Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhều tiềm năng, để khai thác tốt nguồn này trong sức ép cạnh tranh trên thị trường vốn hiện nay, với thị trường chứng khoán,với chính các NHTM với nha
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam_ Chi nhánh Đống Đa, em đã lựa chọn đề tài “
Huy động vốn của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam_ Chi nhánh Đống
Đa, em đã lựa chọn đề tài ” Trong thời gian này em đã nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của ban lãnh đạo Công ty, các anh chị trong phòng kế toán Công ty
Em xin đặc biệt cảm ơn Cô Vũ Ngọc Diệp em đã tiếp thu được nhiều kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn, cô đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình để em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực tập, song do thời gian tiếp xúc với thực tế còn hạn hẹp, trình độ và kĩ năng của bạn thân còn nhiều hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi những khiếm khuyết và sai sót Em rất mong các thầy côgiáo và các anh chị trong công ty đóng góp ý kiến để giúp em thêm nâng cao hiểu biết
và hoàn thiện báo cáo khóa luận của mình một cách tốt nhất
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô Vũ Ngọc Diệp và ban lãnh đạo cùng tập thể cán bộ Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam_ Chi nhánh Đống Đa đã giúp đỡ
em hoàn thành khóa luận của mình
Trang 2Hàng Hải Việt Nam_ Chi nhánh Đống Đa năm 2010 đến 2012
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng huy động
Hình 2.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo loại tiền
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TMCP Thương mại cổ phần NHTM Ngân hàng thương mại NHTW Ngân hàng trung ương
NH Ngân hàng TSCD Tài sản cố định
Trang 3LỜI MỞI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn luôn là một trong những nhân tố đầu vào quan trọng không thể thiếu được của bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào Đặc biệt với một nền kinh tế đang tăng trưởng như nước ta hiện nay, và với các doanh nghiệp có quy mô và số lượng ngày càng tăng thì nhu cầu vốn của họ cũng tăng theo không ngừng Theo thống kê trong hai năm gần đây áp dụng với hơn 280 doanh nghiệp trên cả nước thì 74,47% các doanh nghiệp xem ngân hàng như là kênh huy động vốn chủ yếu của mình Song việc dựa nhiều vào nguồn vốn từ ngân hàng khiến doanh nghiệp lúng túng không biết tìm nguồn khác để huy động vốn khi lãi suất cao sẽ làm xu hướng các doanh nghiệp phải đa dạng hoá kênh huy động vốn , trong đó thị trường chứng khoán được xem là lựa chọn ưu tiên hàng đầu Do là thị trường mới nổi, còn nhiều vấn đề bất cập nhưng thị trương chứng khoán khoán khi đã ổn định hơn sẽ là một kênh thu hút vồn đầu tư rất tố có tính cạnh tranh cao khiến dòng vốn này sẽ chẩy từ NHTM sang đó.
Huy động vốn là một trong những hoạt động đầu vào chính của NHTM.Việc huy động vốn lớn,chi phí thấp song hành với việc sử dụng vốn hiệu quả như cho vay thu lãi cao và an toàn, đầu tư đa dạng hiệu quả sẽ mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhều tiềm năng, để khai thác tốt nguồn này trong sức ép cạnh tranh trên thị trường vốn hiện nay, với thị trường chứng khoán,với chính các NHTM với nhau, với ngân hàng nước ngoài thì bản thân mỗi NHTM phải tìm hướng đi riêng tạo ra sự khác biệt của mình nhằm có chiến lược huy động vốn hấp dẫn khách hàng và chiến lược sử dụng vốn hiệu quả tạo lòng tin nơi khách hàng.Trong xu thế hội nhập WTO ngày càng sâu rộng, tài chính ngân hàng là một trog những lĩnh vực có nhiều đổi mới nhất,nhiều cơ hội cũng như thách thức to lớn.Công tác huy động vốn cũng không nằm ngoài xu thế này, điều này đòi hỏi các NHTM phải luôn nỗ lực,tiếp cận, thay đổi làm mới,sáng tạo đồng thời hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.
Qua thời gian thực tập tại ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam_ Chi nhánh Đống Đa và quá trình học tập tại trường, em nhận thấy đây là một vấn đề cần được
Trang 4quan tâm,hoàn thiện hơn trong thời gian tới.Vì vậy,em đã chọn đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam_ Chi nhánh Đống Đa”
- Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn lưu độngcủa công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Số liệu thu nhập trong 3 năm 2010, 2011, 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng một số các phương pháp như: Phương pháp phân tích, tổng hợp thống kê, so sánh nhằm làm sáng tổ vấn đề qua đó tổng kết được kết quả đạt được,tồn tại,thiếu sót cần khắc phục nhằm hoàn thiện công tác kế toán huy động vốn.
5 Kết cấu của báo cáo thực tập
Bản báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Chương 2:Thực trạng về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng
TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa
Chương 3: Kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa
Trang 5Do hạn chế về khả năng và thời gian nghiên cứu, trong khi huy động vốn là một vấn đề rộng và phức tạp nên bài báo cáo của em không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự giúp đỡ và ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo,các anh chị, cô chú cán bộ tại ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh Đống Đa để bài viết của em đạt được kết quả tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1.1-Khái niệm và vai trò của vốn trong hoạt động kinhn doanh của NHTM
1.1.1-Khái niệm vốn của NHTM
Vốn của các NHTM là toàn bộ các giá trị tiền tệ mà NH huy động và tạo lập
để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của NH.
Thực chất nguồn vốn của các NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất,phân phối, tiêu dùng mà khách hàng gửi vào
NH với các mục đích khác nhau Nói cách khác khách hàng chuyển quyền sử dụng tiền tệ trong NH và NH trả cho khách hàng một khoản lãi và NH đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối vốn làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển đồng thời chính hoạt động đó lại quyết định chính sự tông tại và phát triển hoạt động kinh doanh của NH.
1.1.2-Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của NH
1.1.2.1-Vốn là cơ sở để NH tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường bất kì doanh nghiệp nào muốn sx kinh doanh cũng cần có vốn,vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Đối với NHTM vốn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, vốn là cơ sở để NH tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Nếu thiếu vốn NHTM không thể thực hiện các hoạt động kinh doanh.VÌ thế những NH có vốn lớn sẽ có thế mạnh trong kinh doanh.Vốn là điểm xuất phát đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.1.2.2-Vốn quyết định đến quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của NHTM
Trang 6Ngoài vai trò là cơ sở để NH tổ chức các hoạt động kinh doanh, vốn còn quyết định đến việc mở rộng hoặc thu hep khối lượng tín dụng và các hoạt động khác của NHTM
Vốn tự có của NH ngoài việc sử dụng để mua sắm TSCĐ, trang thết bị, góp vốn kinh doanh…vốn tự có của NH là căn cứ để giới các hoạt động kinh doanh tiền
tệ bao gồm cả hoạt động tín dụng Việc quy định tỷ lệ cho vay, tỉ lệ huy động vốn trên vốn tự có của NHTW thể hiện vai trò quản lí, điều tiết thị trường quản lí của nhà nước, để đảm bảo hệ thống an toàn của NH và đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.
1.1.2.3-Vốn quyết định đến khả năng thanh toàn và đảm bảo uy tín của Ngân hàng trên thị trường
Một NHTM có thể thu hút được đông đảo khách hàng đến gửi tiền và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng đó khi ngân hàng uy tín trên thị trường Uy tín của ngân hàng trước hết thể hiện khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng khi họ yêu cầu Khả năng thanh toán của ngân hàng thông thương tỷ lệ thuận với vốn mà ngân hàng đó có Nếu có vốn lớn năng lực thanh toán của ngân hàng được nâng cao từ
đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng và nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường.
1.1.2.4- Vốn là một trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Với mỗi ngân hàng quy mô, trình độ công nghệ hiện đại là tiền đề để thu hút vốn Đồng thời khả năng về vốn lớn là cơ sở để ngân hàng mở rộng khối lượng tín dụng và có thể quyết định lãi suất cho vay Do đó có tiềm lực về vốn lớn ngân hàng
có thể giảm mức lãi suất cho vay, từ đó tạo cho ngân hàng ưu thế trong cạnh tranh,
và giúp ngân hàng có tiềm lực trong việc mở rộng các hình thức kinh doanh, liên kết cho thuê, mua bán nợ, kinh doanh chứng khoán…
KL: Vốn có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Do đó ngân hàng phải luôn chú trọng đến việc phát triển nguồn vốn một cách ổn định cả về vốn huy động và vốn tự có.
1.2- Các nguồn hình thành nên nguồn vốn của NHTM
1.2.1- Vốn chủ sở hữu
Trang 7Vốn chủ sở hữu là giá trị thực có của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ và một số tài khoản nợ khác của ngân hàng theo quy định của ngân hàng nhà nước Vốn chủ
sở hữu chiếm tỷ trọng rất nhỏ nhưng có vai trò quan trọng đối với hoạt động của NHTM.
- Quỹ dự phòng tài chính: Được trích lập hàng năm theo tỉ lệ 10% lợi nhuận sau thuế
và không được vượt quá số điều lệ.
- Tài sản nợ khác
+ Lợi nhuận chưa phân phối.
+ Thu nhập lớn hơn chi phí.
+ Hao mòn TSCĐ.
1.2.2- Vốn huy động
Theo tiêu thức nguồn hình thành
• Các khoản ký gửi của các cá nhân và tổ chức là các khoản tiền mà cá nhân và
tổ chức trực tiếp chuyển vào Ngân hàng: Cá nhân gửi tiền tết kiệm, doanh nghiệp nộp tiền bán hàng…Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế được Ngân hàng tập trung lại Các cá nhân và tổ chức thường gửi tiền với kỳ hạn và mục đích khác nhau, các cá nhân thường gửi tiền để hưởng lãi còn các tổ chức doanh nghiệp thường là để sử dụng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng.
