Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà nội.
Trang 1Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiêp muốn hoạt động thì không thể không
có vốn Vốn của doanh nghiệp nói chung và vốn lưu động nói riêng có mặt trong mọi khâuhoạt động của doanh nghiệp từ: dự trữ, sản xuất đến lưu thông Vốn lưu động giúp chodoanh nghiệp tồn tại và hoạt động được trơn tru, hiệu quả
Tuy nhiên do sự vận động phức tạp và trình độ quản lý tài chính còn hạn chế ở nhiềudoanh nghiệp Việt Nam, vốn lưu động chưa được quản lý, sử dụng có hiệu quả dẫn đếnhiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao Trong quá trình thực tập tại Công tyđầu tư xây dựng số 2 Hà nội em nhận thấy đây là một vấn đề thực sự nổi cộm và rất cầnthiết ở Công ty, nơi có tỷ trọng vốn lưu động lớn với nhiều hoạt động sản xuất quy mô lớn,phức tạp, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đang là một chủ đề mà Công tyrất quan tâm
Với nhận thức như vậy, bằng những kiến thức quý báu về tài chính doanh nghiệp,vốn lưu động tích luỹ được trong thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Kinh tếquốc dân Hà Nội, cùng thời gian thực tập thiết thực tại Công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà
nội, em đã chọn đề tại: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại
Công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà nội” làm đề tài viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
đề có thể hoàn thiện hơn cũng như giúp em hiểu sâu hơn về đề tài mà mình đã lựa chọn
Trang 2Chương I Vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Vốn lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường trong đó ngườimua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và sản lượng của hàng hoá haydịch vụ Nền kinh tế thị trường chứa đựng ba chủ thể là các hộ gia đình, doanh nghiệp vàchính phủ Trong đó, doanh nghiệp có một vai trò to lớn trong sự hoạt động và phát triểncủa nền kinh tế thị trường
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạtđộng kinh doanh”1 – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trìnhđầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mụcđích sinh lợi
Nền kinh tế thị trường của nước ta đang xây dựng là một nền kinh tế thị trường có sựđiều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là một nền kinh tế với nhiềuthành phần, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh – doanh nghiệp Nhà nước – giữ vai tròchủ đạo “Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và
tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục
tiêu kinh tế – xã hội do Nhà nước giao”.2 Như vậy ta thấy, có thể phân các doanh nghiệp
Nhà nước làm hai loại: doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động
công ích, khi nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp chúng ta tập trung vào hệ thống các
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh với mục tiêu thống nhất là tối đa hoá lợi nhuận
Doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Theo hình thức
tổ chức có: doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp Nhànước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Phân loại doanh nghiệp theo chủ thể kinhdoanh có: kinh doanh cá thể; kinh doanh góp vốn; công ty Dựa vào tính chất của lĩnh vựchoạt động, có doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại…Sự phân chia cácdoanh nghiệp theo các tiêu thức nói trên nhằm tạo sự khoa học cho việc quản lý và nghiên
1 Luật doanh nghiệp – ngày12 tháng 6 năm 1999
Trang 3cứu tuy nhiên chúng đều mang tính tương đối trong điều kiện một nền kinh tế thị trườngphát triển với hình thức, hoạt động của các doanh nghiệp là rất đa dạng, phức tạp.
Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế – xã hội phức tạp và luôn biếnđộng Để đạt được mức lợi nhuận mong muốn, doanh nghiệp luôn phải đưa ra hàng loạtcác quyết định trong quá trình tổ chức hoạt động kinh doanh, mọi quyết định đều phải gắnkết với môi trường xung quanh Doanh nghiệp phải giải quyết từ khâu nghiên cứu nhu cầuthị trường; xác định năng lực bản thân; xác định các mặt hàng mà mình sản xuất và cungứng; cách thức sản xuất, phương thức cung ứng sao cho có hiệu quả nhất…Dưới góc độcủa nhà quản trị tài chính, để đạt được mục tiêu tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp, mộtdoanh nghiệp luôn phải đối mặt với 3 nhóm quyết định:
- Quyết định đầu tư
- Quyết định tài trợ
- Quyết định hoạt động hàng ngày
Nói một cách khác, quản lý tài chính doanh nghiệp là giải quyết một tập hợp đa dạng
và phức tạp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn Các quyết định tài chính dài hạnnhư lập ngân sách vốn, lựa chọn cấu trúc vốn…là những quyết định thường liên quan đếnnhững tài sản hay những khoản nợ dài hạn, các quyết định này không thể thay đổi mộtcách dễ dàng và do đó chúng có khả năng làm cho doanh nghiệp phải theo đuổi một đườnghướng hoạt động riêng biệt trong nhiều năm Các quyết định tài chính ngắn hạn thườngliên quan đến những tài sản hay những khoản nợ ngắn hạn và thường thì những quyết địnhnày được thay đổi dễ dàng Trong thực tế, giá trị các tài sản lưu động chiếm một tỷ trọnglớn trong tổng giá trị doanh nghiệp và có một vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có thể xác định được các cơ hội đầu tư cógiá trị, tìm được chính xác tỷ lệ nợ tối ưu, theo đuổi một chính sách cổ tức hoàn hảo nhưngvẫn thất bại vì không ai quan tâm đến việc huy động tiền mặt để thanh toán các hoá đơntrong năm…Do vậy, luận văn đi sâu vào nghiên cứu vốn lưu động và việc nâng cao hiệu sửdụng vốn lưu động trong doanh nghiệp Để có thể hiểu sâu về vốn lưu động trước tiênchúng ta cần có cái nhìn khái lược về vốn, một bộ phận không thể thiếu trong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1 Khái niệm về vốn
Trang 4Theo quan điểm của K.Marx, vốn là tư bản, mà tư bản được hiểu là giá trị mang lại
giá trị thặng dư.
Như vậy, hiểu một cách thông thường, vốn là toàn bộ giá trị vật chất được doanhnghiệp đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn có thể là toàn bộ của cảivật chất do con người tạo ra và tích luỹ được qua thời gian sản xuất kinh doanh cũng có thể
là những của cải mà thiên nhiên ban cho như đất đai, khoáng sản…
Với sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thị trường, các ngành nghề mới liên tục rađời, quan niệm về vốn cũng ngày càng được mở rộng Bên cạnh vốn hữu hình, dễ dàngđược nhận biết, còn tồn tại và được thừa nhận là vốn vô hình như: các sáng chế phát minh,nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp, vị trí đặt trụ sở của doanh nghiệp…Theocách hiểu rộng hơn, người lao động cũng được rất nhiều doanh nghiệp coi là một trongnhững nguồn vốn quan trọng
Có thể thấy, vốn tồn tại trong mọi giai đoạn sản xuất kinh doanh, từ dự trữ; sản xuấtđến lưu thông; doanh nghiệp cần vốn để đầu tư xây dựng cơ bản; cần vốn để duy trì sảnxuất và để đầu tư nâng cao năng lực sản xuất… Quyết định tài trợ, do đó, là một trong 3nhóm quyết định quan trọng của tài chính doanh nghiệp và có ảnh hưởng sâu sắc tời mụctiêu cuối cùng của doanh nghiệp – tối đa hoá giá trị doanh nghiệp
1.1.2.2 Đặc điểm và phân loại vốn
+ Đặc điểm của vốn
Vốn là giá trị toàn bộ tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc thiết bị…), tài sản vôhình (sáng chế, phát minh, nhãn hiệu thương mại…) mà doanh nghiệp đầu tư và tích luỹđược trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra giá trị thặng dư
Vốn tồn tại trong mọi quá trình sản xuất và được chuyển hoá từ dạng này sang dạngkia: từ nguyên, nhiên vật liệu đầu vào đến các chi phí sản xuất dở dang, bán thành phẩm vàcuối cùng chuyển hoá thành thành phẩm rổi chuyển về hình thái tiền tệ
Vốn luôn gắn liền với quyền sở hữu, việc nhận định rõ và hoạch định cơ cấu nợ –vốn chủ sở hữu luôn là một nội dung quan trọng và phức tạp trong quản lý tài chính doanhnghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vốn còn được coi là một hàng hoá đặc biệt do có sựtách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng Do đó, việc huy động vốn bằng nhiều conđường: phát hành cổ phiếu, trái phiếu; tín dụng thương mại; vay ngân hàng…đang đượccác doanh nghiệp rất quan tâm và được vận dụng linh hoạt
Trang 5Do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, sự luân chuyển phức tạp củavốn nên yêu cầu quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả tránh lãng phí thất thoát được đặt lêncao.
