanh khoản là 0,37 năm 2011; năm 2012
là 0,36 và năm 2013 là 0,49 So với các năm trước đó, tình hình thanh khoản của Ngân hàng ngày càng được cải thiện cho thấy khả năng sử dụng tài sản dự trữ để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng ngày càng tốt
2.2.2.3 Tỷ lệ an toàn tối thiểu.
Bảng 2.2.2.3: Chỉ tiêu an toàn tối thiểu của NHNo & PTNT Hữu Lũng
Đơn vị: triệu VNĐ
Qua bảng phân tích trên ta thấy tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng liên tục tăng qua các năm: Năm 2011 đạt 13,25% và đạt 17,14% năm 2013 Sự tăng lên này là do vốn tự có của ngân hàng tăng nhanh hơn trong khi tổng tài sản có rủi ro phát triển không tương xứng Vốn tự có của Ngân hàng đã tập trung nỗ lực nâng cao và hoàn
Trang 28thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ Chỉ tiêu an toàn vốn tối thiêu luôn luôn được đảm bảo, năm sau luôn cao hơn năm trước, cho thấy ngân hàng hoạt động rất
an toàn Mặt khác tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng cao cho thấy tổng tài sản có rủi
ro của ngân hàng thấp là do ngân hàng không huy đọng vốn tốt cũng như sử dụng vốn chưa hiệu quả làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Không phải chúng ta không ủng hộ tài sản có rủi ro thấp mà là phải phân bổ hợp lý danh mục tài sản có, khuyên khích đầu tư tập trung vào tài sản có mức độ rủi ro thấp nhưng có tỷ suất sinh lời cao Khi đó khi tổng tài sản tăng thì tổng tài sản có rủi ro tăng thấp hơn như thế đảm bảo cả 2 mục tiêu an toàn vốn tối thiểu và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Như vậy một ngân hàng cần duy trì tỷ lệ an toàn tối thiểu theo quy định, mặt khác da dạng hóa các hình thức sử dụng vốn, đặc biệt gia tăng các khoản đầu tư có
hệ số rủi ro thấp nhằm đem lại tối đa nguồn thu nhập Bên canh đó, ngân hàng cần
mở rộng quy mô hoạt động nhằm thu hút them nguồn vốn từ bên ngoài, phát triển khả năng cung ứng dịch vụ nhằm nâng cao tổng tài sản của ngân hàng trên cơ sở vốn tự có tăng lên
2.2.2.4 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro.
Chất lượng quản lý rủi ro tín dụng được cải thiện thông qua việc tách biệt các nghiệp vụ quan hệ khách hàng, quản lý tín dụng và quản lý nợ, đồng thời công tác khách hàng và phát triển kinh doanh được chuyên biệt hóa với bộ phận chuyên trách quan hệ khách hàng Sự thay đổi về tư duy quản lý, phương thức quản lý, phương thức quản trị rủi ro và chiến lược cạnh tranh, phát triển khách hàng là bước chuẩn bị cần thiết cho sự phát triển bền vững
Trong những năm vừa qua, dư nợ tín dụng liên tục tăng, tuy nhiên chi phí dùng để trích lập dự phòng rủi ro lại lại giảm nhẹ Năm 2012 là 920 triệu trên tổng
dư nợ cho vay là là 275.273triệu, đến năm 2013 là 740 triệu trên tổng dư nợ cho vay
là 330.050triệu đồng
Tuy nhiên, quản lý rủi ro tại Ngân hàng còn nhiều yếu kém do nguyên nhân như sau: