1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy định về người không được hưởng thừa kế theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 trong mối liên hệ với Điều 669 Bộ luật Dân sự

24 2,1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định về người không được hưởng thừa kế theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 trong mối liên hệ với Điều 669 Bộ luật Dân sự
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 144 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quy định về người không được hưởng thừa kế theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 trong mối liên hệ với Điều 669 Bộ luật Dân sự

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN: 3

1 Người thừa kế: 3

1.1 Khái niệm người thừa kế: 3

1.2 Điều kiện của người thừa kế: 3

1.3 Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế: 4

2 Người không được quyền thừa kế di sản: 5

2.1 Người bị truất quyền hưởng di sản: 5

2.2 Người không được hưởng di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005… 6

II NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN THEO QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 1 ĐIỀU 643 BLDS 2005 7

1 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người để lại di sản 8

1.1 Hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe người để lại di sản: 8

1.2 Hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản 9

1.3 Hành vi xâm phạm nghiêm trộng đến danh dự nhân phẩm của người để lại di sản: 10

2 Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản: 11

3 Hành vi cố ý giết người thừa kế khác với mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế khác có quyền được hưởng: 14 3.1 Người thừa kế khác: 14

Trang 2

3.2 Hành vi xâm phạm tính mạng người thừa kế khác với mục đích chiếmđoạt một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế khác có quyền đượchưởng: 15

4 Người có hành vi lừa dối cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại

di sản: 16

4.1 Hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngă cản người để lại di sản trong việclập di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí củangười để lại di sản 164.2 Hành vi giả mạo, sửa chữa di chúc, hủy bỏ di chúc nhằm hưởng mọtphần hoặc toàn bộ tài sản trái với ý chí của người lập di chúc: 17

III MỐI LIÊN HỆ GIỮA QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN TẠI KHOẢN 1 ĐIỀU 643 VỚI QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU

669 BLDS 20 KẾT LUẬN 21 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Thừa kế với vai trò là một phạm trù kinh tế xã hôị đã xuất hiện từ rất lâu trongđời sống xã hội của con người Pháp luật của rất nhiều quốc gia đã sớm có cóquy định về thừa kế Ở Việt Nam hiện nay, các vụ án dân sự có liên quan đếnthừa kế chiếm số lượng không nhỏ Chính vì vậy các quy định về thừa kế trongLuật Dân sự có vai trò rất quan trọng Các vấn đề về thừa kế được quy định trongluật rất phức tạp và liên quan tới nhiều bộ luật khác nhau Trong bài viết này emxin tìm hiểu quy định về người không được hưởng thừa kế theo quy định tạiKhoản 1 Điều 643 trong mối liên hệ với Điều 669 Bộ luật Dân sự

Trang 4

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN:

1 Người thừa kế:

1.1 Khái niệm người thừa kế:

Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự bao gồm tổng hợp các quy phạmpháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản (cùng quyền sở hữu tài sản) củangười chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồngthời quy định phạm vi, quyền nghiện vụ và phương thức bảo vệ quyền, nghĩa vụcủa người thừa kế

Người thừa kế là người được hưởng các quyền và gánh chịu những nghĩa

vụ về tài sản từ một người đã chết theo ý chí mà người đó thể hiện trong di chúchoặc theo quy định của pháp luật

Người thừa kế theo di chúc là người được chỉ định trong di chúc nên cóthể là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, trong trường hợp đặc biệt thì Nhà nước cũng

có thể trở thành người thừa kế nếu được cá nhân có tài sản định đoạt trong dichúc Người thừa kế theo pháp luật phải là những người có một rong những mốiquan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản, vì vậy

họ chỉ có thể là cá nhân Những người thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luậtđược xác địn theo ba hàng thừa kế quy định tại Điều 676 Bộ Luật Dân sự 2005

1.2 Điều kiện của người thừa kế:

Theo quy định của Điều 635 Bộ luật Dân sự, một cá nhân chỉ được coi làngười thừa kế khi:

Thứ nhất, cá nhân đó phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế.Nếu vào thời điểm phân chia di sản, có người thừa kế đã chết nhưng vào thờiđiểm mở thừa kế người thừa kế đó vẫn đang sống thì họ được coi là còn sống vàđược quyền hưởng di sản Trong trường hợp người thừa kế bị tuyên bố chết

Trang 5

trước thời điểm người để lại di sản chết nhưng họ còn sống trở về trước khi disản người chết được phân chia thì họ vẫn được coi là còn sống và vẫn đượchưởng di sản, tuy nhiên trước đó họ phải yêu cầu Tòa án hủy tuyên bố chết vớihọ.

