Cùng với sự phát triển vượt bậc của đất nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao nên đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, do vậy nhucầu tiêu dùng, trong sinh hoạt cũng tăng
Trang 1PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta hiện nay đang trong quá trình đô thị hóa phát triển khôngngừng cả về tốc độ lẫn qui mô, số lượng lẫn chất lượng Bên cạnh những mặttích cực, những tiến bộ vượt bậc thì vẫn còn những mặt tiêu cực, những hạnchế mà không một nước đang phát triển nào không phải đối mặt, đó là tìnhtrạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm cụ thể đó là ô nhiễm về đất, nước,không khí và tình trạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, vàhàng loạt các vấn đề về môi trường khác cần được quan tâm sâu sắc và kịpthời giải quyết một cách nghiêm túc, triệt để
Cùng với sự phát triển vượt bậc của đất nước, tốc độ tăng trưởng kinh
tế ngày càng cao nên đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, do vậy nhucầu tiêu dùng, trong sinh hoạt cũng tăng lên một cách đáng kể, kết quả dẫnđến là khối lượng rác thải sinh hoạt tăng lên liên tục tạo áp lực rất lớn chocông ty thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt Hiện nay, việc thu gom và
xử lý rác thải sinh hoạt chưa đáp ứng yêu cầu, đây là nguyên nhân quan trọnggây ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất, vệ sinh đô thị và ảnh hưởngxấu đến cảnh quan đô thị cũng như sức khỏe cộng đồng
Thành phố Cao Bằng bao gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc (8
phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Tân Giang, Sông Hiến, Đề Thám, NgọcXuân, Duyệt Trung, Hòa Chung và 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang),tháng 10 năm 2010 thành phố được công nhận là đô thị loại III Thành phốCao Bằng nằm gần như giữa trung tâm địa lí của tỉnh, có mật độ dân số đông,tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao từ đó cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề môitrường Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong những nămtới là gắn liền với mục tiêu bảo vệ môi trường Địa phương đã có nhiều quantâm đầu tư cho hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường, trong đó có quản lýrác sinh hoạt Tuy nhiên, tác động của rác sinh hoạt đến môi trường và sứckhỏe con người vẫn có chiều hướng gia tăng, do ý thức của người dân, côngtác quản lý rác sinh hoạt
Trang 2Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên, được sự phân công của ban chủnhiệm Khoa Tài Nguyên - Môi Trường dưới sự hướng dẫn của cô giáo:
Th.S.Nguyễn Thị Huệ, tôi thực hiện đề tài: “Điều tra, đánh giá hiện trạng và
đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng”.
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Đánh giá hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt nhằm đề xuất biện phápquản lý, xử lý rác thải sinh hoạt góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tạithành phố Cao Bằng
- Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt góp phầngiảm thiểu ô nhiễm môi trường tại thành phố Cao Bằng
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế
- Tích luỹ được kinh nghiệm cho công việc khi đi làm
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ chocông tác sau này
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Các khái niệm
- Chất thải
Theo luật BVMT Việt Nam “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khíđược thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sinh hoạt hoặc hoạt động khác”(Luật bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thực hiện, 2006) [12]
- Rác thải
Rác thải là bất kì loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ mà
không được tiếp tục sử dụng như ban đầu Rác thải là những vật chất ở dạngrắn do các hoạt động của con người và động vật tạo ra Những “sản phẩm”này thường ít được sử dụng do đó nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của conngười Rác thải có thể ở dạng thành phẩm, được tạo ra trong hầu hết các giaiđoạn sản xuất và trong tiêu dùng [7] Dựa vào thành phần rác thải được chiathành 2 loại: rác thải hữu cơ và rác thải vô cơ
+ Rác thải hữu cơ tự nhiên như lá cây, rau cỏ, vỏ hoa quả, thức ăn dưthừa, xác động vật… chúng là những chất dễ phân huỷ gây ô nhiễm môitrường Khi bị phân huỷ chúng bốc mùi khó chịu, phát sinh nhiều vi trùng gâybệnh, thu hút côn trùng, ruồi nhặng, chuột bọ tạo điều kiện cho chúng pháttriển, gây ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm nguồn nước và lây truyềnsang người, gia súc, mất vẻ đẹp cảnh quan…
+ Rác thải vô cơ như chai lọ thuỷ tinh, nhựa các loại (polyetylen,polypropylene, túi nilon…), các loại vô cơ khó phân huỷ, phải sau rất nhiềunăm mới phân huỷ, một số loại sau khi phân huỷ tạo thành nhiều chất độc hạilàm ô nhiễm đất đai và nguồn nước
- Rác thải sinh hoạt
Là chất thải có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạothành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch
vụ, thương mại Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ,thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quáhạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà, lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xácđộng vật, vỏ rau quả v.v…
Trang 4Vì vậy, rác thải sinh hoạt cần được phân loại và có biện pháp tái sửdụng, tái chế, xử lí hợp lí để thu hồi năng lượng và BVMT (Nguyễn ThếChinh, 2003) [3].
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh
Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự giatăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trongcác đô thị và các vùng nông thôn Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chấtthải bao gồm (Hình 2.1):
+ Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt)
+ Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trìnhcông cộng
+ Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây dựng.+ Từ các làng nghề, v.v…
Hình 2.1 Nguồn phát sinh chất thải
(Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng,2005)[4]
Nhà dân, khu
dân cư
Cơ quan, trường học
Nơi vui chơi giải trí
Khu công nghiệp, nhà máy
Trang 52.1.3 Thành phần rác thải
Thành phần chất thải rắn biểu hiện sự đóng góp và phân phối của cácphần riêng biệt mà từ đó tạo nên dòng chất thải, thông thường được tính bằngphần trăm khối lượng Thông tin về thành phần chất thải rắn đóng vai trò rấtquan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn những thiết bị thích hợp để xử lý,các quá trình xử lý cũng như việc hoạch định các hệ thống, chương trình và
kế hoạch quản lý chất thải rắn
Thông thường trong rác thải đô thị, rác thải từ các khu dân cư vàthương mại chiếm tỷ lệ cao nhất từ 50-75% Phần trăm đóng góp của mỗithành phần chất thải rắn giá trị phân bố sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào sự mở rộngcác hoạt động xây dựng, sửa chữa, sự mở rộng của các dịch vụ đô thị cũngnhư công nghệ sử dụng trong xử lý nước Thành phần riêng biệt của chất thảirắn thay đổi theo vị trí địa lý, thời gian, mùa trong năm, điều kiện kinh tế vàtùy thuộc vào thu nhập của từng quốc gia…
Rác thải sinh hoạt chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng lượng rác thải rắn củacác đô thị Việt Nam, khoảng 80%, có thành phần rất phức tạp Thành phần lýhọc, hóa học của chất thải khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vào cácmùa khí hậu, điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Thành phần rác thải sinhhoạt đô thị ngày càng có xu hướng biến đổi tăng các chất khó phân hủy, độc hại.Thành phần rác thải sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam được thể hiện ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam
Trang 6+ Khối lượng riêng
Khối lượng riêng của chất thải rắn được định nghĩa là trọng lượng củamột đơn vị vật chất tính trên 1 đơn vị thể tích chất thải (kg/m3) Bởi vì Khốilượng riêng của chất thải rắn thay đổi tuỳ thuộc vào những trạng thái củachúng như: xốp, chứa trong các thùng chứa container, không nén, nén… nênkhi báo cáo dữ liệu về khối lượng hay thể tích chất thải rắn, giá trị khối lượngriêng phải chú thích trạng thái (khối lượng riêng) của các mẫu rác một cách rõràng vì dữ liệu khối lượng riêng rất cần thiết được sử dụng để ước lượng tổngkhối lượng và thể tích rác cần phải quản lý Khối lượng riêng thay đổi phụthuộc vào nhiều yếu tố như: vị trí địa lý, mùa trong năm, thời gian lưu giữchất thải Do đó cần phải thận trọng khi lựa chọn giá trị thiết kế Khối lượngriêng của chất thải đô thị dao động trong khoảng 180 - 400 kg/m3, điển hìnhkhoảng 300 kg/m3
+ Phương pháp xác định khối lượng riêng của chất thải rắn
Mẫu chất thải rắn được sử dụng để xác định khối lượng riêng có thểtích khoảng 500 lít sau khi xáo trộn đều bằng kỹ thuật “một phần tư” Cácbước tiến hành như sau:
1) Đổ nhẹ mẫu chất thải rắn vào thùng thí nghiệm có thể tích đã biết (tốtnhất là thùng có thể tích 100 lít) cho đến khi chất thải đầy đến miệng thùng
2) Nâng thùng lên cách mặt sàn khoảng 30 cm và thả rơi tự do xuống 4 lần.3) Đổ nhẹ mẫu chất thải rắn vào thùng thí nghiệm để bù vào chất thải
đã nén xuống
4) Cân và ghi khối lượng của cả vỏ thùng thí nghiệm và chất thải rắn.5) Trừ khối lượng cân được ở trên cho khối lượng của vỏ thùng thínghiệm thu được khối lượng của chất thải rắn thí nghiệm
6) Chia khối lượng CTR cho thể tích của thùng thí nghiệm thu đượckhối lượng riêng của chất thải rắn
Trang 77) Lập lại thí nghiệm ít nhất 2 lần và lấy giá trị khối lượng riêng trung bình
+ Độ ẩm:
Độ ẩm của chất thải rắn được biểu diễn bằng một trong 2 phương phápsau (phương pháp khối lượng ướt và phương pháp khối lượng khô):
- Theo phương pháp khối lượng ướt: độ tính theo khối lượng ướt của
vật liệu là phần trăm khối lượng ướt của vật liệu
- Theo phương pháp khối lượng khô: độ ẩm tính theo khối lượng khô
của vật liệu là phần trăm khối lượng khô vật liệu
Phương pháp khối lượng ướt được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực quản
lý chất thải rắn Độ ẩm theo phương pháp khối lượng ướt được tính như sau:
a= {(w - d)/ w} x 100
Trong đó: a: độ ẩm, % khối lượng
W: khối lượng mẫu ban đầu, kg d: khối lượng mẫu sau khi sấy khô ở 105 o C, kg
Đối với các thành phần chất thải rắn sinh hoạt, chất thải hữu cơ như thựcphẩm thừa hay chất thải trong vườn là loại có độ ẩm cao nhất chiếm 60-70%
+Khả năng giữ nước thực tế
Khả năng giữ nước thực tế của chất thải rắn là toàn bộ lượng nước mà
nó có thể giữ lại trong mẫu chất thải dưới tác dụng của trọng lực Khả nănggiữ nước của chất thải rắn là một chỉ tiêu quan trọng trong việc tính toán xácđịnh lượng nước rò rỉ từ bãi rác Nước đi vào mẫu chất thải rắn vượt quá khảnăng giữ nước sẽ thoát ra tạo thành nước rò rỉ Khả năng giữ nước thực tếthay đổi phụ thuộc vào áp lực nén và trạng thái phân huỷ của chất thải Khảnăng giữ nước của hỗn hợp chất thải rắn (không nén) từ các khu dân cư vàthương mại dao động trong khoảng 50-60%
2.1.4.2 Tính chất hóa học
Tính chất hóa học của rác thải sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trongviệc lựa chọn phương án xử lý và thu hồi nguyên liệu Phương pháp xác địnhtính chất hóa học của rác thải sinh hoạt như sau:
- Chất hữu cơ: Lấy mẫu, nung ở 950oC Phần bay hơi đi là chất hữu cơhay còn gọi là tổn thất khi nung, thông thường chất hữu cơ dao động trongkhoảng 40 - 60% Trong tính toán, lấy trung bình 53% chất hữu cơ
Trang 8- Chất tro: Phần còn lại sau khi nung - tức là các chất trơ dư hay chất
vô cơ
- Hàm lượng cacbon cố định: Là lượng cacbon còn lại sau khi đã loại
các chất vô cơ khác không phải là cacbon trong tro, hàm lượng này thườngchiếm khoảng 5 - 12%, trung bình là 7% Các chất vô cơ khác trong tro baogồm thủy tinh, kim loại… Đối với chất thải rắn đô thị, các chất này có trongkhoảng 15 - 30%, trung bình là 20%
- Nhiệt trị: Giá trị nhiệt tạo thành khi đốt chất thải rắn Giá trị này
được xác định theo công thức Dulông:
C: Lượng cacbon tính theo %H: Hydro tính theo %
O: Oxi tính theo %S: Sunfua tính theo %
2.1.4.3 Tính chất sinh học
Đặc tính sinh học quan trọng nhất của thành phần chất hữu cơ có trongchất thải rắn sinh hoạt là hầu hết các thành phần này đều có khả năng chuyểnhoá sinh học tạo thành các khí, chất rắn hữu cơ trơ, và các chất vô cơ Mùi vàruồi nhặng sinh ra trong quá trình chất hữu cơ bị thối rữa (rác thực phẩm) cótrong chất thải rắn sinh học
+ Khả năng phân hủy sinh học của các thành phần hữu cơ:
Rác thải sinh hoạt chưa hàm lượng lớn thành phần hữu cơ, nhất là cácthành phần dễ phân hủy sinh học dưới tác dụng của các loài vi sinh vật nhưthực phẩm, rác từ vườn
+Sự hình thành mùi:
Mùi sinh ra khi tồn trữ rác thải trong thời gian dài giữa các khâu thugom, vận chuyển và thải ra bãi rác nhất là những vùng có khí hậu nóng do quátrình phân hủy kị khí của các chất hữu cơ dễ phân hủy trong rác thải sinhhoạt Ví dụ: trong điều kiện khí sunfua có thể bị khử về dạng sulfide (S2-), sau
đó sulfide (S2-) lại kết hợp với hydro tạo thành H2S gây mùi khó chịu
Trang 92.1.5 Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt tới kinh tế xã hội, môi trường và sức khỏe con người
Có thể nảy sinh những vấn đề khác nhau về kinh tế xã hội và môitrường liên quan tới rác thải như sau [2]
2.1.5.1 Những vấn đề kinh tế xã hội:
- Rác thải sinh hoạt còn tồn đọng ở các khu vực là nguyên nhân dẫnđến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khoẻ con người Cácđối tượng có khả năng nhiễm bệnh cao từ các khu vực tồn đọng là dân cưsống trong các đường, ngõ hẻm nhỏ, xe thu gom rác không vào được, ở vùngnông thôn và những người đi nhặt rác bán phế liệu…
- Thu gom không hết, vận chuyển vãi dọc đường, tồn tại các bãi rácnhỏ lộ thiên chờ vận chuyển,… đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môitrường và làm ảnh hưởng đến mỹ quan đường phố, thôn xóm
- Khi rác rơi vãi hoặc số lượng chỗ đổ rác,vụn rác tăng sẽ làm tăng mức
độ xảy ra tai nạn giao thông trên đường phố, cản trở hoặc ách tắc giao thông
- Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác nếu không đồng bộ, thốngnhất cũng có khả năng làm mất trật tự an ninh xã hội
- Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lýthích hợp, cứ đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớpphủ, thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyềndịch bệnh, chưa kể đến các chất thải độc hại tại các bãi rác thải có nguy cơgây ra các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người tiếp xúc, đe doạ đến sứckhỏe cộng đồng xung quanh
- Nếu công tác quản lý thu gom, xử lý rác sinh hoạt không hợp lý sẽgây trì trệ khả năng phát triển kinh tế xã hội
2.1.5.2 Những vấn đề môi trường:
Môi trường đất
- Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều đượclưu giữ lại trong đất một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon,hydrocacbon… nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: thay đổi
cơ cấu đất, đất trở nên khô cằn, các vi sinh vật trong đất có thể bị chết Nhiều
Trang 10loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị đóng cứng,khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa
Môi trường nước
- Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi
sẽ theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao
hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận
- Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhângây mất vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặcchứa nhiều rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàmlượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầngnước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vậtthủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực
- Ở các bãi chôn lấp rác chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ônhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suốilân cận Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đanước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt
Môi trường không khí
- Tại các trạm, bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồn gây ônhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụikhói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác
- Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn vấn đề ảnh hưởng đến môi trườngkhí là mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại
2.1.5.3 Rác thải ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Bất kỳ sinh vật sống nào đều trao đổi vật chất và năng lượng với môitrường bên ngoài Con người cũng vậy, nhưng khi các môi trường sống nhưđất, nước, không khí đều bị làm xấu đi thì ắt hẳn sức khỏe của cộng đồng sẽ bịtác động theo chiều hướng không tốt Ví dụ: các hợp chất hữu cơ bền (viết tắt
là POPs) - một trong các chất thải nguy hại được xem là ảnh hưởng lớn đến sứckhỏe con người và môi trường - những hợp chất hữu cơ này vô cùng bền vững,tồn tại lâu trong môi trường có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thựcphẩm và trong các nguồn nước, mô mỡ của động vật gây ra hàng loạt các bệnhnguy hiểm đối với con người, phổ biến nhất là bệnh ung thư Thế nhưng các
Trang 11hợp chất hữu cơ trên lại được sử dụng rất nhiều trong đời sống hàng ngày củacon người ở các dạng dầu thải trong các thiết bị điện gia dụng trong gia đình,các thiết bị trong ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, dầuchịu nhiệt, dầu biến thế, chất làm mát trong truyền nhiệt, trong các dung môichế tạo mực in… Do vậy, rác thải ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng,nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư làng nghề, gần khu công nghiệp, bãichôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm chất thải.
