Do đó tôi thấy học sinh cần nắm thật vững mảng kiến thức này, đặc biệt đối với học sinh khá giỏi thì giáo viên giảng dạy cũng như giáo viên bồi dưỡng cần giúp các em có cái nhìn rõ nét,
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Dù đã trải qua hơn hai ngàn năm nhưng toán học đã chứng tỏ mình như một đỉnh cao trí tuệ của con người, xâm nhập vào hầu hết các ngành khoa học và
là nền tảng của nhiều lý thuyết khoa học quan trọng. Ngày nay với thời đại công nghiệp tiên tiến và sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin thì vai trò của toán học càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.
Trong quá trình giáo dục tri thức cho học sinh, thì việc dạy đúng, đủ theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi người giáo viên đứng lớp. Song, bên cạnh đó một nhiệm vụ cũng không kém phần quan trọng và cần thiết đối với các trường trung học cơ sở đó là việc bồi dưỡng, đào sâu kiến thức mở rộng, nâng cao cho đối tượng học sinh khá giỏi. Việc bồi dưỡng đó giúp các em không chỉ nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn rèn thói quen suy nghĩ, tìm hiểu, suy luận, giải quyết một vấn đề, một bài toán khó một cách chặt chẽ, logic. Từ đó rèn cho các em trí thông minh, sáng tạo, niềm yêu thích, hứng thú đối với bộ môn Toán.
Qua một thời gian giảng dạy bộ môn Toán lớp 9 ở trường trung học cơ sở thị trấn Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, tôi nhận thấy, phần kiến
thức về “Phương trình bậc hai”, “Phương trình quy về phương trình bậc hai” là
phần kiến thức trọng tâm, cơ bản, thường xuyên xuất hiện trong các đề thi tuyển sinh vào lớp 10, thi học sinh giỏi các cấp. Do đó tôi thấy học sinh cần nắm thật vững mảng kiến thức này, đặc biệt đối với học sinh khá giỏi thì giáo viên giảng dạy cũng như giáo viên bồi dưỡng cần giúp các em có cái nhìn rõ nét, đầy đủ về phương trình bậc hai và các dạng phương trình quy về phương trình bậc hai. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng một số tài liệu có liên quan, tôi mạnh dạn đưa ra một hệ thống các kiến thức, các dạng phương trình quy về phương trình bậc hai và cách giải. Tôi hy vọng rằng đề tài này ít nhiều sẽ giúp ích được thầy cô và các em học sinh khi bồi dưỡng mảng
kiến thức về phương trình bậc hai. Đó chính là lý do tôi chọn “Phương pháp giải các phương trình quy về phương trình bậc hai” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 22 Đối tượng nghiên cứu
- Một số kiến thức về phương trình bậc hai. Một số phương trình quy
được về phương trình bậc hai trong chương trình Đại số 9 trung học cơ sở và phương pháp giải.
III Mục đích nghiên cứu
Nhằm mục đích nâng cao, mở rộng hiểu biết cho học sinh nhất là việc bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp các em có cái nhìn đầy đủ hơn về phương trình bậc hai, phương trình quy về phương trình bậc hai. Qua đó giúp học sinh có điều kiện hoàn thiện các phương pháp về giải phương trình và rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh.
IV Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Đã áp dụng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi năm học 2011 - 2012,
2012 - 2013 và thu được những kết quả khả quan, thu hút được sự chú ý, tăng cường tính sáng tạo, tư duy của học sinh.
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
Trong chương trình giáo dục phổ thông, Toán học là một môn khoa học quan trọng, là thành phần không thể thiếu của nền văn hóa phổ thông mỗi con người. Với các đặc trưng là suy luận, tính toán, chứng minh, phân tích, tổng hợp, so sánh, môn toán có tiềm năng khai thác góp phần phát triển năng lực trí
Trong quá trình giảng dạy bộ môn toán ở nhà trường cũng như trong các kỳ thi học sinh giỏi các cấp, thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông, chuyên
đề về phương pháp giải một số phương trình quy về phương trình bậc hai là một chuyên đề hay và lý thú, thu hút được đông đảo thầy cô và học sinh quan tâm.
