Chương 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM TRONG KINH DOANH TIỆC TẠI KHÁCH SẠN SOFITEL LEGEND METROPOLE HANOI1.1Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài Trong những năm
Trang 1Chương 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM TRONG KINH DOANH TIỆC TẠI KHÁCH SẠN SOFITEL LEGEND METROPOLE HANOI
1.1Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây với sự phát triển của nền kinh tế thị trường tạo ranhững tăng trưởng mạnh trong nền kinh tế đất nước.Thị trường nước ta được coi làmột thị trường mới nổi với những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của chính phủViệt Nam và những ưu thế sẵn có trong nước ngày càng có nhiều doanh nghiệp nướcngoài chọn đất nước ta làm điểm đến đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch với sự gia tăngđáng kể của các tập đòan khách sạn lớn và hệ thống các khách sạn 5 sao trên địa bànthành phố Hà Nội.Một trong những khách sạn có uy tín và thương hiệu nổi tiếngkhông những ở trong nước mà còn trên thế giới phải kể đến khách sạn Sofitel LegendMetropole Hanoi Với danh tiếng của mình hàng năm khách sạn đã đón hàng triệukhách đến với khách sạn.Đa số là khách đến đây để nghỉ ngơi và khám phá những sựkhác biệt của một phong cách cổ kính và những hương vị mang phong của các món ănPháp
Tuy nhiên khách đến sử dụng các dịch vụ tại bộ phận tiệc thì chưa nhiều thểhiện qua doanh số 2 năm 2009-2010 tuy đã có tăng nhưng không cao từ 1.26 đến 1.44triệu USD tương ứng với 2.34 triệu khách đến 2.62 triệu khách.Trong khi dịch vụ nàyđang là một trong những dịch vụ rất phát triển trong những năm gần đây.Có tháng bộphận rất đông khách nhưng có những tháng bộ phận hầu như không có khách hoặc rất
ít khách các nhân viên trong bộ phận phải sang các bộ phận khác làm.Trong khi cáckhách sạn 5 sao mới như khách sạn Sheraton hay Intercontinental Westlake Hanoi sảnphẩm tiệc lại thu hút đựơc một lượng khách khá lớn khách sạn Sheraton đón 3.24 đến3.65triệu khách trong 2 năm 2009-2010 còn khách sạn Intercontinental WestlakeHanoi là 2.8 triệu khách đến 3.36 triệu khách trong 2 năm 2009-2010.Có được thànhcông đó là do họ đã có những chíng sách quảng bá cũng như phát triển sản phẩm mộtcách hợp lý.Đó cũng là thách thức đặt ra với sản phẩm tiệc tại khách sạn SofitelLegend Metropole Hanoi khi mà sản phẩm tiệc chưa có những bước đi đúng đắn đểmang lại hiệu quả xúng với danh tiếng của khách sạn và đáp ứng được những nhu cầucủa thị trường.Qua thời gian thực tập tại bộ phận tiệc của khách sạn Sofitel LegendMetropole Hanoi với mong muốn hoàn thiện chính sách sản phẩm để mang lại hiệuquả kinh doanh cho bộ phận tiệc toi quyết định lựa chọn đề tài “Hoàn thiện chính
sách sản phẩm trong kinh doanh tiệc tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi”
Trang 21.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hiệu quả trong việcthực hiện chính sách sản phẩm kinh doanh tiệc tại khách sạn Sofitel Legend MetropoleHanoi.Từ đó,đề ra các giải pháp để hoàn thiện chính sách sản phẩm trong kinh doanhtiệc tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề là đề xuất kiến các giải pháp và kiến nghịnhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm trong kinh doanh tiệc tại khách sạn SofitelLegend Metropole Hanoi
Từ đó hoàn thành được mục đích là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa bộ phận tiệ của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi
-Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiệc chính sách sản phẩm trong kinhdaonh tiệc tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi
1.4 Phạm vi nghiên cứu
-Về thời gian: : Chuyên đề đề cập và tìm hiểu thực trạng hoạt động kinh daonhcủa bộ phận tiệc trong năm 2009,2010 và đề xuất các hướng giải quyết vấn đề nàytrong những năm tiếp theo
- Về không gian: Tiến hành nghiên cứu việc thực hiện chính sách sản phẩm tại
bộ phận tiệc tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi
1.5 Một số khái niệm và phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu
1.5.1 Một số khái niệm
*Khách du lịch và nhu cầu của khách du lịch
-Theo luật doanh nghiệp năm 2005
Khách du lịch là những người rời xa nơi cư trú thường xuyên đến một nơi kháckhông phải để làm một nghề kiếm sống.Mục đích chuyến đi của khách nhằm thoả mãnnhưng yêu cầu khác :có thể là giả trí(như đi nghỉ lễ,dự thi đấu hoạc xem thi đấu thểthao,thăm viếng người than bạn bè…),có thể là để phục vụ cho nghề nghiệp(như tham
Trang 3quan thị trường,tìm đối tác ,dự hội nghị…)hoặc các hoạt động khác(như học hành,chữa bệnh,quá cảnh…)
-Nhu cầu của khách du lịch
Du lịch trở thành nhu cầu của con người khi trình độ kinh tế,xã hội và dân tríphát triển.Nhu cầu du lịch là một nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người.nhu cầu
du lịch phát sinh là kết quả tác động của lực lưọng sản xuất trong xã hội và trình độsản xuất xã hội.Trình độ sản xuất xã hội càng cao,các mối quan hệ xã hội ngày cànghoàn thiện thì nhu cầu du lịch của con người ngày càng trở lên gay gắt.Nhu cầu du lịchcủa con người một mặt phụ thuộc vào các điều kiện:thiên nhiên,chính trị,kinh tế-xã hộitrong một xã hội cụ thể,nhóm xã hội nào đó mà người ta sống,lao động và giao tiếp
*Dịch vụ
Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp
và khách hàng,cũng như nhờ các hạot động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầucủa người tiêu dùng
*Sản phẩm dịch vụ du lịch
Sản phẩm dịch vụ: là sản phẩm của việc sản xuất và cung ứng những hiệu năngích dụng của một hoạt động xác định,nó có thể tồn tại độc lập gắn liền với quá trìnhthương mại hoá sản phẩm vật chất nào đó
Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữuhình và vô hình.Sản phẩm du lịch có thể là thức ăn cũng có thể là bầu không khí nơinghỉ mát.Theo Michael M.Coltman
Sản phẩm du lịch là tổng hợp những thành tố khác nhau nhằm thoả mãn chuyến
đi của khách du lịch.Sản phẩm du lịch bao gồm các hàng hoá dưới dạng vật chất cụ thể
và những phần không cụ thể
Nhưng sản phẩm du lịch có nhiều đặc tính riêng riêng biệt so với sản phẩmthông thường khác Những đặc tính này cũng là đặc trung của dịch vụ du lịch Có thể
kể ra các đặc tính chung của sản phẩm du lịch như:
-Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ,có tính vô hình,không như sản phẩm côngnghiệp
-Sản phẩm không thể cất trữ được
-Sản phẩm du lịch thường là kinh nghiệm du lịch nên dễ bắt chước, và để đưa ramột sản phẩm mới hoàn toàn là rất khó Một điểm đến thì có cùng các nhà cung ứngnhững dịch vụ du lịch tương tự nhau, nếu chỉ cần các công ty du lịch cùng lựa chọnmột thị trường thì dịch vụ của hai công ty đó cung cấp gần như là ngang nhau
Trang 4-Khách hàng bắt buộc phải mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm đó.Thấyđược sản phẩm là phải tiêu dung sản phẩm.