+ Phân loại vốn
Tuỳ theo từng tiêu thức khác nhau, vốn của doanh nghiệp được phân loại như sau:
- Theo hình thái tài sản, vốn của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận chính: Vốn lưu động và vốn cố định Hiểu một cách đơn giản, vốn lưu động là toàn bộ giá trị
của tài sản lưu động, vốn cố định là toàn bộ giá trị của tài sản cố định
- Theo nguồn hình thành, vốn của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn
chính: Vốn chủ sở hữu và Nợ.
1.1.3 Vốn lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.3.1 Khái niệm về vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các yếu tố người lao động, tư liệu lao độngcòn phải có đối tượng lao động Trong các doanh nghiệp đối tượng lao động bao gồm 2 bộphận: Một bộ phận là những nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế…đang dự trữ chuẩn
bị cho quá trình sản xuất được tiến hành nhịp nhàng, liên tục; bộ phận còn lại là nhữngnguyên vật liệu đang được chế biến trên dây truyền sản xuất (sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm) Hai bộ phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động của
doanh nghiệp trong dự trữ và sản xuất.
Thông qua quá trình sản xuất, khi kết thúc một chu kỳ sản xuất thì toàn bộ tư liệu laođộng đã chuyển hoá thành thành phẩm Sau khi kiểm tra, kiểm nghiệm chất lượng thànhphẩm được nhập kho chờ tiêu thụ Mặt khác để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm doanhnghiệp còn cần một số tiền mặt trả lương công nhân và các khoản phải thu phải trả khác…
Toàn bộ thành phẩm chờ tiêu thụ và tiền để phục vụ cho tiêu thụ sản phẩm được gọi là tài
sản lưu động trong lưu thông.
Như vậy xét về vật chất, để sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục, ngoài tài sản
cố định doanh nghiệp còn cần phải có tài sản lưu động trong dự trữ, trong sản xuất và tronglưu thông Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các tài sản lưuđộng này các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tư ban đầu nhất định Vì vậy có thể
nói: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm
tài sản lưu động trong doanh nghiệp.
Trang 6hàng hoá
Tiêu thụ sản phẩm
sản phẩm
Sản xuấtMua vật tư
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động củavốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động Trong quá trìnhsản xuất kinh doanh vốn lưu động không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳkinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông Quá trình này được diễn ra liên tục vàthường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốnlưu động Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi hình tháibiểu hiện: từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ
và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ Tương ứng với một chu kỳkinh doanh thì vốn lưu động cũng hoàn thành một vòng chu chuyển
1.1.3.2 Đặc điểm và phân biệt vốn lưu động với vốn cố định
- Những đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động luân chuyển với tốc độ nhanh Vốn lưu động hoàn thành một vòngtuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh
Vốn lưu động trong doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trìnhtuần hoàn luân chuyển Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữnguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giátrị sản phẩm
Vốn lưu động vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang hình tháikhác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Chu kỳ vận độngcủa vốn lưu động là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanhnghiệp
- Phân biệt vốn lưu động với vốn cố định
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định Đặc điểm khác biệt lớn nhấtgiữa vốn lưu động và vốn cố định là vốn cố định chỉ chuyển dần giá trị của nó vào giá trị
Trang 7sản phẩm theo mức khấu hao trong khi giá trị vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ mộtlần vào giá trị sản phẩm.
Do đặc điểm vận động, số vòng quay của vốn lưu động lớn hơn rất nhiều so với vốn
cố định
1.1.3.3 Phân loại vốn lưu động
Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải phân loại vốn lưu động củadoanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với yêu cầu quản lý
+ Căn cứ vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp được phân thành 3 loại:
(1) Vốn lưu động trong khâu dự trữ
Bao gồm các khoản vốn sau:
- Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại vật tư dùng dự trữ sản xuất mà khitham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản phẩm
- Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất Các loại vật
tư này không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó kết hợp với nguyên vậtliệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặctạo điều kiện cho quá trình sản xuất sản phẩm thực hiện được bình thường, thuậnlợi
- Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động sản xuấtkinh doanh
- Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa các tàisản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào quá trình sảnxuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm
- Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tàisản cố định, dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Loại vốn này cần thiết để đảm bảo sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liêntục
(2) Vốn lưu động trong khâu sản xuất
Bao gồm các khoản vốn:
Trang 8- Vốn sản phẩm đang chế tạo: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh doanh
đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất
- Vốn bán thành phẩm tự chế: Đây là phần vốn lưu động phản ánh giá trị các chi phísản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trải qua những công đoạn sảnxuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối cùng (thành phẩm)
- Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng chonhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thành sản phẩmtrong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành sản phẩm của một số kỳ tiếp theonhư: chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt cáccông trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo phải lắp dùng trong xây dựng
cơ bản…
Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất củacác bộ phận sản xuất trong dây truyền công nghệ được liên tục, hợp lý
(3) Vốn lưu động trong khâu lưu thông
Loại này bao gồm các khoản vốn:
- Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn
kỹ thuật và đã được nhập kho
- Vốn bằng tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển đổi thành cácloại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗidoanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định
- Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…Đây là những khoản đầu tư nhằm một mặt đảm bảo khả năng thanh toán (do tínhthanh khoản của các tài sản tài chính ngắn hạn được đầu tư), mặt khác tận dụng khảnăng sinh lời của các tài sản tài chính ngắn hạn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngvốn lưu động
- Các khoản vốn trong thanh toán: Các khoản phải thu, các khoản tạm ứng… Chủyếu trong khoản mục vốn này là các khoản phải thu của khách hàng, thể hiện sốtiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hoá, dịch
vụ dưới hình thức bán trước, trả sau Khoản mục vốn này liên quan chặt chẽ đếnchính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp, một trong những chiến lượcquan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Ngoài ra, trong một số
Trang 9trường hợp mua sắm vật tư, hàng hoá doanh nghiệp còn phải ứng trước tiền chongười cung cấp từ đó hình thành khoản tạm ứng.
Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thường xuyên, đều đặntheo nhu cầu của khách hàng
Việc phân loại vốn lưu động theo phương pháp này giúp cho việc xem xét đánh giátình hình phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình chu chuyển vốn lưuđộng Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm tạo ra một kết cấuvốn lưu động hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụngvốn lưu động
+ Theo các hình thái biểu hiện
(1) Tiền và các tài sản tương đương tiền
- Vốn bằng tiền
- Các tài sản tương đương tiền: Gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Việc tách riêng khoản mục này giúp cho doanh nghiệp dễ dàng theo dõi khả năngthanh toán nhanh của mình đồng thời có những biện pháp linh hoạt để vừa đảm bảo khảnăng thanh toán vừa nâng cao khả năng sinh lời của vốn lưu động
(2) Các khoản phải thu
Nghiên cứu các khoản phải thu giúp doanh nghiệp nắm bắt chặt chẽ và đưa ra nhữngchính sách tín dụng thương mại hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, nâng caodoanh số bán cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
(3) Hàng tồn kho
Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể bao gồm:
- Vốn nguyên, nhiên vật liệu
- Vốn nguyên vật liệu chính;
- Vốn vật liệu phụ;
- Vốn nhiên liệu
- Công cụ, dụng cụ trong kho
- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
- Thành phẩm tồn kho
- Hàng gửi bán
Trang 10- Hàng mua đang đi trên đường
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm đệm an toàngiữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh như dự trữ - sản xuất – lưu thôngkhi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải lúc nào cũng được diễn ra đồng
bộ Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận sản xuất và bộ phận marketing của một doanhnghiệp sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh như lựa chọn thời điểm muanguyên vật liệu, lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ Ngoài ra hàng tồn kho giúp cho doanhnghiệp tự bảo vệ trước những biến động cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối vớicác sản phẩm của doanh nghiệp
(4) Tài sản lưu động khác
- Tạm ứng
- Chi phí trả trước
- Chi phí chờ kết chuyển
- Các khoản thể chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn
+ Theo nguồn hình thành của vốn lưu động
Theo cách phân loại này, vốn lưu động được chia làm 2 loại:
(1) Nguồn vốn chủ sở hữu
Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ cácquyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt Tuỳ theo loại hình doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thểriêng: Số vốn lưu động được ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhànước (đối với các doanh nghiệp nhà nước); số vốn do các thành viên (đối với loại hìnhdoanh nghiệp công ty) hoặc do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; số vốn lưu động tăng thêm
từ lợi nhận bổ sung; số vốn góp từ liên doanh liên kết; số vốn lưu động huy động được quaphát hành cổ phiếu
(2) Nợ phải trả
- Nguồn vốn đi vay: Là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay cácngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn thông qua phát hànhtrái phiếu
- Nguồn vốn trong thanh toán: Đó là các khoản nợ khách hàng, doanh nghiệp kháctrong quá trình thanh toán
Trang 11Việc phân loại này giúp cho ta có thể thấy được kết cấu các nguồn hình thành nênvốn lưu động của doanh nghiệp Từ đó, doanh nghiệp có thể chủ động và đưa ra các biệnpháp huy động, quản lý và sử dụng vốn lưu động hiệu quả hơn.
1.1.3.4 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
Kết cấu vốn lưu động là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần chiếm trong tổng số vốnlưu động tại một thời điểm nhất định
Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp ta thấy được tình hình phân bổ vốn lưuđộng và tỷ trọng mỗi khoản vốn trong các giai đoạn luân chuyển để xác định trọng tâmquản lý vốn lưu động và tìm mọi biện pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng trong từng điều kiện cụ thể
ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giống nhau.Thông qua phân tích kết cấu vốn lưu động theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúpcho doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đangquản lý và sử dụng Mặt khác, thông qua việc thay đổi kết cấu vốn lưu động của doanhnghiệp qua các thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc hạn chế
về mặt chất lượng trong công tác quản lý, sử dụng vốn lưu động của từng doanh nghiệp
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu của vốn lưu động, tuy nhiên có thể chia làm
3 nhóm nhân tố chủ yếu sau đây:
- Các nhân tố về sản xuất: đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp;mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất; trình độ tổ chứcquá trình sản xuất…
- Các nhân tố về mặt cung tiêu như: Khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi cungcấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư đượccung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp…
- Các nhân tố về mặt thanh toán: Phương thức thanh toán được lựa chọn theo các hợpđồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật thanh toán…
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Khái niệm
Hiệu quả là một khái niệm luôn được đề cập trong nền kinh tế thị trường: các doanhnghiệp luôn hướng tới hiệu quả kinh tế; chính phủ nỗ lực đạt hiệu quả kinh tế-xã hội.Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử dụng các yếu
tố cần thiết để tham gia vào một hoạt động nào đó với những mục đích xác định do con
Trang 12người đặt ra Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế đánh giá
trình độ sử dụng các nguồn vật lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá
trình sản xuất kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất Do đó, hiệu quả sử dụng vốn lưu
động là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với mức vốn lưu động hợp lý.
Như đã trình bày ở trên, vốn lưu động của doanh nghiệp được sử dụng cho các quátrình dự trữ, sản xuất và lưu thông Quá trình vận động của vốn lưu động bắt đầu từ việcdùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xongdoanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giátrị tăng thêm Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của vốn lưuđộng Doanh nghiệp sử dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu Vì lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sửdụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng vốn lưu động, làm cho mỗi đồng vốn lưu động hàngnăm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụđược nhiều hơn Những điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao tốc độluân chuyển vốn lưu động (số vòng quay vốn lưu động trong một năm)
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêukhác nhau nhưng tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu cơ bản và tổng hợp nhất phảnánh trình độ sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.2.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụngvốn lưu động của doanh nghiệp Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lêntình hình tổ chức các mặt: mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lýhay không, các khoản vật tư dự trữ sử dụng tốt hay không, các khoản phí tổn trong quátrình sản xuất – kinh doanh cao hay thấp…Thông qua phân tích chỉ tiêu tốc độ luân chuyểnvốn lưu động có thể giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển, nâng caohiệu quả sử dụng vốn lưu động
(1) Vòng quay vốn lưu động trong kỳ (L kỳ )
L kỳ = M kỳ
VLĐBQ kỳ
Trang 13Trong đó:
- Mkỳ: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ Trong năm, tổng mứcluân chuyển vốn lưu động được xác định bằng doanh thu thuần của doanhnghiệp
Ta có:
Đây là chỉ tiêu nói lên số lần quay (vòng quay) của vốn lưu động trong một thời kỳ nhất
định (thường là một năm), chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trên mốiquan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (tổng doanh thu thuần) và số vốn lưu động bình quân
bỏ ra trong kỳ Số vòng quay vốn lưu động trong kỳ càng cao thì càng tốt Trong đó:
- Vốn lưu động bình quân trong kỳ (VLĐBQkỳ) được tính như sau:
- Vốn lưu động bình quân năm:
Để đơn giản trong tính toán ta sử dụng công thức tính VLĐBQ gần đúng:
(2) Thời gian luân chuyển vốn lưu động (K)
Trang 14Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển của vốn lưu động hay
số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện một vòng quay trong kỳ Ngược vớichỉ tiêu số vòng quay vốn lưu động trong kỳ, thời gian luân chuyển vốn lưu động càngngắn chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả
Để đánh giá, so sánh giữa kỳ này với kỳ trước, trong hạch toán nội bộ của doanhnghiệp còn sử dụng chỉ tiêu tốc độ luân chuyển của các bộ phận (dự trữ, sản xuất và lưuthông) của vốn lưu động
+ Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong dự trữ
- Vòng quay của vốn lưu động trong dự trữ
- Thời gian luân chuyển của vốn lưu động trong dự trữ
+ Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong sản xuất
- Vòng quay của vốn lưu động trong sản xuất
+ Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong lưu thông
- Vòng quay của vốn lưu động trong lưu thông
Trang 15- Ldt, Lsx, Llt: Số lần luân chuyển của vốn lưu động trong khâu dự trữ, sảnxuất và lưu thông trong năm.