1 Định nghĩa phương trình bậc hai một ẩn số
Ở chương trình toán 9 THCS, định nghĩa phương trình bậc hai một ẩn được trình bày như sau: Phương trình bậc hai đối với ẩn xR là phương trình có dạng: ax2 + bx + c = 0 (a 0).
2 Một số kiến thức và kỹ năng cần nắm được khi giải phương trình bậc hai
Trang 4Trong chương trình toán THCS phần kiến thức về phương trình, phương trình bậc hai được đông đảo học sinh yêu thích, say mê tìm hiểu. Các dạng phương trình quy được về phương trình bậc hai trong chương trình toán THCS tuy rất đa dạng và phong phú nhưng mỗi dạng đều có những đặc điểm riêng, dễ dàng nhận biết, đồng thời mỗi dạng phương trình đều có một phương pháp giải
Có thể khẳng định rằng phương trình quy về phương trình bậc hai là một trong những kiểu bài tương đối khó với giáo viên. Khó khăn trước hết là khó khăn về kiến thức, về phương pháp. Khó khăn trong việc hướng dẫn học sinh phát hiện vấn đề, làm sao để chỉ trong một vài tiết có thể giúp học sinh nhận biết thành thạo các dạng phương trình quy được về phương trình bậc hai và cách giải, chỉ trong một số tiết mà dung lượng kiến thức không ít, có rất nhiều dạng toán, rất nhiều vấn đề cần đề cập nâng cao. Giáo viên phải làm sao để giờ học vừa truyền thụ đủ kiến thức cho học sinh để học sinh có “nghệ thuật giải phương trình” vừa cô đọng, tập trung vào phương pháp giải đồng thời tránh được sự giảng giải nhàm chán và cuốn hút học sinh. Vậy nguyên nhân do đâu?
* Về phía học sinh:
Với giáo viên, việc giúp học sinh lĩnh hội phương pháp giải các phương trình quy về phương trình bậc hai là khó thì với học sinh kiểu bài này còn khó hơn rất nhiều.
Trang 5
Học sinh trong khi nghiên cứu toán học các em có những kiến thức nội dung tài liệu học tập, các em hiểu các định lý và quy tắc nhưng không hiểu các phương pháp chung để giải các bài toán. Bởi vì các thủ thuật ấy không được nêu
rõ và hình thành trong bản thân khoa học.
Điều quan trọng không chỉ thông báo cho học sinh những thông tin về những thủ thuật và phương pháp ấy mà phải làm sao cho học sinh hiểu thấu đáo những kiến thức thu được về phương pháp. Điều này là bắt buộc bởi lẽ sách giáo khoa
và tuyển tập tài liệu dùng cho học sinh hiện nay không có đầy đủ những chỉ dẫn liên quan đến phương pháp nhận thức riêng và lôgic đại cương áp dụng cho khi nghiên cứu toán học ở nhà trường.
Những chỉ dẫn tản mạn của giáo viên thông thường học sinh không nhớ và
hệ thống hóa được. Vì thế tất cả những chỉ dẫn đó chỉ trông cậy vào trí nhớ của học sinh, học sinh lại nhanh quên. Mặc dù trong sách giáo khoa đã có một số bài tập giải mẫu và một vài chỉ dẫn giải phương trình nhưng những hướng dẫn đó chưa cung cấp cho học sinh đầy đủ những cơ sở vững chắc để nắm vững cách giải các bài toán.
Còn một số nguyên nhân khác khiến học sinh giải chưa tốt phương trình quy về phương trình bậc hai, đó là:
- Học sinh còn yếu về kỹ năng phát hiện phương trình quy về phương trình bậc hai, khi đứng trước một phương trình học sinh không biết được phương trình đó có đưa về phương trình bậc hai được hay không, nguyên nhân
là do học sinh chưa nắm rõ, chưa phân biệt được các dạng phương trình quy về phương trình bậc hai.
- Khi đứng trước một phương trình học sinh còn nhầm lẫn về phương pháp giải giữa phương trình này với phương trình kia.
- Một số học sinh không hiểu giải một bài toán là như thế nào. Vì thế không giải đầy đủ, không biết nghiệm của phương trình tìm được có là đáp số của bài toán này không.