• Tín dụng tạo tiền gửi: Ít người biết được rằng đây là một hình thức nhận tiền gửi Khi Ngân hàng cho khách hàng vay vốn thì Ngân hàng chuyển số tiền cho vay của khách hàng vào tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong Ngân hàng Khi khách hàng chưa có nhu cầu rút tiền ngay lập thì Ngân hàng có thể sử dụng số tiền
đó mặc dù với thời hạn rất ngắn.
Trang 8Theo tiêu thức kỳ hạn
Ngày nay người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này
để có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi và là cơ sở để Ngân hàng xây dựng chiến lược dự trữ phù hợp và chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn đó vào quá trình hoạt động kinh doanh.
• Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào tuỳ theo nhu cầu của mình do đó lãi suất của loại tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳ hạn xác định Tiền gửi không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những khách hàng chưa có dự định rõ ràng trong tương lai Đây là hình thức chủ yếu được các doanh nghiệp lựa chọn nhằm mục đích giao dịch trong kinh doanh Do vậy lượng tiền gửi không kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng Với đặc tính của nguồn tiền này là luôn biến động cho nên Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm(%) nhất định của lượng tiền gửi không kỳ hạn nhận được nhất định tuỳ thuộc vào dự tính của Ngân hàng về sự ổn định tương đối của lượng tiền huy động được trong thời gian tới Quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quả lý dự trữ của Ngân hàng.
• Tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thõa thuận giữa người gửi tiền
và Ngân hàng về số lượng, kỳ hạn và lãi suất của khoản tiền gửi dó Do có sự xác định rõ ràng về kỳ hạn nên Ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời hạn tương ứng hoặc có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn Do đặc tính của khoản tiền gửi này là có độ ổn định cao nên Ngân hàng chủ động trong việc sử dụng nguồn tiền đó để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, vì vậy Ngân hàng trả lãi cho người gửi tiền cao hơn lãi suất của loại tiền gửi không kỳ hạn và tiền giửi thanh toán, Ngân hàng đưa ra các kỳ hạn khác nhau như
3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, Mức lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, nếu kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao Các khách hàng gửi tiền theo loại này thì khi đến hạn sẽ được hoàn trả cả gốc và lãi theo qui định, nếu chưa đến hạn mà khách hàng gửi tiền rút tiền ra trước thì khách hàng chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn.
Trang 9Theo tiêu thức loại tiền
• Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi cơ bản mà các Ngân hàng thương mại nhận được, nguồn vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu đối với các Ngân hàng, nó phụ thuộc vào mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ, loại tiền này thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng tiết kiệm.
• Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh nhận tiền gửi nội tệ, Ngân hàng còn nhận tiền gửi dưới dạng ngoại tệ đặc biệt là các ngoại tệ mạnh như USD, FRF, GBP, DEM… Những ngoại tệ này cũng rất cần thiết trong hoạt động của Ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế…các Ngân hàng có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường có nguồn vốn ngoại tệ lớn Nhận tiền gửi bằng ngoại tệ là một phương thức đa dạng hoá về phương thức huy động vốn của các Ngân hàng thương mại.
• Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước phát triển, thường sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình Những người
để dành một khoản tiền gửi vào Ngân hàng (Thông thường là các khoản tiền đều đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định trong tương lai như xây dựng nhà cửa, mua ôtô… và cũng được hưởng lãi trên số tiền gửi như các loại tiết kiệm khác Khi có nhu cầu sử dụng tiền vào mục đích nói trên, nếu số dư của khoản tiết kiệm đó chưa đủ thì Ngân hàng có thể hỗ trợ thêm một phần dưới hình thức cho vay với một lãi suất hợp lý đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên Đây là một hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính chất ổn định, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân về việc mua sắm nhà cửa, phương tiện.
Trang 10• Tiền gửi thanh toán: Là các khoản ký gửi của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không nhằm mục đích tìm kiếm thêm thu nhập mà để được hưởng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng, thông thường các khoản tiền gửi thanh toán có số lượng lớn Mặt khác một số Ngân hàng thường ưu tiên hơn đối với các doanh nghiệp mở tài khoản tại Ngân hàng và phải có số dư nhất định trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Các khoản tiền gửi này Ngân hàng phải chịu chi phí thấp, phải quản lý chính xác khâu dự trữ nhưng lại được sử dụng một khoản tiền lớn phục vụ cho các hoạt động của mình.
• Các khoản tiền gửi thanh toán một mặt làm phát triển hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống Ngân hàng, tiết kiệm chi phí trong lưu thông, mặt khác kiểm soát được hoạt động của các doanh nghiệp Khi thực hiện chức năng
là trung gian thanh toán cho nền kinh tế, Ngân hàng tạo được một nguồn vốn từ hoạt động thanh toán: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi chờ thanh toán… Các khoản tiền tạm thời đang nằm ở tài khoản của Ngân hàng chờ sử dụng nên được coi là nhàn rỗi Ngân hàng thương mại cũng thu hút được một lượng vốn đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ chức tín dụng khác, nhận vốn uỷ thác của các tổ chức trong và ngoài nước….
Do tiền được giải ngân theo tiến độ công việc nên Ngân hàng có thể sử dụng tạm thời các khoản tiền đó vào kinh doanh.
