1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng

67 1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Và Hoạt Động Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Các Cấp Chính Quyền Tại Thành Phố Hải Phòng
Trường học Trường Đại Học Hải Phòng
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 337,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 6

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9

6 Bố cục của Luận văn 9

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN BẢN QPPL VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QPPL CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 10

1.1 Khái niệm văn bản QPPL 10

1.2 Khái niệm văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành 14

1.2.1 Văn bản QPPL của chính quyền địa phương là sự cụ thể hóa các qui định của pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên 15

1.2.2 Văn bản QPPL của chính quyền địa phương điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh ở địa phương 16

1.3 Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản QPPL của chính quyền địa phương 17

1.4 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phương 18

1.4.1 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân 18

1.4.2 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của Ủy ban nhân dân 20

1.5 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương 21

1.5.1 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo thời gian 22 1.5.2 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo không gian24 1.5.3 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo đối tượng áp dụng.25

Trang 2

1.6 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địaphương ban hành 261.6.1 Khái niệm chất lượng văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địaphương ban hành 261.6.2 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của văn bản QPPL do chính quyền địaphương ban hành 27CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VĂN BẢN QPPL VÀ HOẠT ĐỘNG BANHÀNH VĂN BẢN QPPL CỦA CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN TẠI THÀNHPHỐ HẢI PHÒNG 332.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng 332.2 Các văn bản của thành phố Hải Phòng quy định, hướng dẫn về văn bản QPPL vàhoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật 352.3 Những thành tựu về văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của cáccấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng 382.4 Những hạn chế của văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấpchính quyền tại thành phố Hải Phòng 422.5 Nguyên nhân của những tồn tại trong văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bảnQPPL của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng 452.5.1 Nguyên nhân khách quan: 462.5.2 Nguyên nhân chủ quan: 48CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VĂN BẢNQPPL VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QPPL CỦA CÁC CẤPCHÍNH QUYỀN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 493.1 Tính cấp thiết của việc nâng cao chất lượng văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng 493.2 Yêu cầu của việc nâng cao chất lượng văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng 50

Trang 3

3.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản

QPPL của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng 51

3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ và thống nhất 51

3.3.2 Đổi mới việc lập chương trình xây dựng văn bản QPPL 53

3.3.3 Đổi mới quy trình soạn thảo văn bản QPPL 55

3.3.4 Đổi mới quy trình thẩm định văn bản QPPL của HĐND và UBND 56

3.3.5 Đổi mới quy trình lấy ý kiến, thông qua và công bố văn bản QPPL 58

3.3.6 Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tại các cấp chính quyền địa phương tại thành phố Hải Phòng 59

3.3.7 Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý đối với văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL 60

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tính hợp hiến, hợppháp, thống nhất, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn là một trong những chủtrương quan trọng đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa (XHCN) và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Phápluật, trước hết là kết quả của việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách,đường lối, định hướng phát triển của một quốc gia và trở thành quy ước hành

xử chung cho mọi người trong xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt trong việcbảo đảm sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là công cụ quản

lý xã hội hữu hiệu nhất của mỗi nhà nước Điều 12 Hiến pháp 1992 đã ghinhận: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa” Quan điểm này cho thấy, trong công cuộc xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân với mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì việc xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật được xác định là một đòi hỏi cấp thiết.Mặt khác, tăng cường pháp chế XHCN là điều kiện tối cần thiết bảo đảm thựchiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thờicũng là đòi hỏi khách quan của đời sống xã hội, là nguyên tắc hiến định trongquản lý Nhà nước ta hiện nay

Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, hệ thống các cơ quan chính quyền địa phương có một vai tròrất quan trọng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII nêu rõ: “Cơ quan chínhquyền nhà nước ở cấp địa phương dựa trên hệ thống thống nhất về pháp luật,chính sách và theo định hướng của kế hoạch Nhà nước để thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội đối với mọi tổ chức, cá nhân hoạtđộng trên lãnh thổ, bảo đảm thi hành pháp luật nghiêm minh, chăm lo đời

Trang 5

sống nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ở địa phương, củng

cố an ninh và quốc phòng” Trên nhiều phương diện, các cấp chính quyền địaphương có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, trực tiếp giải quyếtnhững vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân; trực tiếp banhành văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương củaĐảng, Nhà nước và là cầu nối giữa Nhà nươc với nhân dân

Trong những năm gần đây công tác văn bản quy phạm pháp luật (QPPL)

và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấp chính quyền địa phương đãđược quan tâm đúng mức Năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam đã thông qua Luật ban hành văn bản QPPL của Hội đồngnhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) Luật này quy định thẩmquyền, trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND Đây làmột văn bản quan trọng giúp cho cho các cấp chính quyền địa phương banhành những văn bản QPPL cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Tuynhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác văn bản QPPL và hoạtđộng ban hành văn bản QPPL của các cấp chính quyền địa phương nói chung

và tại thành phố Hải Phòng nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứngđược với yêu cầu đổi mới và hội nhập trong giai đoạn hiện nay

Hải Phòng là 1 trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại I cấpquốc gia, có vị trí địa lý quan trọng, là 1 trong 3 tỉnh thuộc tam giác phát triểnkinh tế phía bắc Trong những năm qua thành phố Hải Phòng đã đạt đượcnhiều thành tựu trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.Trong lĩnh vực văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL, các cấpchính quyền ở thành phố Hải Phòng đã chú trọng đến công tác văn bản QPPL

và ban hành ra nhiều văn bản quy phạm cụ thể hóa các văn bản của cơ quanNhà nước cấp trên; tổ chức, động viên nhân dân thực hiện pháp luật và đưanghị quyết của Đảng vào cuộc sống Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt

Trang 6

được, công tác văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của cáccấp chính quyền địa phương tại thành phố Hải Phòng vẫn chưa đáp ứng đượcvới nhu cầu quản lý, với những thay đổi của đời sống xã hội và bộc lộ một sốvấn đề bất cập so với yêu cầu lý luận và thực tiễn Những bất cập này đã đưađến tình trạng ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân giảm sút,dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật; tội phạm và vi phạm pháp luật cóchiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp Đặc biệt, nạn quan liêu, tham nhũng

và sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, côngchức đang là một trong những nguy cơ trực tiếp đe dọa sự sống còn của hệthống chính trị, gây bất bình và làm giảm lòng tin của nhân dân, gây ra tìnhtrạng khiếu nại, khiếu kiện đông người kéo dài

Để khắc phục những bất cập trên, đặt các quan hệ xã hội dưới sự điềuchỉnh của các QPPL cần nghiên cứu một cách nghiêm túc các vấn đề liênquan đến văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấpchính quyền tại thành phố Hải Phòng, để từ đó đề ra các biện pháp nâng caochất lượng văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấpchính quyền tại thành phố Hải Phòng

Từ yêu cầu cấp thiết như đã nêu ở trên, tôi chọn đề tài “Văn bản quy

phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng”.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Nhu cầu nghiên cứu về công tác văn bản QPPL và hoạt động ban hànhvăn bản QPPL của chính quyền địa phương đã được đặt ra từ lâu và càng trởlên bức thiết trong những năm gần đây Tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI

đã thông qua Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND Luật này quyđịnh thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của HĐND,UBND Việc ra đời Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND là kết

Trang 7

quả của một quá trình làm việc nghiêm túc, hiệu quả của Quốc hội Đóng gópvào thành quả chung đó có các nghiên cứu, các bài viết dưới dạng tham luận,hội thảo, nghiên cứu đăng trên các tạp chí và một số sách tham khảo, chuyênkhảo, các luận văn đề cập từ nhiều góc độ khác nhau về hoạt động xây dựng

và ban hành văn bản QPPL nói chung, ban hành văn bản QPPL của chínhquyền địa phương nói riêng Có thể liệt kê các nghiên cứu đó như sau: Việnnghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp: Chuyên đề “bàn về thẩm quyền,thủ tục và trình tự ban hành văn bản QPPL luật của chính quyền địa phương”

số 3 năm 1999; chuyên đề “tổ chức và hoạt động của chính quyền địaphương” số 10 năm 2001; chuyên đề “chính quyền địa phương với việc bảođảm thi hành Hiến pháp và pháp luật” số 7 năm 2002; Vụ pháp luật Hình sự -

Bộ Tư pháp với hội thảo về chuyên đề “dự án luật sửa đổi, bổ sung Luật banhành văn bản QPPL năm 1996” Hà Nội năm 2002; chuyên đề “xây dựng vàkiểm tra văn bản QPPL của bộ, ngành và địa phương” Hà Nội năm 2003;Hoàng Minh Hà, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản QPPL củachính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học, HàNội, 2004 Việc nghiên cứu về văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bảnQPPL của chính quyền địa phương mới mang tính tổng quát, có tính hệ thống

lý luận và trên quy mô cả nước Còn trong những địa phương nhất định vànhất là trên địa bàn thành phố Hải Phòng thì chưa có đề tài nào nghiên cứu vềvấn đề này

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích của Luận văn là bước đầu nghiên cứu một cách có hệ thốngnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản QPPL và hoạt động ban hànhvăn bản QPPL của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng; đề cập đếnnhững vấn đề về đối tượng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, từ đó tìm ra nhữngphương hướng và biện pháp thích hợp để nâng cao chất lượng văn bản QPPL

Trang 8

và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấp chính quyền tại thành phốHải Phòng Để thực hiện mục đích nghiên cứu, tác giả tập trung vào nhữngnội dung cơ bản sau:

- Một số vấn đề lý luận cơ bản về văn bản QPPL và hoạt động ban hànhvăn bản QPPL của chính quyền địa phương;

- Thực trạng văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL củacác cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng;

- Một số giải pháp nâng cao chất lượng văn bản QPPL và hoạt động banhành văn bản QPPL của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm củachủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, cácquan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân, vì dân; những đánh giá về việc xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật được trình bày trong các văn kiện đại hội, các nghị quyếtcủa Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn bản QPPL đã ban hành, các báo cáo,tổng kết về văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấpchính quyền tại thành phố Hải Phòng

Phương pháp luận nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp cụ thể được sử dụng để nghiêncứu đề tài gồm:

Trang 9

phương pháp xã hội học pháp luật; phương pháp luật học so sánh và phươngpháp thống kê.

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Những kết quả nghiên cứu của Luận văn có giá trị tham khảo đối với cácvấn đề liên quan đến văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPLcủa các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng nói riêng và các cấp chínhquyền địa phương nói chung trong điều kiện đổi mới và hội nhập Luận văngóp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu, giảng dạy phápluật ở nước ta hiện nay

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khỏa, luận văngồm 3 chương, 14 tiết

Trang 10

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ VĂN BẢN QPPL VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QPPL

CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

1.1 Khái niệm văn bản QPPL

Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội ra đời, tồn tại và pháttriển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Hai hiện tượng nàyluôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếupháp luật, và ngược lại, pháp luật chỉ hình thành, phát triển và phát huy hiệulực bằng con đường Nhà nước Pháp luật đã trở thành công cụ có hiệu lựcnhất để đưa xã hội vào vòng “trật tự” phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấpthống trị Giai cấp thống trị đã sử dụng nhiều hình thức khác nhau để thể hiện

ý chí của mình thành pháp luật Trong lịch sử đã có ba hình thức pháp luậtđược các giai cấp thống trị sử dụng là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bảnQPPL

Tập quán pháp là tập quán đã lưu truyền trong xã hội, được nhà nướcthừa nhận và nâng lên thành pháp luật Tập quán pháp có những hạn chế làmcho nó không thể trở thành hình thức (nguồn) chủ yếu của pháp luật XHCN

Cụ thể là: tập quán pháp được hình thành từ các tập quán, mà các tập quánthường được xác lập một cách tự phát, ít biến đổi và có tính cục bộ cao Hơnnữa, tập quán pháp được hình thành không phải từ cơ quan quyền lực nhànước cao nhất, do đó nó không thể phản ánh tập trung đầy đủ ý chí, lợi íchcủa toàn thể nhân dân lao động và cũng không đáp ứng được một trong nhữngyêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa là triệt để tôn trọng giá trị pháp lý củacác văn bản do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành

Tiền lệ pháp là các quyết định có trước về từng vụ việc cụ thể của cơquan hành chính cấp trên hoặc cơ quan xét xử cấp trên được nhà nước thừa

Trang 11

nhận là khuôn mẫu để các cơ quan tương ứng ngang cấp và cấp dưới giảiquyết những vụ việc tương tự xảy ra sau này Tiền lệ pháp, xét về nguồn gốccũng có những hạn chế làm cho nó không thể được coi là hình thức (nguồn)chủ yếu của pháp luật xã hội chủ nghĩa Điều đó thể hiện ở chỗ, tiền lệ phápđược hình thành từ hoạt động thực tiễn của cơ quan hành pháp và tư pháp,chứ không phải do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành Vì thế dễtạo ra sự tùy tiện, phá vỡ tính thống nhất của pháp luật và không phù hợp vớinguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Đối với văn bản QPPL, sở dĩ được coi là hình thức (nguồn) chủ yếu nhất

và quan trọng nhất của pháp luật xã hội chủ nghĩa vì nó có những đặc điểm

mà tập quán pháp và tiền lệ pháp không thể có được Theo khoản 1, điều 1Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 quy định:

“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử

sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.”

