Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay trung và dài hạn đối với DNN&V tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ
Trang 1Đối với các NHTM, sự ra đời của hàng loạt các TCTD với những hìnhthức khác nhau và sự xâm nhập của hàng loạt các ngân hàng nước ngoài –quy mô vốn lớn, khả năng cho vay đối với các doanh nghiệp cao trong thờigian qua khiến cho sự canh tranh trở lên trở lên gay gắt hơn Đồng thời cácNgân hàng Cổ phần với chính sách cho vay hấp dẫn hấp dẫn đã tạo áp lực lớncho hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng quốc doanh Trong điều kiện đóđòi hỏi Ngân hàng quốc doanh phải có những biện pháp tìm kiếm khách hàngmới phù hợp với khả năng của mình, DNN&V là một trong những đối tượngkhách hàng rất phù hợp
Vì thế, đề tài : “ Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay trung và dài hạn đối với DNN&V tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ ”
Trang 2được chọn nhằm góp phần tổng kết lý luận và thực tiễn thông qua việc phântích tình hình cho vay trung và dài hạn đối với DNN&V tại Chi nhánhNHNo&PTNT Láng Hạ, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm mở rộng hoạtđộng cho vay trung và dài hạn đối với DNN&V tại Chi nhánh NHNo&PTNTLáng Hạ phù hợp với tình hình kinh tế trong nước và quốc tế.
Trang 3
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 Các vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.1.1 Khái niệm về DNN&V
Có nhiều căn cứ để phân loại doanh nghiệp, khi nói đến DNN&V là nóiđến cách phân lọai doanh nghiệp dựa vào quy mô của doanh nghiệp Mỗiquốc gia trên thế giới có đặc điểm riêng về nền kinh tế, trình độ phát triển nênnhững quy định chung về DNN&V cũng khác nhau Tuy nhiên, có thể đưa ramột khái niệm chung nhất về DNN&V như sau: “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa
là những cơ sở sản xuất – kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vìmục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất địnhtính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu đượctrong từng thời kì theo quy định của từng quốc gia”
Như vậy có thể nói, tiêu thức phân loại doanh nghiệp được sử dụng phổbiến trên thế giới là:
+ Vốn sản xuất
+ Số lao động thường xuyên
+ Doanh thu
+ Lợi nhuận
+ Giá trị gia tăng
Trong số các tiêu thức trên thì quy mô vốn và số lượng lao động lànhững tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất Ở mỗi nước, sự phân chiaDNN&V cững không giống nhau và còn phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh,
ví dụ như: ở Nhật Bản các DNN&V thuộc khu vực sản xuất phải có số vốndưới 1 triệu USD và số lao động không quá 300 người, còn khu vực thươngmại dịch vụ thì có vốn dưới 300.000USD và lao động không quá 100 người
Trang 4Tại Đài Loan, các doanh nghiệp trong ngành xây dựng có số vốn dưới 1,4triệu USD, lao động dưới 300 người; trong khu vực công nghiệp khai khoáng
có số vốn dưới 1,4 triệu USD và không quá 500 lao động là DNN&V
Tại Việt Nam, Nghị định số 90/2001/NĐ – CP ra ngày 23/11/2001 quy
định rõ: “DNN&V là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh
doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn dăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc
có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người ”.
Theo quy định này, DNN&V ở nước ta gồm các loại hình cơ sở sản xuấtkinh doanh tồn tại trong tất cả các thành phần kinh tế, và thuộc các hình thức
sở hữu sau:
+ Doanh nghiệp Nhà nước
+ Công ty Cổ phần, hợp danh
+Công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Doanh nghiệp tư nhân
+ Hợp tác xã
+ Hộ kinh doanh các thể
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của DNN&V
Trong thời gian qua, các DNN&V đã và đang chiếm một vị trí quantrọng đối với nền kinh tế của bất kì một quốc gia nào Trong bối cảnh toàncầu hóa kinh tế và tự do thương mại như hiện nay DNN&V càng phát huyđược lợi thế, bao gồm:
1.1.2.1 Những ưu thế:
- DNN&V rất năng động, linh hoạt, có khả năng thích ứng cao trước sựthay đổi của thị trường DNN&V có thể chuyển đổi hàng hóa mà mình cungcấp, chuyển hướng kinh doanh theo nguyên tắc kết hợp chuyên môn hóa với đadạng hóa trên cơ sở đổi mới công nghệ, tăng cường liên doanh liên kết Đồng
Trang 5thời với cơ sở vật chất kĩ thuật không lớn, DNN&V dễ dàng chuyển đổi hướngsản xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không sợ gây ra những hậu quả nặng nề.
- Với tính chất nhỏ gọn, DNN&V chỉ cần đầu tư ít vốn vẫn có khả năngtrang bị những máy móc với công nghệ cao và tương đối hiện đại Tổ chứcgọn nhẹ góp phần tiết kiệm chi phí quản lí, nâng cao hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp
- DNN&V cần ít diện tích đất sản xuất tập trung, có khả năng sản xuấtnhỏ lẻ, do đó có thể tận dụng được các nguồn lực phân tán, phát huy đượctiềm lực tại các địa phương trong cả nước như: khai thác tài nguyên tại chỗ,thu hút lao động có sẵn tại địa phương
- Vốn đầu tư ban đầu của DNN&V tuy ít nhưng mang lại hiệu quả kinh
tế cao, thu hồi vốn nhanh do đó có khả năng thu hút nhiều cá nhân, tổ chức ởmọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu vực này
1.1.2.2 Những bất lợi:
- Khả năng cạnh tranh thấp dó tiềm lực về kinh tế yếu: DNN&V cóvốn chủ sở hữu ít, mặt khác thường thiếu tài sản thế chấp nên rất khó đểvay vốn ngân hàng, còn việc huy động vốn trên thị trướng chứng khoáncũng rất khó khăn Nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động được chủ yếu
là từ người thân, bạn bè Do đó DNN&V luôn thiếu vốn làm hạn chếcũng như bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh, không đáp ứng được yêu cầu mởrộng sản xuất, dẫn đến khả năng tự tích lũy của các doanh nghiệp cũng bịhạn chế
- Khả năng hạn hẹp trong việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nghiêncứu, cải tiến công nghệ, đổi mới sản phẩm: do hạn chế về vốn nên có những
kế hoạch và chiến lược phát triển tốt bị bỏ qua dẫn đến khả năng cạnh tranhtrên thị trường của các doanh nghiệp này thấp
Trang 6- DNN&V với quy mô kinh doanh không lớn, khả năng tài chính hạnhẹp, sức cạnh tranh thấp do đó trong nhiều trường hợp thường bị động vì phụthuộc vào hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn.
1.1.3 Vai trò của DNN&V
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, song với những lợi thế của mình cácDNN&V ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗiquốc gia, kể cả nước có trình độ phát triển cao Nhật Bản và các quốc giachâu Á đều đánh giá cao vai trò của DNN&V trong quá trình phát triển kinh
tế của mình, trong đó Đài Loan được nhắc đến như là một điển hình tànhcông, là vương quốc của DNN&V Năm 2000, DNN&V Đài Loan chiếmkhoảng 96% tổng số doanh nghiệp, tạo ra khoảng 40% sản lượng côngnghiệp, hơn 50% giá trị xuất khẩu và tạo ra hơn 70% công ăn việc làm mới.Đặc biệt, nhờ có DNN&V mà nền kinh tế Đài Loan đã giữ được ổn địnhtrong cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 Ở Đức, khu vựcDNN&V nắm giữ một vị trí quan trọng đối với nền kinh tế, nó tạo ra 50%GDP, chiếm hơn 1/2 doanh thu chịu thuế của các doanh nghiệp, cung cấp cácloại hàng hóa dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng trong vàngoài nước
Tại Việt Nam, các DNN&V được phát triển một cách chính thức kể từkhi có sự ra đời của Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty áp dụng vàonăm 1990 và sửa đổi thành Luật doanh nghiệp năm 1999 Từ đó, số lượngDNN&V ở nước ta ngày càng gia tăng một cách mạnh mẽ Hiện nay,DNN&V ở Việt Nam chiếm khoảng 97% trong tổng số hơn 200.000 doanhnghiệp đã thành lập trên toàn quốc Các doanh nghiệp này đang đóng gópkhoảng 26% GDP, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tạo ra hơn49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn và thu hút hơn 26% lao độngtrong cả nước Tuy nhiên đây chỉ là con số đóng góp trực tiếp, ngoài ra
Trang 7DNN&V còn có vai trò lớn trong mối quan hệ gắn kết với các doanhnghiệp lớn hơn.
