Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tại thành phố Hà Nội
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Mặc dù pháp luật về quyền khiếu nại đã được chỉnh sửa nhiều lần nhưngthực tiễn cho thấy công tác giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước vẫn cònbộc lộ nhiều khó khăn, bất cập Số lượng đơn thư khiếu nại của công dân vềquyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước ở tất cả cáccấp chính quyền, trên hầu hết lĩnh vực quản lý nhà nước ngày càng gia tăng, tínhchất các vụ việc khiếu nại ngày càng phức tạp hơn
Thực tế cho thấy, khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai đã và đang
là một hiện tượng phổ biến, nhức nhối trong xã hội.Đặc biệt khi nước ta chuyểnđổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằngviệc chia lại đất cho nhân dân, cùng với quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa đấtnước với nhiều dự án phát triển kinh tế xã hội liên quan trực tiếp đến nguồn tàinguyên đất của nước ta thì đơn thư khiếu nại ngày càng nhiều Do nhiều nguyênnhân mà tình trạng khiếu nại đất đai những năm qua đã gây nhiều bức xúc trong
dư luận, có xu hướng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung Khiếu nại vềđất đai tập trung chủ yếu là các khiếu nại về bồi thường, tái định cư; khiếu nại
về cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; khiếu nại về quyết định xử
lý vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai; khiếu nạiviệc giải quyết tranh chấp về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 2Quyền khiếu nại quan trọng nhưng không phải lúc nào cũng được thựchiện đúng Văn bản pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, văn bản phápluật về đất đai của nhà nước ta còn nhiều bất cập, thiếu tính thống nhất Khiếunại đất đai diễn ra thường là giữa người dân và cấp chính quyền Trên thực tế,người cầm quyền luôn có khuynh hướng giải quyết mang tính chất có lợi nhấtcho phía cầm quyền, do đó dẫn đến thực trạng làm cho xong Ngược lại, ngườidân do thiếu hiểu biết về pháp luật nên không sử dụng đúng quyền khiếu nại củamình trong phạm vi pháp luật cho phép Đơn thư khiếu nại chuyển lòng vòng,gây mất thời gian cho người khiếu nại cũng như cơ quan, đơn vị thụ lý Thựctrạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân quan trọng cóthể kể đến là việc phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính về đấtđai hiện nay còn nhiều mâu thuẫn.
Thành phố Hà Nội kể từ năm 2008 đã được mở rộng thêm địa giới hànhchính bao gồm các quận huyện cũ, toàn bộ tỉnh Hà Tây, một huyện của tỉnh HòaBình và một huyện của tỉnh Vĩnh Phúc Các địa phương mới được sát nhập cótốc độ đô thị hóa cao với nhiều dự án đang được triển khai để phát triển kinh tế -
xã hội Vì vậy, cũng giống như nhiều đô thị khác ở nước ta, khiếu nại hànhchính trong lĩnh vực đất đai ở Hà Nội rất phức tạp, bộc lộ không ít những vướngmắc, bất cập cần được nghiên cứu, tháo gỡ
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả muốn đi sâu nghiên cứu vấn
đề phân định thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyếtkhiếu nại hành chính về đất đai Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, phântích những hạn chế, tồn tại của thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại hànhchính trong lĩnh vực đất đai tại thành phố Hà Nội để đưa ra những giải pháp phù
hợp, tôi đã chọn đề tài: “Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tại thành phố Hà Nội” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
Trang 3II.Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai là vấn đề đã đượcnhiều công trình nghiên cứu đề cập đến ở góc độ lý luận và thực tiễn Trong đóphải kể đến: Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Khoa Hànhchính nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2008; Tài liệu về thẩm quyềngiải quyết khiếu nại hành chính của GS.TS Phạm Hồng Thái – Khoa Luật –
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sỹ luật học: “ Thẩm quyền giải
quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước” của thạc sỹ Nguyễn
Thị Minh Hà, Đại học Luật Hà Nội năm 2002; Luận văn thạc sỹ luật học “Giải
quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Hải Dương hiện nay” của thạc sỹ Nguyễn Hoài Thoa, Trường Đại học Luật năm
2007; Báo cáo hội nghị tổng kết các tác thanh tra các năm 2007, 2008, 2009 cónội dung thống kê số liệu, tình hình khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong các
năm; Tài liệu về “Cơ chế giải quyết khiếu nại – Thực trạng và giải pháp” do
TS Hoàng Ngọc Giao chủ biên của Viện nghiên cứu chính sách pháp luật và
phát triển; Tài liệu “Tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động giải quyết
khiếu nại, tố cáo” có nội dung nói đến những giải pháp đối với công tác giải
quyết khiếu nại; “Văn hóa ứng xử của người cán bộ thanh tra trong giải quyết
khiếu nại, tố cáo” đăng trên trang mạng thanhtravietnam.vn; “Vì sao khiếu nại
về đất đai tăng mạnh” đăng trên trang mạng của Viện khoa học thanh tra
www.giri.ac.vn; “Giải quyết khiếu nại về đất đai theo Nghị định số
84/2007/NĐ-CP” của tác giả Cam Quang Vinh trên tạp chí Thanh tra số 8; “Sự xung đột giữa Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật đất đai trong quy định về giải quyết khiếu nại đất đai” của tác giả Trần Văn Dương đăng trên Tạp chí thanh
tra; “Vướng mắc về pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp, khiếu nại về
đất đai” đăng trên trang mạng nghiên cứu lập pháp www.nclp.org.vn ; “Đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính hiện nay ở Việt Nam”
đăng trên trang mạng của Viện khoa học thanh tra www.giri.ac.vn
Ở một chừng mực nhất định, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cậpđến thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước
Trang 4Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu này hoặc chỉ tập trung nêu vàdiễn giải các quy định của pháp luật hiện hành hoặc chỉ nêu một số mâu thuẫn
về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai theo quy định của pháp luật hiệnhành giữa luật khiếu nại với các luật chuyên ngành; hoặc khái quát thực trạng,nguyên nhân mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về thẩmquyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước Hơn nữa,cũng chưa có công trình nghiên cứu về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai ởmột địa phương nhất định, trên một địa bàn cụ thể để làm sáng tỏ vấn đề lý luậnthực tiễn có liên quan Vì vậy, việc nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về thẩmquyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước, cũng nhưphân tích rõ thực tiễn giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhànước ở thành phố Hà Nội là cần thiết
III Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện chế định pháp luật về phânđịnh thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhànước về đất đai nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại đất đai,tăng cường pháp chế XHCN, đảm bảo cho công dân thực hiện tốt quyền khiếukiện hành chính của mình
Xuất phát từ mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết các khiếu nạiđất đai của cơ quan hành chính nhà nước
- Nghiên cứu thực tiễn việc áp dụng pháp luật về thẩm quyền giải quyết cáckhiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước tại Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước nhằm nâng cao hiệu quảcông tác giải quyết khiếu nại đất đai hiện nay
IV Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn tốt nghiệp cao học luật, luận văn đi sâunghiên cứu vấn đề phân định thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nướctrong việc giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai Trên cơ sở nghiên cứu các
Trang 5vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, về khiếu nại hành chính,pháp luật hiện hành về thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính trong quản
lý nhà nước về đất đai, thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại hành chính tronglĩnh vực đất đai tại thành phố Hà Nội để đưa ra những giải pháp phù hợp
V Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, Luận văn còn nghiên cứu dựa trên cơ sở các quanđiểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và nhà nước trong việc pháthuy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tưpháp, nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại hành chính đặc biệt làđối với các khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai
Luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp kếthợp lôgic với lịch sử: Phương pháp lịch sử giúp thu thập các thông tin về thẩmquyền giải quyết khiếu nại đất đai; tiếp theo sắp xếp các thông tin đó theo mộttrật tự nhất định từ đó làm bộc lộ logic tất yếu trong tiến trình phát triển của vấn
đề này
Ngoài ra, các phương pháp: phân tích - tổng hợp, thống kê và so sánh,phương pháp tổng kết thực tiễn địa phương cũng được sử dụng trong quá trìnhnghiên cứu và hoàn thiện luận văn
VI Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đếnthẩm quyền giải quyết các khiếu nại đất đai và thực trạng của việc áp dụng cácquy định đó tại thành phố Hà Nội, Đề tài có những đóng góp nhất định về lýluận và thực tiễn, đưa ra một số giải pháp thiết thực, góp phần hoàn thiện vànâng cao hơn nữa hoạt động giải quyết khiếu nại đất đai hiện nay Kết quảnghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu và thựctiễn công tác giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai của các cơquan hành chính nhà nước
VII Kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Trang 6Kết quả nghiên cứu của Luận văn là một sự bổ sung đáng chú ý về việcphân định thẩm quyền giải quyết các khiếu nại đất đai của cơ quan hành chínhnhà nước và các biện pháp nhằm phát huy tính dân chủ, tăng cường pháp chế xãhội chủ nghĩa thông qua việc đảm bảo thực hiện quyền khiếu nại của công dântrong lĩnh vực đất đai dựa trên việc nghiên cứu thực trạng của công tác này trênđịa bàn thành phố Hà Nội.