Văn bản QPPL là hình thức pháp luật tiến bộ nhất và hiện đại nhất, được

sử dụng trong tất cả các nhà nước Văn bản QPPL có những đặc điểm chủ yếusau đây

Một là: Do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành

Theo điều 2 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 những cơ quan cóthẩm quyền ban hành văn bản quy phạm bao gồm: Quốc hội, Uỷ ban thường

vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồngThẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

bộ, Tổng Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ

Trang 12

phối hợp với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, Chánh án Toà

án nhân dân tối cao phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phối hợp với Chánh án Tòa án nhândân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang bộ phối hợp với nhau, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhândân các cấp

Hai là: Được ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành văn bản QPPL hoặc trong Luật ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

Văn bản QPPL được ban hành theo trình tự từ khâu lập chương trình,soạn thảo, thẩm tra, thẩm định, lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo, cho đếnthông qua, ký, công bố văn bản QPPL Tất cả đều phải tuân thủ đúng quyđịnh luật định Vì thế, mặc dù văn bản được ban hành bởi chủ thể có thẩmquyền, nội dung hợp pháp nhưng trong quá trình xây dựng và ban hành khôngtuân thủ đúng quy định của pháp luật về thủ tục thì cũng không thể là văn bảnQPPL

Ngoài ra, một văn bản được coi là văn bản QPPL còn phải được banhành đúng hình thức do pháp luật quy định Tại điều 2 của Luật ban hành vănQPPL năm 2008 quy định rõ chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quyphạm với tên gọi khác nhau Ví dụ: Bộ trưởng được ban hành văn bản QPPLdưới hình thức là thông tư; HĐND các cấp được ban hành văn bản QPPLdưới hình thức là nghị quyết… nếu các chủ thể này ban hành các văn bảnkhông dưới những tên gọi được quy định ở trên thì dù có chứa đựng cácQPPL cũng không được coi là văn bản QPPL vì không đúng tên gọi do Luậtban hành văn bản QPPL năm 2008 quy định

Ba là: Có chứa quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội

Trang 13

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảmthực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, nhằm điều chỉnh các mối quan

hệ xã hội Từ khái niệm này ta thấy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự

do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Các quy tắc xử sự chính lànhững khuôn mẫu, chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuântheo khi tham gia các quan hệ xã hội được quy tắc đó điều chỉnh Các QPPLđược chứa đựng trong các văn bản QPPL Trong quan hệ giữa các QPPL vàvăn bản QPPL thì các QPPL là nội dung còn văn bản QPPL là hình thức Từ

đó khẳng định văn bản QPPL luôn luôn chứa đựng các QPPL Đây là đặcđiểm quan trọng nhất của văn bản QPPL

Tính bắt buộc chung của các QPPL được hiểu là bắt buộc đối với mọi chủthể nằm trong điều kiện, hoàn cảnh mà QPPL quy định QPPL được đặt rakhông phải cho những chủ thể cụ thể mà cho các chủ thể không xác định Đây

là điểm khác biệt với văn bản áp dụng pháp luật, bởi vì nội dung văn bản ápdụng pháp luật bao giờ cũng chứa đựng quy tắc xử sự riêng đối với cá nhân, tổchức cụ thể được xác định Vì vậy văn bản QPPL được áp dụng nhiều lần trênthực tế còn văn bản áp dụng pháp luật chỉ có hiệu lực duy nhất một lần

Văn bản QPPL được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháptuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, tổ chức, hành chính, kinh tế Trong trườnghợp cần thiết, Nhà nước áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với cá nhân, tổ chức

cố tình không thực hiện hoặc thực hiện sai các quy định của văn bản QPPL.Văn bản QPPL có hiệu lực trong phạm vi cả nước hoặc từng địa phươngtùy thuộc vào thẩm quyền của chủ thể ban hành, cũng như nội dung của mỗivăn bản Thông thường văn bản QPPL do cơ quan Nhà nước ở trung ươngban hành có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước, còn văn bản QPPL do địaphương ban hành thì có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ địa phương đó

Như vậy chỉ có những văn bản nào có đầy đủ các đặc điểm nêu trên mớiđược coi là văn bản QPPL

Trang 14

1.2 Khái niệm văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành

Thuật ngữ chính quyền địa phương, lâu nay được sử dụng trong khoahọc pháp lý như một khái niệm tổng quát, bao gồm các cấp chính quyền từtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); huyện, quận, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); xã, phường, thị trấn (gọichung là cấp xã)

Cơ quan chính quyền địa phương được lập ra để thực hiện các chức năngquản lý nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước trên địa bàn lãnh thổ Vớitinh thần đổi mới của Đảng, Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền tảng, cơ sở pháp

lý cho sự đổi mới về tổ chức hoạt động của các cơ quan chính quyền địaphương Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và sựphân loại các cơ quan hành chính thì chính quyền địa phương hiện nay có hai

hệ thống cơ quan: HĐND các cấp và UBND các cấp Tổ chức cơ quan chínhquyền địa phương dưới hình thức HĐND và UBND ở tất cả các cấp đơn vịhành chính được nhìn nhận là hình thức phù hợp, vừa đảm bảo lợi ích củanhân dân địa phương, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước

Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND định nghĩa về văn bảnQPPL của chính quyền địa phương tại khoản 1 điều 1 như sau: “Văn bảnQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do luậtđịnh, trong đó có quy tắc xử sự chung có hiệu lực trong phạm vi địa phương,được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội địaphương theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Bên cạnh những đặc điểm củavăn bản QPPL nói chung, văn bản QPPL của chính quyền địa phương còn cónhững đặc điểm riêng như sau:

Trang 15

1.2.1 Văn bản QPPL của chính quyền địa phương là sự cụ thể hóa các qui định của pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên

Về phương diện lý luận và thực tiễn, các cơ quan Nhà nước ở trung ương

dù có cố gắng đến mấy cũng không thể ban hành được một hệ thống pháp luậtphù hợp với yêu cầu của mọi địa phương trong toàn quốc Vì mỗi địa phương

có những đặc điểm riêng không nơi nào giống nơi nào Chính vì vậy, để phùhợp với tình hình thực tế ở địa phương, trên cơ sở các quy định của cơ quanNhà nước ở trung ương, các cơ quan Nhà nước địa phương ban hành văn bảnQPPL để cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của địa phương Hơnnữa, quan hệ xã hội với tư cách là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, vốn đãphức tạp lại đang trong quá trình chuyển đổi đầy biến động Trong điều kiệnnhư vậy, yêu cầu đặt ra đối với hệ thống pháp luật nước ta là cần có nhiều loạivăn bản với giá trị pháp lý khác nhau (được các cấp khác nhau ban hành) thìmới phúc đáp được yêu cầu của đời sống xã hội hiện nay Pháp luật, vì vậy,không những chỉ điều chỉnh quan hệ xã hội mà yêu cầu đặt ra lúc này là phảigóp phần ổn định các quan hệ xã hội, đưa các hoạt động vào khuôn khổ, trật

tự của nó

Trước những đòi hỏi từ thực tiễn, nhiệm vụ hướng dẫn, thi hành Hiếnpháp, luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên là một nhiệm vụ tất yếucủa các cấp chính quyền địa phương khi ban hành văn bản QPPL để cụ thểhóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên vàotừng hoàn cảnh, từng điều kiện cụ thể của địa phương

Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, các cơ quan chính quyền địa phươngban hành các văn bản trên cơ sở thi hành trực tiếp các quy định của luật vàvăn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và cụ thể hóa các quy định này để thihành ở địa phương

Trang 16

1.2.2 Văn bản QPPL của chính quyền địa phương điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh ở địa phương

Hoạt động ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phương gắn liềnvới chức năng trực tiếp tổ chức và quản lý các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa – xã hội, an ninh – quốc phòng, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.Nguyên tắc hiến định của quản lý nhà nước là bằng pháp luật, thực hiệnnguyên tắc này, trước hết, đòi hỏi các cơ quan Nhà nước ở địa phương phảichấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp, luật và văn bản của cơquan nhà nước cấp trên trong tổ chức và hoạt động của mình

Mặt khác, với tư cách là các chủ thể quản lý Nhà nước ở địa phương, các

cơ quan chính quyền địa phương có trách nhiệm chính trong việc áp dụng cácbiện pháp và tạo mọi điều kiện cần thiết để các cơ quan, tổ chức và các cánhân ở địa phương thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật Không cómột lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nào do chính quyền địaphương tiến hành quản lý mà lại không đòi hỏi trách nhiệm của chính quyềnđịa phương trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật Vì vậy, hoạtđộng ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phương luôn gắn liền vớihoạt động quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương và trên cơ sở

đó điều chỉnh các quan hệ xã hội đầy năng động, phức tạp luôn diễn ra hàngngày ở địa phương Ngoài ra, hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấpchính quyền địa phương không chỉ giới hạn trong việc bảo vệ các quyền, cáclợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc công dân cụ thể nào đó, mà tráchnhiệm chủ yếu, quan trọng hơn cả là quyết định mọi biện pháp nhằm tạo điềukiện thuận lợi nhất để các cơ quan, tổ chức và công dân ở địa phương thựchiện được trên thực tế các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời thihành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ pháp lý được Hiến pháp và pháp luật quyđịnh Chính vì vậy đối với những quan hệ mới phát sinh mà chưa được điềuchỉnh bởi văn bản QPPL của cơ quan Nhà nước cấp trên, thì các cơ quan

Trang 17

chính quyền địa phương căn cứ vào chức năng, quyền hạn của mình theo luậtđịnh chủ động ban hành các văn bản QPPL phù hợp với các văn bản của các

cơ quan Nhà nước cấp trên đề điều chỉnh các quan hệ này

1.3 Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản QPPL của chính quyền địa phương

Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND đã quy định cụ thểphạm vi ban hành văn bản QPPL của các cấp chính quyền địa phương (điều2), cũng như việc phân cấp thẩm quyền cho các cấp trong những phạm vi,lĩnh vực nhất định Nội dung, thẩm quyền ban hành văn bản QPPL củaHĐND, UBND được quy định cụ thể tại chương II Luật ban hành văn bảnQPPL của HĐND và UBND trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp và thống nhất vớicác quy định của Luật tổ chức HĐND, UBND năm 2003

Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND được giớihạn bởi mức độ thực hiện thẩm quyền, nghĩa là HĐND và UBND chỉ đượcban hành trong giới hạn luật định, không được ban hành văn bản vượt thẩmquyền Quy định này nhằm bảo đảm việc thực thi pháp luật ở địa phương,tránh việc các chủ thể lạm quyền, tùy tiện đưa ra các quyết định gây ảnhhưởng đến hiệu lực của văn bản QPPL và bảo đảm tính thống nhất của vănbản QPPL

Văn bản QPPL của chính quyền địa phương được ban hành dưới hìnhthức nghị quyết (đối với các văn bản QPPL của HĐND các cấp), quyết định,chỉ thị (đối với các văn bản QPPL của UBND các cấp)

Việc quy định rõ hình thức văn bản QPPL còn có ý nghĩa thực tiễn sâusắc, đặc biệt là trong quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân Bằng hình thứcvăn bản, đối tượng thi hành có thể nhận biết ngay ai đã ban hành văn bản đó(ví dụ với hình thức văn bản là nghị quyết người dân có thể nhận biết ngay đó

là văn bản của HĐND) Sự phân biệt này góp phần thể hiện tính công khai,

Trang 18

minh bạch của hệ thống pháp luật Đồng thời, việc tuân thủ hình thức của vănbản cũng là một yếu tố chứng minh tính hợp pháp của văn bản

1.4 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phương

Văn bản QPPL của HĐND và UBND có vai trò quan trọng, ảnh hưởngtrực tiếp đến quyền và lợi ích của nhiều tầng lớp nhân dân, do đó cần phảiđược ban hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ Trình tự thủ tục ban hànhvăn bản QPPL là cách thức tiến hành các hoạt động được thực hiện kế tiếpnhau bao gồm:

- Lập, thông qua và điều chỉnh chương trình xây dựng văn bản QPPL;

- Soạn thảo văn bản QPPL;

- Lấy ý kiến về dự thảo văn bản QPPL;

lý của văn bản và nâng cao hiệu quả của văn bản

Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phươnggồm trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND:

1.4.1 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân

Ở các địa phương hiện nay, số lượng quy phạm có trong một nghị quyếtkhông nhiều và hầu hết chỉ có ở nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện córất ít nghị quyết quy phạm, còn cấp xã thì hầu như không có Phần lớn các

Trang 19

nghị quyết của HĐND tập trung quy định các biện pháp phát triển kinh tế - xãhội ở địa phương, nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã thì quy định chitiết hơn và trong phạm vị hẹp.