Như vậy ta có thể khẳng định rằng đối với bất kì nền kinh tế nào thìDNN&V cũng đóng một vai trò quan trọng, thể hiện ở:
- Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn, đóng góp đáng kể vào
sự phát triển ổn định của của mỗi quốc gia Khi các DNN&V hoạt động tíchcực và hiệu quả thì sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh thực sự, phá vỡ một phầnthế độc quyền của một số doanh nghiệp lớn, làm cho hàng hóa dịch vụ rẻ hơn,phục vụ tốt nhu cầu của người tiêu dùng Ngoài ra các DNN&V có khả năngthay đổi mặt hàng, công nghệ, chuyển hướng kinh doanh nhanh làm cho nềnkinh tế năng động hơn Mặt khác, các DNN&V đóng góp vào GDP với một tỷtrọng tương đối lớn, do đó việc phát triển DNN&V có vai trò quan trọng trong
sự phát triển của nền kinh tế
- Thu hút lao động, tạo ra nhiều việc làm với chi phí đầu tư thấp, gópphần giảm thất nghiệp Nhìn chung, theo các số liệu thống kê ở một sốnước châu Á thì các DNN&V chiếm khoảng 81 – 98% số doanh nghiệp,thu hút khoảng 30 – 60% lao động Ở Việt Nam, số lượng DNN&V chiếmkhoảng 97% trong tổng số doanh nghiệp đã đăng kí hoạt động, đóng gópkhoảng 26% GDP của nền kinh tếvà thu hút khoảng 26% lực lượng laođộng trong cả nước
- Tạo nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân cư, góp phần giảmbớt chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư, tạo sự phát triển đồngđều giữa các vùng trong cả nước do DNN&V có khả năng tận dụng nhữngtiềm năng sẵn có tại địa phương Việc phát triển các doanh nghiệp thuộcngành nghề truyền thống trong nông thôn hiện nay là một trong những hướngquan trọng và được Nhà nước hết sức hỗ trợ vì không những làm tăng thunhập cho người dân mà còn góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc
Trang 8- DNN&V hỗ trợ các doanh nghiệp lớn nâng cao hiệu quả kinh tế Thựctiễn cho thấy một nền kinh tế có công nghệ hiện đại sẽ không hoàn chỉnh vàkhông hiệu quả nếu không có những doanh nghiệp lớn và những doanhnghiệp có quy mô nhỏ hơn Mối liên hệ thể hiện thông qua việc doanh nghiệplớn cung cấp nguyên liệu sơ chế, thành phẩm, thiết bị, máy móc cho cácdoanh nghiệp nhỏ Đồng thời các DNN&V tiếp nhận việc xây dựng cơ sở sảnxuất và trang thiết bị, chế tạo các bộ phận đơn giản, cung cấp các dịch vụcông nghiệp như lắp đặt, sửa chữa bảo dưỡng, … cho các doanh nghiệp lớn.Ngoài ra, DNN&V còn đóng vai trò làm đại lý, vệ tinh cho các doanh nghiệplớn, giúp tiêu thụ hàng hóa, thâm nhập vào các ngõ ngách của thị trường màcác doanh nghiệp lớn không tới được.
- Khu vực DNN&V đặc biệt là các DNN&V ở nông thôn phát triển gópphần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghịêp hóa Cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng lên, phát triển nhiều ngành nghề đadạng, phong phú, doanh nghiệp đươc phân bố đều hơn Các doanh nghiệp ởnông thôn như: doanh nghiệp chế biến nông sản, phát triển các ngành nghề ởđịa phương, … không những tạo đầu ra cho nguyên liệu từ nông nghiệp, nângcao giá trị của nông sản mà còn thu hút lao động từ khu vực nông thôn, gópphần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân Có thể nói, sự pháttriển của DNN&V ở nông thôn đã làm hài hòa các mối quan hệ giữa nôngnghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, góp phần xây dựng vàphát triển nông thôn mới, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
- DNN&V nếu có điều kiện phát triển tốt thì đây chính là môi trườnghình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động Cùng vớiviệc phát triển các DNN&V là sự xuất hiện các nhà kinh doanh sang lập,bắt đầu kinh doanh với quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý sẽ
Trang 9được thử thách, đào tạo và tích lũy kinh nghiệm trở thành những nhàdoanh nghiệp lớn.
Đối với Việt Nam, một nước có trình độ phát triển kinh tế thấp hơn sovới các nước trong khu vực và trên thế giới, đang trong thời kì đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vai trò của DNN&V lại càng quan trọng
Do đó, Nghị quyết TW khóa X đã nhấn mạnh: “ DNN&V là lọai hình doanhnghiệp rất phù hợp để phát huy mọi tiềm năng cho việc phát triển kinh tế vàbước đầu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, phải quan tâmtới mọi thuận lợi cho DNN&V, kinh tế hộ gia đình phát triển” Đây có thểcoi là một chủ trương đúng của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với đặc điểmnền kinh tế hiện nay
1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn đối với DNN&V của NHTM
1.2.1Các vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM 1.2.1.1 Khái niệm cho vay trung, dài hạn của ngân hàng
Cho vay là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng trong thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản ca kết hoàn trả theo thời gian đã thỏa thuận
Cho vay trung, dài hạn là các khoản cho vay của ngân hàng có thời hạn từ một năm trở lên Việc phân chia cụ thể hoạt động cho vay trung, dài hạn tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia, thông thường:
Cho vay trung hạn là những khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm
để tài trợ mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kĩ thuật, mở rộng công trình có thời hạn thu hồi vốn nhanh
Cho vay dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên được sửdụng để xây dựng, cải tạo hay hoàn thiện đồng bộ dây chuyền công nghệ
1.2.1.2 Đặc điểm của hoạt động cho vay trung, dài hạn của NHTM
Trang 10Có nhiều căn cứ để phân loại hoạt động cho vay của NHTM, nếu căn cứvào thời hạn thì có thể phân thành: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn vàcho vay dài hạn Cho vay trung và dài hạn là những khoản vay có kỳ hạn vay
từ 12 tháng trở lên, có những đặc điểm sau:
a, Về đối tượng cho vay: Những khoản cho vay trung, dài hạn chủ yếu
được tài trợ cho những hoạt động đầu tư trung và dài hạn kéo dài từ 1 năm trởlên như mua sắm thiết bị , đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, thực hiện các dự án đầu tư
b, Về lãi suất cho vay: Do mức độ rủi ro cao nên lãi suất cho vay trung,
dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn Lãi suất cho vay trung, dàihạn có thể là lãi suất cố định hoặc lãi suất quy định thay đổi theo mức lãi suấtthị trường Việc quy định mức lãi suất cụ thể của từng ngân hàng có thể dựavào mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố hoặc mức lãi suất của một số thịtrường liên ngân hàng quan trọng
c, Về kì hạn trả nợ: thời gian hoàn vốn của các khoản vay trung, dài hạn
là rất chậm Nguồn hoàn trả tiền vay của các doanh nghiệp chủ yếu được lấy
từ quỹ khấu hao và một phần từ lợi nhuận chính của dự án mang lại Để giảmmức độ rủi ro của loại hình cho vay này, các NHTM thường thông qua việctạo ra một kì hạn trả nợ hợp lí Thông thường thì nợ trung, dài hạn được hoàntrả theo hình thức phân kì, ở mỗi kì trả nợ người vay sẽ trả một khoản nhấtđịnh: có thể theo niên kim cố định hoặc theo niên kim không cố định Tất cảcác yếu tố như: thời hạn cho vay , kì hạn trả nợ, số tiền trả nợ từng kì đềuđựơc xác định theo tính chất của khoản vay, khả năng chu chuyển vốn vayphù hợp với chu kì sản xuất kinh doanh, nguồn vốn của khách hàng và đượcghi rõ ràng trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ
Khi sử dụng vốn vay trung, dài hạn người vay phải tuân thủ theo nguyêntắc sử dụng vốn đúng mục đích:
Trang 11Khi muốn vay vốn trung, dài hạn thì người vay phải soạn thảo dự án, kếhoạch kinh doanh của mình Đó là cơ sở để người vay phân bổ vốn hợp lý chocác khoản mục từ đó ngân hàng có thể thẩm định khả năng trả nợ của ngườivay và tiến hành cho vay Các khoản mục sử dụng vốn vay trung và dài hạn