Hiện kết quả các mẫu đất, nước, không khí đều tìm thấy sự tồn tại củacác loại hợp chất trên Tác hại nghiêm trọng của chúng cũng để thể hiện khá
rõ nét thông qua hình ảnh thực tế các em bé dị dạng, số bệnh nhân mắc cácbệnh về tim mạch, rối loạn thần kinh, bệnh đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnhngoài da, bệnh tiêu chảy, dịch tả, thương hàn do rác thải gây ra và đặc biệt lànhững căn bệnh ung thư ngày càng gia tăng mà việc chẩn đoán cũng như xácđịnh phương pháp điều trị gặp rất nhiều khó khăn
Điều đáng lo ngại là hầu hết rác thải có tính chất nguy hại đều cực kìkhó phân hủy Nếu nhiệt độ lò đốt không đạt 8000C trở lên thì các chất nàykhông phân hủy hết Ngoài ra sau khi đốt, chất thải cần được làm lạnh nhanh,nếu không các chất lại tiếp tục liên kết với nhau tạo ra chất hữu cơ bền, thậmchí còn sinh ra khí dioxin cực độc thoát vào môi trường (Hội BVTN &MTVN, 2004) [5]
2.2 Cơ sở pháp lý của đề tài
- Luật Bảo vệ Môi trường 2005 ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005
có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệmôi trường trong thời kì đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước
- Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/02/2005 của Thủ tướngchính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghịquyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trườngtrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ vềquản lý chất thải rắn
- Nghị định 21/2011/NĐ-CP ngày 29/3/2011 của Chính phủ quy địnhchi tiết và biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Trang 12- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ Tài nguyên
& Môi trường Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số
29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiếnlược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và có hiệu lựcthi hành kể từ ngày 05 tháng 6 năm 2011
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về việc đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp
- Quyết định số 17/2001/QĐ-BXD ngày 07/08/2001 của Bộ trường BộXây dựng ban hành định mức dự toán chuyên ngành vệ sinh môi trường- côngtác thu gom, vận chuyển, xử lý rác
- Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31 tháng 12 năm 2007 của Bộxây dựng về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-
CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ qui định về Quản lý chất thải rắn
- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP của chính phủ ngày 31/12/2009 về xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ quyđịnh về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn (CTR)
- Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19/5/2008 của Bộ tài chính hướngdẫn thực hiện nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ
về Phí bảo vệ môi trường với chất thải rắn (CTR)
- Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưuđãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT)
- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 của Bộ tài chínhhướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư choquản lý CTR
- Nghị định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/02/2009 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng thể CTR đến năm 2025 vàtầm nhìn đến năm 2050
- Quyết định số 798/QĐ-TTg ngày 25/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011/2020 doThủ tướng Chính phủ ban hành
Trang 13
* Theo điều 66 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 về trách nhiệm quản lý CTR sinh hoạt quy định:
- Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải có trách nhiệmgiảm thiểu, tái chế, tái sử dụng để hạn chế mức thấp nhất lượng chất thải phảitiêu huỷ, thải bỏ
- Chất thải phải được xác định nguồn thải, khối lượng, tính chất để cóphương pháp và quy trình xử lý thích hợp với từng loại chất thải
- Tố chức cá nhân kinh doanh, sản xuất, dịch vụ thực hiện tốt việc quản
lý chất thải được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường
* Theo điều 69 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt:
- Lập quy hoạch, bố trí mặt bằng cho việc tập kết CTR sinh hoạt, xâydựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, khu chôn lấp chất thải
- Đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình công cộng phục vụ quản lýchất thải thuộc phạm vi quản lý của mình
- Kiểm tra, giám định các công trình quản lý chất thải của tổ chức cánhân trước khi đưa vào sử dụng
- Ban hành và thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động quản
lý chất thải theo quy định của pháp luật
2.3 Tình hình quản lý rác thải trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình quản lý rác thải trên thế giới
Lượng CTR sinh hoạt phát sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế - xãhội, điều kiện sống, thói quen và nhận thức của cộng đồng dân cư ở các quốcgia khác nhau Nếu tính trung bình mỗi ngày một người thải ra môi trường 0,5
kg rác thải thì trên toàn thế giới sẽ có trên 3 triệu tấn rác thải mỗi ngày, mộtnăm xấp xỉ khoảng 6 tỷ tấn rác
Đô thị hoá và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tàinguyên và tỷ lệ phát sinh CTR tăng lên theo đầu người Dân thành thị ở cácnước phát triển phát sinh CTR nhiều hơn các nước đang phát triển 6 lần
+ Các nước đang phát triển: trung bình 0,5kg/người/ngày
+ Các nước phát triển: trung bình 2,8 kg/người/ngày (Nguyễn ĐìnhHương, 2003) [6]
Trang 14Vấn đề quản lý, xử lý rác thải ở các nước trên thế giới đang ngày càngđược quan tâm hơn Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được tiếnhành một cách rất chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quá trìnhphân loại tại nguồn, thu gom, tập kết rác thải cho tới các trang thiết bị thugom, vận chuyển theo từng loại rác Các quy định đối với việc thu gom, vậnchuyển, xử lý từng loại rác thải được quy định rất chặt chẽ và rõ ràng với đầy
đủ các trang thiết bị phù hợp và hiện đại Một khác biệt trong công tác quản
lý, xử lý rác thải của các nước phát triển là sự tham gia của cộng đồng [14]
+ Ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế giới hiện nay Việc phânloại rác đã được thực hiện nghiêm túc ở Đức từ năm 1991 Rác bao bì gồm hộpđựng thức ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại hay carton được gomvào thùng màu vàng Bên cạnh thùng vàng, còn có thùng xanh dương cho giấy,thùng xanh lá cây cho rác sinh học, thùng đen cho thủy tinh
Những lò đốt rác hiện đại của nước Đức hầu như không thải khí độc ramôi trường Das Duele System Deutschland (DSD) - “Hệ thống hai chiều củanước Đức” - được các nhà máy tái chế sử dụng để xử lý các loại rác thải vànăm vừa rồi, các nhà máy này đã chi khoản phí gần 1,2 tỷ USD để sử dụngcông nghệ trên Tại các dây chuyền phân loại, các camera hồng ngoại hoạtđộng với tốc độ 300.000km/s để phân loại 10 tấn vật liệu mỗi giờ Những ốnghơi nén được điều khiển bằng máy tính đặt ở các băng chuyền có nhiệm vụtách riêng từng loại vật liệu Sau đó rác thải sẽ được rửa sạch, nghiền nhỏ vànấu chảy Quá trình trên sẽ cho ra granulat, một nguyên liệu thay thế dầu thôtrong công nghiệp hoặc làm chất phụ gia
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhỏ bắt đầu từ việc phânloại rác là một trong những phương pháp mà những nhà quản lý tại Đức đã ápdụng Rác được phân loại triệt để là điều kiện để quá trình xử lý và tái chế ráctrở nên thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều Từ đó, khái niệm về rác thải dầnđược thay thế bằng nguồn tài sản tiềm năng, mang lại lợi nhuận đáng kể vớinhững ai biết đầu tư vào việc cải tiến công nghệ [16]
Tỷ lệ CTR sinh hoạt trong dòng CTR đô thị rất khác nhau giữa cácnước rất khác Theo đánh giá của ngân hàng thế giới các nước có thu nhậpcao chỉ có khoảng 25 - 35 % chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô
Trang 15thị Các số liệu thống kê gần đây về tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàngnăm liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó có 46,6 triệu tấnchất thải sinh hoạt và chất thải tương tự tự phát sinh ở Anh, 60% số này đượcchôn lấp, 24% được tái chế với 6% được thiêu đốt Chỉ tính riêng rác thải thựcphẩm, theo khảo sát dự án được thực hiện vào tháng 10/2006 - 3/2008 chấtthải được tạo ra từ hộ gia đình nhiều hơn tới hàng tấn so với chất thải bao bì,chiếm 19% chất thải đô thị (Nguyễn Văn Thái, 2005) [12].
Tại Hà Lan: người dân Hà Lan phân loại rác thải và những gì có thể
tái chế được ra riêng Những thùng rác với kiểu dáng và màu sắc khác nhauđược sử dụng trong thành phố Thùng rác màu vàng ở gần siêu thị để chứa các
đồ kính, thủy tinh, thùng màu xanh nhạt dùng để chứa giấy Tại các nơi đôngdân cư sinh sống thường đặt 2 thùng rác màu khác nhau, một loại chứa rác cóthể phân hủy, một chứa rác không thể phân hủy
Tại Mỹ: hàng năm toàn nước Mỹ phát sinh một khối lượng rác khổng
lồ lên tới 10 tỷ tấn Trong đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khíchiếm 75%; rác thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; rác thải từhoạt động công nghiệp chiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm1%; rác thải sinh hoạt chiếm 1,5% (Lê Văn Nhương, 2001) [8]
Tại Singapo: có thể nói Singapo là một quốc gia có môi trường xanh
-sạch - đẹp của thế giới Chính phủ rất coi trọng việc bảo vệ môi trường, cụ thểpháp luật về môi trường được thực hiện một cách toàn diện, là công cụ hữuhiệu nhất để đảm bảo cho môi trường sạch đẹp của Singapo Cơ chế thu gomrác rất hiệu quả, việc thu gom được tổ chức đấu thầu cho các nhà thầu Rácthải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình tái chế của quốc gia ỞSingapo, hút thuốc, vứt rác không đúng nơi quy định bị phạt 500 đô la trở lên.(Hoàng Quang, 2010) [10]
Đặc biệt, tại các nước phát triển công việc quản lý, xử lý rác thải đượctiến hành rất chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ của người dân, quá trình phân loại ráctại nguồn, thu gom tập kết rác thải cho tới các trang thiết bị thu gom, vậnchuyển cho từng loại rác Các quy định đối với việc thu gom, vận chuyển và
xử lý từng loại rác được quy định rất chặt chẽ và trang bị đầy đủ các trang
Cơ quan trường
học
Trang 16thiết bị hiện đại Một khác biệt trong công tác quản lý, xử lý rác thải là có sựtham gia của cộng đồng.