- Kdt, Ksx, Klt: Số ngày luân chuyển bình quân của vốn lưu động ở khâu dựtrữ, sản xuất và lưu thông trong năm
- VLĐBQdt, VLĐBQsx, VLĐBQlt: Vốn lưu động bình quân ở khâu dự trữ,sản xuất và lưu thông
- Mdt, Msx, Mlt: Mức luân chuyển vốn lưu động dùng để tính tốc độ luânchuyển vốn lưu động trong khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông
Khi tính hiệu suất luân chuyển của từng bộ phận vốn lưu động cần phải dựa theo đặcđiểm luân chuyển vốn của mỗi khâu để xác định mức luân chuyển cho từng bộ phận vốn ởkhâu dự trữ sản xuất, mỗi khi nguyên, vật liệu được đưa vào sản xuất thì vốn lưu độnghoàn thành giai đoạn tuần hoàn của nó Vì vậy mức luân chuyển để tính hiệu suất bộ phậnvốn ở đây là tổng số phí tổn tiêu hao về nguyên, vật liệu trong kỳ Tương tự như vậy, mứcluân chuyển vốn lưu động dùng để tính tốc độ luân chuyển bộ phận vốn lưu động sản xuất
là tổng giá thành sản xuất sản phẩm hoàn thành nhập kho (giá thành sản xuất sản phẩm),mức luân chuyển của bộ phân vốn lưu động lưu thông là tổng giá thành tiêu thụ sản phẩm
1.2.2.2 Mức tiết kiệm vốn do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn là chỉ tiêu phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăngtốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ này so với kỳ trước Mức tiết kiệm vốn lưu động dotăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động được biểu hiện bằng 2 chỉ tiêu:
(1) Mức tiết kiệm tuyệt đối
Do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên doanh nghiệp có thể tiết kiệm đượcmột số vốn lưu động để sử dụng vào công việc khác Nói cách khác: Với mức luân chuyểnvốn không thay đổi song do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên doanh nghiệp cần
số vốn ít hơn cũng như có thể tiết kiệm được một lượng vốn lưu động để có thể sử dụngvào việc khác Lượng vốn ít hơn đó chính là mức tiết kiệm tuyệt đối vốn lưu động
Mức tiết kiệm tuyệt đối vốn lưu động được tính theo công thức:
Trang 16- VLĐBQ0, VLĐBQ1: Lần lượt là vốn lưu động bình quân năm báo cáo và năm
kế hoạch
- M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động của năm kế hoạch
- K1: Thời gian luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch
(2) Mức tiết kiệm tương đối
Thực chất của mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu độngnên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn lưu động (tạo ra một doanhthu thuần lớn hơn) song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô vốn lưuđộng
Mức tiết kiệm tương đối được xác định theo:
V tktgđ= M1
360×(K1−K0)
Trong đó:
- Vtktgđ: Vốn lưu động tiết kiệm tương đối do tăng vòng quay vốn lưu động
- M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động (doanh thu thuần) năm kế hoạch
- K0, K1: Thời gian luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo, năm kế hoạch
1.2.2.3 Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt được mộtđồng doanh thu thuần Hệ số này càng nhỏ phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động củadoanh nghiệp càng cao
1.2.2.4 Hệ số sinh lợi của vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo bao nhiêu đồng lợi nhuậntrước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp) Hệ số sinh lợi của vốn lưuđộng càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = Vôn lưu động bình quân Doanh thu thuần
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập) Vôn lưu động bình quân
Trang 17Với việc nghiên cứu về vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động và các chỉ tiêuđánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta đã thấy được tầm quan trọng của vốn lưuđộng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn lưu động có mặttrong mọi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh từ khâu dự trữ (vốn lưu động dự trữ), khâu sảnxuất (vốn lưu động sản xuất) đến khâu lưu thông (vốn lưu động lưu thông) và vận độngtheo những vòng tuần hoàn Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu tổng hợp đánh giáhiệu quả sử dụng vốn lưu động, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động sẽ đảm bảo chodoanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả hơn: có thể tiết kiệm vốn lưu động, nângcao mức sinh lợi của vốn lưu động Rõ ràng, qua đó chúng ta phần nào nhận thức được sựcần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.2.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.3.1 Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu xuyên suốt làtối đa hoá giá trị doanh nghiệp Để đảm bảo mục tiêu này, doanh nghiệp thường xuyênphải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn Quản lý và
sử dụng hiệu quả vốn lưu động là một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chínhngắn hạn và là nội dung có ảnh hưởng to lớn đến mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, doanh nghiệp luôn luôn tìm mọi biệnpháp để tồn tại và phát triển Xuất phát từ vai trò to lớn của vốn lưu động và hiệu quả sửdụng vốn lưu động đối với mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp khiến cho yêu cầudoanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng làmột yêu cầu khách quan, gắn liền với bản chất của doanh nghiệp
1.2.3.2 Xuất phát từ vai trò quan trọng của vốn lưu động đối với doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường
Như đã trình bày, một doanh nghiệp, trong nền kinh tế thị trường, muốn hoạt độngkinh doanh thì cần phải có vốn Vốn lưu động là một thành phần quan trọng cấu tạo nênvốn của doanh nghiệp, nó xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong tất cả các khâu củaquá trình sản xuất kinh doanh
Trong khâu dự trữ và sản xuất, vốn lưu động đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệpđược tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất Trong lưuthông, vốn lưu động đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục,nhịp nhàng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Thời gian luân chuyển vốn lưu độngngắn, số vòng luân chuyển vốn lưu động lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng vốn
Trang 18lưu động luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày Với vai trò to lớn như vậy, việctăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trongdoanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu.
1.2.3.3 Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển vốnlưu động, rút ngắn thời gian vốn lưu động nằm trong lĩnh vực dự trữ, sản xuất và lưuthông, từ đó giảm bớt số lượng vốn lưu động chiếm dùng, tiết kiệm vốn lưu động trongluân chuyển Thông qua việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, doanh nghiệp có thểgiảm bớt số vốn lưu động chiếm dùng mà vẫn đảm bảo được nhiệm vụ sản xuất – kinhdoanh như cũ hoặc với quy mô vốn lưu động không đổi doanh nghiệp vẫn có thể mở rộngđược quy mô sản xuất
Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động còn có ảnh hưởng tích cực đối với việc hạthấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thoả mãn nhu cầu sảnxuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế, xã hội trong cả nước
1.2.3.4 Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân kiến một doanh nghiệp làm ăn thiếu hiệu quảthậm chí thất bại trên thương trường Có thể có các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhânkhách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến nhất vẫn là việc sử dụng vốn không hiệuquả trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến việc sửdụng lãng phí vốn lưu động, tốc độ luân chuyển vốn lưu động thấp, mức sinh lợi kém vàthậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát, không kiểm soát được vốn lưu động dẫn đếnmất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán Trong hệ thống các doanhnghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước do đặc thù chịu ảnh hưởng nặng nề của cơchế bao cấp trước đây, có kết quả sản xuất kinh doanh yếu kém mà một nguyên nhân chủyếu là do sự yếu kém trong quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn lưu động nói riênggây lãng phí, thất thoát vốn
ở nước ta, để hoàn thành đường lối xây dựng một nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa với thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, yêu cầuphải nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và của các doanhnghiệp nhà nước nói riêng Xét từ góc độ quản lý tài chính, yêu cầu cần phải nâng caonăng lực quản lý tài chính trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là
Trang 19một nội dung quan trọng không chỉ đảm bảo lợi ích cho riêng doanh nghiệp mà còn
có ý nghĩa chung đối với nền kinh tế quốc dân
Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhằm giúp doanhnghiệp đảm bảo hiệu quả tối đa trong việc sử dụng vốn lưu động nói riêng và trong quản lýtài chính nói chung nhằm đạt được mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Để đạt đượcmục tiêu này, yêu cầu đối với doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh là:
- Doanh nghiệp hoạt động hướng tới hiệu quả kinh tế, tối đa hoá giá trị của doanhnghiệp Đảm bảo sử dụng vốn lưu động đúng mục đích, đúng phương hướng, kếhoạch kinh doanh mà doanh nghiệp đề ra
- Doanh nghiệp phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về quản lýtài chính, kế toán thống kê…
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khácnhau chính vì vậy để đưa ra một quyết định tài chính nhà quản trị tài chính doanh nghiệpphải xác định được và xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề cần giải quyết từ đó mớiđưa ra các biện pháp thích hợp
Cũng như vậy, trước khi đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu độngchúng ta cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động Có thểchia các nhân tố đó dưới 2 giác độ nghiên cứu:
1.3.2.1 Các nhân tố lượng hoá
Các nhân tố lượng hoá là các nhân tố mà khi chúng thay đổi sẽ làm thay đổi các chỉtiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động về mặt số lượng Có thể dễ thấy đó là các chỉtiêu như: Doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập doanh nghiệp),vốn lưu động bình quân trong kỳ, các bộ phận vốn lưu động…