có thể bao gồm: Chi phí thuê mua đất làm mặt bằng sản xuất, chi phí xâydựng nhà xưởng, chi phí hình thành tài sản cố định … và một phần đầu tư vàotài sản lưu động ròng
Các dự án, chương trình kinh doanh xin vay vốn phải nằm trong chươngtrình phát triển kinh tế chung của địa phương, của vùng, của Nhà nước và các
dự án đó phải được các cơ quan có thẩm quyền thẩm định và cho phép thựchiện Biết trước được mục đích sử dụng vốn của người vay giúp ngân hàng cóthể lượng hoá được mức độ rủi ro và có các biện pháp xử lý kịp thời Bêncạnh đó, ngân hàng cũng cần kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của kháchhàng để đảm bảo nó được thực hiên đúng như những thoả thuận ghi trong hợpđồng tín dụng và không trái với các quy định pháp luật hiện hành
d, Dự án vay vốn vay trung, dài hạn có hiệu quả kinh tế - xã hội cao:
Một dự án , kế hoạch kinh doanh muốn được vay vốn để thực hiện thì nóphải có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, những dự án có hiệu quả thấp khôngđược phép vay vốn vì nó sẽ dẫn đến sự hoàn trả vốn khó khăn và gây ra hậuquả xấu cho nền kinh tế và có thể không được phép thực hiện
Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án là một tiêu chí quan trọng để thẩmđịnh dự án vay vốn, nó cho phép dự báo nguồn trả nợ trong tương lai do dự ánđem lại và những đóng góp củaviệc thực hiện dự án vào sự phát triển kinh tế
và giải quyết những vấn đề xã hội như: tạo việc làm và tăng thu nhập chongười lao động …
e, Việc sử dụng vốn vay trung, dài hạn phải tuân theo kì hạn đã thỏa thuận:
Trang 12Theo quy định hiện hành, nguồn vốn vay trung, dài hạn là nguồn vốn vay
có kì hạn từ 12 tháng trở lên Kì hạn cụ thể của từng khoản vay sẽ do kháchhàng và ngân hàng thoả thuận và được ghi trong hợp đồng tín dụng Sở dĩphải có kì hạn cụ thể cho từng khoản vay là do nguồn huy động của ngânhàng là có kì hạn, khi đến hạn ngân hàng phải hoàn trả cho người gửi thậmchí phải trả ở bất kì thời điểm nào nếu người gửi yêu cầu Mặt khác, xác định
rõ kì hạn cho vay trung, dài hạn nhằm giảm thiểu rủi ro mất vốn, rủi ro nợ xấucho các ngân hàng
1.2.1.3 Các điều kiện vay vốn trung và dài hạn
NHTM cho vay trung, dài hạn đối với các doanh nghiệp chủ yếu là để tàitrợ cho đầu tư đổi mới, hiện đại hoá máy móc, trang thiết bị, thực hiện sảnxuất kinh doanh mới …
Do đặc điểm cho vay trung, dài hạn là vốn vay lớn, thời gian vay kéodài vì vậy mức độ rủi ro cao nên các NHTM hết sức thận trọng khi chovay Một số yếu tố chủ yếu mà các NHTM thường xem xét khi cho vaytrung, dài hạn là:
a Năng lực tài chính của khách hàng, hiệu quả của dự án đầu tư:
Năng lực tài chính hiện tại của khách hàng là một trong những yếu tố sẽquyết định tới khả năng trả nợ của khách hàng, vì vậy ngân hàng thường yêntâm hơn khi cho các khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh vay vốn Nănglực tài chính của một khách hàng, cụ thể là một doanh nghiệp được thể hiệnqua bốn chỉ tiêu chủ yếu: khả năng thanh toán, quy mô và cơ cấu vốn, khảnăng hoạt động, khả năng sinh lời, … Thông qua việc phân tích các yếu tốnày, ngân hàng sẽ có cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính của doanhnghiệp từ đó làm cơ sở quan trọng cho việc ra phán quyết cho vay
Yếu tố quan trọng nhất khi cho vay theo dự án đó là hiệu quả về mặt tàichính của dự án hay khả năng sinh lời của dự án vì nguồn trả nợ khi cho vay
Trang 13theo dự án bao gồm trích khấu hao và lợi nhuận hàng năm của dự án Căn cứvào việc phân tích khả năng tiêu thụ của sản phẩm trên thị trường, công suấtthiết kế của tài sản cố định, thời gian thực hiện dự án, … nhà đầu tư sẽ tính toándòng tiền vào, ra thu nhập ròng của dự án làm cơ sở để tính toán hiệu quả vềmặt tài chính của dự án Hiệu quả tài chính của dự án là một chỉ tiêu rất khó dựđoán chính xác mà phải đến khi hoàn thành dự án mới đánh giá chính xácđược Tuy nhiên, hiệu quả của dự án đựơc đánh giá mang tính dự báo thông qua
hệ thống các chỉ tiêu: Giá trị hiện tại ròng (NPV), tỉ suất hoàn vốn nội bộ (IRR),thởi gian hoàn vốn đầu tư (PP) … Trong các chỉ tiêu trên, chỉ tiêu NPV là toàndiện và được sử dụng nhiều nhất NPV là giá trị hiện tại ròng, là số chênh lệchgiữa giá trị hiện tại của các luồng tiền thu với giá trị hiện tại của các khoản đầu
tư Một dự án được đánh giá là có hiệu quả nếu NPV > 0
Chỉ tiêu tỉ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) cũng là một chỉ tiêu thường đượcdùng khi thẩm định dự án IRR cho biết tỷ lệ sinh lời hàng năm trên một đồngvốn bỏ đầu tư bỏ ra có được từ việc đầu tư vào dự án hay nói cách khác IRRcho biết lợi nhuận tương đối của dự án, IRR là mức lãi suất mà tại đó giá trịhiện tại ròng NPV=0 Một dự án được lựa chọn để đầu tư khi có tỉ suất hoànvốn nội bộ lớn hơn lãi suất chiết khấu
Bên cạnh việc sử dụng chỉ tiêu NPV và IRR, khi đánh giá hiệu quả củamột dự án người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác như: thời gian hoàn vốn,chỉ số doanh lợi và phân tích điểm hoà vốn, … Hiện nay, một trong nhữngphương pháp được sử dụng phổ biến khi đánh giá hiệu quả của dự án đó làphương pháp phân tích độ nhạy trên cơ sở lượng hoá mức độ rủi ro của dự án,
từ đó lượng hoá được sự thay đổi của các dòng tiền thu trong tương lai vàlượng hoá được sự thay đổi của các chỉ tiêu NPV, IRR Có nhiều yếu tố ảnhhưởng tới dòng tiền của dự án Theo phương pháp phân tích độ nhạy, các yếu
tố này được thiết lập trên cơ sở phân bố xác suất và tính kì vọng chứ không
Trang 14thể biết chắc chắn được Ví dụ, khi một biến quan trọng như: lượng hàng bán
ra thay đổi sẽ dẫn tới dòng tiền thu thay đổi và NPV, IRR cũng thay đổi theo.Thực hiện phương pháp phân tích độ nhạy là chỉ ra chính xác các chỉ tiêu tàichính thay đổi như thế nào khi các biến đầu vào như nguyên liệu và biến đầu
ra như lượng hàng tiêu thụ thay đổi Khi áp dụng phương pháp này và phântích yếu tố nào là nhạy cảm với sự thay đổi của dòng tiền nhất, và dự kiếnmức xấu nhất, trung bình và tốt nhất có thể xảy ra để đánh giá hiệu quả của
dự án trong các trường hợp đó
b Về tài sản đảm bảo
Cho vay trung, dài hạn có mức độ rủi ro rất cao nên để đảm bảo cónguồn thu nợ thứ hai khi mà nguồn thu nợ thứ nhất là nguồn thu nợ từ thunhập của dự án không đạt được thì các NHTM thường yêu cầu bên vay phải
có tài sản đảm bảo Giá trị của tài sản đảm bảo phải được tính sát với giá thịtrường Tài sản đảm bảo phải là những tài sản có giá trị không bị hao hụt theothời gian và không gian, giá trị của tài sản đảm bảo phải lớn hơn giá trị khoảnvay Theo quy định thì các NHTM được phép cho vay tối đa bằng 75% giá trịcủa tài sản đảm bảo
c Khả năng của bộ máy quản lí doanh nghiệp
Cho vay trung, dài hạn có mức độ rủi ro cao nên khi ngân hàng quyếtđịnh cho doanh nghiệp vay tức là ngân hàng đã quyết định gắn bó hoạt độngcủa mình với doanh nghiệp Vì vậy, bất cứ sự biến động nào của doanhnghiệp đều có khả năng ảnh hưởng tới ngân hàng, cụ thể là khả năng trả nợcho ngân hàng Một bộ máy quản lý điều hành công việc tốt, khả năng xoaytrở linh hoạt trước mọi tình huống sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả hơn và từ đó khả năng trả nợ cho ngân hàng cũng được đảm bảo.Một điều quan trọng khác cần phải xem xét, đó là vị thế của doanhnghiệp trên thị trường, khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác Điều này
Trang 15cũng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vayvốn, khả năng hoàn trả nợ từ thu nhập của dự án.