-Khoảng thời gian từ khi khách hàng mua sản phẩm đến lúc tiêu dung sản phẩmlâu.Khách hàng có thể đặt tour trước hai hoặc ba tháng hoặc lâu hơn
-Sản phẩm mang tính thờ vụ, đặc biệt với những sản phẩm phụ thuộc vào thiênnhiên như leo núi hay nghỉ biển…
-Hầu hết các sản phẩm du lịch,khách sạn đều bị cạnh tranh gay gắt và có nhiềusản phẩm thay thế
-Sản phẩm du lịch được thực hiện ở xa nơi ở của khách hàng
-Nhu cầu của khách hàng dễ bị thay đổi do sự biến đổi của tình hình tàichính,kinh tế, chính trị, trào lưu văn hoá
Theo quan niệm của marketing thì sản phẩm gắn liền với nhu cầu,mong muốncủa người tiêu dung trên thị trường bao hàm cả yếu tố vật thể và vô hình,bao hàm cảyếu tố vật chất và phi vật chất.Như vậy sản phẩm `là tất cả những cái,những yếu tố cóthể thoả mãn nhu cầu hay ước muốn của khách hàng,cống hiến những lợi ích cho họ
và có khả năng đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý muasắm,sử dụng hoặc tiêu dùng
Nhìn nhận sản phẩm theo quan điểm marketing, các nhà kinh tế chia sản phẩm
ra năm mức,các mức này là mục tiêu để doanh nghiệp tìm cách đáp ứng ngày một tốthơn nhu cầu của khách hàng dành lợi thế trong cạnh tranh
+Mức thứ nhất: Lợi ích lòng cốt đây là mức cơ bản nhất,nó biểu hiện lợi ích cănbản mà khách hàng đang thực sự mong muốn mua
+Mức thứ hai: Lợi ích chủng loại là cái mang lại lợi ích long cốt lợi ích long cốt
là mục đích,còn lợi ích chủng loại là phương tiện để đạt được mục đích đấy
+Mức thứ ba: Sản phẩm trông đợi,nó biểu hiện bằng những thuộc tính màngười mua mong đợi
+Mức thứ tư: Sản phẩm phụ thêm,nó biểu hiện bằng các dịch vụ và lợi ích phụthem.sự cạnh tranh ngày nay chú trọng nhiều đến lợi ích phụ thêm này
+Mức thứ năm:sản phẩm tiềm năng,nó biểu hiện bằng dịch vụ và lợi ích phụthêm sẽ có trong tương lai.Đây là thứ mà nhà cung cấp đang tìm tòi sang tạo nhằm đápứng tốt hơn nữa nhu cầu của người tiêu dùng để tạo ra một lợi thế cạnh tranh trongtương lai
*Chính sách sản phẩm
Trang 5Chính sách sản phẩm dưới góc độ marketing thì chính sách sản phẩm là tổngthể những quy tắc chỉ huy để tung sản phẩm ra thị trường nhằm thoả mãn nhu cầu củakhách hàng ở từng thời điểm để mang lại hiệu quả kinh doanh.