Tại các nước đang phát triển thì công tác thu gom rác thải còn nhiềuvấn đề bất cập Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp
lý, trang thiết bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu quảlại thấp Sự tham gia của các đơn vị tư nhân còn ít và hạn chế So với cácnước phát triển thì tỷ lệ thu gom rác ở các nước đang phát triển như Việt Nam
và khu vực Nam Mỹ còn thấp hơn nhiều
Tỷ lệ các phương pháp xử lý rác thải ở một số nước Châu Á được tổnghợp ở Bảng 2.2
Bảng 2.2 Các phương pháp xử lý rác thải của một số nước ở Châu Á
(Đơn vị %)
Nước Bãi rác lộ
thiên, chôn lấp Thiêu đốt
Chế biến phân compost
Phương pháp khác
(Nguồn: Viện khoa học thủy lợi, 2006)
2.3.2 Tình hình quản lý rác thải ở Việt Nam
Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra rất mạnh mẽ, rất nhiều đôthị được chuyển từ đô thị loại thấp lên đô thị loại cao và nhiều đô thị mới đượchình thành Nếu năm 2000, nước ta có 649 đô thị thì năm 2005, con số này là
715 đô thị và đã tăng lên thành 755 đô thị lớn nhỏ vào giữa năm 2011 (Bộ Xâydựng, 2011) Đô thị phát triển kéo theo vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị.Năm 2009, dân số đô thị là 25,59 triệu người (chiếm 29,74% tổng dân số cảnước), đến năm 2010, dân số đô thị đã lên đến 26,22 triệu người (chiếm 30,17%
Trang 17tổng số dân cả nước) (TCTK, 2011) Dự báo, đến năm 2015 dân số đô thị là 35triệu người chiếm 38% dân số cả nước, năm 2020 là 44 triệu người chiếm 45%dân số cả nước và năm 2025 là 52 triệu người chiếm 50% dân số cả nước[1]
Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã trở thành nhân tố tích cựctrong phát triển KT-XH của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích vềKT-XH Đô thị hóa nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảmchất lượng môi trường và phát triển không bền vững Các hoạt động sản xuất,sinh hoạt tăng theo Tính bình quân người dân đô thị tiêu dung năng lượng, đồtiêu dùng, thực phẩm cao gấp 2-3 lần người dân nông thôn kéo theo lượng rácthải người dân đô thị cũng gấp 2-3 lần người dân nông thôn
Dân số đô thị nước ta phân bố không đồng đều và có sự khác biệt lớn theovùng Tính đến năm 2010, dân số đô thị khu vực Đông Nam Bộ cao nhất cả nướcvới 8,35 triệu người, tiếp theo đó là vùng Đồng bằng sông Hồng với 5,86 triệungười, khu vực có số dân đô thị ít nhất là Tây Nguyên với 1,5 triệu người Mật độdân số theo đó cũng cao chủ yếu ở 3 vùng kinh tế lớn là Đồng bằng sông Hồng(939 người/km2), Đông Nam Bộ (617 người/km2) và Đồng bằng sông Cửu Long(426 người/km2) (mật độ dân số trung bình toàn quốc vào khoảng 263người/km2) Những con số trên cho thấy, phát sinh CTR đô thị sẽ tập trung phầnlớn ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng (Biểu đồ 2.1)
Hình 2.2 Biểu đồ dân số đô thị nước ta theo các vùng kinh tế
giai đoạn 2006 - 2010
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011)[1]
Trang 182.3.2.1 Lượng phát sinh chất thải rắn tại Việt Nam
+ Lượng phát sinh rác thải rắn tại Việt Nam: Tổng lượng CTR sinhhoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10 ÷ 16 % mỗi năm.Tại hầu hết các đô thị, khối lượng CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70%tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%)[2]
Phát sinh CTR ở đô thị chủ yếu là CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 70% lượng CTR phát sinh, tiếp theo là CTR xây dựng, CTR công nghiệp,CTR y tế,…
-CTR ở đô thị bao gồm:
- CTR sinh hoạt: phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, các khu tập thể,chất thải đường phố, chợ, các trung tâm thương mại, văn phòng, các cơ sởnghiên cứu, trường học,…
Bảng 2.3 Các loại CTR đô thị của Hà Nội năm 2011
TT chất thải Loại
Khối lượng phát sinh
Sản xuất phân hữu cơ
vi sinh: 60 tấn/ngày.Tái chế: 10%, tự pháttại các làng nghề
2 CTR
công
nghiệp
~1.950 Cặn sơn, dung môi, bùn
thải công nghiệp, giẻ dính dầu mỡ thải
Một phần được xử lý tại Khu xử lý chất thải công nghiệp
(Nguồn: URENCO Hà Nội, 2011) [13]
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 -2007 đã cho thấy, lượng CTR đôthị phát sinh chủ yếu tập trung ở hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và Tp Hồ ChíMinh, chiếm tới 45,24% tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô
thị tương ứng khoảng 8.000 tấn/ngày (2,92 triệu tấn/năm) (Biểu đồ 2.2) Tuy
nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, tổng lượng và chỉ số phát sinh CTR đô thịcủa đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 hiện nay đã tăng lên rất nhiều Nguyênnhân của sự gia tăng này là do Thủ đô Hà Nội sau khi điều chỉnh địa giới
Trang 19hành chính thì lượng CTR đô thị phát sinh đã lên đến 6.500 tấn/ngày (con sốcủa năm 2007 là 2.600 tấn/ngày).
Hình 2.3 Biểu đồ tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam
năm 2007
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và Báo cáo của các Sở TN&MT
Chỉ số phát sinh CTR đô thị bình quân đầu người tăng theo mức sống.Năm 2007, chỉ số CTR sinh hoạt phát sinh bình quân đầu người tính trung bình
cho các đô thị trên phạm vi toàn quốc vào khoảng 0,75 kg/người /ngày (Bảng 2.4) Năm 2008, theo Bộ Xây dựng thì chỉ số này là 1,45 kg/người/ngày, lớn
hơn nhiều so với ở nông thôn là 0,4 kg/người/ngày Tuy nhiên, theo Báo cáocủa các địa phương năm 2010 thì chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt đô thị trungbình trên đầu người năm 2009 của hầu hết các địa phương đều chưa tới 1,0kg/người/ngày Các con số thống kê về lượng phát sinh CTR sinh hoạt đô thịkhông thống nhất là một trong những thách thức cho việc tính toán và dự báolượng phát thải CTR đô thị ở nước ta
Bảng 2.4 Chất thải rắn đô thị phát sinh năm 2007 - 2010
Dân số đô thị (triệu người) 23,8 27,7 25,5 26,22
% dân số đô thị so với cả nước 28,20 28,99 29,74 30,20
Tổng lượng CTR đô thị phát sinh (tấn/ngày) 17,682 20,849 24,225 26,224
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011)[1]
Trang 20Bảng 2.5 Thành phần CTR sinh hoạt tại đầu vào của các bãi chôn lấp của một số địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Tp HCM (1)
và Bắc Ninh (2) năm 2009 - 2010
(Tính theo %)
TT Loại chất thải
Hà Nội (Nam Sơn)
Hà Nội (Xuân Sơn)
Hải Phòng (Tràng Cát)
Hải Phòng (Đình Vũ)
Huế (Thủy Phương)
Đà Nẵng (Hòa Khánh)
HCM (Đa Phước)
HCM (Phước Hiệp)
Bắc Ninh (Thị trấn Hồ)
Trang 212.3.2.3 Một số biện pháp xử lý chất thải rắn ở Việt Nam
Cho đến nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp xử lý rác thải sinhhoạt như giảm thể tính cơ học (nén, ép), làm giảm thể tích bằng hoá học (đốt),làm giảm kích thước bằng cơ học (băm, chặt), phân loại hợp phần rác (bằngtay, bằng cơ học), làm mất nước… nhưng thông dụng nhất hiện nay có 3phương pháp được sử dụng nhiều nhất đó là phương pháp chôn lấp, phươngpháp thiêu đốt và phương pháp sinh học Trong đó phương pháp sinh họcđược cho là tối ưu hiện nay
- Phương pháp chôn lấp
Các biện pháp xử lý chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn làchôn lấp Tỷ lệ CTR được chôn lấp hiện chiếm khoảng 76 - 82% lượng CTRthu gom được (trong đó, khoảng 50% được chôn lấp hợp vệ sinh và 50% chônlấp không hợp vệ sinh) Thống kê trên toàn quốc có 98 bãi chôn lấp chất thảitập trung ở các thành phố lớn đang vận hành nhưng chỉ có 16 bãi được coi làhợp vệ sinh Ở phần lớn các bãi chôn lấp, việc chôn lấp rác được thực hiện hếtsức sơ sài Như vậy, cùng với lượng CTR được tái chế, hiện ước tính cókhoảng 60% CTR đô thị đã được xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệsinh và tái chế trong các nhà máy xử lý CTR để tạo ra phân compost, tái chếnhựa[2],… Việc quản lý, vận hành các bãi chôn lấp rác hiện nay chưa tuânthủ theo các quy định hiện hành Các bãi chôn lấp không có lớp chống thấm ởdưới đáy và không có hệ thống thu gom xử lý nước rác, không có hệ thốngthu gom khí, quy trình đổ rác không đúng kỹ thuật; do đó đã dẫn đến tìnhtrạng ô nhiễm môi trường không khí, rò rỉ, thẩm thấu nước rác gây ô nhiễmmôi trường đất, nước mặt và nước ngầm
Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách dùng xe chuyên dụng chở ráctới các bãi đã xây dựng trước Sau khi rác được đổ xuống, xe ủi san bằng,đầm nén trên bề mặt và đổ lên một lớp đất, hàng ngày phun thuốc diệt ruồimuỗi, rắc vôi bột… theo thời gian, sự phân hủy của vi sinh vật làm cho rác trởnên tơi xốp và thể tích của bãi rác giảm xuống Việc đổ rác lại được tiếp tụccho đến khi bãi rác đầy thì chuyển sang bãi rác mới
Các bãi chôn lấp rác phải cách xa khu dân cư, không gần nguồn nướcngầm và nguồn nước mặt Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được
Trang 22phủ các lớp chống thấm bằng màn địa chất Ở các bãi chôn lấp rác cần phảithiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải vào môi trường Việcthu khí ga để biến đổi thành năng lượng là một cách để tận dụng từ rác thải rấthữu ích.