Bên cạnh đó cũng cần quan tâm tới các vấn đề chính trị, pháp luật, vănhoá , xã hội liên quan đến dự án, những dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao vànằm trong chương trình hỗ trợ của Chính phủ có thể được ưu đãi về nhiều mặt
1.2.2Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM đối với DNN&V
1.2.2.1 Sự cần thiết của hoạt động cho vay trung, dài hạn của NHTM
đối với DNN&V
Hoạt động cho vay được hình thành từ nhu cầu của hai phía: doanh nghiệp và ngân hàng
a, Xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp:
Đối với bất kì một doanh nghiệp nào, vốn là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình thành lập cũng như tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp cần có một số vốn nhất định để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, thuê lao động Khi tiến hành sản xuất, doanh nghiệp cần vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục
Tuy nhiên, nhu cầu vốn của doanh nghiệp thay đổi trong các thời kì khác nhau Những thay đổi của môi trường kinh doanh cũng như chính sách tài chính, chu kì kinh tế, thay đổi thời vụ, … cũng ảnh hưởng đáng kể tới nhu cầuvốn của doanh nghiệp Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế hiện nay, trước
những thách thức của thị trường, doanh nghiệp cần có những bước đi táo bạo trong kinh doanh, dó đó nhu cầu vốn trung, dài hạn sẽ rất lớn Trong khi đối với DNN&V thì vốn tự có thường là rất thấp, không được hỗ trợ như các hìnhthức doanh nghiệp khác nên cácDNN&V không thể chỉ trông chờ vào vốn tự
có của mình mà còn phải chú ý vào kênh huy động vốn khác để có một nguồntài chính ổn định và đáp ứng được nhu cầu kinh doanh
Trang 16Thực tế cho thấy, để huy động vốn doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau như: tín dụng thương mại, huy động vốn từ dân cư (qua con đường phát hành chứng khoán) hay từ các trung gian tài chính mà điển hình làNgân hàng thương mại Ngày nay, tín dụng ngân hàng là sự lựa chọn của khá nhiều doanh nghiệp vì nó rất linh hoạt và nhiều trường hợp vay vốn tại ngân hàng là sự lựa chọn tốt nhất của doanh nghiệp.
Trong xu thế mở rộng và phát triển kinh tế, số lượng các DNN&V không ngừng tăng lên ở nhiều quốc gia và thành phần kinh tế này đựoc Nhà nước khuyến khích phát triển, tạo điều kiện kinh doanh bình đẳng với các DNNN Chính vì thế nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất của các DNN&V không ngừngtăng lên, tạo điều kiện để mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp này
b, Xuất phát từ nhu cầu của NHTM
Mở rộng hoạt động kinh doanh là yêu cầu tất yếu của bất cứ NHTM nào để đáp ứng nhu cầu thay đổi của môi trường kinh doanh Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các ngân hà ng không ngừng mở rộng hoạt động cho vay, trong đó các DNN&V là đối tượng khách hàng mà các ngân hàng hiện nay chú trọng phát triển
Hơn nữa, bản chất của NHTM là nhận tiền gửi để cho vay Ngân hàng sau khihuy động vốn cần thực hiện hoạt động cho vay để tạo thu nhập, bù đắp chi phítrả lãi và chi phí khác phát sinh trong quá trình huy động vốn Do đó, cho vay đối với DNN&V để thực hiện mục tiêu sinh lời của ngân hàng
Tóm lại, việc hình thành và phát triển các khoản vay trung, dài hạn của
NHTM là thỏa mãn nhu cầu từ hai phía, NHTM cần đặt ra các điều kiện nhất định đối với các DNN&V trên nguyên tắc hia bên cùng có lợi
1.2.2.2 Vai trò của nguồn tín dụng trung, dài hạn của NHTM đối với các
DNN&V
Trang 17a Nguồn tín dụng trung, dài hạn của Ngân hàng góp phần nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNN&V
Khi vay vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì hiệu quả củahoạt động sản xuất kinh doanh là vấn được cả doanh nghiệp và ngân hàngquan tâm Đối với doanh nghiệp thì đó là lợi nhuận và thu nhập mang lại đểtrả nợ ngân hàng, còn đối với ngân hàng thì có nguồn để thu nợ doanh nghiệp,bảo toàn vốn cho vay và thu được lãi Một trong những nguyên tắc cho vaycủa ngân hàng đối với khách hàng đó là khách hàng trả nợ (bao gồm cả gốc
và lãi) đúng hạn Điều này đòi hỏi các DNN&V khi đã vay được vốn rồi thìluôn phải cố gắng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thông qua các biện phápquản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thịtrường một cách tốt nhất thì mới tạo ra nguồn thu nhập cho mình và trả nợngân hàng Mặt khác, trong hoạt động cho vay của mình, ngân hàng luôn thựchiện biện pháp quản lý trước, trong và sau khi cho vay nhằm kiểm tra tínhđúng đắn trong mục đích sử dụng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp để có biện pháp xử lý kịp thời Chính những vấn đề này đặtdoanh nghiệp trong điều kiện phải nỗ lực hết mình, nâng cao hiệu quả sửdụng vốn một cách tối ưu thông qua hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình
b Đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, tạo điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của DNN&V
Thông thường, quy mô vốn của các doanh nghiệp đặc biệt cácDNN&V là rất thấp do vậy DNN&V bị hạn chế nhiều trong việc mở rộnghoạt động sản xuất kinh doanh Nhiều trường hợp doanh nghiệp cóphương án sản xuất kinh doanh hiệu quả song không thể huy động đủ vốn
để thực hiện Nhu cầu vốn của doanh nghiệp chủ yếu nhằm tài trợ cho tàisản lưư động và tài sản cố định Trong quá trình sản xuất kinh doanh, cácDNN&V có thể cần vốn đầu tư vào hang dự trữ, ngân quỹ, các khoản
Trang 18phải thu, … do vậy phát sinh nhu cầu vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp mởrộng quy mô hoạt động Trường hợp khác, DNN&V có thể có phương án
mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện một dự án đầu tư phát triểnvào một lĩnh vực nhất định, lúc này phát sinh nhu cầu vốn trung, dài hạn
để đầu tư vào tài sản lưu động ròng Do vậy, nguồn vốn vay từ ngân hàngđóng vai trò rất quan trọng đối với kết quả và quy mô hoạt động của cácDNN&V trong tương lai Hơn thế nữa trong trường hợp đầu tư dài hạn,nhu cầu vốn lớn, nếu tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng thì chi phí
có thể thấp hơn các nguồn khác
Có thể thấy, nguồn vốn vay từ ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng đốivới hoạt động của DNN&V Không những vậy, thông qua việc hỗ trợ choDNN&V, qua đó cũng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng hoạt động cho vay trung, dài hạn đối với DNN&V
1.3.1 Những nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Nguồn vốn cho vay:
Nguồn vốn cho vay của NHTM chủ yếu là từ nguồn huy động được Vì thế,
để có thể mở rộng hoạt động cho vay thì trước hết Ngân hàng phải tạo ra mộtnguồn vốn ổn định từ các kênh như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kì hạn, …Nếu như nguồn vốn của ngân hàng dồi dào và ổn định thì ngân hàng mới cóthể mở rộng cho vay được, còn ngược lại năng lực về vốn của ngân hàng bịhạn chế thì chỉ có thể duy trì các khách hàng truyền thống chứ chưa thể mởrộng đối tượng đầu tư
1.3.1.2 Chính sách tín dụng:
Để có thể thực hiện cho vay và thu hút được đông đảo khách hàng thì việcxây dựng một chính sách tín dụng hợp lý là điều rất cần thiết đối với bất kì
Trang 19NHTM nào Một chính sách tín dụng hợp lý, đúng đắn, linh hoạt và phù hợpvới từng giai đoạn phát triển sẽ đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượngkhách hàng đồng thời hướng dẫn cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàngtrong hoạt động của mình, tạo sự thống nhất chung nhằm hạn chế rủi ro, nângcao khả năng sinh lời.