Ta biết, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vậnđộng của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động Để
sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, doanh nghiệp cần có các biện pháp quản lý tài sản lưuđộng một cách khoa học Quản lý tài sản lưu động được chia thành 3 nội dung quản lýchính: Quản lý dự trữ, tồn kho; quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao;quản lý các khoản phải thu
Trang 20(1) Quản lý dự trữ, tồn kho
Dự trữ, tồn kho là một bộ phận quan trọng của vốn lưu động, là những bước đệm cầnthiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Hàng tồn kho gồm 3 loại:Nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang vàthành phẩm
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuấtđến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ Nguyên vật liệu dự trữkhông trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinhdoanh tiến hành được bình thường Quản lý vật liệu dự trữ hiệu quả sẽ góp phần nâng caohiệu quả sử dụng vốn lưu động Do vậy, doanh nghiệp tính toán dự trữ một lượng hợp lývật liệu, nếu dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làmcho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn gây ra hàng loạt các hậu quả tiếp theo nhưmất thị trường, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các nguyên vật liệu nằm ở các công đoạn của dâychuyển sản xuất Nếu dây chuyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn sản xuấtthì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn Đây là những bước đệm nhỏ để quá trìnhsản xuất được liên tục
Khi tiến hành sản xuất xong, do có độ trễ nhất định giữa sản xuất và tiêu thụ, donhững chính sách thị trường của doanh nghiêp…đã hình thành nên bộ phận thành phẩmtồn kho
Hàng hoá dự trữ đối với các doanh nghiệp gồm 3 bộ phận như trên, nhưng thôngthường trong quản lý chúng ta tập chung vào bộ phận thứ nhất, tức là nguyên vật liệu dựtrữ cho sản xuất kinh doanh
Có nhiều phương pháp được đưa ra nhằm xác định mức dự trữ tối ưu
- Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng hiệu quả nhất – EOQ (Economic Odering Quantity)
Mô hình này được dựa trên giả định là những lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau.Theo mô hình này, mức dự trữ tối ưu là:
Trang 21Thời điểm đặt hàng mới
= Số lượng nguyên liệu sử dụng mỗi ngàyĐộ dài thời gian giao hàng
- Q* : Mức dự trữ tối ưu
- D : Toàn bộ lượng hàng hoá cần sử dụng
- C2 : Chi phí mỗi lần đặt hàng (Chi phí quản lý giao dịch và vận chuyển hànghoá)
- C1 : Chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá (Chi phí bốc xếp, bảo hiểm, bảo quản…)
thể của doanh nghiệp Lượng dự trữ an toàn là lượng hàng hoá dự trữ thêm vào lượng dự
trữ tại thời điểm đặt hàng.
Ngoài phương pháp quản lý dự trữ theo mô hình đặt hàng hiệu quả nhất (EOQ),nhiều doanh nghiệp còn sử dụng phương pháp sau đây:
+ Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0.
Theo phương pháp này, các doanh nghiệp trong một số ngành nghề có liên quan chặtchẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ, khi có một đơn đặt hàng nào đó họ sẽ tiếnhành huy động những loại hàng hoá và sản phẩm dở dang của các đơn vị khác mà họkhông cần phải dự trữ Sử dụng phương pháp này sẽ giảm tới mức thấp nhất chi phí cho dựtrữ Tuy nhiên, phương pháp này tạo ra sự rằng buộc các doanh nghiệp với nhau, khiến cácdoanh nghiệp đôi khi mất sự chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh
(2) Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ởngân hàng Tiền mặt bản thân nó là tài sản không sinh lãi, tuy nhiên việc giữ tiền mặt trong
Trang 22Các chứng khoán thanh khoản cao
Đầu tư tạm thời bằng cách mua chứng khoán có tính thanh khoản caoBán những chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt
kinh doanh rất quan trọng, xuất phát từ những lý do sau: Đảm bảo giao dịch hàngngày; bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp;
đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động không lường trước được của các
luồng tiền vào và ra; hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng
Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng Sự quản lýnày liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liền với tiền mặt như các loại
chứng khoán có khả năng thanh khoản cao Ta có thể thấy điều này qua sơ đồ luân chuyển
sau:
Nhìn một cách tổng quát tiền mặt cũng là một tài sản nhưng đây là một tài sản đặc
biệt – tài sản có tính lỏng nhất William Baumol là người đầu tiên phát hiện mô hình quản
lý hàng tồn kho EOQ có thể vận dụng cho mô hình quản lý tiền mặt Trong kinh doanh,
doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt cần thiết cho các hoá đơn thanh toán, khi tiền mặt
xuống thấp doanh nghiệp sẽ phải bổ sung tiền mặt bằng cách bán các chứng khoán thanh
khoản cao Chi phí cho việc lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà
doanh nghiệp bị mất đi Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán
Khi đó áp dụng mô hình EOQ ta có lượng dự trữ tiền mặt tối ưu (M*) là:
Trong đó:
i
C M
Trang 23- M*: Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm.
- Mn: Tiền mặt thanh toán hàng năm
- Cb : Chi phí một lần bán chứng khoán thanh khoản
- i : Lãi suất
Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất cao, doanh nghiệp càng dữ ít tiền mặt và
ngược lại, nếu chi phí cho việc bán chứng khoán thanh khoản càng cao thì họ lại càng giữ
nhiều tiền mặt Mô hình Baumol số dư tiền mặt không thực tiễn ở chỗ giả định rằng doanh
nghiệp chi trả tiền mặt một cách ổn định, điều này không luôn luôn đúng trong thực tế
+ Mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr
Đây là mô hình kết hợp chặt chẽ giữa mô hình đơn giản và thực tế Theo mô hình
này, doanh nghiệp sẽ xác định mức giới trên và giới hạn dưới của tiền mặt, đó là các điểm
mà doanh nghiệp bắt đầu tiến hành nghiệp vụ mua hoặc bán chứng khoán có tính thanh
khoản cao để cân đối mức tiền mặt dự kiến
Mô hình này được biểu diễn theo đồ thị sau đây:
Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau:
Mức tiền mặt = Mức tiền mặt + Khoảng dao động tiền mặt
Trang 24Khoảng dao động tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào 3 yếu tố sau: Mức dao động của
thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ; Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán;Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoản dao động tiền mặt sẽgiảm xuống Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau:
Trong đó:
- d : Khoảng dao động tiền mặt (khoản các giữa giới hạn trên và giới hạn dướicủa lượng tiền mặt dự trữ)
- Cb : Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán thanh khoản
- Vb : Phương sai của thu chi ngân quỹ
- i : Lãi suất
Trong các doanh nghiệp lớn, luồng tiền vào ra của doanh nghiệp hàng ngày là rất lớn,nên chi phí cho việc mua bán chứng khoán sẽ trở nên quá nhỏ so với cơ hội phí mất đi dolưu giữ một lượng tiền mặt nhàn rỗi do vậy hoạt động mua bán chứng khoán nên diễn rahàng ngày ở các doanh nghiệp này Mặt khác, chúng ta cũng thấy tại sao các doanh nghiệpvừa và nhỏ lưu giữ một số dư tiền mặt đáng kể
(3) Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường, để thắng lợi trong cạnh tranh các doanh nghiệp có thể
áp dụng các chiến lược về sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả…Trong đó chính sách tíndụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và không thể thiếu đối với các doanh nghiệp.Tín dụng thương mại có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nêngiàu có nhưng cũng có thể đem đến những rủi ro cho hoạt động của doanh nghiệp Do đó,các doanh nghiệp cần phải đưa ra những phân tích, những nghiên cứu và quyết định cónên cấp tín dụng thương mại cho đối tượng khách hàng đó hay không Đây là nội dungchính của quản lý các khoản phải thu
+ Phân tích năng lực tín dụng của khách hàng
Để thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng thì điều đầu tiên doanh nghiệp phải
phân tích được năng lực tín dụng của khách hàng Công việc này gồm: Thứ nhất, doanh
nghiệp phải xây dựng một tiêu chuẩn tín dụng hợp lý; Thứ hai, xác minh phẩm chất tíndụng của khách hàng tiềm năng Nếu khả năng tín dụng của khách hàng phù hợp với
i
V
C 4
3 3
Trang 25những tiêu chuẩn tín dụng tối thiểu mà doanh nghiệp đưa ra thì tín dụng thương mại
có thể được cấp
Việc thiết lập các tiêu chuẩn tín dụng của các nhà quản trị tài chính phải đạt tới sựcân bằng thích hợp Nếu tiêu chuẩn tín dụng đặt quá cao sẽ loại bỏ nhiều khách hàng tiềmnăng và sẽ giảm lợi nhuận, còn nếu tiêu chuẩn được đặt ra quá thấp có thể làm tăng doanhthu, nhưng sẽ có nhiều khoản tín dụng có rủi ro cao và chi phí thu tiền cũng cao
Khi phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, ta thường dùng các tiêu chuẩn sau
để phán đoán:
- Phẩm chất, tư cách tín dụng: Tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách nhiệm củakhách hàng trong việc trả nợ Điều này được phán đoán trên cơ sở việc thanh toáncác khoản nợ trước đây đối với doanh nghiệp hoặc đối với các doanh nghiệp khác
- Năng lực trả nợ: Dựa vào các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh, dự trữ ngânquỹ của doanh nghiệp…
- Vốn của khách hàng: Đánh giá sức mạnh tài chính dài hạn của khách hàng
- Thế chấp: Xem xét khả năng tín dụng của khách hàng trên cơ sở các tài sản riêng
+ Phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị
Sau khi phân tích năng lực tín dụng khách hàng, doanh nghiệp tiến hành việc phântích đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị Việc đánh giá khoản tín dụngthương mại được đề nghị để quyết định có nên cấp hay không được dựa vào việc tính NPVcủa luồng tiền
Trang 26- Q, P : Sản lượng hàng bán được trong một tháng và giá bán đơn vị nếu khách hàng trả tiền ngay.