Thứ hai, người đó phải thành thai trước khi người để lại di sản chết nếusinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế Nếu cá nhân sinh ra nhưng khôngcòn sống thì sẽ không thể tiếp nhận di sản Nhiều ý kiến cho rằng điều kiện nàychỉ được áp dụng đối với người thừa kế theo pháp luật Nghĩa là cá nhân đã sinh

ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế sẽ luôn luôn được hưởng di sản thừa kếtheo di chúc, nếu đã được người để lại di sản xác định mà không bắt buộc phảithành thai tước khi người để lại di sản chết

Cũng theo Điều 635 Bộ luật Dân sự 2005 thì cơ quan, tổ chức chỉ được coi

là người thừa kế theo di chúc nếu cơ quan, tổ chức đó còn tồn tại vào thời điểm

mở thừa kế Như vậy, nếu cơ quan, tổ chức được người để lại di sản chỉ định làmngười thừa kế theo di chúc nhưng “không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”thì sẽ không được hưởng di sản

1.3 Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế :

Quyền của người thừa kế được quy định ở Điều 642 Bộ luật Dân sự Theonguyên tắc chung mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúchoặc theo pháp luật Ngoài ra người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừtrường hợp từ chối nhằm chốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đốivới người khác

Người thừa kế phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

_ Nhưng người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trongphạm vi di sản do người chết để lại trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Trang 6

_ Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghiã vụ tài sản do ngườichết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những ngườithừa kế.

_ Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiệnnghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tàisản mà mình nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

_ Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúcthì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là

cá nhân

2 Người không được quyền thừa kế di sản:

2.1 Người bị truất quyền hưởng di sản :

“Truất quyền thừa kế” là trường hợp người để lại di sản không cho ngườithừa kế hưởng di sản của mình Người bị truất quyền hưởng di sản khác vớingười không được chỉ định trong di chúc tuy cả hai trường hợp trên đều là ngườikhông được người để lại di chúc cho hưởng tài sản Khi một người bị truất quyềnthừa kế thì người đó sẽ không có quyền hưởng di sản cả theo di chúc lẫn theopháp luật, nghĩa là không được hưởng di sản của người để lại thừa kế Nhưngnếu một người không được chỉ định trong di chúc thì họ vẫn có quyền hưởngthừa kế tài sản của người chết theo pháp luật nếu họ thuộc diện và hành thừa kế.Nếu di chúc không có hiệu lực hay vô hiệu một phần, khi người thừa kế trong dichúc từ chối hưởng di sản hoặc đã chia tài sản theo di chúc mà vẫn còn thì di sảncòn lại đó được chia theo pháp luật họ vẫn có thể được hưởng theo pháp luật.Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản củangười thừa kế Việc truất quyền thừa kế này phải được ghi rõ trong di chúc làtruất quyền thừa kế của ai hoặc không cho ai hưởng di sản

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc ( quy định tạiĐiều 669 Bộ luật Dân sự 2005) vẫn được quyền hưởng di sản thừa kế (bằng hai

Trang 7

phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu tài sản được chia theopháp luật) cho dù người đó đã bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản Họchỉ không được hưởng di sản nếu từ chối nhận di sản hoặc rơi vào một trong cáctrường hợp quy định taị Khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 (bị pháp luật tước quyềnthừa kế).

2.2 Người không được hưởng di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005:

Theo Khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 thì phạm vi người không được quyềnhưởng di sản chỉ là những người bị pháp luật tước quyền thừa kế do đã có hành

vi trái pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm củangười để lại di sản và những người thừa kế khác, có những hành vi không xứngđáng với bổn phận của mình, người có hành vi như vạy không xứng đáng hưởng

di sản ngưởi để lại thừa kế, không có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật Đây

là những người bị kết án vì một trong các hành vi quy định tại điểm a, c Khoản 1Điều 643 (hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người để lại di sản,hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, hành vi xâm phạmnghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người đó, hành vi cố ý xâm phạm đếntính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản

mà người thừa kế đó được hưởng) hoặc thực hiện một trong các hành vi quy địnhtại điểm b, d Khoản 1 Điều 643 BLDS 2005, cho dù không bị kết án về nhữnghành vi này (hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại disản; hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di chúc trong việc lập

di chúc, giả mào di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phầnhoặc toàn bộ tài sản trái với ý chí của người để lại di sản Những người này đáng

lẽ được hưởng di sản của người để lại di sản vì họ là người thừa kế của người đểlại di sản (vì họ thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luật của người đẻ lại di sảnhoặc đã được người để lại di sản lập di chúc cho họ được hưởng thừa kế hoặcthuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự) nhưng vì