1.3.1.3 Chất lượng thẩm định tín dụng:
Thẩm định tín dụng là giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình xét duyệt mộtkhoản vay Quá trình thẩm định sẽ giúp cán bộ tín dụng ra quyết định có chovay hay không, và nó ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ rủi ro vỡ nợ mà kháchhàng gây ra Đối với những khoản vay trung, dài hạn thời gian cho vay là dài,giái trị khoản vay lớn nên công tác thẩm định lại càng giữ vị trí quan trọng.Chất lượng thẩm định có ảnh hưởng lớn tới việc mở rộng hoạt động cho vay,đặc biệt là cho vay trung, dài hạn đối với DNN&V Nếu quá trình thẩm địnhtốt, kết quả thẩm định đáng tin cậy thì sẽ tạo thuận lợi cho ngân hàng khi raquyết định cho vay và có thể mạnh dạn cho vay đối với các khách hàng mới.Còn nếu như kết quả thẩm định vẫn chưa hoàn toàn đáng tin cậy thì việc tiếpcận với những khách hàng mới sẽ mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng
1.3.1.4 Công nghệ trang thiết bị và chiến lược Marketing:
Công nghệ trang thiết bị hiện đại là điều kiện để đơn giản hóa các thủ tục, rútngắn thời gian giao dịch, đem lại sư tiện lợi tối đa cho cả khách hàng và ngânhàng Đó là tiền đề để thu hút thêm khách hàng, mở rộng hoạt động cho vay.Một ngân hàng với cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại sẽ tạo được niềm tin đốivới khách hàng đồng thời là vũ khí cạnh tranh hiệu quả Bên cạnh đó, chiếnlược Marketing sẽ cung cấp những thông tin cần thiết đến với khách hàng, tạođiều kiện thuận lợi cho khách hiều biết về ngân hàng từ đó tìm kiếm thêmkhách hàng mới
1.3.2 Nhân tố khách quan
Trang 201.3.2.1 Về phía doanh nghiệp:
a, Nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp:
Các loại hình doanh nghiệp đều có nhu cầu đầu tư phát triển mở rộng sản xuấtkinh doanh Điều quan trọng là ngân hàng phải tiếp cận, tìm hiểu và gợi mởnhững nhu cầu đó đồng thời tạo điều kiện đáp ứng đựoc nhu cầu của doanhnghiệp Mở rộng cho vay đối với các DNN&V đòi hỏi các ngân hàng phảiquan tâm đến những dự án đầu tư và xem xét khả năng đầu tư của cácDNN&V từ đó có thể xác định được khách hàng tiềm năng của mình
b, Năng lực của các DNN&V:
Ngân hàng chỉ có thể cho doanh nghiệp vay vốn khi doanh nghiệp đáp ứngđược các điều kiện vay vốn Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải cóphương án sản xuất kinh doanh hiệu quả đồng thời phải có tài sản đảm bảocho khoản vay Ngoài ra, năng lực quản lý và khả năng tài chính của doanhnghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc mở rộng hoạt động cho vay trung, dàihạn đối với DNN&V của các ngân hàng Nếu doanh nghiệp có khả năng tàichính mạnh, đội ngũ cán bộ quản lý có kinh nghiệm và hiều biết sâu rộng sẽtạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM mở rộng hoạt động cho vay trung, dàihạn
1.3.2.2 Nhân tố khác:
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng mở rộng hoạtđộng cho vay trung, dài hạn của các NHTM là môi trường kinh tế Sự pháttriển của nền kinh tế có tác động có tác động rất lớn đến nhu càu vốn vay củacác doanh nghiệp nói chung và các DNN&V nói riêng.Một nền kinh tế đangtrên đà phát triển ổn định, nhịp độ tăng trưởng cao, môi trường kinh doanhthuận lợi sẽ túc đẩy các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, dẫn đến nhucầu vốn cao sẽ là điều kiện thuận lợi để NHTM mở rộng hoạt động cho vay
Trang 21Ngoài ra, các nhân tố thuộc môi trường pháp lý trong nền kinh tế thị trường
có ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vàhoạt động của các ngân hàng Nó tác động trực tiếp đến chiến lược sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và từ đó ảnh hưởng hoạt động cho vay củaNHTM đối với các doanh nghiệp này Nếu môi trường pháp lý chưa hoànchỉnh và thiếu đồng bộ, nó không những kìm hãm sự phát triển cảu các doanhnghiệp, ảnh hưởng tới nhu cầu vốn của các doanh nghiệp mà còn ảnh hưởngtới hoạt động của ngân hang thông qua các quy định, quy chế cho vay, …Điều đó sẽ tác động tới việc cho vay của các NHTM đối với các doanh nghiệpnói chung và DNN&V nói riêng
1.4 Kinh ngiệm trong việc mở rộng hoạt động cho vay trung, dài hạn đối với DNN&V ở một số nước.
Việc mở rộng hoạt động cho vay trung, dài hạn đối với DNN&V phụ thuộcvào nhiều yếu tố: trình độ phát triển của hệ thống tài chính - ngân hàng vàchính sách kinh tế, … Mỗi nước có những biện pháp hỗ trợ khác nhau để tăngcường khả năng tiếp cận nguồn vốn vay NHTM của các DNN&V Trong thờigian qua, nhiều nước ttrên thế giới luôn đánh giá cao vai trò của DNN&Vtrong quá trình phát triển kinh tế đất nước:
1.4.1Tại Đức
Khu vực DNN&Vgóp một phần quan trọng trong việc tạo ra thu nhập cho nềnkinh tế, đóng góp 50% vào GDP, chiếm hơn hẳn thu nhập chịu thuế củadoanh nghiệp, cung cấp các loại hàng hóa dịch vụ đpá ứng nhu cầu đa dạngcủa người tiêu dung Để có được những kết quả như vậy, Chính Phủ đã ápdụng nhiều chính sách, chương trình khuyến khích và thúc đẩy DNN&V pháttriển
Vì các doanh nghiệp này không đủ điều kiện thế chấp tài sản để có thể nhậnđược các khoản tín dụng lớn bên cạnh những khoản tín dụng ưu đãi nên ở
Trang 22nước này còn phát triển các tổ chức bảo lãnh tín dụng Những tổ chức này rađời và hoạt động dưới sự kết hợp chặt chẽ của phòng Thương mại, Hiệp hộidoanh nghiệp - ngân hàng và chính quyền liên bang Nguyên tắc hoạt động cơbản là vì khách hàng và DNN&V sẽ nhận được sự bảo lãnh của một tổ chứcbảo lãnh để nhận được khoản vay Với sự giúp đỡ này, Đức đã khắc phụcđược rất nhiều khó khăn trong việc đi vay của các DNN&V cũng như trongviệc cho vay của các ngân hàng.