Những đề xuất trong Luận văn có thể được xem xét, lưu ý trong quá trìnhsửa đổi bổ sung Luật Khiếu nại, tố cáo và một số văn bản luật chuyên ngành cóliên quan để quyền khiếu nại của công dân thực sự phát huy giá trị của nó trênthực tế
VIII Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có ba chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của
cơ quan hành chính nhà nước
- Chương II: Pháp luật hiện hành về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất
đai của cơ quan hành chính nhà nước và thực tiễn thực hiện tại thành phố HàNội
- Chương III: Giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện thẩm quyền giải quyết
khiếu nại hành chính về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước
Trang 7Ngày nay, khiếu nại là thuật ngữ thường được sử dụng trong các văn bảnpháp lý, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong cuộc sống Theo Từđiển Tiếng Việt thì khiếu nại “là đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét một việclàm mà mình không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lý”[25,tr501] Theo
từ điển Tiếng Việt thông dụng thì khiếu nại là “thắc mắc về những kết luận,quyết định do cơ quan có thẩm quyền đã làm”.[13,tr512] Theo cuốn “Thuật ngữpháp lý phổ thông” thì khiếu nại là việc yêu cầu cơ quan nhà nước, trước tiên là
tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc phạm quyền hoặc lợi íchhợp pháp của bản thân người khiếu nại hay người khác Theo Từ điển luật học
“Khiếu nại hành chính là yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xemxét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộcông chức khi cho rằng các quyết định hay hành vi đó xâm phạm đến quyền, lợiích hợp pháp của mình” [26, tr422]
Theo Hồ Chủ tịch “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, hoặc vì chưa hiểu
rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại” và “Muốn chống bệnh quan
Trang 8liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành
có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, làkhéo kiểm soát”.[31]
Như vậy, kiểm soát là một biện pháp có thể nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa cơ quan hành chính nhà nước Kiểm soát có hai cách: một cách là từ trênxuống Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ củamình Một cách nữa là từ dưới lên Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sailầm và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó Có thể xem khiếu nại hành chính
về đất đai là cách kiểm soát thứ hai theo quan điểm trên
Pháp luật hiện hành đã đưa ra định nghĩa quát về khiếu nại: “Khiếu nại là
việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
Các định nghĩa trên cho thấy quyền khiếu nại hành chính phát sinh khiquyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết địnhhành chính, hành vi hành chính Công dân thực hiện quyền khiếu nại của mìnhbằng cách gửi đơn hoặc trực tiếp đến các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hay
tổ chức kinh tế hay người đứng đầu các cơ quan, tổ chức đó trình bày ý kiến,nguyện vọng và những đề nghị cụ thể của mình Trong mỗi khiếu nại không chỉchứa đựng thông tin về sự vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơquan, tổ chức và yêu cầu khôi phục chúng mà còn bao hàm sự phê phán các cơquan, tổ chức, đơn vị, những người có chức vụ và những người khác mà hànhđộng hoặc không hành động của họ, theo quan điểm của người khiếu nại, dẫnđến vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại
Dựa trên việc xem xét khách quan và thận trọng nội dung vụ việc với đầy
đủ tài liệu có liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại phải đưa ra kết luận tính hợp pháp và hợp lý của các quyết định hànhchính, hành vi hành chính bị khiếu nại
Trang 9Như vậy một hoạt động khiếu nại bao giờ cũng bắt đầu bằng việc thựchiện quyền khiếu nại của chủ thể và sau đó, kết thúc bởi sự kết luận, giải quyếtkhiếu nại của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền Khiếu nại là hình thức phản ứngtích của cực của công dân, cơ quan, tổ chức với những hiện tượng vi phạm cácquyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ Mặt khác, khiếu nại là biện pháp ngănchặn và loại trừ vi phạm từ hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan, cánhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước.
Đảng và nhà nước ta bằng đường lối và chính sách cụ thể đã và đang cốgắng xây dựng, củng cố và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Thông qua
đó, không ngừng tạo khả năng và điều kiện để quần chúng nhân dân tham giavào hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội Nền dân chủ xã hội chủ nghĩacủa chúng ta được thực hiện dưới hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đạidiện Thực hiện quyền khiếu nại của công dân chính là một trong những biểuhiện cụ thể của dân chủ trực tiếp Bằng việc thực hiện quyền khiếu nại của mình,công dân đã trực tiếp giám sát, tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước,tham gia trực tiếp và thiết thực vào công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội.Mặt khác, việc pháp luật tạo mọi điều kiện thuận lợi để công dân thực hiệnquyền khiếu nại của mình là hướng dư luận xã hội vào mục đích vì sự công bằngcủa xã hội
Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại nhằmđảm bảo cho mọi quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất và giữanhững người sử dụng đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách,pháp luật đất đai Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể thế nào là khiếunại hành chính về đất đai Tuy nhiên có thể hiểu khái niệm khiếu nại hànhchính về đất đai như sau:
Khiếu nại hành chính về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức đề
nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại những quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng những quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Trang 101.1.2 Đặc điểm của khiếu nại hành chính về đất đai
Khiếu nại đất đai là một loại khiếu nại hành chính nên nó mang đầy đủđặc điểm của khiếu nại hành chính nói chung đồng thời cũng có những điểmriêng, đặc thù của nó
Xét về chủ thể khiếu nại hành chính về đất đai:
Chủ thể khiếu nại có thể là công dân, tổ chức, cán bộ công chức có quyềnlợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cấp cóthẩm quyền Có nghĩa là chủ thể của hành vi khiếu nại phải là người bị tác độngtrực tiếp bởi chính đối tượng của hành vi đó hoặc là người được những ngườinày uỷ quyền theo quy định của pháp luật Những người không trực tiếp bị viphạm về lợi ích và quyền hợp pháp của mình thì không được trực tiếp khiếu nại
mà chỉ có thể tư vấn, góp ý hoặc sử dụng các hình thức tác động khác để chínhngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện hành vi khiếu nại Chính vì đặcđiểm này của chủ thể khiếu nại mà pháp luật quy định nghĩa vụ của họ một cáchchặt chẽ: người khiếu nại có nghĩa vụ khiếu nại đến đúng người có thẩm quyềngiải quyết, trong trường hợp những người khiếu nại đến khiếu nại hoặc gửi đơnkhiếu nại qua đường bưu điện đến những cơ quan không có thẩm quyền giảiquyết thì các cơ quan, tổ chức này chỉ có trách nhiệm thông báo và chỉ dẫn bằngvăn bản mà không có trách nhiệm chuyển đơn
Chủ thể khiếu nại có thể là công dân, có thể là cơ quan, tổ chức, có thể làcán bộ, công chức chứ không chỉ là công dân như trước đây chúng ta vẫn quanniệm Bên cạnh đó, các công dân, tổ chức nước ngoài cũng được hưởng quyềnkhiếu nại Tuy nhiên, công dân Việt nam vẫn là chủ thể sử dụng quyền khiếu nạithường xuyên và tích cực nhất
Công dân thực hiện quyền khiếu nại phải là người có năng lực hành viđầy đủ Công dân là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì thôngqua người đại diện theo pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại; khi thực hiện
Trang 11việc khiếu nại, người đại diện phải có giấy tờ để chứng minh với cơ quan nhànước có thẩm quyền về việc đại diện hợp pháp của mình.