Trang 8

có những hành vi nêu trên nên họ bị pháp luật tước quyền thừa kế Tuy nhiênnhằm tôn trọng ý chí cua người để lại di sản nên những người nói trên vẫn được

hưởng di sản “nếu người để lại di sản đã biết hành vi của họ mà vẫn cho họ

hưởng di sản theo di chúc” (theo Khoản 2 Điều 643 Bộ luật dân sự 2005) Đối

với những người không được hưởng di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự

2005 họ chỉ đương nhiên không được hưởng di sản nếu di sản được chia theopháp luật, họ vẫn có quyền hưởng phần di sản được chia theo di chúc nếu người

để lại di chúc đã biết hành vi của họ mà vẫn để lại tài sản cho họ trong di chúc.Khi xác định suất thừa kế theo pháp luật để tính phần thừa kế cho người nhữngngười được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tạiĐiều 669 Bộ luật Dân sự họ không là tham số trong số chia để tính nhân suất

Như vậy, những người không được quyền hưởng di sản theo nghĩa rộngbao gồm những người bị truất quyền hưởng (trừ những người được hưởng thừa

kế theo Điều 669 Bộ luật Dân sự 2005) di sản và bị tước quyền hưởng thừa kế.Tuy nhiên trong phạm vi bài viết ta chỉ nghiên cứu những trường hợp bị tướcquyền hưởng di sản thừa kế theo Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005

II NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN THEO QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 1 ĐIỀU 643 BLDS 2005.

Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 quy định:

“1 Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án vì hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án vì hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng mooyj phần hpawcj toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó

có quyền hưởng;

Trang 9

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di chúc trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toan bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

…”

1 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người để lại di sản.

1.1 Hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe người để lại di sản:

Hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người để lại di sản là hành vi tước đoạttính mạng người để lại di sản một cách trái pháp luật bằng mọi hình thức, dù vớibất cứ động cơ hay mục đích gì, kể cả khi được sự đồng ý, yêu cầu của nạn nhânhay khi đó chỉ là hành vi chống trả quyết liệt nhưng vượt quá giới hạnh phòng vệchính đáng

Hành vi tước đoạt tính mạng người khác là hành vi có khả năng hiện thựcgây ra cái chết đối với họ, được thực hiện bằng hành động hoặc không hànhđộng, dưới các dạng chủ yếu như: đánh, đấm, đá, đâm, chém, xô đẩy, đầu độc,bóp cổ, bịt mặt, miệng, mũi, dìm xuống nước,… (các dạng hành động), bỏ mặccho đến chết (dạng không hành động); còn có thể thực hiện thông qua hành độngcủa người không có năng lực hành vi hình sự (việc xúi giục người dưới 14 tuổithực hiện hành vi giết người, lúc này hành vi xúi giục đó sẽ được coi là hành vigiết người); với công cụ phương tiện thực hiện tội phạm khác nhau: dao, súng,gậy côn, tuýp, thuốc độc,…

Về mặt chủ quan, hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại

di sản phải được thực hiện với lỗi cố ý, nghĩa là người phạm tội nhận thức dược

rõ hành vi vi phạm của mình là nguy hiểm có thể gây hậu quả chết người nhưngvẫn mong muốn (cố ý trực tiếp) hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (cố ýgián tiếp) Như vậy nếu hành ví trên chỉ là hành vi vô ý làm chết người (Điều

Trang 10

98,99 BLHS) hoặc vô ý gây thương tích thì nười phạm tội cũng không bị tướcquyền thừa kế tài sản của người bị họ vô ý làm chết hoặc vô ý gây thương tích.Cũng chỉ có thể tước quyền thừa kế của người có hành vi xâm phạm tính mạng,sức khỏe của người để lại di sản nếu người có hành vi xâm phạm đã bị kết án vềhành vi đó bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Cơ sở để tước quyền hưởng di sản của người thừa kế có hành vi xâm phạmtính mạng, sức khỏe của người để lại di sản là việc cơ quan có thẩm quyền xácnhận hành vi phạm tội bằng một bản án hình sự trong đó kết án họ về các tội

xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác theo BLHS 1999 (các Tội giết người Điều 93, Tội giết con mới đẻ Điều 94, Tội giết người trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh Điều 95, Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Điều 96, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Điều 104, Tội gây cố ý thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 105, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 106 Bộ luật Hình sự 1999) và bản án đó chỉ được coi là căn

cứ để tước quyền hưởng di sản của người khi đã có hiệu lực pháp luật, bởi lẽ

“Không ai có thể bị coi là có tội nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của tòaán” (Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2004)