- Ưu điểm của phương pháp:
+ Công nghệ đơn giản, rẻ tiền và phù hợp với nhiều loại rác thải
+ Chi phí vận hành bãi rác thấp
- Nhược điểm của phương pháp:
+ Chiếm diện tích đất tương đối lớn
+ Không được sự đồng tình của người dân khu vực xung quanh
+ Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) cao
+ Tìm kiếm xây dựng bãi rác mới là việc làm khó khăn
- Phương pháp thiêu đốt
Đốt chất thải sinh hoạt đô thị chủ yếu ở các bãi rác không hợp vệ sinh:sau khi rác thu gom được đổ thải ra bãi rác phun chế phẩm EM để khử mùi vàđịnh kỳ phun vôi bột để khử trùng, rác để khô rồi đổ dầu vào đốt Tuy nhiên,vào mùa mưa, rác bị ướt không đốt được hoặc bị đốt không triệt để Ước tínhkhoảng 40 ÷ 50% lượng rác đưa vào bãi chôn lấp không hợp vệ sinh được đốt
lộ thiên Công nghệ đốt CTR sinh hoạt với hệ thống thiết bị đốt được thiết kếbài bản mới được áp dụng tại Nhà máy đốt rác ở Sơn Tây (Hà Nội) Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh đang có kế hoạch nhập dây chuyền công nghệ đốtchất thải có tận dụng nhiệt để phát điện trong thời gian tới [1]
Xử lý rác bằng phương pháp đốt là giảm tới mức tối thiểu chất thải chokhâu xử lý cuối cùng Nhờ thiêu đốt dung tích chất thải rắn được giảm nhiềuchỉ còn khoảng 10% so với dung tích ban đầu, trọng lượng giảm chỉ còn 25%hoặc thấp hơn so với ban đầu Như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thugom và giảm nhu cầu về dung tích chứa tại chỗ, ngay tại nguồn, đồng thờicũng dễ dàng chuyên chở ra bãi chôn lấp tập trung nếu cần Tuy nhiên,phương pháp đốt rác sẽ gây ô nhiễm không khí cho khu vực dân cư xungquanh, đồng thời làm mất mỹ quan đô thị, vì vậy phương pháp này chỉ dùng
tại các địa phương nhỏ, có mật độ dân số thấp
Trang 23Phương pháp này chi phí cao, so với phương pháp chôn lấp rác, chi phí
để đốt một tấn rác cao hơn gấp 10 lần Công nghệ đốt rác thường sử dụng ở cácquốc gia phát triển vì phải có một nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thuđốt rác sinh hoạt như là một dịch vụ phúc lợi xã hội toàn dân Tuy nhiên, việcđốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất thải khác nhau sinh khói độc và dễ sinhkhí dioxin nếu không giải quyết tốt việc xử lý khói Năng lượng phát sinh khiđốt rác có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cho ngành công nghệ nhiệt
và phát điện Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải tốn kémnhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt gây ra
Hiện nay tại các nước Châu Âu có xu hướng giảm đốt rác thải vì hàngloạt các vấn đề kinh tế cũng như môi trường cần phải giải quyết Việc thu đốtrác thải thường chỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại, rác thải bệnh việnhoặc rác thải công nghiệp và các phương pháp khác không xử lý triệt để được
- Phương pháp thu hồi và tái sử dụng
Trong chất thải vẫn còn tồn tại những chất có thể tái sử dụng thậm chínhiều chất thải còn mang lại lợi ích kinh tế Hiện nay ở nước ta vấn đề nàychưa được chú trọng vì hiện tại lực lượng đào bới rác và thu hồi phế liệu rấtđông đảo Tuy nhiên, việc quản lý sức khỏe cho họ là một mối quan tâm lớn
Thời gian tới, công nghệ xử lý CTR tại Việt Nam sẽ được phát triểntheo hướng giảm thiểu tối đa lượng rác thải chôn lấp và tăng cường tỷ lệ táichế, tái sử dụng Gần đây, có nhiều nhà đầu tư tư nhân đến Việt Nam đemtheo các công nghệ đa dạng, tuy nhiên, một số công nghệ không đáp ứng yêucầu Bộ Xây dựng đã cấp giấy phép cho một số công nghệ nội địa trong lĩnhvực xử lý CTR sinh hoạt để thúc đẩy các công nghệ phù hợp [2]
- Phương pháp sinh học
Rác thải được thu gom về nhà máy, chúng được đưa lên dây chuyềnphân loại cơ học loại các chất vô cơ như nilon, nhựa, sắt, thép, gạch, đá… sauphân loại gạch đá được loại ra đem chôn lấp nilon, nhựa đem đốt, sắt thép,thuỷ tinh được thu hồi, sản phẩm cuối cùng là rác hữu cơ Sử dụng các vi sinhvật để phân giải các chất hữu cơ có trong rác thải kết hợp với các chất phụ gia
Trang 24tạo ra mùn, có thể trộn bổ xung N,P,K và vi lượng vào mùn tạo phân vi sinh
để bón cho lúa, hoa màu…
Ưu điểm của phương pháp này là hạn chế gây ô nhiễm môi trường, tiếtkiệm đất đai, tạo ra lượng phân bón, Nhược điểm của phương pháp này là ủtạo mùi gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh và công nhân vậnhành Nếu phân loại không triệt để trong mùn còn lẫn nhiều tạp chất, phân vàmùn từ các nhà máy chế biến rác không được người dân chấp nhận, hạn chếđầu tư gây ra ách tắc cho quá trình sản xuất, đầu tư ban đầu tương đối lớn,phải đủ số lượng rác, không phù hợp với các thị trấn, thị tứ và nông thôn.Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh thành trong nước:
Tại Hà Nội: Dự án 3R-HN do JICA tài trợ đã triển khai thực hiện phân
loại chất thải tại nguồn trên địa bàn thành phố tại phường Phan Chu Trinh,quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (kể từ tháng 7/2007); phường Thành Công vàphường Láng Hạ (năm 2008) Rác hữu cơ được chuyển đến nhà máy phânCầu Diễn để sản xuất phân compost, rác vô cơ được chuyển đến chôn lấp tạibãi rác Nam Sơn Tổng cộng có khoảng 18.000 hộ gia đình đã tham gia vào
dự án 3R tại các phường thí điểm nêu trên Tại địa bàn thí điểm, lượng rácthải sinh hoạt từ các hộ gia đình đã giảm bình quân từ 31,2 - 45,1% tùy từngphường, đạt mục tiêu giảm thiểu 30% lượng chất thải phải mang đi chôn lấp
mà dự án đã đặt ra Dự án đã thu được khoảng 25.000 tấn rác thải hữu cơ và
đã chế biến được khoảng 10.000 tấn phân hữu cơ từ số rác này [1] Hiện naymỗi ngày Hà Nội thải hơn 200 tấn rác thải, khối lượng rác khổng lồ này đềuđược đưa đến bãi chứa rác Nam Sơn để chôn lấp, từ nhiều năm nay, bãi rácnày đã hoạt động hết công suất và đứng trước nguy cơ quá tải Rác thải đềuchưa được phân loại và xử lý triệt để, cách xử lý chủ yếu vẫn là chôn lấp tựnhiên UBND thành phó Hà Nội đã ban hành chương trình hành động về côngtác bảo vệ môi trường Thủ đô trong thời kì đẩy mạnh CNH-HĐH
Tại Tp Hồ Chí Minh: Từ năm 2004 thành phố đã thực hiện thí điểm
chương trình phân loại CTR tại nguồn ở 10 quận là 1, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10, quậnBình Thạnh, quận Phú Nhuận và huyện Củ Chi, chợ đầu mối Bình Điền Saukhi phân loại, rác được thu gom vận chuyển đến Khu Liên hợp xử lý rác Đa
Trang 25Phước, huyện Bình Chánh Rác hữu cơ để sản xuất phân compost, rác vô cơđược xử lý bằng phương pháp chôn lấp [2] Với 3 nguồn phát thải chính là đôthị, công nghiệp và y tế thì mỗi ngày Tp Hồ Chí Minh thải khoảng 5800-6200tấn chất thải rắn, 500-700 tấn chất thải rắn công nghiệp, 100-200 tấn chất thảinguy hại, 9-12 tấn chất thải y tế Bên cạnh chất thải rắn trên địa bàn, thànhphố còn tiếp nhận khoảng 200-300 tán chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắncông nghiệp từ các tỉnh khác về Để quản lý toàn bộ các nguồn thải nói trên,
từ nhiều năm nay thành phố đã hình thành mạng lưới quản lý rộng khắp 24quận/ huyện với sự tham gia của rất nhiều công ty nhà nước, tư nhân, hợp tác
xã, tổ nhóm với sự tham gia của 21000 lao động từ kỹ thuật cao đến lao độngđơn giản
2.3.3 Tình hình quản lý rác thải ở Cao Bằng
Chịu trách nhiệm quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố là Công
ty đầu tư phát triển và môi trường Công ty hiện có 238 người, được trang bịkhoảng 200 xe đẩy tay, 5 xe chuyên dụng chở rác, hàng ngày thu gom được55-60m3 rác (chiếm 70% lượng rác phát sinh) Khối lượng chất thải rắn thugom được đưa về bãi chôn lấp chất thải răn Khuổi Kép của thành phố có diệntích 4ha Về chất thải rắn bệnh viện, hiện nay bệnh viện đa khoa tỉnh có lò đốtrác thủ công nhưng không sử dụng, hầu hết các loại chất thải rắn y tế đềuđược tập trung trong khu vực bệnh viện gần bờ sông Bằng gây ô nhiễm chomôi trường xung quanh và nguồn nước sông Bằng Sau đây là hiện trạng chấtthải rắn sinh hoạt:
a) Khối lượng thải
Theo số liệu các tài liệu kỹ thuật cho thấy định mức chất thải rắnsinh hoạt bình quân khoảng 0.9-1.2 kg/ người/ ngày ở các thành phố lớn và0.5-0.65 kg/người/ ngày ở các đô thị nhỏ Sở Tài nguyên và Môi trườngtỉnh Cao Bằng đã tiến hành thống kê chất thải sinh hoạt, qua quá trìnhthống kê cho thấy khối lượng chất thải rắn sinh hoạt có xu hướng tăng dầntheo các năm Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong nhữngnăm gần đây như sau:
Trang 26Bảng 2.6 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tại Cao Bằng giai đoạn
2005 - 2012
Nội dung Đơn vị Năm
2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Tổng lượng CTRSH
phát sinh Tấn 216.145 258.982 261.064 263.674 265.763 270.350 273.452 275.683Tại các đô thị (thành
phố, thị trấn) Tấn 16.524 21.415 26.605 39.551 45.179 54.070 61.216 64.163Tại các vùng nông
thôn Tấn 232.669 237.567 234.458 224.123 220.583 216.280 212.236 211.52
(Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng, 2012)[2]
Thành phần chủ yếu của chất thải rắn sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ phânhủy, ngoài ra còn một số thành phần khác như: nilon, nhựa, giẻ vụn, giấy, cao