Người ốm đau, già yếu, người có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý dokhách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì có thể ủy quyền cho ngườiđại diện là cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc ngườikhác để thực hiện việc khiếu nại; việc ủy quyền khiếu nại phải lập thành văn bản
có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã nơi người ủy quyền hoặc nơi ngườiđược ủy quyền cư trú
Cơ quan thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đại diện là thủ trưởng
Trong quan hệ pháp luật đất đai, người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộkhi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình đượcquyền khiếu nại về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp củamình Đồng thời, người sử dụng đất được quyền tự mình khiếu nại hoặc thôngqua người đại diện hợp pháp để khiếu nại
Xét về đối tượng của khiếu nại hành chính về đất đai:
Đối tượng của khiếu nại hành chính về đất đai là quyết định hành chính,hành vi hành chính về đất đai của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bịngười khiếu nại cho là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp phápcủa chủ thể khiếu nại Song như đã phân tích ở phần chủ thể, những quyết địnhhành chính, hành vi hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền dù có biểu hiện trái pháp luật và có thể xâm hại
Trang 12đến quyền và lợi ích của một hoặc một số người nhưng không ảnh hưởng trựctiếp hoặc gián tiếp đến chủ thể khiếu nại thì cũng không trở thành đối tượng cuảhành vi khiếu nại xét trong mối quan hệ với chủ thể khiếu nại đang đề cập tới
Quyết định hành chính bị khiếu nại trong quản lý đất đai bao gồm: quyếtđịnh giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mụcđích sử dụng đất; quyết định bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư; quyếtđịnh cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạnthời hạn sử dụng đất…
Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi củacán bộ công chức nhà nước khi thực hiện công việc liên quan đến các hoạtđộng quản lý nhà nước về đất đai
1.2 Thẩm quyền, cơ sở xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước.
1.2.1 Khái niệm thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước
Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, được tạo thành bởi các cơquan nhà nước Nhà nước thành lập các cơ quan nhà nước để thực hiện nhữngchức năng, nhiệm vụ của mình, vì vậy nhà nước trao cho các cơ quan nhà nướcnhững thẩm quyền nhất định Là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước,
cơ quan hành chính nhà nước được trao thẩm quyền thực hiện chức năng quản lýnhà nước trong đó có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Trong sách báo khoa học có nhiều quan niệm khác nhau về thẩm quyền
“Thẩm quyền là tổng thể những quyền, nghĩa vụ mang tính quyền lực – pháp lý
do pháp luật quy định” [32,tr890] Cơ quan nhà nước có quyền và nghĩa vụ xemxét, giải quyết một vụ việc, một vấn đề nào đó theo quy định của pháp luật Nhưvậy, thẩm quyền của cơ quan nhà nước bao gồm yếu tố quyền và yếu tố nghĩa
vụ Trong thẩm quyền thì yếu tố quyền quyết định tính chất quyền lực của cơquan nhà nước, nghĩa là cơ quan nhà nước có quyền ra mệnh lệnh, chỉ thị buộcđối tượng có liên quan phải thực hiện Khi thực hiện các quyền, cơ quan nhànước nhân danh nhà nước, đại diện cho quyền lực nhà nước Cơ quan nhà nước
Trang 13có quyền, đồng thời có nghĩa vụ phải xem xét, giải quyết vụ việc nhất định hoặcmột vấn đề nào đó Vậy, có thể hiểu thẩm quyền là tổng thể những quyền, nghĩa
vụ mang tính quyền lực – pháp lý do pháp luật quy định
Trong thẩm quyền của cơ quan nhà nước thì quyền phán quyết bằng việc
ra các quyết định pháp luật là yếu tố quan trọng nhất Trên cơ sở Hiến pháp,Luật, Quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên, các cơ quan nhà nước ra nhữngquyết định pháp luật buộc đối tượng phải tuân thủ Ngoài ra, mỗi cơ quan nhànước có hình thức, phương pháp hoạt động riêng theo quy định của pháp luật, vìthế có thể áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhất định Quyền áp dụng nhữnghình thức và phường pháp hoạt động của cơ quan nhà nước cũng là những yếu
tố quan trọng thuộc thẩm quyền của cơ quan đó Yếu tố nghĩa vụ trong thẩmquyền được hiểu như là trách nhiệm, bổn phận của cơ quan nhà nước trong việcthực hiện quyền hạn của mình và không được vượt qua khuôn khổ quyền hạn dopháp luật quy định Yếu tố nghĩa vụ trong thẩm quyền là một phương tiện đểthực hiện yếu tố quyền tốt hơn, tránh hiện tượng lạm dụng quyền lực, hiệntượng không sử dụng hết quyền của mình gây khó khăn trong việc thực hiệnnhiệm vụ, hoặc không hoàn thành nhiệm vụ chức năng của cơ quan nhà nước
Như vậy, có thể thấy rằng yếu tố quyền và nghĩa vụ trong thẩm quyền cómối quan hệ khăng khít và bổ sung cho nhau, tạo thành một tổng thể thống nhấttrong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước Các cơquan nhà nước chỉ hành động trong khuôn khổ thẩm quyền của mình
Thuật ngữ “thẩm quyền hành chính nhà nước” là khái niệm được dùng để
chỉ thẩm quyền của hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước Thẩmquyền của cơ quan hành chính nhà nước có giới hạn về không gian, về thời gianđối với đối tượng nhất định Giới hạn về không gian là xem xét thẩm quyền theokhía cạnh quyền lực nhà nước trao cho cơ quan hành chính được áp dụng trênlãnh thổ, vùng miền nhất định theo địa giới hành chính Giới hạn về thời giancủa thẩm quyền được xác định bởi thời điểm bắt đầu và kết thúc hiệu lực theoquyết định Thẩm quyền về thời gian hay không gian đều luôn được xác định
Trang 14với những đối tượng cụ thể, với những vấn đề cụ thể, nếu không gắn liền với đốitượng cụ thể, vấn đề cụ thể thẩm quyền sẽ trở thành hình thức.