Do HĐND làm việc tại hai kỳ họp trong một năm nên trình tự thủ tụcban hành nghị quyết cơ bản ổn định

Chương trình xây dựng nghị quyết hàng năm của HĐND cấp tỉnh đượcxây dựng căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, yêu cầu quản lý Nhà nước ởđịa phương, bảo đảm thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên,bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương Việc lập dự kiếnchương trình xây dựng nghị quyết của HĐND do Thường trực HĐND chủ trì,phối hợp với UBND và trình HĐND quyết định tại kỳ họp cuối năm Trongtrường hợp cần điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND thìThường trực HĐND phối hợp với UBND điều chỉnh và báo cáo HĐND tại kỳhọp gần nhất [6,tr 6]

Việc dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND trình hoặc do cơquan, tổ chức khác trình theo sự phân công của Thường trực HĐND.[6,tr 6] Việc lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh như sau: Căn

cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, cơ quan soạn thảo tổ chứclấy ý kiến của cơ quan, tổ chức hữu quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếpcủa nghị quyết Cơ quan, tổ chức hữu quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trảlời bằng văn bản trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo nghịquyết Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp củanghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy

ý kiến, địa chỉ nhận ý kiến và dành ít nhất bảy ngày, kể từ ngày tổ chức lấy ýkiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo nghị quyết [6, tr7]Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải được cơ quan tư pháp cùng cấpthẩm định Cơ quan tư pháp sau khi nhận được yêu cầu thẩm định phải làm

Trang 20

báo cáo thẩm định và gửi đến cơ quan soạn thảo chậm nhất bảy ngày trướcngày UBND họp Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ýkiến thẩm định để chỉnh lý dự thảo nghị quyết.

Sau khi có kết quả thẩm định của cơ quan tư pháp, UBND có tráchnhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để quyết định việctrình dự thảo nghị quyết ra HĐND cùng cấp (đối với dự thảo nghị quyết doUBND trình); Đối với dự thảo nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác trình thìUBND có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản

Dự thảo nghị quyết sau khi có ý kiến của UBND phải được Ban củaHĐND cùng cấp thẩm tra trước khi trình HĐND

Dự thảo nghị quyết tại kỳ họp HĐND được thông qua khi có quá nửatổng số đại biểu HĐND biểu quyết tán thành Chủ tịch HĐND ký chứng thựcnghị quyết [6, tr 8]

Trình tự, thủ tục ban hành Nghị quyết của HĐND cấp huyện và cấp xãkhông có bước lập, thông qua và điều chỉnh chương trình xây dựng Các bướckhác giống với trình tự ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh nhưng đơngiản hơn

1.4.2 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của Ủy ban nhân dân

Đối với UBND, thực tiễn hoạt động ban hành văn bản QPPL diễn ra tươngđối rõ ràng với các bước, các công đoạn được ghi nhận khá cụ thể, chặt chẽ.Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị hàng năm của UBND cấp tỉnhđược xây dựng căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, yêucầu quản lý nhà nước ở địa phương, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấptrên, nghị quyết của HĐND cùng cấp

Văn phòng UBND chủ trì, phối hợp với cơ quan tư pháp lập dự kiếnchương trình xây dựng quyết định, chỉ thị của UBND để trình UBND quyếtđịnh tại phiên họp tháng một hàng năm của UBND.[6, tr 9]

Trang 21

Việc soạn thảo văn bản QPPL của UBND thường do các cơ quan chuyênmôn chủ trì soạn thảo và trình UBND thông qua Tuy nhiên, cũng có một sốđịa phương lại chủ yếu do văn phòng UBND chủ trì soạn thảo (do các chuyênviên phụ trách lĩnh vực nghiên cứu soạn thảo)

Việc tổ chức lấy ý kiến được thực hiện như sau: Đối với các văn bảnquan trọng có liên quan đến quyền và lợi ích của nhân dân trên địa bàn thì chủtịch UBND có thể quyết định việc lấy ý kiến nhân dân Việc lấy ý kiến từ các

cơ quan được quy định trong thời hạn 05 ngày Trong trường hợp lấy ý kiếncủa đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của quyết định, chỉ thị thì cơ quan lấy

ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến, địa chỉ nhận ýkiến và dành ít nhất bảy ngày, kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượngđược lấy ý kiến góp ý vào dự thảo quyết định, chỉ thị

Dự thảo quyết định, chỉ thị của UBND cấp tỉnh phải được cơ quan tưpháp cùng cấp thẩm định trước khi trình UBND

Sau khi nhận được báo cáo thẩm định của cơ quan tư pháp, cơ quan soạnthảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định, chỉ thị đến UBND chậm nhất là năm ngàytrước ngày UBND họp

Dự thảo quyết định, chỉ thị được thông qua khi có quá nửa tổng số thànhviên UBND biểu quyết tán thành Chủ tịch UBND thay mặt UBND ký banhành quyết định, chỉ thị

Trình tự, thủ tục ban hành quyết định, chỉ thị của UBND cấp huyện vàcấp xã không có bước lập, thông qua và điều chỉnh chương trình xây dựng.Các bước khác giống với trình tự ban hành quyết định, chỉ thị của UBND cấptỉnh nhưng đơn giản hơn

1.5 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương

Hiệu lực là một vấn đề quan trọng của văn bản QPPL Là những văn bảnthuộc hệ thống pháp luật, văn bản QPPL của chính quyền địa phương cũng bị

Trang 22

chi phối bởi những nguyên tắc chung về cách xác định hiệu lực văn bảnQPPL Bên cạnh đó, cùng với việc tuân thủ những nguyên tắc chung về hiệulực của văn bản QPPL, hiệu lực văn bản QPPL của HĐND và UBND cònphải căn cứ vào các yếu tố: Tính chất, vị trí, thẩm quyền của HĐND vàUBND, loại và tính chất, đặc điểm, nội dung của văn bản quy phạm do các cơquan chính quyền Nhà nước địa phương ban hành.