- Q’, P’ : Sản lượng và giá bán đơn vị nếu bán chịu
- C : Chi phí cho việc đòi nợ và tài trợ bù đắp cho khoản phải thu
- V : Chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm
- R: Doanh lợi yêu cầu thu được hàng tháng
- r : Tỷ lệ phần trăm của hàng bán chịu không thu được tiền
Nếu NPV > 0 chứng tỏ việc bán chịu là mang lại hiệu quả cao hơn việc thanh toánngay, có lợi cho doanh nghiệp, do đó khoản tín dụng được chấp nhận
+ Theo dõi các khoản phải thu
Theo dõi các khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản lý các khoảnphải thu Thực hiện tốt công việc này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể kịp thời thay đổi cácchính sách tín dụng thương mại phù hợp với tình hình thực tế Thông thường, để theo dõicác khoản phải thu ta dùng các chỉ tiêu, phương pháp và mô hình sau:
- Kỳ thu tiền bình quân (The average collection period – ACP):
- Sắp xếp ‘tuổi’ của các khoản phải thu
Thông qua phương pháp sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thời gian, các nhàquản lý doanh nghiệp có thể theo dõi và có biện pháp thu hồi nợ khi đến hạn
- Xác định số dư khoản phải thu
Sử dụng phương pháp này doanh nghiệp hoàn toàn có thể thấy được nợ tồn đọng củakhách hàng nợ doanh nghiệp Cùng với các biện pháp theo dõi và quản lý khác, doanh
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu Doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày
Trang 27nghiệp có thể thấy được ảnh hưởng của chính sách tín dụng thương mại và có những điềuchỉnh kịp thời, hợp lý phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng khoản tín dụng cụ thể.
1.3.2.2 Các nhân tố phi lượng hoá
Các nhân tố phi lượng hoá cũng có tác động quan trọng tới hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng của doanh nghiệp Đó là những nhân tố định tính mà mức độ tác động của chúng đốivới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là không thể tính toán được Doanh nghiệp chỉ
có thể dự đoán và ước lượng tầm ảnh hưởng của các nhân tố đó từ đó có những chính sách,biện pháp nhằm định hướng các nhân tố này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng nói riêng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung
Các nhân tố này bao gồm: Các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan gồm các yếu tố xuất phát từ bên ngoài doanh nghiệp như:Môi trường kinh tế chính trị; Các chính sách về kinh tế của Nhà nước; Đặc điểm, tình hình
và triển vọng phát triển của ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động…Đây là nhữngnhân tố có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệuquả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp nói riêng Doanh nghiệp cần sự linh hoạt vànhanh nhạy để tiếp cận và thích ứng với các nhân tố đó
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nằm trong nội tại doanh nghiệp, có tác động trựctiếp đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và hiệu quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp nói chung Đó là các nhân tố như: Trình độ quản lý vốn của ban lãnh đạodoanh nghiệp, của cán bộ tài chính; Trình độ, năng lực của cán bộ tổ chức quản lý, sử dụngvốn lưu động trong doanh nghiệp; Tính kinh tế và khoa học của các phương pháp màdoanh nghiệp áp dụng trong quản lý, sử dụng vốn lưu động…
Phần trên, qua việc nghiên cứu khái quát về vốn lưu động, nghiên cứu chi tiết về cácchỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta đã
có nền tảng hiểu biết nhất định về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động Từ đó,chúng ta có thể đưa ra những biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngvốn lưu động trong các doanh nghiệp
1.3.3 Các biện pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.3.3.1 Kế hoạch hoá vốn lưu động
Trong mọi lĩnh vực, để đạt được hiệu quả trong hoạt động một yêu cầu không thểthiếu đối với người thực hiện đó là làm việc có kế hoạch, khoa học Cũng vậy, kế hoạchhoá vốn lưu động là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và rất cần thiết cho
Trang 28các doanh nghiệp Nội dung của kế hoạch hoá vốn lưu động trong các doanh nghiệpthường bao gồm các bộ phận: Kế hoạch nhu cầu vốn lưu động, kế hoạch nguồn vốn lưuđộng, kế hoạch sử dụng vốn lưu động theo thời gian.
+ Kế hoạch nhu cầu vốn lưu động
Để xây dựng một kế hoạch vốn lưu động đầy đủ, chính xác thì khâu đầu tiên doanhnghiệp phải xác định đúng nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh Đây
là bộ phận kế hoạch phản ánh kết quả tính toán tổng nhu cầu vốn lưu động cho năm kếhoạch, nhu cầu vốn cho từng khâu: dự trữ sản xuất, sản suất và khâu lưu thông Xác địnhnhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh chính xác, hợp lý một mặt bảo đảm cho quátrình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, mặt khác sẽtránh được tình trạng ứ đọng vật tư, sử dụng lãng phí vốn, không gây nên tình trạng căngthẳng giả tạo về nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp
+ Kế hoạch nguồn vốn lưu động
Sau khi xác định được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết để đảm bảo chosản xuất được liên tục, đều đặn thì doanh nghiệp phải có kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn đóbằng các nguồn vốn ổn định, vững chắc Vì vậy một mặt doanh nghiệp phải có kế hoạchdài hạn để huy động các nguồn vốn một cách tích cực và chủ động Mặt khác hàng nămcăn cứ vào nhu cầu vốn lưu động cho năm kế hoạch, doanh nghiệp phải xác định được quy
mô vốn lưu động thiếu hoặc thừa so với nhu cầu vốn lưu động cần phải có trong năm.Trong trường hợp số vốn lưu động thừa so với nhu cầu, doanh nghiệp cần có biệnpháp tích cực để tránh tình trạng vốn bị ứ đọng, chiếm dụng
Trường hợp vốn lưu động thiếu so với nhu cầu, doanh nghiệp cần phải có biện pháptìm những nguồn tài trợ như:
- Nguồn vốn lưu động từ nội bộ doanh nghiệp (bổ sung từ lợi nhuận để lại)
- Huy động từ nguồn bên ngoài: Nguồn vốn tín dụng, phát hành trái phiếu, cổ phiếu,liên doanh liên kết
Để đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhất, doanh nghiệp phải có sự xem xét và lựa chọn
kỹ các nguồn tài trợ sao cho phù hợp nhất trong từng hoàn cảnh cụ thể
+ Kế hoạch sử dụng vốn lưu động theo thời gian
Trong thực tế sản xuất ở các doanh nghiệp nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinhdoanh, việc sử dụng vốn giữa các thời kỳ trong năm thường khác nhau Vì trong từng thời
kỳ ngắn như quý, tháng ngoài nhu cầu cụ thể về vốn lưu động cần thiết cón có những nhu
Trang 29cầu có tính chất tạm thời phát sinh do nhiều nguyên nhân Do đó, việc đảm bảo đáp ứngnhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh theo thời gian trong năm là vấn đề rất quantrọng.