su, sành sứ, kim loại Tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định,thay đổi theo địa điểm thu gom, khu vực sinh sống và phát triển sản xuất Tỷ lệthành phần các chất hữu cơ chiếm 50 % tổng lượng chất thải
b) Công tác thu gom
Hiện nay, việc thu gom chất thải rắn đô thị trên địa bàn tỉnh do Công tyTNHH một thành viên môi trường nay đổi tên thành Công ty đầu tư phát triển
và môi trường cùng với một số Hợp tác xã môi trường thực hiện
Đối với Công ty đầu tư phát triển và môi trường thực hiện thu gom rácthải tại thành phố Cao Bằng (trừ phường Đề Thám do hợp tác xã môi trườngcùng đoàn thanh niên phường tự thực hiện thu gom rác) và trung tâm thị trấncác huyện (Trà Lĩnh, Phục Hòa, Thạch An, Hòa An, Bảo Lạc, Thông Nông)c) Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại bãi rác
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Công ty đầu tư phát triển và môitrường và Hợp tác xã môi trường huyện, thị chưa áp dụng công nghệ xử lýchất thải rắn sinh hoạt hiện đại để xử lý chất thải một cách triệt để Đây cũng
là tình trạng chung của cả nước chứ không riêng ở tỉnh Cao Bằng Biện pháp
xử lý rác thải sinh hoạt đơn giản, chưa xử lý triệt để, chủ yếu rác thải được xử
lý bằng phương pháp phun EM, phơi, đốt và để lộ thiên Mặc dù 11/12 bãi ráccủa các huyện đã được đầu tư với mục tiêu là bãi chôn lấp chất thải hợp vệ
Trang 27sinh Tuy nhiên, do chưa được đầu tư đúng mức nên việc xử lý chất thải hiệnnay vẫn là bãi chứa chất thải sinh hoạt lộ thiên Với biện pháp xử lý chất thảinêu trên, cộng thêm cơ sở hạ tầng của bãi rác chưa được đầu tư đồng bộ chonên chưa kiểm soát được tình trạng ô nhiễm môi trường tại các bãi chôn lấp.Trong thời điểm hiện nay chỉ có huyện Quảng Uyên và thành phố Cao Bằngđang đầu tư bãi chôn lấp rác thải Đối với 11 bãi rác tại các huyện và bãi rácKhuổi Kép, Đề Thám chỉ có 9 bãi chôn lấp rác thải có hệ thống thu gomnhưng nước rỉ rác được tập trung vào bể chứa sau đó cho chảy thẳng vào môitrường mà không có một biện pháp xử lý nào được áp dụng.
Để thực hiện việc quản lý chất thải rắn tại địa phương, Tỉnh Cao Bằng
đã triển khai các dự án trong giai đoạn 2004-2010, một số dự án trọng điểm
và đã được thực hiện như:
+ Bãi rác Khuổi Kép xã Đề Thám: năm 2009 được cấp đủ kinh phí theo
kế hoạch cải tạo, nâng cấp, xử lý Hiện nay bãi rác đã được cải tạo đầu tưxong một số hạng mục công trình hạn chế ô nhiễm môi trường đất, nước Tuynhiên, ô nhiễm môi trường chưa được xử lý triệt để, chưa đủ điều kiện ra khỏidanh sách cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng
+ Xây dựng bãi rác Khuổi Gia, 10-15ha: Thay thế bằng dự án: Cải tạo,nâng cấp và mở rộng bãi xử lý rác thải Khuổi Kép, Nà Lần, xã Chu Trinhhuyện Hòa An
+ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng đã thực hiện xong các biện pháp
xử lý ô nhiễm môi trường: xây dựng lò đốt rác y tế và hệ thống xử lý nướcthải y tế
+ Trang bị lò đốt chất thải rắn VHI-18B cho 8 bệnh viện tuyến huyện
và bệnh viện y học cổ truyền: xây dựng hệ thống thu gom xử lý nước thải.Riêng bệnh viện y học cổ truyền chưa được đầu tư lò đốt[2]
Trang 28PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rác thải sinh hoạt
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý và xử lý RTSH tại thành phốCao Bằng, tỉnh Cao Bằng
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Công ty đầu tư phát triển và môi trường thành
phố Cao Bằng
- Thời gian thực hiện:từ 18/02/2013 - 13/04/2013
3.3 Nội dung nghiên cứu
Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Cao Bằng
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế, xã hội của thành phố Cao Bằng
Hiện trạng rác thải sinh hoạt ở thành phố Cao Bằng
- Các nguồn phát sinh rác thải
- Khối lượng và thành phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn những nămgần đây
- Hiện trạng phân loại rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình
Tình hình quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Cao Bằng
Đánh giá nhận thức của người dân trong công tác thu gom rác thảisinh hoạt của thành phố Cao Bằng
Đề xuất biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp khảo sát thực địa
Tiến hành khảo sát trên các khu dân cư, các tuyến phố ở các phường
xã, các điểm tập kết rác và điểm trung chuyển rác, bãi rác… từ đó rút ranhững nhận xét, kết luận về hiện trạng xả thải, thu gom, vận chuyển và xử lýrác sinh hoạt tại thành phố Thực hiện phương pháp này không chỉ để thu thậpthông tin mà còn nhằm kiểm chứng sơ bộ lại những thông tin đã thu thập vàđiều tra
Trang 293.4.2 Phương pháp xác định khối lượng và thành phần rác thải
- Mỗi phường/xã lựa chọn ngẫu nhiên khoảng 15-20 hộ để theo dõiđược thuận lợi và dễ dàng
- Tiến hành phát túi đựng rác cho từng hộ gia đình Yêu cầu cho tất cảcác loại rác thải thải ra trong ngày vào túi đựng
+ Cân vào giờ quy định trong ngày và ghi lại lượng rác thải phát sinhtrong ngày đối với từng hộ gia đình
+ Số lần cân rác của mỗi hộ gia đình lặp lại 4 lần/ tháng (cân 1ngày/tuần) cân trong 4 tháng Rác sau khi thu gom, cân thì được đổ vào xe thugom vào các điểm tập trung rác của từng phường, xã
+ Từ kết quả cân thực tế rác tại các hộ gia đình, tính được lượng rácthải trung bình của 1 hộ/ngày, và lượng rác thải bình quân /người/ngày, thànhphần rác thải hữu cơ, vô cơ
- Tiến hành xác định thành phần rác thải ở các điểm tập trung rác, lấy mẫutại 10 điểm tập kết rác, mỗi điểm lấy 1kg rác thải, sau đó phân thành 8 loại:
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Tại các phòng ban có liên quan tại địa phương, các tài liệu liên quanđến rác thải sinh hoạt, thu thập qua sách, báo, tạp chí khoa học, luận vănnghiên cứu, niên giám thống kê, mạng internet…
3.4.4 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phỏng vấn 20 người chủ chốt (cán bộ công ty đầu tư và phát triển môitrường, công nhân thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt,…)
Trang 30- Tình hình quản lý (thu gom, vận chuyển và xử lý) rác thải sinh hoạtcủa thành phố
Phỏng vấn các hộ dân bằng phiếu điều tra có cấu trúc
- Điều tra 60 hộ dân sống tại 3 phường Hợp Giang, phường Tân Giang,phường Sông Bằng tại thành phố Cao Bằng
- Tiến hành phát phiếu điều tra và phỏng vấn đều cho 3 phường trêntheo tiêu chí ngẫu nhiên
- Nội dung điều tra
Lượng rác thải bình quân trên đầu người tại Thành phố Cao Bằng
Thành phần rác thải
Ý thức/nhận thức của người dân
Đánh giá của người dân về công tác thu gom, xử lý rác thải tạiđịa phương
3.4.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu
- Tổng hợp bằng các phần mềm tin học thông dụng: Word, Excel…
- Đối chiếu, so sánh với các quy định của pháp luật về môi trường
3.4.6 Phương pháp tham khảo ý kiến
Để đưa ra những phương pháp phù hợp với nội dung của đề tài, bêncạnh việc tham khảo những ý kiến hướng dẫn của cô giáo hướng dẫn và các
cô, chú trong công ty đầu tư phát triển và môi trường thành phố Cao Bằng,ngoài ra còn tham khảo ý kiến của các cô, chú cán bộ trực tiếp quản lý vềmảng rác thải sinh hoạt tại các phường
Trang 31PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Cao Bằng
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Cao Bằng là trung tâm hành chính, kinh tế, chính trị, vănhóa của tỉnh Cao Bằng, cách thủ đô Hà Nội 286km theo Quốc lộ 3, cáchthành phố Lạng Sơn 120km theo Quốc lộ 4A, cách cửa khẩu Quốc gia TàLùng khoản 70km theo Quốc lộ 3, ở cao độ trung bình + 187m, ranh giới theođịa giới hành chính có giới hạn như sau:
- Phía Bắc giáp các xã Ngũ Lão và Bế Triều - huyện Hòa An
- Phía Đông giáp các xã Quang Trung và Hồng Nam - huyện Hòa An
Phía Nam giáp xã Kim Đồng huyện Thạch An và xã Lê Chung huyện Hòa An
Phía Tây giáp xã Hoàng Tung và Bạch Đằng huyện Hòa An
Từ năm 1954 đến nay, thành phố Cao Bằng luôn luôn có sự thay đổi,
mở rộng về địa giới hành chính: Năm 2002 sau khi sáp nhập thêm xã ĐềThám của huyện Hòa An vào thành phố thì thành phố Cao Bằng có 8 đơn vịhành chính (gồm 4 phường và 4 xã), với tổng diện tích tự nhiên khoảng 5.608
ha, dân số 55.660 người Đến ngày 01/11/2010 thành phố được mở rộng theoNghị Quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ với 11 đơn vị hành chính, khu vựcnội thị gồm 6 phường là Hợp Giang, Sông hiến, Tân Giang, Sông Bằng, NgọcXuân, Đề Thám và khu vực ngoại thị gồm 5 xã là Duyệt Trung, Hòa Chung,Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang với tổng diện tích tự nhiên là 10.762,81
ha và dân số 67.411 người Theo Quyết định số 926/QĐ-BXD ngày18/10/2010 của Bộ Xây dựng thành phố Cao Bằng được công nhận là đô thịloại III Ngày 25 tháng 9 năm 2012 Chính phủ ban hành Nghị quyết số60/NQ-CP về việc thành lập thành phố Cao Bằng thuộc tỉnh Cao Bằng trên cơ
sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc củathành phố Cao Bằng Thành phố Cao Bằng có 10.762,81 ha diện tích tự nhiên
Trang 32và 84.421 nhân khẩu, 11 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 08 phường: HợpGiang, Sông Bằng, Tân Giang, Sông Hiến, Đề Thám, Ngọc Xuân, DuyệtTrung, Hoà Chung và 03 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang.