1.4.2 Tại Nhật Bản
Các chính sách hỗ trợ cho DNN&V ở Nhật Bản được hình thành từ nhữngnăm 1950 nhằm giúp các doanh nghiệp này tháo gỡ những khó khăn, cản trởviệc phát vốn cũng như khả năng tiếp cận tín dụng thấp, thiếu sự đảm bảo vềvay vốn, … các biện pháp hỗ trợ này đã được thực hiện thông qua hình thức
hỗ trợ tín dụng và các tổ chức tài chính công cộng phục vụ DNN&V Hệthống này giúp cho các doanh nghiệp tiếp cận được với các nguồn tín dụng,tạo điều kiện cho họ vay vốn của các tổ chức tín dụng tư nhân thông qua sựbảo lãnh của Hiệp hội bảo lãnh tín dụng trên cơ sở đồng bảo lãnh Ngoài ra,còn có 3 tổ chức tín dụng công cộng khác đó là: Công ty tài chính DNN&V,Công ty tài chính nhân dân và Ngân hàng Shokochulin do Chính phủ đầu tưthành lập toàn bộ hay một phần nhằm nở rộng cho vay đối với DNN&V
1.4.3 Tại Malaysia
Trong kế hoạch tổng thể lần thứ hai của Malaysia từ 1991- 2001 đã khẳngđịnh rõ vai trò quan trọng của các DNN&V trong công cuộc hiện đại hóa đấtnước Do vậy, trong thời kì này Chính phủ đã thông qua chương trình hỗ trợDNN&V như: các chương trình về thị trường và hỗ trợ kỹ thuật, chương trìnhcho vay ưu đãi, chương trình công nghệ thông tin nhằm giúp các DNN&V cóđược lượng vốn cần thiết để cải tiến chất lượng và cơ sở hạ tầng, … để từ đóthúc đẩy các DNN&V phát triển và kết quả là ngân hàng có thể mở rộng hoạt
Trang 23động cho vay trung, dài hạn đối với các DNN&V mà không ngại về điều kiệnban đầu Với những kinh ngiệm trên, mặc dù Đức, Nhật Bản và Malaysia,mỗi nước đều có sự khác biệt về khả năng phát triển kinh tế song Chính phủcác nước đều có sự quan tâm đặc biệt trong việc mở rộng hoạt động cho vaytrung, dài hạn đối với DNN&V Thực tế đã có sự thành công và đây cũng sẽ
là bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo để đưa ra những giảipháp giúp DNN&V tiếp cận được với nguồn vốn trung, dài hạn của ngânhàng
Trang 24CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNN&V TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT LÁNG HẠ
2.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển Chi nhánh
NHNo&PTNT Láng Hạ
2.1.1 Bối cảnh ra đời của Chi nhánh
Năm 1996 hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đã có bước pháttriển mới, góp phần không nhỏ đáp ứng yêu cầu cung cấp vốn cho các thànhphần kinh tế trên mọi miền đất nước mà đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp,nông thôn và nông dân
Ngày 15/11/1996 theo quyết định số 280/QĐ-NHNN của thống đốcNgân hàng nhà nước Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền đổi tênNgân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và pháttriển Nông thôn Việt Nam Với tên gọi mới, Ngân hàng Nông nghiệp và pháttriển Nông thôn Việt Nam đựơc xác định thêm nhiệm vụ mới: đầu tư pháttriển đối với khu vực nông thôn qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạnphục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Để thực hiện nhiệm vụ xây dựng ngân hàng trong giai đoạn mới nhằmđáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đất nước sau 10 năm đổi mới, đòi hỏi các tổchức tín dụng phải đa năng hơn trong hoạt động kinh doanh nhằm tạo lợi thếcạnh tranh, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển bền vững đổi mớikinh tế dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII Trong bối cảnh
đó Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam đã thể hiệnđịnh hướng chiến lược có ý nghĩa quan trọng: củng cố và giữ vững thị trườngnông thôn, tiếp cận nhanh và từng bước chiếm lĩnh thị phần tại thị trườngthành thị, phát triển kinh doanh đa năng, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng,góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước
Trang 25Từ thực tiễn trên, cùng với việc ra đời của một số chi nhánh Ngân hàngNông nghiệp tại các thành phố lớn, khu đô thị và trung tâm kinh tế trên mọimiền đất nước trong giai đoạn 1996-1997 Ngày 1/8/1996 tại quyết định số334/QĐ-NHNo-02 của Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triểnNông thôn Việt Nam, Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ được thành lập vàchính thức đi vào hoạt động từ ngày 17/3/1997 Chi nhánh có trụ sở tại 44Láng Hạ (nay là số 24 Láng Hạ - quận Đống Đa – Hà Nội)
Sự ra đời của chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ là bước mở đầu cho sựphát triển của NHNo&PTNT Việt Nam tại các địa bàn đô thị, khu côngnghiệp và trung tâm kinh tế trên mọi miền đất nước, thể hiện hướng đi đúngtrong bước phát triển tất yếu phù hợp với quy luật phát triển của hệ thốngNHNo&PTNT Việt Nam Sự ra đời của chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạtrong giai đoạn này đã góp phần không nhỏ làm cho quy mô và phạm vi hoạtđộng cũng như năng lực vị thế của hệ thống NHNo trên địa bàn thủ đô được
mở rộng và nâng cao thêm, đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh trong giaiđoạn mới, giai đoạn khắc phục khó khăn khách quan và chủ quan, ổn địnhphát triển mạnh mẽ theo hướng Ngân hàng thương mại hàng đầu ở Việt Nam,tiên tiến trong khu vực và có uy tín cao trên thế giới
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước và toàn hệ thốngNHNo&PTNT Việt Nam sau 15 năm đổi mới, chi nhánh Láng Hạ qua 10 nămxây dựng và trưởng thành đã tùng bước trưởng thành, góp phần khẳng định vịthế của hệ thống NHNo trên địa bàn Thủ đô với những thành tích đáng khích
lệ Chi nhánh đã huy động được một lượng vốn đáng kể, không những đảmbảo cho chi nhánh chủ động đầu tư tín dụng góp phần tăng hiệu quả đối vớicác thành phần kinh tế trên địa bàn Thủ đô mà còn điều chuyển nguồn vốn vềtrung tâm điều hành Ngày đầu mới thành lập CN chỉ có 13 cán bộ viên chức