Vốn vay
Tiền gửi mà Ngân hàng nhận được là nguồn vốn mà Ngân hàng có được một cách thụ động Trong hoạt động của mình nếu như thiếu vốn thì Ngân hàng phải chủ động tìm kiếm vốn để thực hiện các hoạt động của mình Nguồn vốn mà Ngân hàng chủ động tạo nên đó là nguồn vốn vốn vay Vậy các Ngân hàng đi vay khi nào?
Thứ nhất: Vay để đáp ứng nhu cầu khả năng thanh toán của Ngân hàng.
Vì hoạt động chủ yếu và thường xuyên của Ngân hàng là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử dụng Do vậy có những trường hợp số tiền dự trữ và số tiền mà Ngân hàng nhận được trước đó trong ngày ít hơn số tiền mà khách hàng rút thì Ngân hàng sẽ gặp
Trang 11khó khăn trong việc thanh toán tiền cho khách hàng nghĩa là Ngân hàng thiếu tiền trả cho khách hàng Vậy Ngân hàng phải đi vay.
Thứ hai: Vay hộ cho khách hàng
Vì hoạt động cơ bản của Ngân hàng là tài trợ cho nền kinh tế nên khi khách hàng có nhu cầu vay vốn Ngân hàng và đảm bảo các yêu cầu do Ngân hàng đặt ra thì Ngân hàng sẽ cho vay Tuy nhiên với những khách hàng vay với khối lượng lớn, thời hạn dài mà Ngân hàng lại không muốn dùng toàn bộ số tiền của mình có để đầu tư cho dự án này (vì rủi ro đem lại có thể rất cao) nhưng Ngân hàng cũng không muốn mất khách hàng nên họ thoả thuận với nhau qua đó Ngân hàng thay mặt khách hàng phát hành trái phiếu để thu gom tiền trong nền kinh tế để phục vụ vốn cho dự án Người ta chỉ phát hành trái phiếu vừa đủ số tiền mà dự án cần dùng
và trong một thời hạn bằng thời gian tồn tại của dự án.
Thứ ba: Vay để cho vay
Hầu như toàn bộ số tiền trong lưu thông đã trở thành tiền gửi tại các Ngân hàng nghĩa là các Ngân hàng chia nhau nắm giữ lượng tiền trong lưu thông Để tăng lượng tiền gửi của mình các Ngân hàng thường tăng lãi suất để thu hút các khoản tiền gửi ở các Ngân hàng khác chảy về Nhưng thực tế khi một Ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi, để tránh sự chảy vốn các Ngân hàng khác cũng đồng loạt tăng lãi suất lên làm chi phí Ngân hàng tăng lên mà lượng tiền gửi lại thay đổi không đáng kể Do vậy khi thiếu vốn để tài trợ cho các dự án mà Ngân hàng cho là có hiệu quả thì Ngân hàng sẽ thực hiện chính sách đi vay Do tính chất hoạt động không đồng đều giữa các Ngân hàng về huy động vốn và sử dụng vốn và vậy những Ngân hàng thiếu vốn có thể đi vay ở những Ngân hàng còn thừa vốn chưa sử dụng hết hoặc đi vay vốn từ NHTƯ hoặc các định chế tài chính khác Mặt khác do Ngân hàng
dự đoán được sự gia tăng của nhu cầu tín dụng trong tương lai mà nguồn vốn huy động chưa thể đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn rrong thời kỳ tới thì Ngân hàng thực hiện đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Thứ tư: Vay để giảm chi phí nguồn tiền cho giai đoạn sau.
Trang 12Vào cuối kỳ hạch toán, nếu các chủ Ngân hàng dự tính được thu nhập của kỳ
đó lớn nghĩa là kỳ đó họ phải chịu thuế nhiều Nếu họ cũng dự tính được kỳ sau họ
sẽ có những khoản chi phí lớn thì họ có thể phát hành kỳ phiếu ngắn hạn trả lãi trước nhằm tăng chi phí cho kỳ này và giảm chi phí cho kỳ sau
Như vậy Ngân hàng sẽ đi vay với các lý do trên, với các mục đích vay khác nhau Ngân hàng sẽ áp dụng các hình thức vay khác nhau.
Kỳ phiếu có mục đích
Khi các Ngân hàng muốn có một khoản tài chính để tài trợ cho các dự án có qui mô lớn, thời hạn dài hoặc tăng qui mô hoạt động của các Ngân hàng hoặc liên doanh với các tổ chức khác mà nguồn vốn vốn hiện tại chưa đáp ứng được, Ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu để tạo nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư cho các hoạt động này Có thể kỳ phiếu là một chứng chỉ nhận nợ của Ngân hàng có mục đích kỳ hạn rõ ràng Kỳ phiếu của Ngân hàng phát hành để huy động vốn từ dân cư
và các tổ chức kinh tế để tạo lập nguồn vốn trung và dài hạn dể tài trợ cho các hoạt động của mình Khi Ngân hàng muốn giảm chi phí cho kỳ sau thì Ngân hàng phát hành kỳ phiếu ngắn hạn trả trước.
và đồng loạt trong cả hệ thống Ngân hàng.