Thẩm quyền hành chính nhà nước được xác định theo từng cấp bậc hànhchính: thẩm quyền hành chính cao nhất thuộc về Chính phủ; thẩm quyền trungtâm của ngành, lĩnh vực thuộc về bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ; thẩm quyền hành chính được phân cấp xuống địa phương và được xác địnhthuộc về các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Hiến pháp và các văn bản luật về tổ chức bộ máy nhà nước hầu nhưkhông sử dụng thuật ngữ thẩm quyền, mà phổ biến là thuật ngữ nhiệm vụ vàquyền hạn Thuật ngữ thẩm quyền thường được sử dụng trong các văn bản cótính chất chuyên ngành ví dụ trong Luật khiếu nại, tố cáo tại mục 2 quy định vềthẩm quyền giải quyết khiếu nại, trong Luật Đất đai Điều 136 quy định thẩmquyền giải quyết tranh chấp đất đai … Thông thường thuật ngữ thẩm quyềnđược sử dụng khi cần để xác định những vấn đề, vụ việc thuộc quyền quyếtđịnh, giải quyết của một chủ thể nhất định
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước là việcxem xét, xác minh, kết luận và ra quyết định theo trình tự và thủ tục do luật địnhcác khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quanhành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhànước
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước
là một bộ phận của thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính nói chung Cácthẩm quyền này được thực hiện khi cơ quan, tổ chức, công dân sử dụng đất thấylợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi các quyết định hành chính hoặc hành
vi hành chính trong quản lý đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đãkhiếu nại
Khiếu nại trong quản lý đất đai phản ánh những mâu thuẫn bất bình trongcác mối quan hệ xã hội giữa cơ quan nhà nước với công dân, tổ chức sử dụngđất Việc giải quyết khiếu nại nhằm đảm bảo cho mọi quan hệ giữa Nhà
Trang 15nước với người sử dụng đất và giữa những người sử dụng đất với nhau đượcthực hiện theo đúng chính sách, pháp luật đất đai.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nói chung vàthẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nói riêng là mộtchế định cơ bản của Luật khiếu nại, tố cáo và Luật đất đai Việc phân định thẩmquyền giải quyết khiếu nại đất đai của các cơ quan nhà nước bao giờ cũng đượcghi nhận trong các văn bản pháp luật
Tóm lại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính
nhà nước là nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước nhân danh nhà nước tiến hành xem xét, đánh giá, tính hợp pháp, hợp lý của các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất(công dân, cơ quan, tổ chức).
1.2.2 Phân biệt thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai với thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai
Tranh chấp đất đai là hiện tượng thường xảy ra trong đời sống xã hội ởmọi thời kỳ lịch sử Trong một xã hội tồn tại sự đối kháng giữa các giai cấp thìđất đai luôn là đối tượng tranh chấp giữa chúa đất và nông nô, giữa địa chủ vànông dân, giữa đông đảo quần chúng nhân dân không có đất và bọn địa chủ lớn
Đó là tranh chấp giữa những kẻ áp bức và những người bị áp bức Những tranhchấp này biểu hiện mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp, khi xung đột khôngthể điều hoà được thì tất yếu phải giải quyết bằng các cuộc cách mạng xã hội đểthay thế chế độ sở hữu đất đai này bằng chế độ sở hữu đất đai khác tiến bộ hơn
Trong chế độ của chúng ta hiện nay, Nhà nước là người đại diện cho toànthể nhân dân lao động thực hiện quyền sở hữu đối với đất đai Vì thế, tranh chấpđất đai trong thời kỳ này mang nội dung kinh tế cũng như ý nghĩa chính trị khácvới tranh chấp đất đai trong xã hội có giai cấp đối kháng
Tuy nhiên, các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai không phảilúc nào cũng nhất trí với nhau về tất cả các vấn đề trong quan hệ pháp luật, vìthế sẽ xuất hiện những ý kiến khác nhau, những mâu thuẫn, những bất đồng nhất
Trang 16định Hiện tượng đó được thể hiện trên thực tế bằng những hành động cụ thể củacác bên nhằm khẳng định quyền, lợi ích, ưu thế thuộc về mình, đó chính là tranhchấp.
Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích,
về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai, cần được nhà nước giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tranh chấp đất đai cũng thể hiện dấu ấn mạnh mẽ trong các thời kỳ lịch
sử khác nhau của các quan hệ pháp luật đất đai Chẳng hạn, trước những năm
1980, khi Nhà nước còn duy trì ba hình thức sở hữu đất đai là: sở hữu nhà nước,
sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân thì có thể có tranh chấp về quyền sở hữu, vềquyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai Hiến pháp năm
1980 được ban hành, Nhà nước trở thành người đại diện cho toàn dân thực hiệnquyền sở hữu đất đai, vì thế không thể có tranh chấp về quyền sở hữu Đốitượng của mọi tranh chấp đất đai thời kỳ này chỉ có thể là quyền quản lý vàquyền sử dụng những diện tích đất đai nhất định Bước sang nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cùng vớinhững quan hệ kinh tế xã hội khác các quan hệ đất đai cũng phát triển hết sức đadạng, phức tạp, đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế điều chỉnh phù hợp Nhiều quan
hệ trước kia bị nghiêm cầm náy được pháp luật cho phép thực hiện Các giaodịch dân sự về đất đai được xác lập như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn liên doanh bằng giá trị sử dụng đất …cũng từ đó mà đối tượng của tranh chấp đất đai đã có sự thay đổi, không chỉ làquyền quản lý, quyền sử dụng đất đai mà còn tranh chấp trong quá trình xác lập
và thực hiện các giao dịch về đất đai (Gtrình luật đất đai – T 454 – T456)
Kế thừa những quy định của Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm
2003 đã thể hiện xu thế tất yếu về việc giao trách nhiệm cho toà án giải quyếthầu hết các tranh chấp đất đai khi Nhà nước đã hoàn thành vấn đề cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất cho mọi đối tượng và thu hẹp thẩm quyền giảiquyết tranh chấp của uỷ ban nhân dân Hệ thống cơ quan này chỉ giải quyếtnhững tranh chấp mà người sử dụng đất không có giấy tờ theo quy định của
Trang 17pháp luật Việc giải quyết chỉ dừng lại ở hai cấp và cấp thứ hai là cấp giải quyếtcuối cùng.
Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng vànhững lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng của một loại tài sản đặc biệt (mộtdiện tích đất) không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp Khác với đốitượng của khiếu nại đất đai là những quyết định hành chính, hành vi hành chính
về quản lý đất đai Quyết định hành chính bị khiếu nại trong quản lý đất đai baogồm: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phépchuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, giải phóng mặt bằng, táiđịnh cư; quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyếtđịnh gia hạn thời hạn sử dụng đất Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bịkhiếu nại là hành vi của cán bộ công chức nhà nước khi thực hiện công việc liênquan đến hoạt động nói trên
Chủ thể tranh chấp đất đai là chủ thể quản lý và sử dụng đất đai không cóquyền sở hữu với đất đai Các chủ thể có liên quan trong tranh chấp đất đai rất
đa dạng, có địa vị pháp lý khác nhau hoặc cùng bình đẳng trong quá trình giảiquyết vụ việc: Tranh chấp xảy ra giữa chủ thể là cá nhân với cá nhân, cá nhânvới tổ chức hoặc tổ chức với tổ chức Còn chủ thể của khiếu nại về đất đai làmột bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm với một bên là đại diện công quyền (cơquan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chínhnhà nước)
Khi giải quyết tranh chấp đất đai, cơ quan có thẩm quyền thụ lý hồ sơ vàban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai tức là giải quyết việc tranhchấp giữa nguyên đơn và bị đơn và yêu cầu họ thực hiện quyết định giải quyếtcủa mình Giải quyết khiếu nại về đất đai là phản ánh mối quan hệ giữa cơ quannhà nước có thẩm quyền trong quản lý đất đai với người sử dụng đất Trongquan hệ này, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét nội dụng quyết định hành chính,hành vi hành chính bị khiếu nại, từ đó đi đến công nhận hay không công nhận,công nhận một phần hoặc toàn bộ nội dung của quyết định hành chính, hành vihành chính đó và ban hành quyết định giải quyết khiếu nại phù hợp pháp luật
Trang 181.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước
1.3.1 Tổ chức của bộ máy thực hiện thẩm quyền giải quyết khiếu nại
về đất đai
Đất đai là vấn đề phức tạp, đã và đang phát sinh nhiều khiếu nại, nhưng tổchức và cơ chế giải quyết khiếu nại là một trong những nhân tố ảnh hưởng đếnhiệu quả giải quyết khiếu nại Giải quyết một vụ khiếu nại đòi hỏi phải có cácbước điều tra, nghiên cứu, kết luận và thi hành kết luận, do đó cần có một độingũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ chuyên sâu và làm việcchuyên trách
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai thuộc Chủ tịch Ủy ban nhândân huyện, tỉnh và các cơ quan chuyên môn tham mưu giúp việc Việc thammưu giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các nghịđịnh hướng dẫn thi hành thì việc tham mưu giải quyết khiếu nại về đất đai thuộctrách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai các cấp: Bộ Tài nguyên vàMôi trường đối với Trung ương và Sở tài nguyên môi trường đối với cấp tỉnh, ởcấp huyện là phòng Tài nguyên và Môi trường Pháp luật khiếu nại hiện hànhquy định căn cứ vào nội dung, tính chất vụ việc khiếu nại Chủ tịch Ủy ban nhândân cấp huyện (tỉnh) giao cho Chánh Thanh tra hoặc thủ trưởng cơ quan chuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân cấp mình tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghịgiải quyết vụ việc Như vậy, có hai lực lượng trực tiếp giúp cấp có thẩm quyềngiải quyết khiếu nại về đất đai là cơ quan quản lý nhà nước về đất đai các cấp và
cơ quan thanh tra các cấp Quy định này dẫn đến việc phân công nhiệm vụ thammưu giải quyết khiếu nại chưa được rành mạch, rõ ràng giữa các lực lượng:
Ở Trung ương: Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan giúp Chính phủquản lý đất đai trên phạm vi toàn quốc, Bộ Tài chính quản lý về giá, Bộ xâydựng quản lý về nhà ở …
Ở địa phương:Tại các tỉnh, việc phân công thực hiện nhiệm vụ tham mưucho Uỷ ban nhân dân trong việc giải quyết các khiếu nại về đất đai có nơi giaocho Thanh tra chủ trì, có nơi giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì; ở
Trang 19cấp huyện có nơi giao cho Thanh tra huyện, có nơi giao cho Phòng Tài nguyên
và Môi trường, thậm chí có nơi vừa giao cho Thanh tra vừa giao cho cơ quanTài nguyên và Môi trường
Tình trạng nêu trên đã tăng thêm khó khăn trong việc giải quyết khiếu nại
về đất đai của công dân và lúng túng trong việc xác định thẩm quyền tham mưugiải quyết
1.3.2 Chính sách pháp luật về đất đai
Vận dụng sáng tạo những nguyên lý khoa học của học thuyết Mác – Lênin
về quốc hữu hoá đất đai vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; quá trình quốc hữuhoá đất đai ở nước ta được thực hiện qua các giai đoạn lịch sử đánh dấu bằngcác sự kiện chủ yếu sau:
- Ngay từ khi mới thành lập (ngày 03/02/1930), Đảng ta luôn luôn quantâm đến vấn đề ruộng đất, coi việc giải quyết vấn đề ruộng đất là một nội dungquan trọng của cách mạng dân tộc, dân chủ Trong Luận cương chính trị năm
1930, Đảng ta đã xác định rõ chính sách đối với ruộng đất: “Quyền sở hữu
ruộng đất thuộc về chánh phủ công nông”.
Chính cương vắn tắt của Đảng cũng khẳng định: “Thâu hết ruộng đất của
đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo” Quan điểm thu
hồi hết ruộng đất của đế quốc, phong kiến làm của công, thực hiện quyềnruộng đất về Nhà nước (cấm không được mua, bán ruộng đất) là tiền đềquan trọng và là nền tảng của chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở nước
ta trong giai đoạn này;
- Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công; chính quyền nhândân tuyên bố bãi bỏ các luật lệ về ruộng đất của chế độ cũ;
- Năm 1946, Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh về giảm tô; bãi bỏ thuế thổ trạch
ở thôn quê;
- Năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua Luậtcải cách ruộng đất, tịch thu ruộng đất của địa chủ, phong kiến, cường hào …chia cho nông dân thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng”
Trang 20- Tiếp đó, Hiến pháp năm 1959 quy định : “Nhà nước chiểu theo phápluật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân
…” (Điều 14);
- Trong những năm 1960, miền Bắc thực hiện phong trào “hợp tác hoá”vận động nông dân đóng góp ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác vào làm ăn
tập thể trong các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất Ở giai đoạn này, “Mặc dù Hiến
pháp 1959 quy định rõ Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất của người nông dân những trong quá trình vận động nông dân đi vào làm ăn tập thể, tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp và thực hiện việc “cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội”, về cơ bản đất đai ở nước ta từng bước đã được xã hội hoá toàn bộ”
- Sau khi đất nước thống nhất (ngày 30/04/1975); ngày 18/12/1980,Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua bản hiến pháp
mới (Hiến pháp 1980) quy định rõ: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài
nguyên thiên nhiên trong long đất, ở vùng biển và thềm lục địa đều thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 19) Và “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm” (Điều
20) Đây là cơ sở pháp lý cao nhất xác định rõ toàn dân là chủ sở hữu đối vớitoàn bộ vốn đất quốc gia
- Sau đó, Hiến pháp năm 1992 ra đời thay thế Hiến pháp năm 1980 cũng
tiếp tục khẳng định: “Đất đai, rừng núi, sống hồ; nguồn nước, tài nguyên trong
lòng đất, nguồn lợi ở vung biển, thềm lục địa và vùng trời … là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 17).
Như vậy, nếu như trước năm 1980 còn nhiều hình thức sở hữu về đất đaitạo nên sự đặc trưng trong quản lý và sử dụng đất đai trong thời kỳ quan liêu baocấp thì sau Hiến pháp năm 1980 ở Việt Nam chỉ còn một hình thức sở hữu duynhất đối với đất đai là một sở hữu toàn dân, một chế độ sở hữu chuyển từ giaiđoạn nền kinh tế tập trung hoá cao độ sang nền kinh tế thị trường có điều tiết,tạo thành sự đặc trưng trong quan hệ đất đai dưới tác động của các quy luật kinh
tế thị trường
Trang 21Vào các năm 1988, 1993 và 2003 các Luật đất đai lần lượt được ban hànhcũng tạo ra những chuyển biến không nhỏ trong chế độ sử dụng và quản lý đấtđai ở nước ta.