Trước khi tiến hành bồi dưỡng, nghiên cứu chuyên đề này, tôi đã tiến hành kiểm tra khảo sát nhằm đánh giá khả năng vốn có của học sinh. Mặt khác lưu giữ kết quả để đánh giá từng bước tiến bộ của học sinh.
Dưới đây là đề kiểm tra khảo sát:
Trang 6
Câu 1. Giải phương trình:
6
1 7 1 2 3
x
Câu 2. Giải phương trình: 3(x2 x) 2 2(x2 x) 1 0
Giải Câu 1: Điều kiện xác định của phương trình: x 0; x
2
1
Phương trình đã cho tương đương với:
t t
Trang 7Đối chiếu kết quả thu được sau hai năm như sau:
- Đối tượng I: Các em chỉ mới làm được bài 1 nhưng thiếu kết luận nghiệm:
III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
1 Nhắc lại định nghĩa phương trình bậc hai một ẩn số
a) Định nghĩa: Phương trình bậc hai đối với ẩn xR là phương trình có dạng ax2 + bx + c = 0 (a 0) (1)
b) Cách giải: Tính 2
4
b ac
Nếu 0 thì phương trình (1) vô nghiệm.
Trang 8Phương trình ax 2 bx c 0 a 0 có hai nghiệm cùng dương
0 0 0
P S
P S
Các bài toán về phương trình bậc hai rất phong phú và đa dạng. Để giải được các bài toán đó phải khéo léo kết hợp giữa việc vận dụng các kết quả đã biết về phương trình bậc hai đặc biệt là định lý Viet, với đặc thù riêng của phương trình đã cho mà biến đổi cho phù hợp.
3 Các dạng phương trình quy được về phương trình bậc hai
Trong trường phổ thông ta thường gặp một số dạng phương trình quy về phương trình bậc hai như sau:
Trang 9DẠNG 1: PHƯƠNG TRÌNH CHỨA ẨN Ở MẪU
Phương trình chứa ẩn ở mẫu là phương trình chứa ẩn ở mẫu thức của phương trình.
Trang 10+ Tìm mẫu thức chung.
+ Quy đồng, khử mẫu.
- Khi giải dạng phương trình này cần lưu ý học sinh: Trước tiến cần tìm tập xác định của phương trình, sau khi giải tìm được nghiệm phải kiểm tra, đối chiếu kết quả với tập xác định và kết luận số nghiệm của phương trình.
4 1
x
c) Nhận xét:
- Đối với dạng phương trình này chủ yếu dùng phương pháp phân tích đa
thức thành nhân tử để đưa phương trình về dạng phương trình tích, ta sẽ được một phương trình mà vế trái gồm các phương trình bậc nhất, phương trình bậc hai đã biết cách giải.
- Lưu ý: Nếu phương trình bậc 3: ax3
+ bx2
+ cx + d = 0 (a 0) có: +) a + b + c + d = 0 thì phương trình có một nghiệm x1= 1
+) a – b + c – d = 0 thì phương trình có một nghiệm x1 = -1
Trang 11
DẠNG 3: NHỮNG PHƯƠNG TRÌNH BẬC CAO QUY ĐƯỢC VỀ
0 2 3
- Phương trình trùng phương vô nghiệm trong trường hợp phương trình bậc hai trung gian vô nghiệm hoặc phương trình bậc hai trung gian có hai nghiệm cùng âm.
- Phương trình có nghiệm khi phương trình bậc hai trung gian có hai nghiệm, có nghiệm kép dương hoặc phương trình bậc hai trung gian có hai nghiệm trong đó có một nghiệm dương và một nghiệm âm.
về dạng phương trình trùng phương (At4 + Bt2 + C = 0)
Phương trình này là phương trình trùng phương đã biết cách giải.