Trang 13Như vậy trái phiếu và kỳ phiếu có mục đích đều được Ngân hàng phát hành với mục đích huy động vốn trung và dài hạn và là khoản vay của các Ngân hàng trên thị trường Ngoài ra còn có các hình thức vay khác.
Vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng và vốn vay từ Ngân hàng trung ương
Tuỳ theo tình hình hoạt động của Ngân hàng trong từng thời kỳ và lý do của các khoản vay của mình mà Ngân hàng có những hình thức vay phù hợp Với các hình thức vay như trên Ngân hàng có thể mất rất nhiều thời gian Đối với mục đích
sử dụng ngay như để đảm bảo khả năng thanh khoản cho Ngân hàng thì hai hình thức vay vốn trên không phù hợp Ngân hàng có thể sử dụng phương thức khác như vay vốn ở các tổ chức tín dụng khác hoặc vay ở NHTƯ Thực tế cho thấy hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn thì không đồng đều giữa các Ngân hàng, ở những thời điểm có những Ngân hàng thiếu vốn nhưng lại có những Ngân hàng tạm thời đang thừa vốn thì các Ngân hàng này có thể vay mượn lẫn nhau vì mục đích của cả đôi bên Hơn nữa các Ngân hàng đều làm trung gian thanh toán cho nền kinh tế nên các Ngân hàng đều mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau và trong những trường hợp Ngân hàng nào đó thiếu vốn để thanh toán chi khách hàng của mình thì Ngân hàng kia có thể cho vay để Ngân hàng đó đảm bảo khả năng thanh toán Trong những trường hợp cấp bách mà Ngân hàng không thể vay được ở các Ngân hàng khác thì có thể vay ở NHTƯ vì NHTƯ là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn mà NHTƯ chia thành các loại sau:
• Vốn vay ngắn hạn bổ sung: Là hình thức mà NHTM xin vay vốn bổ sung nguồn vốn ngắn hạn của mình Trong trường hợp này các NHTM chỉ được vay khi còn hạn mức tín dụng theo qui định của NHTƯ.
• Vốn vay để đảm bảo khả năng chi trả: Các NHTM vay vốn của NHTƯ để bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán hoặc thiếu hụt trong dự trữ (thường là vay với thời hạn ngắn).
Trang 14• Tái cấp vốn: NHTƯ cho các NHTM vay vốn trên cơ sở các chứng từ có giá Các chứng từ này phải hợp lệ, hợp pháp và an toàn Tái cấp vốn gồm có các hình thức: Cho vay bằng chiết khấu hoặc tái chiết khấu giấy tờ có giá và cho vay có bảo đảm.
Tuy nhiên việc NHTM vay vốn ở NHTƯ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ mà NHTƯ có thể cho vay với khối lượng, thời hạn, lãi suất, hạn mức… khác nhau để thực hiện chính sách tiền tệ của mình.
Như vậy với đặc điểm tiện lợi của kỳ phiếu, trái phiếu hoặc vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác hoặc vay ở NHTƯ là tuỳ theo mục đích sử dụng của các khoản vay cùng với tính cân đối giữa nguồn vốn và cho vay tại những thời kỳ nhất định Với một tỷ lệ lãi suất đủ sức hấp dẫn, Ngân hàng có thể chủ động huy động được lượng vốn cần thiết trong thời gian ngắn Vì vậy các hoạt động về nguồn vốn ngày nay được gọi là nguồn vốn chủ động thu gom của các Ngân hàng và hoạt động quản lý dự trữ Hơn nữa việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu ngoài mục đích huy động còn có mục đích khác như kiềm chế lạm phát, góp phần hình thành và phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán- Một kênh huy động vốn trung và dài hạn hữu hiệu của nền kinh tế.
Nguồn vốn khác
Điều chuyển vốn
Ngày nay hệ thống NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty và các công ty con gồm Ngân hàng mẹ và các hệ thống các Ngân hàng Chi nhánh trực thuộc Có một phương thức huy động vốn rất hiệu quả hiện nay là chu chuyển vốn điều hoà Do tình hình hoạt động của các chi nhánh tại các địa bàn khác nhau là khác nhau (do ảnh hưởng của điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng, do phong tục tập quán…) Cho nên những Chi nhánh Ngân hàng mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động vốn thì đầu kỳ lập kế hoạch lên Ngân hàng mẹ và xin được nhận được một lượng vốn điều hoà cần thiết cho hoạt động của mình Còn những Ngân hàng mà khả năng huy động vốn vượt qúa khả năng sử dụng vốn thì đầu kỳ cũng lập kế hoạch sẽ điều chuyển một lượng vốn về Ngân hàng mẹ để được hưởng lãi suất điều hoà Như vậy Ngân hàng mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn
Trang 15từ nơi thừa sang nơi thiếu của các chi nhánh trong cùng hệ thống Chi phí nhận nguồn vốn điều hoà này thấp hơn chi phí nguồn vốn huy động nhưng các Ngân hàng chỉ được nhận nguồn vốn này sau khi đã lập kế hoạch về lượng vốn huy động được trong kỳ sau.