1.3.3 Văn hóa pháp luật
Ở Việt Nam, văn hóa pháp luật chỉ mới được các nhà nghiên cứu, các nhàkhoa học quan tâm trong khoảng 10 năm trở lại đây Hiện nay vẫn tồn tại nhiềuquan điểm và những cách tiếp cận khác nhau về văn hóa pháp luật Theo quan
điểm của PGS.TS.Hoàng Thị Kim Quế thì “Văn hóa pháp luật là hệ thống các
yếu tố vật chất và tinh thần thuộc lĩnh vực tác động của pháp luật được thể hiện trong ý thức và hành vi của con người … Văn hóa pháp luật thể hiện tri thức pháp luật của nhân dân; thực trạng có chất lượng của quá trình lập pháp và thực hiện pháp luật; các phương thức hoạt động pháp luật đặc thù như của các
cơ quan pháp luật, kiểm tra Hiến pháp v.v;kết quả hoạt động của pháp luật dưới dạng sản phẩm tinh thần và vật chất do con người xây dựng như luật, hệ thống lập pháp, thực tiễn tư pháp và hành pháp.” [33]
Yếu tố văn hóa trong lĩnh vực pháp luật là sự thống nhất hữu cơ giữa quátrình hoạt động sống của con người trong lĩnh vực đó Trong lĩnh vực pháp luật,văn hóa được thể hiện như là một phương thức quản lý xã hội vì con người, đảmbảo cuộc sống hạnh phúc cho con người, và đồng thời nó cũng thể hiện như làkết quả hoạt động sáng tạo của con người trong việc xây dựng và thực thi phápluật hướng tới chân – thiện – mỹ Văn hóa pháp luật thể hiện những mặt tiến bộcủa một nền pháp luật, có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xãhội, thể hiện trình độ cao của sự tôn trọng pháp luật, trình độ tri thức pháp luậtcủa công dân, chất lượng của quá trình xây dựng và thực thi pháp luật Thựchiện pháp luật là một trong những yếu tố của văn hóa pháp luật, đó là hành vicủa con người phù hợp với các quy định của pháp luật Nó thể hiện cách thức,khả năng, trình độ sử dụng pháp luật và các công cụ pháp luật của cá nhân, củacộng đồng, của nhà nước trong quá trình đấu tranh vì công lý, vì sự bình đẳng vàcông bằng xã hội Đối với cá nhân, cộng đồng thì văn hóa pháp luật thể hiện ở
kỹ năng thực hiện pháp luật, ở hành vi, thói quen, lối sống theo pháp luật Còn
Trang 22với cơ quan nhà nước thì văn hóa pháp luật thể hiện ở kỹ năng, hành vi, cáchthức, trình độ áp dụng pháp luật để duy trì trật tự xã hội.
Kể từ khi nước ta bước vào thời kỳ mở cửa, thực hiện theo cơ chế thịtrường, nhất là từ khi Luật đất đai năm 2003 ra đời với những quy định mới, đấtđai được coi là hàng hoá đặc biệt và pháp luật cho phép người sử dụng đất được
tự do chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường Trong thị trường ấyquyền sử dụng đất ngày càng trở thành loại hàng hoá có giá trị lớn, mang lạinhững nguồn lợi không nhỏ cho người sử dụng đất Khi những nguồn lợi từđất đai tăng lên, thì những khiếu nại liên quan tới đất cũng ngày một tăng.Vấn đề giải quyết đất đai và văn hóa pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại.Vấn đề giải quyết khiếu nại đất đai là việc thực hiện pháp luật của chủ thể Vănhóa pháp luật với chức năng điều chỉnh có vai trò định hướng các xúc cảm, xách
tư duy và ứng xử của từng cá nhân và cả cộng đồng Tất cả những vấn đề trongquá trình giải quyết khiếu nại đất đai mà chủ thể thực hiện trong hành vi, trongsuy nghĩ, trong ứng xử của mình đều do những chuẩn mực, các hệ thống giá trị
mà văn hóa pháp luật chi phối
Đối với chủ thể thi hành: Là cán bộ, công chức của nhà nước, công bộccủa dân – những người trực tiếp giải quyết vụ việc, là công bộc của dân Do đó,đòi hỏi phải có sự hiểu biết pháp luật nhất định, có năng lực chuyên môn, kỹnăng giải quyết các vấn đề, có tinh thần trách nhiệm cao Họ phải nắm được lịch
sử hình thành và phát triển của các chính sách pháp luật, hiểu biết về đặc điểmkinh tế xã hội qua từng giai đoạn lịch sử Nếu đáp ứng được những yêu cầu trênthì sẽ có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại đất đai.Ngược lại, nếu họ áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, cố tình vi phạm để trụclợi, không có năng lực chuyên môn thì sẽ là một trong những nhân tố xấu Dẫntới mất lòng tin trong nhân dân, các vụ việc tồn đọng ngày càng nhiều, kéo dài
và không thể xử lý được
Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về chính sách, pháp luật đất đai vàpháp luật về khiếu nại cũng là một điểm đáng quan tâm Nếu người dân nắm
Trang 23được chính sách, pháp luật sẽ không có tình trạng khiếu nại không đúng thẩmquyền, khiếu nại vượt cấp hoặc sẽ không bị kích động …
Vì vậy, vấn đề con người và thủ tục hành chính liên quan đến conngười tác động không nhỏ đến việc giải quyết khiếu nại của cơ quan hànhchính nhà nước
Trang 24CHƯƠNG II
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI ĐẤT ĐAI CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của chế định pháp luật
về giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước.
Ngay sau khi giành được độc lập, Nhà nước cộng hòa non trẻ đã phảiđương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách trên các mặt kinh tế, văn hóa, xãhội đặc biệt là cùng một lúc phải đương đầu với nhiều kẻ thù trong và ngoàinước Trong bối cảnh lịch sử này, nhiệm vụ số một và quan trọng nhất là phảibảo vệ, củng cố và giữ vững được chính quyền cách mạng non trẻ Để thực hiệnnhiệm vụ quan trọng này phải củng cố đoàn kết toàn dân, động viên mọi thànhphần, lực lượng dân tộc vào công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cáchmạng Để ghi nhận thành quả của Cách mạng tháng Tám, chính quyền mới đãtuyên bố và bảo đảm thực hiện những quyền tự do, dân chủ của công dân, trong
đó có quyền khiếu nại, tố cáo Chính vì vậy, mặc dù chính quyền mới còn bềbộn, trăm công, nghìn việc, nhưng ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ “ có ủy
nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ” và một trong những nhiệm vụ quan trọng của Ban
Thanh tra đặc biệt là “nhận các đơn khiếu nại của nhân dân” với phương thứclàm việc “điều tra, hỏi chứng, xem xét các giấy tờ của Ủy ban nhân dân hoặc cá
cơ quan của Chính phủ”
Ngày 9/11/1946, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông quabản Hiến pháp đầu tiên trong đó đã tuyên bố các quyền tự do dân chủ của côngdân nước Việt Nam mới Mặc dù quyền khiếu nại chưa được ghi nhận trực tiếp,chính thức, nhưng thể chế dân chủ và việc quy định những quyền cơ bản củacông dân mà Hiến pháp 1946 xác lập là nền tảng để ban hành thông tư số
Trang 25436/TTg quy định trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền các cấp trong việcgiải quyết các đơn thư khiếu nại của nhân dân, việc giải quyết các đơn thư khiếunại nặc danh.
Trong Hiến pháp năm 1959 các quyền tự do dân chủ của công dân đượcquy định đầy đủ và toàn diện hơn Hiến pháp 1946 Đặc biệt, lần đầu tiên tronglịch sử lập hiến ở nước ta, quyền khiếu nại được ghi nhận chính thức và đầy đủtrong Hiến pháp nhưng trong giai đoạn này thẩm quyền giải quyết khiếu nại đấtđai của cơ quan hành chính nhà nước cũng chưa được đặt ra
Để kiện toàn tổ chức, ngày 31/8/1970 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 165/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy banThanh tra Chính phủ trong đó quy định cụ thể một số nhiệm vụ: giải quyết vàthanh tra việc xét và giải quyết các vụ khiếu nại của nhân dân Tiếp đó, Ủy banThanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 60/UBTT ngày 25/5/1971 hướngdẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáocủa nhân dân
Như vậy, pháp luật khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn này đã giao việc giảiquyết khiếu nại, tố cáo cho cơ quan Thanh tra Chính phủ; quy định một sốnguyên tắc trong việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân như:trách nhiệm giải quyết chủ yếu thuộc về cơ quan phát sinh khiếu nại, tố cáo màtrước hết là Thủ trưởng cơ quan đó; quy định trình tự xem xét, giải quyết đơn,thư khiếu nại, tố cáo của Ủy ban hành chính các cấp và các ngành chuyên môn
Hiến pháp 1980 quy định Ủy ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ: “xemxét, giải quyết các điều khiếu nại của nhân dân”
Pháp lệnh năm 1981 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy: Thẩmquyền giải quyết khiếu nại: Pháp lệnh quy định ngoài Thủ trưởng cơ quan nhànước có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, thì người đứng đầu đơn vị kinh tế tậpthể như: Chủ nhiệm Hợp tác xã, Tập đoàn trưởng Tập đoàn sản xuất cũng cóthẩm quyền giải quyết khiếu nại Thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong giaiđoạn này không chỉ quy định cho người đứng đầu là Thủ trưởng cơ quan màPháp lệnh còn quy định cho cả ban lãnh đạo
Trang 26Pháp lệnh 1991 quy định khiếu nại được giải quyết qua ba cấp: giải quyếtkhiếu nại lần đầu là Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi phát sinh khiếu nại; tiếptheo là Chánh Thanh tra thuộc cơ quan cấp trên trực tiếp của cấp giải quyếtkhiếu nại lần đầu và lần thứ ba là Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước củaChánh Thanh tra đã giải quyết khiếu nại là hai (ở trung ương là Tổng Thanh tra).Như vậy, Pháp lệnh năm 1991 đã xác định điểm dừng của quá trình giải quyếtkhiếu nại (cấp giải quyết cuối cùng) là cấp thứ ba.