Dưới góc độ doanh nghiệp chính sách sản phẩm được hiểu là những chủ trươngcủa doanh nghiệp về việc hạn chế,duy trì phát triển và đổi mới các dịch vụ nhằm đápứng nhu cầu tiêu dung, với hiệu quả cao phù hợp với các giai đoạn của chu kỳ sống vàphù hợp với khả năng của doanh nghiệp
Chính sách sản phẩm là một trong bốn chính sách marketing hỗn hợp,chịu sựảnh hưởng chi phối trực tiếp bởi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Nội dung của chính sách sản phẩm gồm:
Đưa ra sản phẩm mới: Với chính sách này cần có một đội ngũ nhân viên sángtạo cao, hiểu biết sâu rộng về văn hoá của các điểm đến, nhận thức sâu sắc được nhuccầu biến đổi của khách hàng.Việc đưa sản phẩm mới hoàn toàn là rất khó
Hoàn thiện, bổ sung cho các sản phẩm cũ:Đó là các sản phẩm đại trà mà doanhnghiệp kinh doanh những sản phẩm mà các doanh nghiệp khác cũng có.Hoàn thiện ởđây chỉ có thể tăng cường chất lượng sản phẩm,có thể khiíen các kỳ vọng của kháchhàng không chỉ đúng như họ mong muốn mà còn nhiều hơn thế nữa.Đẻ nâng cao,tăngcường chất lượng sản phẩm nghĩa là cần:
+Nâng cao tính thích nghi của sản phẩm
1.5.2 Phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu
*Danh mục sản phẩm
Kích thước danh mục sản phẩm được mô tả bằng chiều dài,chiều rộng,chiều sâu và độtương thích
Trang 6+Chiều dài: Thể hiện số loại sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ cung ứng
ra thị trường tức là phản ánh mức độ đa dạng hoá sản phẩm của bộ phận tiệc trên thịtrường(tổ chức tiệc,tổ chức hội nghị)
+Chiều rộng: Thể hiện sự phong phú về chủng loại của mỗi loại sản phẩm.Sốlượng chủng loại sản phẩm quyết định độ lớn của chiều rộng của kích thước của tậpsản phẩm(sản phẩm tổ chức tiệc:tiệc đứng,tiệc ngồi,tiệc cooktail )
+Chiều sâu: Chiều sâu là danh mục sản phẩm là số sản phẩm trung bình trongmỗi chủng loại hay mỗi dòng
+Tính thống nhất của danh mục sản phẩm:Là mức lien quan mật thiết giữa các
hệ mặt hàng về sử dụng các yêu cầu trong sản xuất,các hệ thống phân phối.Các sảnphẩm trong kinh doanh tiệc tại khách sạn đồng nhất ở mức độ chúng là hàng dịch vụ
và được phân phối qua cùng hệ thống
Bốn yếu tố đã nói đến ỏ trên là công cụ để định ra chiến lược sản phẩm của bộphận tiệc.Bộ phận có thể gia tăng kế hoạch kinh doanh ở bốn phương thức:
-Mở rộng danh mục sản phẩm bằng cách bổ xung them những xhủng loại sảnphẩm dịch vụ mới
-Tăng mức độ phong phú của chủng loại sản phẩm dịch vụ vốn có
-Đưa ra những phương án mới cho những sản phẩm dịch vụ có trong mỗi chủngloại sản phẩm
-Có thể tăng hay giảm mức độ hài hoà giữa các mặt hàng thuộc nhóm chủngloại sản phẩm khác nhau tuỳ thuộc vào doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh trên một lĩnhvực hay nhiều lĩnh vực
Khi thay đổi danh mục sản phẩm của mình,doanh nghiệp cần phải thường xuyên đánhgiá hiệu quả kinh doanh của từng loại dịch vụ để phát hiện ra những dịch vụ khôngmang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp rồi loại bỏ bớt nó,khi quyết định tăng chiều rộngcủa danh mục sản phẩm,doanh nghiệp phải chý ý đến khả năng tài chính của mình vàtrình độ đội ngũ lao động có đáp ứng được yêu cầu của sản phẩm mới hay không từ đó
có phương hướng phát triển đào tạo
*Các quyết định liên quan đến chính sách sản phẩm