Nguồn vốn uỷ thác đầu tư
Một số Ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng đại lý Khi đó trong nguồn vốn của Ngân hàng còn có thêm khoản mục vốn uỷ thác đầu tư Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu là do các tổ chức tài chính trong nước hoặc nước ngoài uỷ thác cho Ngân hàng một khoản tiền để Ngân hàng thực hiện cho vay đối với các dự án của mình, cũng có thể là các khoản vay của Chính phủ được uỷ thác.
Trên đây là các nguồn hình thành nên nguồn vốn của các NHTM, nhìn qua ta thấy trong cơ cấu tổng nguồn vốn thì vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 90%), nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng Vì vậy từng Ngân hàng phải có những chiến lược huy động vốn của riêng mình trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của từng Ngân hàng và của môi trường kinh doanh để không ngừng nâng cao thị phần huy động nhằm phục cụ tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.3- Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM
1.3.1- Nhân tố khách quan
a, Môi trường chính trị - pháp luật
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật và các cơ quan chức năng của chính phủ Hoạt động ngân hàng được điều chỉnh rất chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật Môi trường pháp lí đem lại cho nhân hàng hàng loạt các cơ hội và thách thức Ví dụ như việc dỡ bỏ các hạn chế
về huy động vốn tiền gửi nội tệ và các sản phẩm để quy định tiền gửi nội tệ và các sản phẩm cho vay nội tệ.
Ngoài ra ngân hàng còn chịu sự điều chỉnh của rất nhiều bộ luật: Luật dân
sự, luật NHTW,các quy định của chính phủ…Do đó hoạt động huy động vốn của ngân
Trang 16hàng cũng bị ảnh hưởng bởi chính sách pháp luật của nhà nước, chính sách của NHTW như : Chính sách tiền tệ, lãi suất tài chính, tín dụng…Sự thay đổi của những chính sách này sẽ ảnh hưởng đến thu hút vốn và chất lượng nguồn của NHTM.
b, Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng,nó ảnh hưởn đến khả năng thu nhập, chi tiêu, thanh toán và nhu cầu về vốn và tiền gửi của dân cư và ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Sự thay đổi của các yếu tố : tốc độ tăng trưởng kinh tế,tỉ lệ lạm phát,thu nhập bình quân đầu người thay đổi, chính sách đầu tư,tiết kiệm của chính phủ… sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư và từ đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn của NHTM Ví dụ khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì tiêu dùng và tiết kiệm tăng và người dân gửi tiền vào NH tăng và ngược lại.
c, Môi trường
Môi trường dân số là yếu tố rất quan trọng bởi nó khổng chỉ tạo thành nhu
và kết cấu nhu cầu của dân cư về sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà còn là căn cứ để hình thành hệ thống phân phối của ngân hàng Đồng thời môi trường dân số là cơ
sở để xây dựng và điều chỉnh hoạt động huy động vốn của ngân hàng Môi trường dân số ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng do đó ngân hàng phải nghiên cứu kĩ lưỡng môi trương kinh tế trước khi đưa ra chiến lược huy động để có thể huy động được nguồn vốn phù hợp với nhu cầu của ngân hàng về chất lượng, số lượng và thời hạn…
d, Môi trường địa lí
Môi trường địa lí được xác định bỏi quy định quốc tế để hình thành quốc gia trong việc hình thành các tỉnh, huyện, xã, thành phố, nông thôn,…tuỳ từng khu vực địa lí mà ngân hàng quyết định đặt nhiều hay ít điểm huy động vốn và quyết định chiến lược huy động ở mỗi khu vực có số dân và điều kiện khác nhau
e, Môi trường công nghệ.
Sự thay đổi về công nghệ có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế và xã hội Hoạt động nghân hàng là một trong những hoạt động chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghệ,hoạt động ngân hàng là hoạt động không thể tách rời khỏi sự phát triển của công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin.
Trang 17Công nghệ có ảnh hưởng lớn đến quy trình phát triển của ngân hàng, nó đem lại cho ngân hàng nhiều cơ hôi nhưng cũng mang lại hàng loạt thách thức mới.Công nghệ mới cho phép ngân hàng đổi mới quy trình, nghiệp vụ, cách thức phân phối sản phẩm, phát triển sản phẩm mới…Nhờ có công nghệ mà hoạt động huy động vốn được cải tiến, rút ngắn thời gian giao dịch và thực hiện nghiệp vụ chính xác…giúp ngân hàng có khả năng thu hút được nhiều vốn, nhiều khách hàng , tăng thu nhập và uy tín của khách hàng.