1.5.1 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo thời gian

Hiệu lực về thời gian là khoảng thời gian văn bản QPPL có giá trị bắtbuộc thi hành được xác định từ thời điểm có hiệu lực đến thời điểm chấm dứthiệu lực của văn bản QPPL Văn bản QPPL được ban hành nhằm điều chỉnhcác quan hệ xã hội, tiên lượng quá trình biến đổi và định hướng các quan hệ

xã hội theo quy luật phát triển của đời sống xã hội Với tư cách là một chứcnăng quản lý, hoạt động ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân cũng mang tính dự báo và hướng tới hiệu quả của văn bảnkhông chỉ ở hiện tại mà trong cả tương lai Hiệu lực văn bản QPPL của chínhquyền địa phương theo thời gian được chia thành:

Thời điểm có hiệu lực của văn bản QPPL

Có hai cách xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản QPPL: Một là,thời điểm có hiệu lực của văn bản được qui định trong luật Trường hợp này,trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực, hiệu lực của văn bản tấtyếu phát sinh khi đến thời điểm được luật qui định; Hai là, thời điểm có hiệulực được xác định ngay trong văn bản, phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể

để đến thời điểm đó văn bản có thể được thực hiện thuận lợi nhất Thời điểmnày không được sớm hơn thời điểm có hiệu lực được Luật ban hành văn bảnQPPL qui định đối với từng loại văn bản cụ thể, trừ trường hợp văn bản quiđịnh về những vấn đề đột xuất

Trang 23

+ Trường hợp văn bản có hiệu lực theo qui định của pháp luật, thời điểm

có hiệu lực của văn bản được quy định như sau:

- Đối với các văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh có hiệu lực saumười ngày và phải được đăng trên báo cấp tỉnh chậm nhất là năm ngày, kể từngày HĐND thông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành;

- Đối với các văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện có hiệu lựcsau bảy ngày và phải được niêm yết chậm nhất là ba ngày, kể từ ngày HĐNDthông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành;

- Đối với các văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp xã có hiệu lực saunăm ngày và phải được niêm yết chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày HĐNDthông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành

Đối với văn bản QPPL của UBND quy định các biện pháp nhằm giải quyếtcác vấn đề phát sinh đột xuất, khẩn cấp (Trong trường hợp phải giải quyết cácvấn đề phát sinh đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, cháy, nổ, dịchbệnh, an ninh, trật tự) thì có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn

Văn bản QPPL của địa phương không được qui định hiệu lực trở vềtrước.[6, tr13]

Thời điểm hết hiệu lực của văn bản QPPL

Là hình thức văn bản có vị trí, vai trò cụ thể hóa, chi tiết hóa nội dungcác văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, vì vậy, khi văn bản gốc đóng vaitrò là cơ sở ban hành văn bản hết hiệu lực thì nghị quyết, quyết định, chỉ thịcủa các cơ quan chính quyền địa phương cũng hết hiệu lực theo, điều nàykhông phụ thuộc vào việc thời điểm hết hiệu lực có được nêu trong văn bảnhay không

Ngoài ra, thời điểm hết hiệu lực của văn bản QPPL của HĐND vàUBND còn được quy định như sau:

Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản, được thay thếbằng một văn bản mới của chính cơ quan đã ban hành văn bản đó, bị hủy bỏ

Trang 24

hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền,không còn đối tượng điều chỉnh.[6, tr13]

1.5.2 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo không gian

Theo nguyên tắc chung, văn bản QPPL do các cơ quan Nhà nước ởtrung ương ban hành có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc, văn bản QPPL do

cơ quan địa phương cấp nào ban hành sẽ có hiệu lực trên phạm vi địaphương đó

Trong trường hợp văn bản QPPL của HĐND, UBND có hiệu lực trongphạm vi nhất định của địa phương thì phải được xác định ngay trong văn bản đó.Văn bản QPPL của HĐND, UBND có hiệu lực áp dụng đối với cơquan, tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ xã hội được văn bản QPPL

đó điều chỉnh

Đối với trường hợp địa giới hành chỉnh được điều chỉnh thì hiệu lực vănbản QPPL của HĐND và UBND theo không gian được quy định như sau:Trong trường hợp một đơn vị hành chính được chia thành các đơn vịhành chính mới thì văn bản QPPL của HĐND, UBND của đơn vị hành chínhđược chia có hiệu lực đối với các đơn vị hành chính mới cho đến khiHĐND, UBND của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản QPPL thay thế;Trong trường hợp nhiều đơn vị hành chính được sáp nhập thành một đơn

vị hành chính mới thì văn bản QPPL của HĐND, UBND của đơn vị hànhchính được sáp nhập có hiệu lực đối với đơn vị hành chính đó cho đến khiHĐND, UBND của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản QPPL thay thế;Trong trường hợp một phần địa phận và dân cư của đơn vị hành chínhnày được sáp nhập về một đơn vị hành chính khác thì văn bản QPPL củaHĐND, UBND của đơn vị hành chính được mở rộng có hiệu lực đối vớiphần địa phận và bộ phận dân cư được sáp nhập.[6, tr13]

Trang 25

1.5.3 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo đối tượng áp dụng

Hiệu lực về đối tượng áp dụng liên quan mật thiết đến hiệu lực theo lãnhthổ của văn bản QPPL Trên thực tế, HĐND và UBND nước ta được hìnhthành nhằm quản lý địa phương trên các phương diện của đời sống xã hội màmột trong các nội dung đó là quản lý dân cư và tổ chức đời sống của dân cưtheo lãnh thổ Như vậy, tương ứng với mỗi chủ thể quản lý sẽ có một nhómđối tượng chịu sự quản lý HĐND và UBND là những cơ quan nhà nước hoạtđộng trong phạm vi một lãnh thổ xác định Do vậy, về nguyên tắc, những đốitượng đang ở tại địa bàn thuộc quyền quản lý của cơ quan đó

Nhìn chung, đối tượng áp dụng văn bản QPPL của HĐND và UBND lànhững cá nhân, tổ chức cư trú tại địa phương