Thực hiện kế hoạch sử dụng vốn lưu động theo thời gian, doanh nghiệp cần xác địnhchính xác nhu cầu vốn lưu động từng quý, tháng trên cơ sở cân đối với vốn lưu động hiện
có và khả năng bổ sung trong quỹ, tháng từ đó có biện pháp xử lý hiệu quả, tạo sự liên tục,liền mạch trong sử dụng vốn lưu động cả năm Thêm vào đó, một nội dung quan trọng của
kế hoạch sử dụng vốn lưu động theo thời gian là phải đảm bảo cân đối khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp với nhu cầu vốn bằng tiền trong từng thời gian ngắn tháng, quỹ
Bên cạnh việc thực hiện kế hoạch hoá vốn lưu động, doanh nghiệp cần phải biết chútrọng và kết hợp giữa kế hoạch hoá vốn lưu động với quản lý vốn lưu động
1.3.3.2 Tổ chức quản lý vốn lưu động có kế hoạch và khoa học
Như ta đã phân tích, quản lý vốn lưu động gắn liền với quản lý tài sản lưu động baogồm: quản lý tiền mặt và các chứng khoản thanh khoản; quản lý dự trữ, tồn kho; quản lýcác khoản phải thu
Quản lý vốn lưu động được thực hiện theo các mô hình đã được trình bày trong phần
“các nhân tố lượng hoá ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp”.Vấn đề đặt ra là các nhà quản lý phải lựa chọn mô hình nào để vận dụng vào doanh nghiệpcho phù hợp với điều kiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trong khi vận dụng các mộ hình quản lý vốn lưu động khoa học, doanh nghiệp cầnphải biết kết hợp các mô hình tạo sự thống nhất trong quản lý tổng thể vốn lưu động củadoanh nghiệp Quản lý tốt vốn lưu động sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động, kịpthời đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề phát sinh đảm bảo việc thực hiện kếhoạch vốn lưu động, tránh thất thoát, lãng phí từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng
1.3.3.3 Rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, giảm giá thành sản xuất thông qua
việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Ta biết chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào độ dài thời gian của cáckhâu: dự trữ, sản xuất và lưu thông Khi doanh nghiệp áp dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất sẽ đảm bảo sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, năng suấtcao, giá thành hạ Điều này đồng nghĩa với việc thời gian của khâu sản xuất sẽ trực tiếpđược rút ngắn Mặt khác, với hiệu quả nâng cao trong sản xuất sẽ ảnh hưởng tích cực đếnkhâu dự trữ và lưu thông: chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ sẽ góp phần đảm bảo cho
Trang 30doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá nhanh hơn, giảm thời gian khâu lưu thông, từ đódoanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong dự trữ, tạo sự luân chuyển vốn lưu động nhanh hơn.
1.3.3.4 Tổ chức tốt công tác quản lý tài chính trên cơ sở không ngừng nâng cao
trình độ cán bộ quản lý tài chính
Nguồn nhân lực luôn được thừa nhận là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bạicủa mỗi doanh doanh nghiệp Sử dụng vốn lưu động là một phần trong công tác quản lý tàichính của doanh nghiệp, được thực hiện bởi các cán bộ tài chính do đó năng lực, trình độcủa những cán bộ này có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý tài chính nói chung vàhiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng
Doanh nghiệp phải có chính sách tuyển lựa chặt chẽ, hàng năm tổ chức các đợt học
bổ sung và nâng cao kiến thức, nghiệp vụ tài chính cho các cán bộ nhân viên nhằm đảmbảo và duy trì chất lượng cao của đội ngũ cán bộ nhân viên quản lý tài chính
Tổ chức quản lý tài chính khoa học, tuân thủ nghiêm pháp lệnh kế toán, thống kê,những thông tư hướng dẫn chế độ tài chính của Nhà nước Quản lý chặt chẽ, kết hợp vớiphân công nhiệm vụ cụ thể trong quản lý tài chính, cũng như trong từng khâu luân chuyểncủa vốn lưu động nhằm đảm bảo sự chủ động và hiệu quả trong công việc cho mỗi nhânviên cũng như hiệu quả tổng hợp của toàn doanh nghiệp
Tóm lại, qua quá trình phân tích, chúng ta đã thấy được vai trò của vốn lưu động và
sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp Có nhiềugiải pháp được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tuy nhiên phần lớnđều mang tính định hướng, việc áp dụng giải pháp nào, áp dụng giải pháp đó như thế nàocòn tuỳ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp
Trang 31CHƯƠNG 2 Tình hình sử dụng và vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động của Công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà nội
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà nội
2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển
Tên công ty :Công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà nội
Trụ sở : 324 Tây Sơn – Đống Đa – Hà nội
VP giao dịch : Làng Sinh viên Hacinco - Phường Nhân Chính Thanh Xuân - Hà Nội
N02 trực thuộc Sở xây dựng Hà Nội và từ năm 2004 là thành viên của Tổng Công ty Đầu
tư và phát triển nhà Hà Nội cho tới nay
Với tổng số cán bộ công nhân viên là hơn 500 người được tổ chức thành 6 phòng
và 2 ban quản lý dự án (Phòng Tài chính kế toán, Phòng Quản trị -Hành chính, Phòng Thịtrường, Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Phòng Tổ chức LĐTL, Phòng Công nghệ) ; 6 Xínghiệp (Xí nghiệp xây dựng 201, XN Quản lý xây dựng số 2, XN xây dựng số 1, Xí nghiệpvật tư xe máy, Xí nghiệp cơ điện, Xí nghiệp dịch vụ và kinh doanh nhà) và đội điện nướccùng đội ngũ công nhân kỹ thuật bao gồm nhiều ngành nghề: nề, mộc, sắt, cơ khí.… vớicán bộ công nhân viên kỹ sư lành nghề có nhiều năm tham gia thi công xây dựng các côngtrình có yêu cầu kỹ thuật phức tạp, chất lượng cao, đủ năng lực để xây dựng những côngtrình có quy mô lớn Đảng bộ Công ty có 9 chi bộ trực thuộc gồm 96 đảng viên và các tổchức đoàn thể khác: Công đoàn, đoàn thanh niên
Trang 322.1.2 Chức năng, nhiệm vụ phương hướng hoạt động và vị trí của Công ty:
Kể từ khi được thành lập cho đến nay Công ty luôn lấy mục tiêu phát triển sản xuấtkinh doanh giải quyết việc làm, ổn định và không ngừng cải thiện đời sống của cán bộcông nhân viên là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh là nhiệm
vụ then chốt, động viên đội ngũ đảng viên công nhân viên chức phát huy nội lực đoàn kếtnội bộ thi đua khắc phục mọi khó khăn bám sát chủ trương đường lối của Đảng và Nhànước, đòi hỏi thực tiễn của thị trường để xây dựng tổ chức thực hiện hoàn thành vượt mứccác chỉ tiêu kế hoạch, xây dựng Công ty ngày càng vững mạnh