f, Môi trường văn hoá kinh tế xã hội
Mỗi quốc gia đều có văn hoá riêng, văn hoá chính là yếu tố tạo nên bản sắc dân tộc như: Tập quán thói quen tâm lí…đối với ngân hàng hoạt động huy động vốn
là hoạt động chiu nhiều ảnh hưởng của môi trường văn hoá Cụ thể ở các nước phát triển người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để hưởn những tiện ích trong thanh toán, hưởng lãi và trong tiềm thức của họ ngân hàng là một phần không thể thiếu được, là một phần tất yếu trong nền kinh tế Do vậy ngân hàng gặp không mấy khó khăn trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và tổ chức kinh tế Ngược lại ở các nước dang phát triển như Việt Nam việc huy động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn vì người dân Việt Nam nay vẫn chưa quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng Mặt khác ngân hàng chưa thực sự tạo được lòng tin đối với người dân sau hàng loạt sự kiện đã sảy ra như: Đổi tiền 1985-1986,tỷ lệ lạm phát 600-700% làm nhiều người dân mất trắng,sự sụp đổ của 7500 quỹ tí dụng nhân dân và hàng loạt sự kiện khác có liên quan đến ngân hàng: Dệt Nam Định, Minh phụng EPCO làm cho các ngân hàng bị thiệt hại lớn.Ngân hàng chưa chú trọng đến hoạt động Marketing, tiếp thị quảng cáo…người dân còn thiếu hiểu biết về chủ trương chính sách của nhà nước,hoạt động của ngân hàng vì vậy cho đến nay vẫn còn tình trạng
có tiền nhưng không muốn gủi ngân hàng vì không biết phải làm những thủ tục nào, người dân ngại mất thời gian do thủ tục rườm rà…
1.3.2- Nhân tố chủ quan
a, Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Ngân hàng phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp Trong chiến lược ngân hàng phải quyết định sẽ mở rộng hoặc thu hẹp quy mô huy động vốn,thay đổi tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng nguồn vốn, lãi suất huy động.
Trang 18Nếu chiến lược kinh doanh đúng đắn ngân hàng sẽ khai thác được nguồn vốn đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả cao.
b, Chính sách lãi suất cạnh tranh
Chính sách lãi suất cạnh tranh bao gồm lãi suất cạnh tranh huy động và lãi suất cạnh tranh cho vay là một chính sách quan trọng của ngân hàng.Việc duy trì lãi suất cạnh tranh huyđông là đặc biệt quan trọng khi lãi suất thị trường đang ở mức tương đối cao.Các ngân hàng thương mại không chỉ cạnh tranh với các tỏ chức tiết kiệm và người phát hành các công cụ khác nhau trên thị trường vốn Đặc biệt trong thời kì kham hiếm tiền tệ, dù cho sự khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy những người tiết kiệm và đầu tư chuyển vốn từ công cụ mà họ đang có sang tiết kiệm và đầu tư hoặc từ một tổ chức tiết kiệm mà sang một tổ chức tiết kiệm khác
c, Các chính sách ngân hàng
Trong công tác khách hàng,ngân hàng thường chia khách hàng ra làm nhiều nhóm đẻ có cách phục vụ phù hợp.Với những khách hàng lâu năm, dao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm với ngân hàng thì ngân hàng sẽ có chính sách phù hợp về thời hạn và lãi suất.
d, Các hình thức huy động vốn của ngân hàng
Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vồn của ngân hàng Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng đa dạng phong phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế càng lớn bấy nhiêu Điều này xuất phát từ sự khác nhau từ nhu cầu và tâm lí của các tầng lớp dân cư Mức độ đa dạng của hình thức huy động càng cao thì càng đáp ứng một các tốt nhất nhu cầu của dân cư và họ đều tìm cho mình một hình thức gửi liền phù hợp mà lại
an toàn Do vậy các ngân hàng thương mại thường cân nhắc kĩ trước khi đưa vào các hình thức huy động mới.
e, Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng
Một ngân hàng có dịch vụ tốt hiển nhiên sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngân hàng khác Trong điều kiện kinh tế thị trường các ngân hàng phải phấn đấu nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hoá các dịch vụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và tăng thu nhập của ngân hàng Khác với cạnh tranh về lãi suất cạnh
Trang 19tranh về dịch vụ ngân hàng không có giới hạn Do vậy đây chính là điển mạnh để các ngân hàng vươn lên cạnh tranh.
f, Chính sách phục vụ quảng cáo
Trông điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay khó có thể duy trì sự khác biệt về sản phẩm và giá cả nên chiến lược phục vụ quảng cáo trở thành yếu tố vô cùng quan trọng đẻ thu hút khách hàng Thái độ phục vụ can thiệp, chu đáo là diều kịên đẻ thu hút khách hàng Thái độ phục vụ thân thiện, chu đáo là điều kiện để thu hút khách hàng, chiến lược quảng cáo phù hợp sẽ giúp ngân hàng sẽ có nhiều khách hàng mới Do đó để có uy tín trên thị trường, giữ vững mối quan hệ với khách hàng truyền thống và thu hút thêm nhiều khách hàng mới, ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, có chiến lược quảng cáo hợp lí để nhiều người biết đến ngân hàng và sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung ứng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP
HÀNG HẢI VIỆT NAM_ CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 2.1 Giới thiệu khái quát về ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa
2.1.1 Lịch sử hình thành của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam_ Chi nhánh Đống Đa
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam
Tên giao dịch nước ngoài: Vietnam maritime bank Commercial Stock Bank Tên viết tắt Maritime Bank hoặc MSB
Hội sở chính: Maritime Bank Tower , 88 Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) chính thức thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngày 12/07/1991, Maritime Bank chính thức khai trương và đi vào hoạt động tại Thành phố Cảng Hải Phòng, ngay sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng Thương mại, Hợp tác xã Tín dụng và Công ty Tài chính có hiệu lực Khi đó, những cuộc tranh luận về mô hình ngân hàng cổ phần còn chưa ngã ngũ và Maritime Bank
đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam Đó là kết quả có được từ sức mạnh tập thể và ý thức đổi mới của các cổ đông sáng lập: Cục Hàng Hải Việt Nam, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam…
Trang 20Ban đầu, Maritime Bank chỉ có 24 cổ đông, vốn điều lệ 40 tỷ đồng và một vài chi nhánh tại các tỉnh thành lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh, TP HCM Có thể nói, sự ra đời của Maritime Bank tại thời điểm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX
đã góp phần tạo nên bước đột phá quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.