Bên cạnh các cá nhân, tổ chức nêu trên, cá biệt còn có những đối tượngchịu sự quản lý của một địa phương, song lại đang ở một địa bàn thuộc quyềnquản lý của một địa phương khác Kết hợp giữa nguyên tắc xác định hiệu lựctheo không gian và theo đối tượng áp dụng, có thể đi đến kết luận rằng:Những đối tượng nêu trên phải tuân thủ văn bản của hai loại cơ quan: HĐND

và UBND nơi họ đang ở và HĐND và UBND có quyền quản lý trực tiếp,thường xuyên đối với họ Hay nói cách khác, văn bản QPPL của HĐND vàUBND có thể có hiệu lực đối với đối tượng thuộc quyền quản lý của mìnhđang ở một địa phương khác Ví dụ: cá nhân, mặc dù không cư trú, song khiđang ở một địa bàn lãnh thổ nào thì phải chấp hành các quy định về bảo đảmtrật tự an toàn giao thông đường bộ hay những quy định về phí, lệ phí củaHĐND và UBND quản lý địa bàn đó Trên cơ sở này, quản lý Nhà nước đượcbảo đảm một cách toàn diện, triệt để và đồng bộ

Trang 26

1.6 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành

1.6.1 Khái niệm chất lượng văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành

Văn bản QPPL với tính cách là phương tiện cơ bản trong quản lý Nhànước, quản lý xã hội chỉ phát huy giá trị tích cực khi các văn bản đó có chấtlượng cao Văn bản QPPL có chất lượng cao thì nội dung các quy định phùhợp với điều kiện khách quan của đời sống xã hội, do đó sẽ có khả năng rấtlớn tác động vào các quan hệ xã hội; ngược lại, nếu có chất lượng thấp thì vănbản QPPL sẽ khó có khả năng đi vào đời sống xã hội, không được áp dụngtriệt để, do đó sẽ bị thay thế bởi những văn bản khác Hay nói cách khác, vănbản QPPL có chất lượng cao thì sẽ có tính khả thi cao Chất lượng văn bản cómối quan hệ mật thiết với tính khả thi của văn bản Chất lượng văn bản QPPLcũng trực tiếp chi phối tới hiệu lực pháp lý của nó, trước hết thể hiện trongviệc Nhà nước thường nâng hiệu lực pháp lý của văn bản lên ở mức cao hơn,khi nhận thấy một văn bản nào đó có chất lượng cao, để có thể triển khai thựchiện trong phạm vi rộng hơn, với nhiều đối tượng hơn và do đó khả năng tácđộng của văn bản QPPL sẽ lớn hơn Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng là

“cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật” Từ đó có thể hiểu chấtlượng của văn bản QPPL là cái tạo nên giá trị của văn bản QPPL trong đờisống xã hội, thể hiện trình độ pháp luật, trình độ quản lý, trình độ kỹ thuậtpháp lý… của người soạn thảo

Chất lượng của văn bản QPPL biểu hiện tập trung ở trong sự phù hợpcủa nội dung văn bản với đường lối của Đảng và với pháp luật hiện hành; sựphản ánh nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động; sự phù hợp với cácđiều kiện khách quan của đời sống xã hội; sự tương thích với pháp luật trongkhu vực và trên thế giới; sự hoàn thiện về trình độ kỹ thuật soạn thảo văn bản

Trang 27

1.6.2 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành

Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng văn bản là chuẩn mực, là thước đo để xácđịnh giá trị của một văn bản QPPL nào đó đối với việc tác động vào các quan hệ

xã hội Các tiêu chuẩn này được xây dựng trên cơ sở pháp lý, lý luận và thựctiễn, đảm bảo nguyên tắc khách quan, toàn diện Theo đó, văn bản QPPL nóichung và văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành nói riêng được coi

là bảo đảm chất lượng khi đáp ứng được các tiêu chuẩn sau:

Để đáp ứng tiêu chuẩn chính trị, văn bản QPPL do chính quyền địa phươngban hành vừa phải phù hợp, vừa phải thể chế hóa chủ trương, đường lối, chínhsách của Đảng, vừa phải thể hiện ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.Hoạt động ban hành văn bản QPPL là hoạt động có ý thức và ý chí của Nhànước Ý chí của Nhà nước, nhất lại là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân, cần phải phản ánh một cách đầy đủ ý chí của nhân dân Điều này đòihỏi khi tiến hành soạn thảo bất kỳ một văn bản QPPL nào, cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền đều phải đáp đứng ở vị thế là người đại diện cho nhân dân, lấy lợiích của nhân dân làm yêu cầu phản ánh và làm mục tiêu phục vụ Đặc biệt ở cấpchính quyền địa phương nơi có một quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, có

Trang 28

thẩm quyền ban hành văn bản QPPL nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương củaĐảng, Nhà nước và là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân

Để văn bản QPPL có chất lượng cao thì văn bản đó phải có khả năng thựchiện trên thực tế, tức là phải có tính khả thi “Các quy định của văn bản khôngchỉ có tính cưỡng chế với người dân mà cũng phải thấy rằng sự cưỡng chế đó làhợp lý, hợp lòng dân và vì lợi ích chung mà pháp luật cần có để tạo ra các chuẩnmực chung áp dụng cho mọi người Các quy định hợp lòng dân là các quy định

mà đa số người dân thấy hợp lý, không phải là chỉ phục vụ cho một nhóm lợi íchnhất định” [12, tr.130] Vì thế, văn bản QPPL do chính quyền địa phương banhành phải phản ánh được ý chí của người dân, nhằm bảo đảm sự kết hợp hài hòalợi ích của các giai tầng trong xã hội, vì khi phù hợp với lợi ích của họ thì họ sẽ

tự giác cao độ trong việc thực hiện văn bản Ngược lại, nếu xây dựng văn bảnchỉ căn cứ vào các yêu cầu của nhà quản lý mà không tính đến nguyện vọng củađối tượng bị quản lý (phần lớn là nhân dân lao động) thì dù văn bản có đượcsoạn thảo kỹ lưỡng hay được chuẩn bị đầy đủ, văn bản đó vẫn luôn thiếu căn cứthực tiễn, thiếu tính khả thi hoặc không có hiệu quả cao trên thực tế Để gópphần tạo ra sự phù hợp này, pháp luật quy định cho các tổ chức xã hội và côngdân có quyền tham gia đóng góp ý kiến cho các dự thảo văn bản QPPL củachính quyền địa phương Đây chính là sự bảo đảm cho nhân dân thực sự pháthuy quyền làm chủ của mình Thông qua đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền

sẽ tiếp nhận được nhiều ý kiến từ nhân dân để bổ sung, chỉnh lý dự thảo văn bảnQPPL, làm cho hệ thống QPPL ngày càng sát thực tế và có hiệu quả cao trongđời sống xã hội