Trang 12
t , khi đó ta đưa phương trình dạng xa4xb4 c về phương trình trung gian là phương trình trùng phương có dạng tổng quát: t4 Bt2 C 0
Bằng phép đặt t2 = X với X0 ta đưa phương trình về phương trình bậc hai trung gian: X2 + BX + C = 0
Số nghiệm của phương trình xa4 xb4 c phụ thuộc vào số nghiệm của phương trình trung gian X2 + BX + C = 0
- Nếu phương trình bậc hai trung gian vô nghiệm hoặc có nghiệm nhưng
Trang 13b) Ví dụ: Giải phương trình:
(x - 1)(x + 1)(x + 3)(x + 5) = 9 (5)
Giải Nhận thấy 5 + (-1) = 1 + 3
2
x x x
Trang 142 2
k x t x
k x
2 2 2
2 2
Trang 15- Để giải phương trình đối xứng như trên ta dùng những phép biến đổi
tương đương và “đổi biến” để đưa về phương trình bậc hai trung gian rồi trả biến sẽ tìm được nghiệm phương trình ban đầu .
- Số nghiệm của phương trình đối xứng phụ thuộc vào số nghiệm của
x x
IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi thực hiện đề tài trên tôi nhận thấy, khi gặp các phương trình có thể đưa về phương trình bậc hai các em đều giải một cách thành thạo, say mê
hứng thú, kích thích được niềm đam mê, sáng tạo của học sinh.
Một điều đáng mừng hơn cả là kết quả thu được qua các bài kiểm tra. Chất lượng bài kiểm tra sau bao giờ cũng cao hơn, trình bày chặt chẽ hơn bài kiểm tra trước về trình độ nhận thức, về phương pháp giải, về tính thông minh sáng tạo.
Để kiểm tra khả năng lĩnh hội của học sinh, tôi cho các em làm một số bài tập như sau:
Trang 16Giải phương trình:
Câu 1 3 2
2x 5x 8x 3 0 Câu 2. x4 3x3 + 4x2 3x + 1 = 0
Giải Câu 1: Nhân cả hai vế với 22 ta có:
Với t2 = 2 x 1
x
= 2 x = 1 Vậy phương trình có nghiệm duy nhất x = 1
Trang 17Đối chiếu kết quả thu được sau hai năm như sau:
Đối tượng I: Ở bài tập 1,2 đã biết vận dụng phương pháp giải đã được học
PHẦN KẾT LUẬN
I Những bài học kinh nghiệm
Từ thực tế giảng dạy chuyên đề này tôi nhận thấy, để học sinh có thể giải thành thạo các phương trình bậc hai cơ bản và nâng cao, một kinh nghiệm quý báu được rút ra là học sinh phải nắm chắc các kiến thức cơ bản, biết cách vận dụng linh hoạt các kiến thức ấy. Từ đó giáo viên cung cấp cho học sinh các phương pháp được coi là thuật giải, sau đó mới dạy các chuyên đề mở rộng, nâng cao, khắc sâu kiến thức một cách hợp lý với các đối tượng học sinh nhằm bồi dưỡng năng khiếu, rèn kỹ năng cho học sinh.
Để chuyên đề phát huy hiệu quả khi giảng dạy giáo viên phải cung cấp nhiều dạng bài tập khác nhau để phát triển tư duy cho học sinh.
II Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi học sinh học xong chuyên đề này, tôi thấy học sinh nắm chắc hơn
về phương trình bậc hai, khi đứng trước một bài toán về phương trình bậc hai học sinh không còn cảm thấy e sợ, ngỡ ngàng. Từ đó kích thích niềm say mê học toán của các em.
Trang 18
III Khả năng ứng dụng, triển khai
Căn cứ vào kết quả thu được từ hai bảng 1 và bảng 2 ta thấy trước khi
thực hiện chuyên đề này học sinh thường gặp khúc mắc khi đứng trước một
phương trình bậc hai không ở dạng tổng quát mà không định hình được hướng
giải, không biết bắt đầu từ đâu, đường lối làm như thế nào mặc dù rất dễ. Sau
khi đã được học và được làm quen với chuyên đề trên thì đa số các em hiểu
kiến thức trong chương trình, phát huy tính độc lập sáng tạo trong học tập thì
bản thân mỗi giáo viên chúng ta cần không ngừng sáng tạo, đổi mới phương
pháp giảng dạy, đặc biệt tăng cường giảng dạy theo các chuyên đề, từ đó kích
Trang 192 3
2 x x
x x
x x
Trang 21TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách giáo khoa Toán 9 - Tôn Thân - Nhà xuất bản giáo dục
Trang 23