Nhìn lại chặng đường phát triển thì năm 1997 - 2000 là giai đoạn thử thách, cam go nhất của Maritime Bank Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, Ngân hàng đã gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, bằng nội lực và bản lĩnh của mình, Maritime Bank đã dần lấy lại trạng thái cân bằng và phát triển mạnh
mẽ từ năm 2005.
Đến nay, Maritime Bank đã trở thành một ngân hàng thương mại cổ phần phát triển mạnh, bền vững và tạo được niềm tin đối với khách hàng.Vốn điều lệ của Maritime Bank là 8.000 tỷ VNĐ và tổng tài sản đạt hơn 110.000 tỷ VNĐ Mạng lưới hoạt động không ngừng được mở rộng từ 16 điểm giao dịch năm 2005, hiện nay đã lên đến gần 230 điểm giao dịch trên toàn quốc.
Ngân hàng Thương mại Cố Phần Hàng Hải Việt Nam_ Chi nhánh Đống Đa thành lập năm 2006 tại Quận Đống Đa - Thành phố Hà Nội.
Trải qua nhiều năm hoạt động từ một chi nhánh có 13 nhân viên, nay số nhân viên tăng lên hơn 100 nhân viên với trình độ chuyên môn nghiệp vụ chuyên nghiệp, được đào tạo chính quy về tài chính – ngân hàng, có lòng đam mê nghề nghiệp, hết lòng vì công việc.Với số vốn ban đầu là 1.9 tỷ dùng để thuê mặt bằng, mua sắm cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết đến nay tổng tài sản tăng lên đáng kể Ngân hàng thương mại Cổ Phần Đống Đa đã thực hiện hầu hết các dịch vụ, sản phẩm phong phú và đa dạng của hệ thống Ngân hàng TMCP Hàng Hải, nhất là hoạt động tín dụng và thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế của chi nhánh cũng được khách hàng tín nhiệm sử dụng tại chi nhánh, với mật độ sử dụng mở L/C chiếm đến 90%
số dịch vụ thanh toán quốc tế của chi nhánh Ngân hàng TMCP Hàng Hải_ Chi nhánh Đống Đa đã được xếp hạng B trong hệ thống ngân hàng TMCP Hằng Hải trên toàn quốc và được ghi nhận về thành công, phát triển nhanh chóng của mình.
Trang 21Các hội đồng và ủy ban Tổng giám đốc
Các hội đồng tư vấn
Ban kiểm soát
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Ban thư kí hội đồng quản trị
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam_ Chi nhánh
Đống Đa
- Mô hình tổ chức của ngân hàng Hàng Hải
Maritime Bank Đống Đa là Chi nhánh trực thuộc Maritime Bank, hạch toán phụ thuộc.có con dấu riêng, thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại
cổ phần bằng đồng Việt Nam (nghiệp vụ đối ngoại theo Giấy phép riêng) kinh doanh theo quy định của pháp luật và của Maritime Bank.
Sở giao dịch, các chi nhánh và phòng giao dịch
Khối chi
nhánh và
dịch vụ
Khối KH doanh nghiệp
Các phòng ban hỗ trợ
Khối Quản lý rủi ro
Khối tài chính kế toán
Khối nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ Khối KH
cá nhân
Trang 22Cơ cấu tổ chức ban đầu của Ngân hàng TMCP Hàng Hải_ Chi nhánh Đống
Đa gồm có: Giám đốc, Phòng dịch vụ khách hàng, Phòng tín dụng, Tổ kế toán – tổng hợp và Tổ hành chính.
Ban giám đốc gồm có
Giám đốc là người đại diện cho chi nhánh về mặt pháp luật và là người điều hành cao nhất, toàn quyền quyết đinh mọi vấn đề liên quan đến hoạt động chi nhánh, là người đưa ra chiến lược , hướng đi cho chi nhánh chịu trách nhiệm với toàn bộ hoạt động của chi nhánh
Phó giám đốc phụ trách mảng quỹ, dịch vụ khách hàng, phát triển mạng lưới
và tín dụng.
Phòng dịch vụ khách hàng – Trưởng phòng Ông Nguyễn Trung Dũng thực hiện các giao dịch với khách hàng, thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền gửi, thanh toán trong nước, trao đổi mua bán ngoại tệ… với 30 nhân viên trong phòng.