Trang 26chi nhánh đã không ngừng mở rộng mạng lưới chi nhánh của mình, hiện nay
đã lên tới 11 điểm giao dịch, có cơ sở vật chất khang trang lịch sự và tiện nghithuận lợi cho hoạt động mở rộng kinh doanh của chi nhánh
Trang 27SƠ ĐỒ MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHI NHÁNH NHNo&PTNT LÁNG HẠ
GIÁM ĐỐC
Phòng KT NQ
Phòng
TH HCQTPhòng TCCBPhòng
&ĐT
Phòng TÍN DỤNG
Phòng NG.Vốn KHTH
Phòng THẨM ĐỊNH
TỔ KTKT NB
Phòng KDNT
&TTQ T
TỔ
NG
VỤ THẺ
TỔ TIẾP THỊ
Phòng KTNQ
Phòng TÍN DỤNG
Phòng HÀNH CHÍNH
Phòng
GD SỐ 4
Phòng GD
SỐ 9
Phòng KTNQ
Phòng TÍN DỤNG
Phòng HÀNH CHÍNH
Trang 28+ Thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo uỷ quyền của tổnggiám đốc NHNo&PTNT Việt Nam về các mặt nghiệp vụ có liên quan, chịutrách nhiệm trước pháp luật và tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam về cácquyết định của mình
+ Quy định nhiệm vụ cho các phòng nghiệp vụ, nội quy lao động, lề lốilàm việc của NHNo&PTNT Láng Hạ
- Các phó giám đốc: chi nhánh có 3 phó giám đốc
+ Thay mặt giám đốc điều hành một số công việc khi giám đốc đi vắng(theo văn bản uỷ quyền của giám đốc)
+ Giúp giám đốc chỉ đạo điều hành một số phòng do giám đốc phân công.+ Bàn bạc và tham gia ý kiến với giám đốc trong việc thực hiện cácnghiệp vụ của NH theo nguyên tắc dân chủ và chế độ thủ trưởng
2.1.2.2 Các phòng ban nghiệp vụ
Chi nhánh có 11 phòng ban, 2 chi nhánh cấp 2 và 10 phòng giao dịchtrực thuộc( trong đó có 2 phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh cấp 2 BáchKhoa), điều hành các phòng ban là các trưởng phòng, thực hiện các mảngchuyên môn nghiệp vụ do ban giám đốc giao
Trang 29Chi nhánh Bách Khoa và chi nhánh Mỹ Đình là 2 đơn vị phụ thuộc, cócon dấu, có nhiệm vụ thực hiện một phần các hoạt động của NHNo&PTNTLáng Hạ và một số chức năng có liên quan theo uỷ quyền của giám đốcNHNo&PTNT Láng Hạ Điều hành chi nhánh là giám đốc, và ở chi nhánhcũng có các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ
Hai chi nhánh cấp 2 đều có 3 phòng ban chức năng là phòng kế toánngân quỹ, phòng tín dụng, phòng hành chính
2.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu và những kết quả đạt được
2.2.1 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu
Với chức năng huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế, các NHTMViệt Nam nói chung và Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ nói riêng đangngày càng áp dụng thêm các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại cùng với xu thếđổi mới chung của toàn hệ thống Các hoạt động chủ yếu của Chi nhánhNHNo&PTNT Láng Hạ bao gồm:
Theo thành phần kinh tế, bao gồm: tiền gửi của dân cư, tiền gửi của các
tổ chức kinh tế, tiền gửi của các TCTD và tiền gửi uỷ thác đầu tư
2.2.1.2 Cho vay
Cho vay ngắn, trung và dài hạn đối với các thành phần kinh tế; cho vay
Trang 30khẩu, chiết khấu bộ chứng từ, thương phiếu và các giấy tờ có giá khác; pháthành bảo lãnh cho các tổ chức kinh tế, cá nhân; cho vay qua các hội như: Hộiphụ nữ, Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.2.1.3 Thanh toán quốc tế
Hoạt động thanh toán quốc tế của Chi nhánh bao gồm các nghiệp vụ:chuyển tiền điện tử, thanh toán trong nước, thu hộ, chi hộ, giao dịch L/C xuấtnhập khẩu, bảo lãnh, nhờ thu ( D/A, D/P, CAD ); thanh toán biên mậu, chi trảkiều hối, thu đổi ngoại tệ …, dịch vụ trả tiền WESTERN UNION
2.2.1.4 Các dịch vụ khác
Gồm: Mở tiền gửi cá nhân và tổ chức kinh tế, phát hành thẻ ATM rúttiền tự động; dịch vụ phone banking, home banking, E-banking; dịch vụ ngânquỹ; dịch vụ tư vấn; dịch vụ chuyển tiền nhanh; chi trả kiều hối; thu đổi ngoạitệ; đại lí thẻ tín dụng
2.2.2 Các kết quả đạt được
2.2.2.1 Tình hình huy động vốn
Với phương châm “Đi vay để cho vay” Chi nhánh luôn coi hoạt độnghuy động vốn là mặt trận hàng đầu và là hoạt động có tính chiến lược chính vìthế trong quá trình hoạt động Chi nhánh luôn coi trọng công tác huy động vốn
và phấn đấu để tốc độ tăng trưởng nguồn vốn luôn ổn định và đạt mục tiêunhiệm vụ mà TW giao Ban điều hành Chi nhánh hiểu rằng nếu công tácnguồn vốn mà không tốt thì sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của chi nhánh cũngnhư làm giảm khả năng cạnh tranh của chi nhánh
Tổng nguồn vốn đến năm 2006 đạt 5905 tỷ đồng, tăng 1882 tỷ đồng so với 2005 tương đương 147%, đạt 121% kế hoạch năm 2006( mức kế hoạch là
4900 tỷ đồng)
Trang 31
Bảng 2.1 : Tình hình huy động vốn của Chi nhánh
C Cơ cấu theo thành phần kinh tế 4470 4023 5905
3 Nguồn vốn huy động trái phiếu
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Chi nhánh)
Nguồn vốn nội tệ đạt 4854 tỷ đồng trong đó huy động trái phiếuAGRIBANK 2006 là 584 tỷ đồng, tăng 1718 tỷ đồng so với năm 2005, đạt121% so với kế hoạch năm 2006( kế hoạch: 4000 tỷ đồng) Nguồn vốn ngoại
tệ (quy VND) đạt 1052 tỷ đồng, tăng 164 tỷ đồng so với năm 2005, đạt 117%
so với kế hoạch năm 2006( kế hoạch: 900 tỷ đồng) Chi nhánh lấy tỷ giá quy
Trang 32Nguồn vốn không kỳ hạn đạt 1278 tỷ đồng, tăng 294 tỷ so với năm 2005,chiếm 22% tổng nguồn, trong đó ngoại tệ là 285 tỷ chiếm 4,8% tổng nguồn.Nguồn vốn kỳ hạn dưới 12 tháng đạt 859 tỷ đồng, tăng 39 tỷ đồng so vớinăm 2005, chiếm 15% tổng nguồn, trong đó ngoại tệ chiếm 3,4 % tổng nguồnNguồn vốn có kỳ hạn từ 12- 24 tháng là 1197 tỷ đồng, tăng 114 tỷ so vớinăm 2005, chiếm 20% tổng nguồn, trong đó ngoại tệ chiếm 5,4% tổng nguồn.Nguồn vốn có kỳ hạn trên 24 tháng là 2571 tỷ đồng trong đó trái phiếuAGRIBANK là 584 tỷ đồng, tăng 1435 tỷ so với năm 2005, chiếm 44% tổngnguồn, trong đó ngoại tệ 246 tỷ chiếm 4,2% tổng nguồn vốn.