Đến Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định, ghi nhận và bảo đảm quyềnkhiếu nại của công dân Hiến pháp quy định rõ công dân có quyền khiếu nại với
“ cơ quan nhà nước có thẩm quyền” Quy định này đã xác định rõ: trong các cơquan nhà nước phải có sự phân định cụ thể thẩm quyền thụ lý, giải quyết khiếunại, mặt khác cũng ràng buộc công dân khi thực hiện quyền khiếu nại của mìnhphải gửi đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết Trên cơ sở những quyđịnh của Hiến pháp năm 1992, Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân năm
1991, Chính phủ đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa vàhướng dẫn thi hành như:Chỉ thị số 35/1998/CT- TTg ngày 09/10/1998 về việctăng cường hiệu lực giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các cơ quan trung ương vànhà riêng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước
Trong bối cảnh công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc của nước ta đã đạtđược những thành tựu quan trọng và bối cảnh trong nước và quốc tế cũng cónhững biến đổi to lớn Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 ra đời
2.1.2 Nguyên tắc phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai theo pháp luật Việt Nam
Sự phân công giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiệnquyền lực chính là việc xác định, phân bổ, khẳng định rõ ràng thẩm quyền chocác cơ quan Nhà nước trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Các
cơ quan hành chính nhà nước là một hệ thống cơ quan được thành lập từ trungương đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất,được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về
tổ chức và hoạt động nằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước Luật
Trang 27Khiếu nại, tố cáo không trực tiếp quy định nguyên tắc về thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại, song qua các quy định tại điều 30, điều 39 của luật này thì có thể thấythẩm quyền giải quyết khiếu nại được xác định theo nguyên tắc: khiếu nại đốivới quyết định hành chính của nhân viên thuộc quyền quản lý của cơ quan nàothì thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Khiếu nại đối với quyếtđịnh hành chính, hành vi hành chính của thủ trưởng cơ quan nào thì thủ trưởng
cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Những khiếu nại đã quá thời hạn màkhông giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyếtthì có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết để yêu cầuđược giải quyết
Trên cơ sở nguyên tắc này, Luật Khiếu nại, tố cáo và luật đất đai cùng cácnghị định ban hành kèm theo quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại của thủtrưởng cơ quan hành chính nhà nước từng cấp như sau:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), thủtrưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đốivới quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính mình, của người cótrách nhiệm do mình quản lý trực tiếp (Điều 19 Luật Khiếu nại, tố cáo)
- Chủ tịch Ủy ban nhân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩmquyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chínhcủa chính mình; giải quyết khiếu nại mà Chủ tỉnh Ủy ban nhân dân cấp xã, thủtrưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyếtnhưng còn khiếu nại ( Điều 20 Luật Khiếu nại, tố cáo)
- Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở và cấp tương đương có thẩm quyền giảiquyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, củacán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp ( Điều 21 Luật Khiếu nại, tố cáo)
- Giám đốc Sở và cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyếtđịnh hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mìnhquản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan thuộc Sở hoặc cấp
Trang 28tương đương đã giải quyết nhưng còn khiếu nại (Điều 22 Luật Khiếu nại, tốcáo).
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sauđây gọi chung là cấp tỉnh) có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyếtđịnh hành chính, hành vi hành chính của mình; Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại; Giảiquyết khiếu nại mà Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dâncấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại mà nội dung thuộc phạm
vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 23 Luật Khiếu nại, tố cáo sửa đổi
bổ sung năm 2005)
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộcChính phủ có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính,hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp;Giải quyết khiếu nại mà những người quy định tại Điều 24 của Luật khiếu nại,
tố cáo đã giải quyết lần đàu nhưng còn có khiếu nại; Giải quyết khiếu nại có nộidung thuộc quyền quản lý nhà nước của bộ, ngành mình mà Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc ủy ban nhân dâncấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại.” (Điều 25 Luật Khiếu nại,
tố cáo sửa đổi bổ sung năm 2005)
- Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Tổng Thanh tra: Giải quyết khiếunại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn cókhiếu nại (Điều 26 Luật Khiếu nại, tố cáo sửa đổi bổ sung năm 2005)
Trên cơ sở quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo Luật Đất đai năm 2003 vàNghị định 181/2004 NĐ - CP đã xác định rõ thẩm quyền giải quyền Đồng thời,căn cứ vào cấp đã giải quyết vụ, việc lần trước đó để xác định thẩm quyền giảiquyết lần tiếp theo Cụ thể:
-Trong thời hạn không quá ba mươi ngày kể từ ngày ủy ban nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có quyết định hành chính trong quản lýđất đai hoặc cán bộ, công chức thuộc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn,thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị
Trang 29xã, thành phố thuộc tỉnh có hành vi hành chính trong khi giải quyết công việc vềquản lý đất đai mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý vớiquyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếunại đến ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Khoản 1,Điều 163 Nghị định 181/2004/NĐ-CP)
Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cótrách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tốcáo (Khoản 2, Điều 163 Nghị định 181/2004/NĐ-CP)
Như vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính trong quản lý đất đai, hành vihành chính của mình hoặc của cán bộ do mình quản lý trực tiếp
Trong thời hạn không quá ba mươi (30) ngày kể từ ngày Sở Tài nguyên
và Môi trường, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyếtđịnh hành chính trong quản lý đất đai hoặc cán bộ, công chức thuộc Sở Tàinguyên và Môi trường, thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương có hành vi hành chính trong giải quyết công việc về quản lý đất đai màngười có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hànhchính hoặc hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến ủy bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Khoản 1 Điều 164 Nghị định181/2004/NĐ-CP)
Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tráchnhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo.(Khoản 2 Điều 164 Nghị định 181/2004/NĐ-CP)
Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trưng ương có tráchnhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại tố cáo khingười khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy bannhân dân huyện, quận, thị xã.( Khoản 3 Điều 163)
Với quy định này thỉ Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyềngiải quyết khiếu nại ở cả hai cấp: lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vihành chính của mình và cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; lần thứ hai
Trang 30đối với khiếu nại mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưngcòn khiếu nại
2.1.3 Pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu nai đất đai của cơ quan hành chính nhà nước – những điểm tích cực và hạn chế
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã quy định thẩm quyền giải quyết khiếunại hành chính thuộc về Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước Theo nguyêntắc này thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính bao gồm: Thủ trưởng cơquan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cáccấp) và Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn(Bộ trưởng, Giám đốc sở) Người giải quyết khiếu nại lần đầu là Thủ trưởng cơquan hành chính có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại (baogồm cả hành vi của cán bộ trong cơ quan đó); Chủ tịch UBND cấp xã, thủtrưởng cơ quan thuộc UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện, Thủ trưởng