+Quyết định về dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung
Khách tiêu dung các sản phẩm du lịch thường là các dịch vụ tổng thể bao gồmcác dịch vụ cơ bản và các dịch vụ bổ xung Khi quyết định về chính sách sản phẩm cácdoanh nghiệp du lịch cần có các quyết định cụ thể về các dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổsung,
Trang 7Dịch vụ cơ bản nhằm thoả mãn nhu lợi ích lòng cốt trong nhu cầu của kháchhàng.Căn cứ vào các đoạn thị trường đã chọn ,các doanh ngiệp quyết định về dịch vụ
cơ bản và những lợi ích mà dịch vụ đó mang lại các dịch vụ cơ bản có thể là dịch vụ
cơ bản chính hoặc dịch vụ cơ bản phát sinh
Quyết định về dịch vụ cơ bản: Trên cơ sở xác định thị trường mục tiêu và chiếnlược marketing của khách sạn bộ phận sẽ đưa ra các sản phẩm với dịch vụ phù hợp chotừng sản phẩm, đưa ra tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ trong từng sản phẩm tương ứngvới vị trí của khách sạn trên thị trường và tiêu chuẩn chung của tập đoàn quản lý
Các dịch vụ bổ sung là các dịch vụ được hình thành làm tăng giá trị dịch vụ cơbản, các dịch vụ bổ sung có thể nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản hay độc lập,dịch vụ bổ sung thường rất nhiều, nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp quyết địnhcác dịch vụ trọn gói cho khách hàng cùng các dịch vụ cơ bản Việc hình thành dịch vụ
bổ sung phải dựa trên dịch vụ cơ bản, có những dịch vụ bổ sung độc lập khách sạn cóthể lựa chọn cung cấp hoặc đồng với đối tác để cung cấp Dù trong trường hợp nàodoanh nghiệp cũng chịu trách nhiệm trước khách hàng về chất lượng của chúng.Cácdịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung kết hợp tạo ra dịch vụ tổng thể hay sản phẩm hỗnhợp mà khách hàng sử dụng
Quyết định dịch vụ bổ sung là quyết định về số lượng, chủng loại, chất lượngcác dịch vụ bổ sung có liên quan phải phù hợp với các dịch vụ cơ bản, với mục tiêu vàtình hình tài chính của doanh nghiệp Cùng dịch vụ cơ bản dịch vụ bổ sung tạo ra một
hệ thống hoàn chỉnh để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng mà doanh nghiệphướng tới các quyết định về sản phẩm dịch vụ cần cân nhắc tới các yếu tố như cầu củacác thị trường mục tiêu
+Quyết định đa dạng hoá sản phẩm
Đa dạng hoá sản phẩm là quá trình phát triển cải biến, sáng tạo ra nhiều loại sảnphẩm dịch vụ từ những sản phẩm dịch vụ truyền thống có sẵn,đồng thời cải biến vànhập ngoại nhiều loại sản phẩm dịch vụ cùng loại, phong phú về chủng loại từ nhữngsản phẩm dịch vụ cơ bản đến các dịch vụ bổ sung.Nói chung đa dạng hoá sản phẩm làvừa đưa ra sản phẩm mới vừa mở rộng thêm thị trường.Đây là một trong nhữngphương thức căn bản để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
Doanh nghiệp đa dạng hoá sản phẩm của mình bằng cách bổ sung các sản phẩmdịch vụ mới làm phong phú thêm danh mục sản phẩm của mình hoặc kéo dài thêmtừng chủng loại sản phẩm.Bổ sung thêm các phương ản trong từng loại sản phẩm dịch
vụ, có nghĩa là tăng chiều sâu của danh mục sản phẩm
+Quyết định các hướng tăng trưởng:
Trang 8Quyết định hướng tăng trưởng là quyết định chính sách sản phẩm về các sảnphẩm hiện tại và sản phẩm mới bao gồm phương hướng phát triển cả sản phẩm và thịtrường cho doanh nghiệp