1.2 Hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản

Hành vi ngược đãi là hành vi đối xử tàn nhẫn, tồi tệ đối với người thân,người lệ thuộc mình thông qua hững hành vi như đánh đập, chửi mắng, nhục mạ,

bỏ mặc, giam hãm, bắt lao động quá nặng nhọc, không cho học hành,… trongkhi bản thân người ngược đãi có đật đủ điều kiện để đối xử tốt hơn

Hành vi hành hạ là hành vi đối xử tàn ác gây đau đớn về thể xác và tinhthần cho người khác, đôi khi là sự xúc phạm, làm nhục đối với người lệ thuộc

Trang 11

vào mình khiến họ bị giày vò, đau khổ; hành hạ xảy ra thường xuyên và có tínhchất nghiêm trọng hơn hành vi ngược đãi.

Về mặt chủ quan, những người thực hiện hành vi trên đương nhiên có lỗi cố

ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp vì bản tha người có hành vi hành hạ, ngược đãi khithực hiện những hành vi đó đã nhận thức rõ hành vi của mình, thấy được hậu quảcủa hành vi đó nhưng vẫn mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra Cấuthành tội phạm không đòi hỏi hai hành vi trên phải gây thương tích hoặc tổn sứckhỏe cho người khác với tỉ lệ thương tật bao nhiêu mà chỉ quy định hành vingược đãi, hành hạ phải có tính chất nghiêm trọng Tuy nhiên ở mức độ nàonhững hành vi nói trên bị xem là nghiêm trọng thì pháp luật chưa có quy địnhbằng văn bản cụ thể Dù vậy, theo pháp luật quy định thì người có hành vi ngượcđãi, hành hạ người để lại di sản chỉ bị tước quyền hưởng di sản thừa kế khi hành

vi đó đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật Vì vậy,cần phải hiểurằng khi những hành vi nói trên thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tộiphạm và đã bị kết án thì hành vi đó đã hàm chứa tính chất nghiêm trọng Nghĩa

là bằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự và kết án hành vi nói trên, bản án hình

sự kết án người có hành vi ngược đãi, hành hạ người để lại di sản đã xác địnhtính nghiêm trọng của hành vi đó và là cơ sở để quyết định người có hành vi trênkhông được hưởng di sản

1.3 Hành vi xâm phạm nghiêm trộng đến danh dự nhân phẩm của người để lại

di sản:

Hành vi xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm người khác thườngthông qua việc dùng lời lẽ, hành vi, văn bản, hình ảnh bịa đặt mang tính chấtchửi mắng, thóa mạ, miệt thị, sỉ nhục, xâm phạm; loan truyền những điều biết rõ

là bịa đặt nhằm xâm phạm , hạ thấp danh dự, gây tổn thương nghiêm trọng hoặcgây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Trang 12

Về mặt trách nhiệm hình sự, hành vi trên có thể cấu thành tội làm nhụcngười khác (Điều 121) hoặc tội vu khống (Điều 122) và nếu có hành vi vukhống, làm nhục đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sócchữa bệnh cho mình thì còn thuộc trường hợp tăng nặng của khung hình phạt.

Cơ sở để tước quyền thừa kế của người có hành vi xâm phạm nghiêm trọngdanh dự, nhân phẩm người để lại di sản là một bản án đã có hiệu lực pháp luạtkết án về hành vi trên

Tóm lại, điểm a Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: ngườithừa kế có hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩmcủa người để lại di sản và đã bị kết án về một trong các hành vi đó thì bị tướcquyền thừa kế của người mà họ đã xâm phạm Nếu người thừa kế chỉ bị kết án

về tội hành vi vô ý làm chết người để lại di sản thì vẫn được hửng thừa kế củachính người đã bị người thừa kế gây ra cái chết đó

2 Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản:

Nuôi dưỡng là sự chăm lo về vật chất giữa người này với người khác cho dù

họ có cùng chung sống hay không

Người thừa kế bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng là ngườiđược Luật Hôn nhân và Gia đình xác định có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại

di sản nhưng họ không thực hiện nghĩa vụ đó Theo quy định trong Luật Hônnhân và Gia đình năm 2000 của nước ta thì người thừa kế được xác định là người

có nghĩa vụ cấp dưỡng người để lại thừa kế trong những trường hợp sau đây:

Thứ nhất, người để lại thừa kế là cha, mẹ của họ.

Tại Khoản 2 Điều 36 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định:

“Con có nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt là cha mẹ ốm đau, già yếu, tàntật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sócnuôi dưỡng cha mẹ” Theo quy định này thì bổn phận của con phải chăm sóc,

Ngày đăng: 03/04/2013, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w