cơ quan thuộc sở và cấp tương đương, Giám đốc Sở và cấp tương đương củaUBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ,thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩmquyền giảm quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính hành vi hành vihành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp
Người giải quyết khiếu nại lần thứ hai là Thủ trưởng cơ quan cấp trên của
cơ quan bị khiếu nại Cá biệt có thể qua ba cấp giải quyết: khiếu nại phát sinh ởcấp xã thì lần đầu là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, lần hai là Chủ tịch Ủy bannhân dân huyện, lần ba là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc khiếu nại phátsinh ở cơ quan cấp dưới của cơ quan thuộc Chính phủ thì lần đầu là Thủ trưởng
cơ quan của cơ quan đó, lần hai là Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, lần ba
là Tổng thanh tra nhà nước Luật Khiếu nại năm 1998 quy định Thủ tướngChính phủ - người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giảiquyết khiếu nại cụ thể Ngày 5/06/2004 kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XI dãthông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo
Trang 31năm 1998: sửa đổi thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp
xã, thủ trưởng cơ quan chuyên môn cấp huyện đã giải quyết nhưng còn khiếunại, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp huyện
đã giải quyết nhưng còn khiếu nại; giải quyết khiếu nại mà Giám đốc Sở hoặccấp tương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyết nhưng còn khiếu nại mànội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộcChính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ,thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầunhưng còn khiếu nại, giải quyết khiếu nại có nội dung thuộc quyền quản lý nhànước của Bộ, ngành mình mà Chủ tịch UBND cấp tỉnh, giám đốc Sở hoặc cấptương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại
Tổng thanh tra có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơquan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại; giúp Thủtưởng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quanthuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại,thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật
Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền lãnh đạo công tác giải quyết khiếunại của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp; xử
lý các kiến nghị của Tổng thanh tra theo quy định
Ngày 28/11/2005 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật Khiếu nại, tố cáo Trong đó có sửa đổi cơ chế giải quyết khiếu nại:cấp giải quyết khiếu nại lần đầu là cơ quan hành chính có quyết định hànhchính, hành vi hành chính bị khiếu nại, nếu không đồng ý hoặc quá thời hạn màkhiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại lên cơquan hành chính cấp trên hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án Khi khiếunại lên cơ quan hành chính cấp trên, nếu người khiếu nại không đồng ý vớiquyết định giải quyết hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì
Trang 32người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án Đối với quyếtđịnh giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộhoặc quyết định hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh mà nội dungkhông thuộc quyền quản lý của bộ, ngành, nều người khiếu nại không đồng ývới quyết định giải quyết của những người này hoặc quá thời hạn mà khiếu nạikhông được giải quyết thì họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà ánnhân dân cấp tỉnh.
Tuy nhiên Luật Đất đai quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủtịch UBND cấp huyện và UBND cấp tỉnh Cụ thể tại khoản 2 Điều 138 quy địnhnhư sau:
Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản
lý đất đai do Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giảiquyết lần đầu mà khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyềnkhởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấptỉnh Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh thì quyết địnhcủa Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định giải quyết cuối cùng
Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản
lý đất đai do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyếtlần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định đó thì có quyền khởikiện tại Toà án nhân dân
Bên cạnh đó, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổsung việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự, thủ tục, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thuhồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai cũng chỉ đề cập đến thẩm quyền giảiquyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp huyện và cấp tỉnh Ngoài hai trườnghợp nêu trên, việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vihành chính trong lĩnh vực đất đai được dẫn chiếu áp dụng theo quy định củapháp luật về khiếu nại, tố cáo
* Những thành tựu
Trang 33Thứ nhất, pháp luật khiếu nại hành chính nói chung và khiếu nại hànhchính đất đai nói riêng đã thể chế hoá được những quan điểm của chủ nghĩa Mác– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sảnViệt Nam về quyền khiếu nại của công dân Những tư tưởng, quan điểm trên đãđược thấm nhuần và các chế định và quy phạm pháp luật cụ thể của pháp luậtkhiếu nại, pháp luật đất đai qua các thời kỳ cũng như pháp luật hiện hành Yếu
tố này là đảm bảo quan trọng để định hướng quá trình xây dựng, thực hiện vàbảo vệ pháp luật khiếu nại – cơ sở để duy trì, củng cố và tăng cường pháp chế xãhội chủ nghĩa nói chung và pháp chế trong hoạt động giải quyết khiếu nại củacác cơ quan hành chính nhà nước nói riêng
Thứ hai, pháp luật khiếu nại, pháp luật đất đai, bảo đảm được tính hợphiến, hợp pháp trong việc cụ thể hoá quyền khiếu nại của công dân Hệ thốngcác quy phạm pháp luật về khiếu nại đã tuân thủ và bảo đảm tính tối cao củaHiến pháp trong quá trình cụ thể hoá quyền khiếu nại trong lĩnh vực quản lýhành chính nhà nước về đất đai
Thứ ba, pháp luật khiếu nại là một trong những phương thức bảo đảm vềpháp lý đối với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.Trên cơ sở những nguyên tắcchung được quy định trong Luật Khiếu nại, Luật đất đai đã quy định cụ thể thẩmquyền, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tạo ra cơ sở pháp lý để nhândân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.Những quy định này là bảo đảmpháp lý quan trọng để nhân dân thực sự là người chủ của quyền lực nhà nước vàđây cũng là mục tiêu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam
Thứ tư, pháp luật khiếu nại ở Việt Nam đã được hình thành, phát triển vàngày càng hoàn thiện, thật sự trở thành công cụ pháp lý để công dân bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm Pháp luật khiếu nại được hoàn thiện
cả về nội dung và hình thức Về hình thức, các văn bản quy phạm pháp luậtcụthể hoá quyền khiếu nại của công dân được hình thành từ thập đến cao:từ hìnhthức văn bản là sắc lệnh, nghị định đến pháp lệnh và cao nhất là Luật Khiếu nạihiện hành và luật đất đai Về nội dung các chế định, các quy phạm pháp luật
Trang 34khiếu nại ngày càng hoàn thiện, đầy đủ hơn từ những quy định về thẩm quyền,trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại,quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại …
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính được quy định ngày cànghợp lý, phù hợp với phương hướng cải cách hành chính, cải cách tư pháp, nângcao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước và bảo đảm quyền khiếu nại của côngdân.Thẩm quyền giải quyết khiếu nại được Luật quy định cho người đứng đầu
cơ quan hành chính nhà nước từ cấp cơ sở đến cấp cao nhất.Quy định này phùhợp chế độ thủ trưởng trong nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quanhành chính nhà nước Một khiếu nại hành chính về nguyên tắc được xem xétgiải quyết qua hai cấp: lần đầu là thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cóquyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại, lần thứ hai là Thủtrưởng cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp của người giải quyết lầnđầu Pháp luật quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là nhằm tạođiều kiện và cơ hội để người bị khiếu nại tự xem xét lại quyết định, hành vi củamình, kịp thời sửa chữa những sai lầm khi khiếu nại là đúng Cấp giải quyếtkhiếu nại tiếp theo là Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếpcủa người đã giải quyết khiếu nại lần đầu Quy định này phù hợp với phươngthức tổ chức đặc thù của nền hành chính là theo thứ bậc, hoạt động liên tục,thông suốt để quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội Hơn nữa, quy định nhưvậy nhằm xác định và tăng cường trách nhiệm của cấp trên trong việc kiểm tra,giám sát hoạt động của cấp dưới
và Toà án nhân dân với hai phương thức, thủ tục khác nhau Tuy nhiên quy địnhcủa pháp luật tố tụng hành chính và pháp luật khiếu nại còn có nhiều điểm chưa