Với vị trí địa lý như trên, thành phố Cao Bằng có nhiều lợi thế trong việc
mở rộng quan hệ hợp tác với các tỉnh trong cả nước và Trung Quốc, là điều kiệnthuận lợi để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
Hình 4.1 Bản đồ vị trí địa lý thành phố Cao Bằng
Trang 33Bảng 4.1 Diện tích các phường, xã của thành phố Cao Bằng
- Độ cao trung bình so với mặt biển là: +187 m
- Độ cao lớn nhất so với mặt biển: +250 m
- Độ cao thấp nhất so với mặt biển: +180,50 m
Phần lãnh thổ còn lại của thành phố có địa hình tương đối phức tạp,chia cắt mạnh với ba dạng địa hình chính:
- Vùng đồng bằng: nằm dọc theo sông Bằng và sông Hiến và các thunglũng ven các khe núi đổ về hai sông
- Vùng đồi núi thấp: bao quanh thành phố bởi 3 phía Tây, Nam, Đông
- Vùng đồi núi cao: tập trung ở phía đông có địa hình đồi núi chia cắtmạnh, độ dốc lớn
Trang 344.1.1.3 Khí hậu
Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu nên khíhậu thành phố mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõrệt: mùa mưa nóng ẩm mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 10), mùa khô lạnh vàhanh (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Tuy nhiên, do sự chi phối của địahình và do ảnh hưởng độ cao, nên mang tính chất đặc thù của dạng khí hậulục địa miền núi cao, mùa hè mát mẻ, mùa đông lạnh hơn so với các tỉnh đồngbằng Bắc Bộ
- Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 21,6oC Trong đó caotuyệt đối là 40,5oC (tháng 6), thấp tuyệt đối 3,2oC (tháng 12) Số giờ nắngtrung bình trong năm đạt 1.568,90 giờ Tổng tích ôn trong năm đạt khá: 7000
- 7500oC Biên độ dao động nhiệt độ ngày và đêm là 8,4oC
- Về chế độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình là 81% Độ ẩm cao nhất
là 86% Độ ẩm thấp nhất là 36%
- Về chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm là 1.020,3 mm, cao nhấtvào tháng 5: 120,90 mm, thấp nhất vào tháng 12: 70,40 mm Vào mùa khôlượng bốc hơi thường lớn hơn lượng mưa gây ra khô hạn cục bộ ảnh hưởngđáng kể đến sinh hoạt và sản xuất của người dân
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 thường tập trung với cường
độ lớn (chiếm tới 70% lượng mưa cả năm), cùng với địa hình tương đối dốc,chia cắt mạnh gây ra xói mòn, sạt lở đất đai nghiêm trọng
- Về lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình năm là 1.020,3 mm.Trong các tháng mùa khô (từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau), lượngbốc hơi thường lớn hơn lượng mưa; chỉ số ẩm ướt trong các tháng này thườngdưới 0,5 nên gây ra tình trạng khô hạn nghiêm trọng
- Về hướng gió chủ đạo: Đông Nam và Nam là hai hướng chủ đạo, tốc
độ gió mạnh nhất trong các cơn lốc lên tới 40 m/s
Với đặc điểm về khí hậu thủy văn như trên, cần bố trí sử dụng đất củathành phố lợi dụng chế độ nhiệt cao, độ ẩm khá để bố trí nhiều vụ trong năm ởnhững vùng đất sản xuất nông nghiệp Đồng thời bố trí cây trồng, mùa vụ hợp lý
để hạn chế quá trình rửa trôi, xói mòn đất vào mùa mưa và hạn chế quá trình bốchơi nước trong mùa khô nhằm sử dụng đất một cách hiệu quả, bền vững
Trang 354.1.1.4 Đặc điểm thủy văn
Chế độ thủy văn các sông, suối ở thành phố Cao Bằng phụ thuộc vàochế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực Chủ yếu là hệ thống lưu vựchai con sông chảy qua là sông Bằng, Sông Hiến Chế độ thủy văn của thànhphố có thể chia thành hai mùa rõ rệt:
- Mùa lũ: bắt đầu vào tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 hàng năm(lượng nước trên các sông, suối chiếm 65 - 80% lượng nước của cả năm).Trong mùa lũ phân phối dòng chảy không đều, tập trung chủ yếu vào 3 tháng
6, 7, 8 (chiếm 55 - 65% lượng nước cả năm)
- Mùa cạn: Đỉnh mùa cạn của các sông suối kéo dài khoảng 3 tháng (từtháng 1 đến tháng 3) Mùa cạn thường bắt đầu vào tháng 9, 10 và kết thúc vàotháng 4 năm sau
Do ảnh hưởng của địa hình lòng máng và đặc thù của sông, suối thườngngắn, hẹp lòng, độ dốc lớn, hàng năm vùng ven sông Bằng và sông Hiếnthường bị ngập úng vào mùa lũ và hạn hán vào mùa cạn gây ảnh hưởng đếnsản xuất và sinh hoạt của người dân Vì vậy cần phải xây dựng kế hoạch sảnxuất bố trí cây trồng hợp lý để khắc phục những hạn chế nêu trên
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Theo tài liệu kết quả điều tra, tổng hợp từ bản đồ thổ nhưỡng tỉnh CaoBằng năm 1998, toàn bộ đất đai thành phố Cao Bằng được chia thành các loạinhư sau: Đất phù sa, đất xám bạc màu, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàngtrên phù sa cổ, đất nâu đỏ trên đá mácma bazơ và trung tính, đất đỏ vàng trên
đá phiến sét, đất đỏ vàng trên đá mácma axít, đất núi đá Các hình thức canhtác chủ yếu trên các loại đất trên như trồng lúa nước, trồng cây hàng năm, lâunăm, trồng rừng
* Tài nguyên nước
Bao gồm 2 nguồn nước chính là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm
- Nguồn nước mặt: được cung cấp chủ yếu bởi hai con sông lớn chảyqua là sông Bằng và sông Hiến
Sông Bằng có diện tích lưu vực là 3.420,30 km2, chiều dài chảy quathành phố là 24,7 km, lưu lượng dòng chảy trung bình là 72,50 m3/s Sông
Trang 36Hiến đoạn chảy qua thành phố là 8.20 km, lưu lượng dòng chảy mùa lũ là37,4 m3 (chiếm 63,40%), lưu lượng dòng chảy mùa kiệt là 10,90 m3/s.