Thâm nhập thị trưòng công ty sẽ dựa trên việc cung cấp sản phẩm hiện tại ở thịtrường hiện tại nhằm giữ khách hàng cũ mà không cần thay đổi gì cho bản thân sảnphẩm dịch vụ.Trong trường hợp này công ty du lịch có thể sử dụng một số cách như hạgiá sản phẩm dịch vụ,tăng chi phí quảng cáo…
Phát triển thị trường đề cập tới việc tìm kiếm khách hàng mới cho sản phẩmhiện tại
Phát triển sản phẩm đề cập tới việc đưa ra sản phẩm mới thay thế thị trườnghiên tại.Sản phẩm cũ có thể chào bán theo mộ cách mới,có thể nâng cao chất lượnghơn,hoặc những thay đổi về phương thức phục vụ mới.Tất cả những thay đổi nhỏ nàykhiến sản phẩm dịch vụ du lịch trở thành một sản phẩm mới.Ngoài ra có thể tung mộtsản phẩm hoàn toàn mới cho những khách hàng tiêu dùng khác nhau
*Nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới
Do những thay đổi nhanh chóng về thị hiếu,công nghệ.tình hình cạnh tranhkhiến bộ phận tiệc của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi không thể tồn tạinếu chỉ dụa vào những sản phẩm mà bộ phận đang có vì vậy muốn tồn tại và phát triểntạo dựng uy tín trên thị trường thì bộ phận phải luôn quan tâm đến chương trình pháttriển sản phẩm mới
Theo quan điểm của marketing sản phẩm mới có thể là những sản phẩm mới vềnguyên tắc,có thể là sản phẩm mới cải tiến từ những sản phẩm hiện có hoặc nhãn hiệumới do kết quả nghiên cứu,thiết kế thử nghiệm của công ty.Nhưng quan trọng nhất vẫn
là dánh giá của khách hàng và thừa nhận của khách hàng về sản phẩm đó có phải làmới hay không
Trang 9Chương 2 :PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRONG CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM KINH DOANH TIỆC TẠI KHÁCH SẠN SOFITEL LEGEND METROPOLE HANOI
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp được thu thập tìm kiếm dựa trên cơ sở các dữ liệu do chínhdoanh nghiệp tạo ra như số liệu báo cáo kết quả kinh doanh của bộ phận tiệc trong hainăm 2009,2010 Ngoài ra còn sử dụng các dữ liệu có ở bên ngoài doanh nghiệp như sốliệu qua các cơ quan thống kê,các số liệu công bố trên báo.tạp chí…
Nguồn cung cấp dữ liệu thứ cấp
+Bên trong doanh nghiệp: thông tin được cung cấp bởi các phòng ban,trangwec của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi như phòng nhân sự, phòng tàichính về sơ đồ cơ cấu tổ chức,báo cáo kết quả kinh doanh
+Bên ngoài: Thông tin được lấy từ các trang web liên quan đến sản phẩm của
bộ phận tiệc qua các trang wec của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi Error! Hyperlink reference not valid. giáo trình kinh tế,các ấn phẩm của cơ quan nhà nước,cácsách báo tạp chí liên quan
2.1.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
Phân tích các số liệu đã thu thập được qua các nguồn thu từ đó rút ra được kết luận cầnthiết cho việc nghiên cứu
Các bước phân tích dữ liệu:
-Sắp xếp dữ liệu trong một hệ thống bảng biểu thích hợp
-Tóm tắt dữ liệu,xác định các chỉ tiêu thống kê đơn giản
-Lựa chọn và áp dụng các phương pháp phân tích thống kê như phân tích tương quanphân tích sự khác biệt và các mối quan hệ phụ thuộc
2.2 Đánh giá tổng quan tình hình ảnh hưởng nhân tố môi trường đến chính sách sản phẩm trong hoạt động kinh doanh tiệc tại khách san sofitel Legend Metropole Hanoi
2.2.1 Đánh giá tổng quan về tình hình khách sạn
Giới thiệu tổng quan về khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi.