Trong quá trình hoạt động Công ty luôn được sự quan tâm chỉ đạo của Thành uỷ,UBND Thành phố và các ban ngành có liên quan của Sở xây dựng Hà Nội nay là sự chỉđạo trực tiếp của Tổng Công ty đầu tư và phát triển nhà Hà Nội Công ty đã mạnh dạn đổimới về công tác tổ chức cán bộ, đổi mới về quản lý kinh tế, nỗ lực tìm kiếm việc làm, chủđộng liên doanh liên kết để mở rộng địa bàn hoạt động và đa dạng hoá sản phẩm, ngànhnghề, đầu tư chiều sâu mua sắm các thiết bị thi công hiện đại, đào tạo đội ngũ cán bộ vàcông nhân kỹ thuật để áp dụng công nghệ sản xuất mới
Trong thời kỳ đổi mới của cả nước, Công ty vẫn tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tronglĩnh vực đấu thầu, nhận thầu xây dựng các công trình phục vụ cho sự phát triển của thủ đô.Công ty còn mạnh dạn đổi mới tìm kiếm việc làm, mở rộng thị trường, đa dạng hoá ngànhnghề, đa dạng hoá sản phẩm Công ty đã chuyển trụ sở từ 110 Thái Thịnh về 324 Tây Sơn
để cải tạo trụ sở cũ tận dụng ưu thế mặt bằng và diện tích phù hợp xây dựng thành kháchsạn HACINCO (xếp hạng 3 sao) hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ khách sạn,
du lịch có hiệu quả.Thực hiện chủ trương đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước củaĐảng và Chính phủ, Công ty đã thực hiện thành công việc cổ phần hoá một bộ phận củadoanh nghiệp là chuyển khách sạn HACINCO thành công ty cổ phần HACINCO N02 (năm1999) và hiện nay đang phát huy hoạt động tốt trong lĩnh vực linh doanh khách sạn du lịchđem lại hiệu quả kinh tế cao Hiện tại Công ty đang thực hiện các bước tiếp theo để cổphần hoá toàn bộ Trong lĩnh vực kinh doanh khác Công ty cung mang lại những kết quảđáng được khích lệ Trong hoạt động thương mại dịch vụ Công ty đã cung cấp cho thịtrường nhiều loại sản phẩm vật liệu xây dựng có sức cạnh tranh như: Tấm trần thạch cao,các loại sơn phủ tường cao cấp, vật liệu điện Đồng thời cũng xây dựng mô hình hoạtđộng cửa hàng bán nhu yếu phẩm tự chọn tại khu tập thể Ngọc Khánh để phục vụ cho đờisống sinh hoạt của nhân dân Đầu tư xây dựng khu nhà ở để bán ở đường Nguyễn Văn Cừ– Gia lâm- Hà Nội để phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu về nhà ở, phù hợp với chủtrương phát triển nhà ở của Thành uỷ và UBND Thành phố Đặc biệt là hiện nay Công tyđang triển khai đầu tư xây dựng dự án làng sinh viên HACINCO tại phường Nhân chính,
Trang 33quận Thanh xuân Hà nội và đến ngày 10/10/2001 đã khai trương đưa vào sử dụng đợt 1khu nhà ở 7 tầng có diện tích sàn xây dựng hơn 10.000 m2 và đã bố trí được hơn 1000 sinhviên tại các trường đại học vào ở với đầy đủ tiện nghi để góp phần giải quyết nhà ở chosinh viên đang là những vấn đề bức xúc của xã hội hiện nay được nhà nước thành phố quantâm giải quyết Ngoài ra Công ty còn thực hiện hàng loạt các dự án khác như: Dự án nhàcho thuê tại lô đất 3.7 Thanh Xuân, Dự án Đại Kim, Dự án Khu du lịch Đền Đầm – Từ Sơn– Bắc Ninh….Từ chỗ Công ty chỉ thực hiện một chuyên nghành duy nhất là nhận thầu xâydựng, nay đã chuyển hoá phát triển đa dạng thành một Công ty đa ngành; xây dựng, kinh doanhnhà (bán và cho thuê), dịch vụ du lịch khách sạn, thương mại dịch vụ
Trong những năm qua, Công ty đã tích luỹ để đầu tư chiều sâu, mua sắm nhiều thiết
bị hiện đại từ các thiết bị như: Máy đầm, máy hàn, hệ thống dàn dáo cốt pha, các thiết bịvăn phòng đến các thiết bị thi công lớn chuyên dùng như máy bơm bê tông, cần cẩutháp để phục vụ thi công các công trình với mọi quy mô, xây dựng nhà ở cao tầng
2.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất
Bộ máy quản lý của Công ty đứng đầu là Ban Giám đốc Công ty, dưới là các phòng, banchức năng giúp việc cho Ban Giám đốc và các đội xây dựng trực thuộc và Công ty còn cócác Xí nghiệp thành viên và các chi nhánh đại diện
- Ban giám đốc: Đứng đầu là Giám đốc chịu trách nhiệm toàn bộ trong mọi lĩnh
vực sản xuất kinh doanh của toàn Công ty Giúp việc cho Ban Giám đốc là 3 Phó Giámđốc
- Phòng Tổ chức - LĐTL: là phòng chuyên tham mưu cho Giám đốc Công ty về
công tác tổ chức sản xuất, quản lý và sử dụng người lao động Phòng có trách nhiệm theodõi tình hình thanh quyết toán lương cho người lao động, thực hiện chế độ chính sách vớingười lao động, xây dựng định mức lao động và làm công tác thanh tra bảo vệ và khenthưởng cho toàn Công ty
- Phòng Kế hoạch tổng hợp: là phòng chuyên môn có chức năng thanh quyết toán
khối lượng công việc đối với từng hạng mục công trình với từng xí nghiệp thành viên, xâydựng các kế hoạch trong tháng quý trên cơ sở thực tế các kỳ kinh doanh và xu hướng biếnđộng của thị trường, báo cáo kết quả thực hiện các kế hoạch với Ban Giám đốc và đề ra kếhoạch mới
- Phòng Công nghệ: có nhiệm vụ xây dựng các phương án thi công mang tính khả
thi, giám sát và quản lý về kỹ thuật an toàn cũng như tiến độ các công trình
- Phòng Kế toán tài chính: Có chức năng tham mưu cho Giám đốc Công ty tổ chức
triển khai thực hiện toàn bộ công tác tài chính thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kế
Trang 34toán theo điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty Đồng thời phòng có chức năng kiểm tra,kiểm soát mọi hoạt động kinh tế tài chính của Công ty theo đúng pháp luật hoạt động cụthể của phòng vụ được nêu ở phần sau.
- Ban Quản lý dự án: Có nhiệm vụ thu nhập các thông tin về dự án đầu tư, đánh
giá và đưa ra nhận định trình Ban Giám đốc để phê duyệt
- Phòng Thị trường: Có nhiệm vụ đưa ra các phương án nâng cao hình ảnh của
công ty, các nhiệm vụ liên quan đến dịch vụ cho thuê văn phòng và nhà ở
- Đội điện nước và Xí nghiệp trực thuộc có chức năng thực hiện sự chỉ đạo của
Giám đốc Công ty và các phòng chức năng
- Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cá phòng ban được ban hành theo quyết địnhcủa giám đốc Công ty, các trưởng phó phòng là người chịu trách nhiệm trước Giám đốcCông ty về kết quả thực hiện của phòng, ban mình
Trang 35Xí nghiệp Xây dựng số 1 Xí nghiệp Quản lý Xây dựng số 2 Xí nghiệp Vật tư xe máy Xí nghiệp Cơ điệnĐội điện nước Xí nghiệp Xây dựng 201 Xí nghiệp Dịch vụ kinh doanh nhà
Phòng Tài chính kế toán Phòng Tổ chức LĐTL Phòng Công nghệ Phòng Kế hoạch tổng hợp Phòng Hành chính
Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty
2.3 Công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty:
2.3.1 Công nghệ sản xuất, kết cấu sản xuất của xây dựng:
Ban QLDA 1 QLDA 2Ban