Ngoài ra nguồn nước mặt của thành phố còn được cung cấp bởi hệ thốngcác suối lớn, suối nhỏ đổ vào 2 sông với diện tích lưu vực khoảng 25 km2
- Nguồn nước ngầm: theo kết quả thăm dò khảo sát của Liên đoàn địachất 2 cho thấy nguồn nước ngầm của thành phố khá dồi dào, chất lượng khátốt chỉ cần lọc để khử NO, Fe+ là có thể sử dụng được trong sinh hoạt, hiệnnay mức sử dụng nước ngầm tại thành phố là khoảng 800 m3/người/năm chủyếu phục vụ cho mục đích dân sinh
* Tài nguyên rừng
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2012, diện tích đất lâm nghiệp củathành phố là 5.548,42 ha, chiếm 68,22 diện tích đất nông nghiệp và 51,55 diệntích tự nhiên Tỷ lệ che phủ rừng năm 2012 của thành phố đạt khoảng 43,2%
Thực vật rừng chủ yếu là sao, sau sau, gồi sếu ở trên các vùng bỏ hóalâu năm mọc lại các cây lau, chè, bông bạc, thành ngạch
Về động vật rừng hầu như không đáng kể, chỉ còn lại một số loại chim,
bò sát nhỏ, loài thu gần như không có
Diện tích rừng giảm dần trong các năm qua, kéo theo đó là tỷ lệ chephủ của rừng càng thấp, môi trường sống của các loài động thực vật đangngày càng thu hẹp dưới áp lực phát triển kinh tế xã hội
* Tài nguyên khoáng sản
Theo khảo sát của Đoàn địa chất 105 trên địa bàn thành phố Cao Bằng
có các loại khoáng sản sau:
- Mỏ sắt Nà Rụa phường Duyệt Trung
- Mỏ đồng, niken ở phường Sông Bằng
- Mỏ sét sản xuất gạch ngói ở phường Ngọc Xuân
- Mỏ than nâu Nà Cáp phường Sông Hiến trữ lượng tương đối lớnđang có kế hoạch chuẩn bị khai thác để phục vụ cho nhiệt điện
- Mỏ sét xi măng Đoỏng ở phường Đề Thám, mỏ sét gạch ngói ởphường Ngọc Xuân
Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của thành phố Cao Bằng tương đốiphong phú về chủng loại nhưng phần lớn là có trữ lượng nhỏ ngoại trừ mỏ sắt
ở Tân An
Trang 374.1.1.6 Cảnh quan môi trường
Cảnh quan thành phố Cao Bằng mang đặc điểm chung của một đô thịvùng núi cao phía Bắc Trong những năm gần đây, với tốc độ đô thị hóanhanh nên phần nào đã ảnh hưởng đến kiến trúc cảnh quan đô thị và môitrường sinh thái
- Môi trường nước mặt: nhìn chung chất lượng nước tại các sông,
suối,ao,hồ trên địa bàn thành phố đều nằm trên giới hạn cho phép trừ một sốkhu vực tập trung đông dân cư, khu vực khai thác chế biến khoáng sản vànguồn tiếp nhận nước bên cạnh nhà máy Tuy nhiên, nguy cơ ô nhiễm đangngày càng diễn biến rõ nét do tác động của con người
- Môi trường nước dưới đất: hiện nay trên địa bàn thành phố Cao Bằng
việc khai thác và sử dụng nước ngầm cho sinh hoạt ngày càng phổ biến,nhưng chỉ ở quy mô hộ gia đình Công tác đánh giá về nguồn tài nguyên nướcngầm thành phố chưa đầy đủ về cả trữ lượng và chất lượng nguồn nước Chấtlượng nước ngầm trong trên địa bàn thành phố được đánh giá thông qua một
số chỉ tiêu chính có trong nước giếng khoan và giếng đào của thành phố CaoBằng Theo Báo cáo hiện trạng môi trường thành phố Cao Bằng năm 2011các chỉ tiêu đo đạc môi trường nước ngầm tại thành phố Cao Bằng đều khôngvượt quá tiêu chuẩn
- Môi trường không khí: quá trình đô thị hóa tại thành phố Cao Bằng
đang diễn ra rất mạnh mẽ, tỷ lệ gia tăng dân số, phát triển các khu côngnghiệp,tiểu thủ công nghiệp và các phương tiện giao thông đã làm cho môitrường không khí trong những năm gần đây có sự biến động theo chiều hướngxấu Theo các kết quả đo, phân tích của Trạm Quan trắc môi trường Cao Bằngthì môi trường không khí vẫn còn khá trong sạch, các chỉ tiêu đều nằm tronggiới hạn Tiêu chuẩn Việt Nam
4.1.1.7 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường
Trang 38trong đó có cửa khẩu Quốc gia Tà Lùng Đây là một lợi thế so sánh của thànhphố cần được khai thác triệt để trong những năm tới để đẩy mạnh phát triểnthành phố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
+ Khí hậu, đất đai của thành phố cho phép có thể phát triển đa dạng hóacây trồng và thực hiện thâm canh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển mộtnền nông nghiệp ven đô, hàng hóa chất lượng cao
+ Tài nguyên nước, rừng, khoáng sản, tài nguyên phục vụ du lịch củathành phố tương đối phong phú Nếu được đầu tư khai thác hiệu quả cácnguồn tài nguyên này sẽ có ý nghĩa góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh
tế - xã hội của thành phố
* Khó khăn:
+ Do là thành phố miền núi, địa hình dạng lòng máng, chia cắt mạnh,đồi núi xen các thung lũng hẹp, nên việc xây dựng đô thị, hệ thống cơ sở vậtchất kỹ thuật tốn kém, yêu cầu đầu tư cao
+ Do vị trí của thành phố cách rất xa các trung tâm kinh tế lớn của cảnước, trong khi đó hệ thống giao thông đối ngoại còn yếu kém, vì vậy giaothương giữa thành phố với thủ đô Hà Nội cùng các tỉnh thành trong cả nước
và ngay cả với nước ngoài (Trung Quốc) cũng còn nhiều hạn chế
+ Hệ thống sông Bằng và sông Hiến là nơi tập trung nước của các con sôngsuối trên địa bàn tỉnh đổ về, do vậy vào mùa mưa, nước trên các con sông này rấtlớn, dễ gây ra tình trạng ngập úng, lũ lụt, sạt lở đất, ảnh hưởng đến sản xuấtnông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác trên địa bàn thành phố
+ Thực trạng ô nhiễm môi trường (đất,nước) trên địa bàn thành phố cóảnh hưởng tới sức khỏe của người dân
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Với sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân trong thành phố, trong nhữngnăm gần đây nền kinh tế của thành phố có bước phát triển khá, các chủ trươngchính sách phát triển kinh tế - xã hội được thực hiện có hiệu quả, đã phát huyđược tác dụng rõ rệt, góp phần cải thiện mức sống của nhân dân, các mục tiêuphát triển kinh tế xã hội của thành phố đã đạt được những kết quả quan trọng
Trang 39Trong những năm qua, nền kinh tế thành phố có sự chuyển biến rõ rệt,tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm giai đoạn 2005 - 2012 đạt 12.5%/năm,riêng năm 2012 tốc độ ước đạt 15% trong đó tăng trưởng mạnh nhất là khuvực dịch vụ tăng 33,15%, công nghiệp - xây dựng tăng 14,47%, khu vực kinh
tế nông nghiệp có xu hướng giảm dần tỷ trọng trong cung cấp lương thực thựcphẩm cho thành phố Sản lượng lương thực bình quân đạt 4500 tấn/năm Giátrị sản xuất đạt 43 triệu đồng/ha
4.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng sảnxuất nông, lâm, thủy sản tăng dần tỷ trọng công nghiệp xây dựng và du lịchdịch vụ Trong sản xuất nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷtrọng ngành trồng trọt, tăng dần tỷ trọng của các ngành lầm nghiệp, thủy sản
và chăn nuôi
Năm 2012 giá trị sản xuất nông lâm thủy sản đạt 87.535 triệu đồng,chiếm 5.31% tổng giá trị sản xuất các ngành thành phố Ngành sản xuất côngnghiệp, ngành thương mại và dịch vụ không có bước chuyển biến rõ rệtnhưng vẫn tăng so với năm 2005 Các ngành kinh tế của thành phố Cao Bằngđang có sự chuyển biến tích cực, trong 7 năm từ 2005 đến 2012 tỷ trọngngành nông nghiệp đã giảm từ 6,72% năm 2005 xuống còn 5.07% năm 2012,đồng thời tỷ trọng ngành công nghiệp tăng từ 7,25% năm 2005 lên 11,13%năm 2012, trong giai đoạn này ngành dịch vụ vẫn giữ vị trí quan trọng trong
cơ cấu kinh tế thành phố với vị trí dẫn đầu chiếm khoảng 83,8% cơ cấu kinh
Trang 40(Nguồn: Niên giám thống kê TP Cao Bằng năm 2005, 2012)
4.1.2.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a Ngành nông - lâm - thủy sản
Nông nghiệp:
Năm 2012 tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 25.191 triệu đồng (giá
cố định 1994) Cơ cấu ngành nông nghiệp có bước chuyển dịch theo hướngtăng dần tỷ trọng chăn nuôi, dịch vụ giảm tỷ trọng trồng trọt Năm 2005 chănnuôi chiếm 61,26% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trong khi cơ cấungành trồng trọt giảm từ 54,26% năm 2005 còn 38,51 năm 2010 Dịch vụnông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ cấu giá trị sản xuất nôngnghiệp theo giá so sánh (dưới 1%)
- Về trồng trọt: ngành sản xuất lương thực đóng vai trò chủ đạo, diện tíchgieo trồng cây hàng năm năm 2010 đạt 1.024 ha, năng suất lúa đạt 46,82 tạ/ha
Cơ cấu mùa vụ đã bước đầu chuyển dịch theo hướng tăng dần diện tíchcây vụ đông Xóa hẳn thế độc canh cây lúa Sản phẩm nông nghiệp ngày càng
đa dạng hơn Cơ giới hóa, thủy lợi hóa được quan tâm đầu tư góp phần đáng
kể ổn định sản xuất nông nghiệp của địa phương
- Về chăn nuôi: trên địa bàn xã ngành chăn nuôi phát triển theo hướngtăng chất lượng và đa dạng các loại hình sản phẩm, có nhiều mô hình đầu tưchăn nuôi với một số loại vật nuôi đặc sản, có giá trị kinh tế cao và được thịtrường ưa chuộng
Lâm nghiệp
Thành phố hoàn thành việc giao khoán đất rừng cho các nông hộ Côngtác trống, chăm sóc, bảo vệ rừng được quan tâm Tuy nhiên, độ che phủ củarừng chỉ đạt 43,2 %, giá trị sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn ngày càng tăng,năm 2011 đạt 2,378 tỷ đồng trong đó khai thác gỗ và lâm sản chiếm tỷ trọngcao nhất với 1,374 tỷ
b Công nghiệp - xây dựng
Trong những năm gần đây khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng củathành phố Cao Bằng có sự tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng bình quân giaiđoạn 2005 - 2012 là 25.66%/năm Năm 2012 giá trị sản xuất công nghiệp -xây dựng đạt 137.223 tỷ đồng nhờ vào việc khai thác tiềm năng, thế mạnh của