*Giới thiệu chung về Khách sạn
Trang 10Tên khách sạn: Sofitel Legend Metropole Hanoi
Địa chỉ :Số 15 Ngô Quyền Quận Hoàn Kiếm Hà Nội
và đã từng đón tiếp nhũng thủ tướng nước ngoài đến Việt Nam mới đây thôi là tổngthống nước Pháp ông Nicolas Sarkozy và Phu Nhân đã đến khách sạn ngoài ra còn córất nhiều các nhà văn hay ca sỹ nổi tiếng khác đã đến đây như vua hài ChairlieChaplin, nhà văn Graham Greene và Somer Maugham…khách sạn luôn tự hào là mộttrong những khách sạn đứng trong tốp đầu của các khách sạn sang trọng ở Việt Nam
*Quá trình hình thành và phát triển của Khách sạn trải qua các thời kỳ
Khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội được mệnh danh là Paris thu nhỏ giữalòng Hà Nội Được xây dựng từ năm 1901, khách sạn nhanh chóng trở thành chốn giaolưu của giới quí tộc Hà Thành trong suốt nửa đầu thế kỷ.Với cái tên ban đầu là KháchSạn Thống Nhất đã đi qua 2 cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, là nơi trình chiếu bộ phimđầu tiên tại Việt Nam, và là chứng nhân của những thăng trầm mà Hà Nội đã trải qua Trong nửa thế kỷ, đất nước đã có biết bao đổi thay và xáo trộn Thuở đầu được xâydựng và quản lý bởi người Pháp, khách sạn sau đó được chuyển qua cho chính quyềnViệt Nam rồi gần như bị quên lãng Rồi từ năm 1987, sau nhiều cuộc đàm phán đểphục hồi lại khách sạn.Và khách sạn được mở cửa trở lại với bộ máy quản lý mớithuộc quản lý của tập đoàn ACCOR tập đoàn hàng đầu về quản lý khách sạn.Đượcthành lập vào năm 1967 tập đoàn này nhanh chóng mở rộng phạm vi kinh doanh củamình từ một quốc gia lên đến hơn 90 quốc gia,từ một khách sạn lên đến trên 4000khách sạn và đang qủn lý 145000 nhân sự một con số khổng lồ mà tập đoàn này làmđược chỉ trên 40 năm hoạt động kinh doanh.Ngoai loại khách sạn mang tên Sorfitelkhách sạn còn có các loại khách sạn khác như :Suite Novotel hotels,Mercurehotles,Ibis hotels,All Seasons hotels,Etap hotels…Là một tập đoàn được biết đến với
sự tôn trọng những nét văn hoá truyền thống của các khác sạn ở mỗi quốc gia và mộtcái tên mới là khách sạn Mertropole đã được biết đến.Sau đó vào ngày 1/7/2009 chínhthức đổi tên thành khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi.Không thể không kể đếnnhững đầu tư về cơ sở vật chất của tập đoàn Accor để đưa khách sạn lên một tầm caomới,một khách sạn 5 sao đầu tiên ở Hà Nội trong những năm gần đây Khách sạn luônnằm trong top 500 khách sạn tốt nhất thế giới
Trang 11Phó bếp
*cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
(Nguồn :Phòng tài chính khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi)
Trưởng Phòng tài chính
Trưởng Phòng kế toán
Quản
lý phòng điện thoại,
lễ tân
Nhân viên
kỹ thuật điện
Nhân viên sửa chữa
Quản
lý bộ phận buồng
Quản
lý bộ giặt là
Bộ phận rom service
Trang 12Bộ phận tiệc với số thành viên là 10 người có một quản lý bộ phận, hai trợ lý cho quản
lý còn lại là các nhân viên tác nghiệp.Phòng họp, hội nghị, hội thảo tại Khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội đượctrang bị đầy đủ các thiết bị tiện nghi với sức chứa 180 người dành cho tiệc cocktailshoặc hội nghị.Với lợi thế sang trọng cùng với các trang bị rất tiện nghi với La veanda
và phòng Thăng Long chắc chắn sẽ làm hài lòng quý khách khi tổ chức tiệc hoặc các
sự kiện quan trọng tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội
Tình hình hoạt động kinh doanh của bộ phận tiệc tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi trong 2 năm 2009-2010
Bảng2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009-2010
Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2009 Năm 2010
+doanh thu tiệc
4.năng suất lao
động bình quân Triệu USD/Người 0,017 0,0177 0.0007 104.1 (Nguồn:phòng tài chính- kế toán khách sạn Sofitel Legend Metropole)Nhận xét:
Qua bảng hoạt động kinh doanh của bộ phận tiệc năm 2009,2010 ta có thể thấy đượccác kết quả mà bộ phận đã đạt được như sau:
Doanh thu từ tiệc bên ngoài khách sạn năm 2010 tăng 0.14 triệu USD so với năm 2009trong khi đó doanh thu từ hoạt động tiệc tổ chức ở trong khách sạn có tăng nhưngkhông cao chỉ với 0.04 triệu USD
Trang 13Tổng doanh thu năm 2010 tăng 0.18 triệu USD so với năm 2009 tương ứng tăng14.28% một con số không cao
Tổng chi phí chiếm trên 50% tổng chi phí cụ thể là 1.26 triệu USD với 0.75 triệu USDtrong năm 2009 và con số này trong 2010 còn xích lại gần hơn 1.44 triệu USD với0.82 triệu USD
Năng suất lao động có tăng nhưng không cao sự chênh lệch là không cao 0.0007 triệuUSD tương ứng với 4.1%
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách sản phẩm của bộ phận tiệc tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi
*Vĩ mô:
+Môi trường kinh tế:
Kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch.Sựsuy thoái của kinh tế thế giới và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế trong nước đã cónhững tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh du lịch Trong các yếu tố kinh tếthì yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến du lịch đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế,chỉ số giátiêu dung,tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát.Kéo theo đó là thu nhập và sức mua của dâncư.Gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh tiệc tại khách sạn khi khách quốc tế
họ không thể bỏ ra quá nhiều tiền để sử dụng nhiều dịch vụ tại khách sạn.Còn cácdoanh nghiệp trong nước cũng hạn chế những bữa tiệc chiêu đãi hơn nhằm đối phó vớitình hình trên
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển lên không tránh khỏi những vấn
đề về lạm phát,hay hiện nay là sự mất giá của đồng tiền trong nước nó khiến cho cácdoanh nghiệp,các cá nhân thắt chặt chi tiêu, nhu cầu sử dụng sản phẩm du lịch cũnggiảm với khách cả khách nội địa,khách quốc tế dưới sụ suy thoái của nền kinh tế toàncầu.Đây là nhân tố khó khăn cần phải có những biện pháp để có thể thu hút đượckhách đến với dịch vụ du lịch.Với bộ phận tiệc đã không ngừng có những chính sáchnhằm giảm giá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh để thu hút kháchnhưng lượng khách đến sử dụng dịch vụ tại bộ phận là chưa cao
+Môi trường công nghệ:.Việt Nam là một nước đang phát triển nên khoa học kỹ thuậtcủa nước ta vẫn còn yếu so với khu vực.Khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi đã
sử dụng websit; Sofitel Legend Metropole.com để quảng bá,tiếp thị sản phẩm du lịchcủa khách sạn cũng như các dịch vụ tại khách sạn.Thông qua website này khách hàng
có thể đặt các dịch vị tiệc hoặc các dịch vụ khác trong khách sạn và chất lượng dịch vụđược cam kết là sẽ luôn luôn đảm bảo chất lượng dịch vụ.Webside ban đầu khá sơ sàinhưng khi tập đàon ACCOR quản lý trang wec của khách sạn đã được sửa lại và mangphong cách và tiêu chuẩn của ACCOR
+Văn hoá
Bản sắc văn hoá tạo ra sự khác biệt giữa các vùng miền,các quốc gia.Bản sắcvăn hoá của Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững tinh hoa dân tộc được vun đắpqua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước,tạo thành những truyền thống