2.2.2.2 Tình hình sử dụng vốn
Tổng dư nợ đến 31/12/2006 đạt 2057 tỷ đồng, tăng 181 tỷ đồng( tức10&) so với năm 2005, đạt 89% kế hoạch năm 2006( kế hoạch 2300 tỷ đồng)
Bảng 2.2 : Tình hình tín dụng của Chi nhánh Đơn vị: tỷ n v : t ị: tỷ ỷ
ng đồng
2 Dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh 400 660 757
3 Cho vay tiêu dùng, đời sống, cầm cố
Trang 332 Dư nợ trung và dài hạn 1000 888 788
( Nguồn: báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của CN Láng Hạ)
Dư nợ về nội tệ đạt 978 tỷ đồng, giảm 123 tỷ đồng so với năm 2005,chiếm 48% tổng dư nợ Dư nợ ngoại tệ đạt 1079 tỷ đồng, tăng 304 tỷ sovới năm 2005, chiếm 52% tổng dư nợ Dư nợ doanh nghiệp nhà nước đạt
1245 tỷ đồng, tăng 84 tỷ đồng so với năm 2005, chiếm 61% tổng dư nợ
Dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 757 tỷ đồng, tăng 96 tỷ sovới năm 2005, chiếm 36% tổng dư nợ Cho vay tiêu dùng, đời sống, cầm
cố chứng chỉ có giá là 56 tỷ đồng, tăng 1 tỷ so với năm 2005, chiếm 3%tổng dư nợ Dư nợ ngắn hạn 1269 tỷ đồng, tăng 281 tỷ so với năm 2005,chiếm 62% tổng dư nợ Dư nợ trung dài hạn là 788 tỷ đồng, giảm 100 tỷ sovới 2005, chiếm 38% tổng dư nợ
Trong hoạt động tín dụng chi nhánh đã có nhiều biện pháp nhằm tăngcường dư nợ cho vay đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng Chi nhánh đãtiến hành mở rộng các phương thức cho vay như cho vay đồng tài trợ đối vớicác dự án lớn có hiệu quả Bên cạnh đó ngân hàng còn mở rộng cho vay hộsản xuất, cho vay sinh hoạt và cho vay tiêu dùng Cùng với việc lựa chọn các
dự án có hiệu quả để đầu tư, chi nhánh đã không ngừng đổi mới nâng caophong cách giao dịch văn minh lịch sự đồng thời còn làm nhiệm vụ tư vấngiúp khách hàng các dịch vụ của ngân hàng
Trang 34Tổng thu năm 2006 đạt 575,520 tỷ đồng bằng 142% so với năm 2005trong đó thu từ điều vốn TW chiếm 53%, thu từ cho vay và tiền gửi chiếm43% Thu dịch vụ năm 2006 đạt 19,2 tỷ đồng chiếm 15% tổng thu nhập ròngbao gồm thu từ dịch vụ thanh toán,thu từ dịch vụ bảo lãnh và thu từ dịch vụkinh doanh ngoại tệ, tăng 194% so với năm 2005, đạt kế hoạch TW giao.Tổng chi đạt 498,213 tỷ đồng bằng 147% so năm 2005 trong đó chi phíthường xuyên khác là 5,865 tỷ đồng tức 1,66% tổng chi phí nằm trong giớihạn cho phép Quỹ thu nhập năm 2006 đạt 79,648 tỷ đồng bằng 120% so vớinăm 2005 Hệ số lương làm ra đạt 1,81 tăng 7% so với năm 2005.
Lãi suất đầu vào đạt 0,52%, lãi suất đầu ra đạt 0,81%, chênh lệch lãi suấtđạt 0,29%, cao hơn so với năm 2005, không đạt mức TW đề ra( TW quy định
là 0,4 %)
2.3 Thực trạng hoạt động cho vay trung và dài hạn của
NHNo&PTNT Láng Hạ đối với DNN&V
2.3.1 Quy trình xét duyệt cho vạy tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ và hướng dẫn khách hàng về hồ sơ vay vốn baogồm 3 hồ sơ:
- Hồ sơ pháp lí
- Hồ sơ khoản vay
- Hồ sơ bảo đảm tiền vay
Bước 2: Thẩm định các điều kiện tín dụng
- Đánh giá chung về khách hàng
- Tình hình tài chính của khách hàng
- Phương án sản xuất kinh doanh, khả năng vay trả
- Bảo hiểm tiền vay
Trang 35- Xem xét khả năng nguồn vốn của Chi nhánh
- Xem xét điều kiện thanh toán
Bước 3: Quyết định cho vay
- Lập tờ trình cho vay
- Xem xét hồ sơ tín dụng
- Hoàn chỉnh các thủ tục cho vay
- Kí kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm tiền vay
Bước 4: Giải ngân, theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng.Bước 5: Thu nợ, lãi, phí và xủ lí những phát sịnh
- Theo dõi việc thực hiện hợp đồng tín dụng của khách hàng
- Xử lí các phát sinh trong quá trình cho vay
- Xử lí tranh chấp trong hợp đồng tín dụng
Bước 6: Thanh lí hợp đồng tín dụng
- Giải toả các hợp đồng bảo đảm tài sản
- Thanh lí hợp đồng tín dụng
- Rút kinh nghiệm, đánh giá
- Hoàn chỉnh hồ sơ lưu trữ
2.3.2 Thực trạng cho vay trung và dài hạn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ
2.3.2.1 Doanh số, cơ cấu cho vay trung và dài hạn đối với DNN&V
a, Tỷ trọng dư nợ DNN&V so với tổng dư nợ
Bảng 2.4 : Dư nợ cho vay đối với DNNVV(đơn vị:tỷ đồng )
Trang 36Qua số liệu trên ta thấy dư nợ cho vay đối với DNN&V chiếm tỷ trọng
chưa cao trong tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh song có xu hướng gia tăng
cả về số lượng lẫn tỷ trọng qua từng năm
Dư nợ năm 2004 chỉ đạt 140,785 tỷ đồng chiếm 6,4% trong tổng dơ nợ.Nhưng đến năm 2005, dư nợ đã là 185,202 tỷ đồng chiếm 9,9% tổng dư nợ,tăng 31,5% so với năm 2004 Con số này không ngừng tăng trưởng qua từngnăm, cho đến năm 2006 thì dư nợ đối với DNN&V đã lên tới 218,763 tỷđồng, chiếm 10,6% so với tổng dư nợ của Chi nhánh
Như vậy có thể nói, mặc dù DNN&V còn nhiều hạn chế và khó khăn khitiếp cận nguồn vốn vay của ngân hàng, nhưng nhở những chính sách và biệnpháp phù hợp của Chi nhánh nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho DNN&V khitiếp cận nguồn vốn này, Chi nhánh ngày càng thu hút được nhiều khách hàng làDNN&V Thực tế cho thấy Chi nhánh ngày càng mở rộng hoạt động cho vay đốivới DNN&V cùng với xu hướng mở rộng hoạt động cho vay của mình
b, Cơ cấu dư nợ đối với DNN&V phân theo thời gian
Bảng 2.5 : Cơ cấu dư nợ đối với DNNVV phân theo thời gian (đơn vị: tỷ đồng)
Trang 37số tuyệt đối thì dư nợ cho vay trung, dài hạn đối với DNN&V cũng khôngngừng gia tăng qua các năm, cụ thể: năm 2004, dư nợ là 35,956 tỷ đồng thìđến năm 2005 là 48,564 tỷ đồng tăng 35% so với năm 2004, và năm 2006 là71,614 tỷ đồng tăng 48% so với năm 2005.
Theo số liệu trên ta thấy được xu hướng vận động của hoạt động chovay trung, dài hạn đối với DNN&V Trong khi tỷ trọng dư nợ ngắn hạnluôn chiếm tỷ trọng áp đảo ( trung bình khoảng 70% tổng dư nợ đối vớiloại hình doing nghiệp này ) thì dư nợ trung, dài hạn lại chiếm một tỷ trọngnhỏ Điều này phản ánh sự mất cân đối trong tỷ trọng cho vay phân theothời gian Cho vay trung, dài hạn có mức độ rủi ro cao nhưng mang lại thunhập lớn hơn cho vay ngắn hạn nhiều nếu như Chi nhánh có chính sách
mở rộng cho vay trung, dài hạn đi liền với những biện pháp quản lý nguồnvốn này một cách có hiệu quả Mặt khác, tính đến 31/12/2006 có thể thấptrong cơ cấu nguồn vốn huy động của Chi nhánh thì nguồn trung, dài hạncao gấp 1,8 lần so với nguồn ngắn hạn, đây có thể coi là một lợi thế để giatăng dư nợ cho vay trung, dài hạn đối với DNN&V
c, Cơ cấu cho vay trung, dài hạn đối với DNN&V