Đảm bảo tính hợp pháp

Một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của văn bản là sự phù hợpvới pháp luật Tính hợp pháp là yêu cầu mà pháp luật quy định bắt buộc đối vớimột văn bản QPPL Sự vi phạm tiêu chuẩn này sẽ ảnh hưởng tới giá trị pháp lýcủa văn bản Tiêu chuẩn này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Trang 29

Khía cạnh thứ nhất là văn bản QPPL của chính quyền địa phương phải

được ban hành đúng thẩm quyền Thẩm quyền của mỗi cơ quan được pháp luậtquy định dựa trên sự phân công, phân cấp hoạt động trong toàn bộ bộ máy nhànước và khả năng giải quyết thực tế của từng cơ quan Khi cơ quan nhà nướcban hành văn bản QPPL là cơ quan đó thực hiện quyền lực mà Nhà nước traocho họ để tác động vào đối tượng khác trong xã hội bằng việc quy định cho cácđối tượng những quyền và nghĩa vụ cụ thể, vì vậy nội dung văn bản không đúnghoặc vượt quá giới hạn thẩm quyền của cơ quan ban hành thì đó là văn bản tráithẩm quyền Các văn bản được ban hành trái thẩm quyền có thể ảnh hưởng tới

sự hài hòa, thống nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước, vi phạm tiêu chuẩnpháp lý và sẽ không có hiệu lực trên thực tế

Để văn bản QPPL được ban hành đúng thẩm quyền, cần chú ý bảo đảm cảhai phương diện về thẩm quyền là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền vềnội dung Thẩm quyền về hình thức là thẩm quyền của các chủ thể trong việcban hành những hình thức văn bản QPPL do pháp luật quy định Việc tuân thủthẩm quyền hình thức của văn bản QPPL là yếu tố đảm bảo để văn bản phát huyhiệu lực Dưới góc độ tổ chức nhà nước, việc tuân thủ thẩm quyền hình thức củavăn bản QPPL là minh chứng cho kỷ luật và kỷ cương hành chính, thể hiện tínhpháp chế trong hoạt động quản lý nhà nước Thẩm quyền nội dung là giới hạnquyền lực của các chủ thể trong quá trình giải quyết công việc do pháp luật quyđịnh Về thực chất đó là “giới hạn của việc sử dụng quyền lực nhà nước mà phápluật thực định đã đặt ra đối với từng cơ quan trong bộ máy nhà nước về mỗi loạicông việc nhất định” [19, tr.71] Đây chính là việc chủ thể có thẩm quyền chỉđược ban hành văn bản QPPL giải quyết công việc trong những lĩnh vực, phạm

vi nào đó mà pháp luật quy định và không được ban hành ngoài phạm vi đó Banhành văn bản QPPL đúng thẩm quyền về nội dung phản ánh việc các chủ thể cóthẩm quyền phải có trách nhiệm giải quyết công việc phát sinh trong phạm vithẩm quyền, phạm vi không gian và phạm vi thời gian do pháp luật quy định, mà

Trang 30

không giải quyết công việc thuộc phạm vi thẩm quyền của cơ quan khác Việctuân thủ thẩm quyền nội dung của văn bản QPPL do chính quyền địa phươngban hành sẽ đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hộ phù hợp với đặcđiểm riêng của địa phương, với yêu cầu tác động đến đối tượng bị quản lý mànhiều trường hợp văn bản QPPL của trung ương do chưa dự trù được hết mọitình huống nên chưa quy định;

Khía cạnh thứ hai của tiêu chuẩn này là văn bản QPPL phải có nội dung

hợp pháp Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều văn bản QPPL

có hiệu lực cao thấp khác nhau Tính thống nhất của hệ thống pháp luật đòi hỏinội dung của văn bản có hiệu lực pháp lý thấp phải phù hợp với nội dung củavăn có hiệu lực pháp lý cao hơn Trong hoạt động ban hành văn bản QPPL củachính quyền địa phương đây là yêu cầu đầu tiên bảo đảm cho văn bản ban hànhhợp pháp Nếu văn bản có nội dung trái với nội dung của văn bản có hiệu lựcpháp lý cao hơn thì đó được coi là văn bản có nội dung trái với pháp luật

Như vậy, trong công tác ban hành văn bản QPPL của chính quyền địaphương một đòi hỏi đặt ra là phải bảo đảm tính hợp pháp trong sự phù hợp vớicác văn bản khác do cơ quan trung ương ban hành;

Khía cạnh thứ ba của tiêu chuẩn này là văn bản QPPL của chính quyền địa

phương phải được ban hành đúng thủ tục Trong hoạt động ban hành văn bảnQPPL, những quy định về thủ tục, trình tự đóng vai trò quan trọng Mục đíchcủa các thủ tục này là phối hợp nhịp nhàng hoạt động của các cá nhân, tổ chứctham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật, đưa ra quy trình hợp lý cho hoạtđộng xây dựng văn bản và cuối cùng là tạo ra các văn bản QPPL có chất lượngcao

Ngoài ra, văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành phải có nộidung tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, kí kết Yêu cầunày đòi hỏi các văn bản QPPL phải đảm bảo sự bình đẳng cùng có lợi, phù hợpvới các nguyên tắc cơ bản của pháp luật khu vực và quốc tế Sự tương thích với

Trang 31

các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc tham gia không chỉ đặt ra đốivới các văn bản QPPL do chính quyền trung ương ban hành, mà còn đặt ra đốivới các văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành.

Đảm bảo tính hợp lý

Thực tế cho thấy rằng, có nhiều văn bản QPPL không đi vào đời sống xãhội hay hiệu quả rất thấp Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó là dovăn bản thiếu sự phù hợp với lĩnh vực mà nó điều chỉnh Để đảm bảo tính khảthi, văn bản QPPL của chính quyền địa phương cần:

Một là: phải phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội Trong mọi trường

hợp và ở mọi thời điểm, pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển kinh tế Sựphù hợp của văn bản QPPL với thực trạng và quy luật vận động của đời sống xãhội là một điều kiện đảm bảo tính khả thi của văn bản QPPL Do đó, để đảm bảochất lượng văn bản QPPL của chính quyền địa phương, khi xác định nội dung củavăn bản phải xuất phát từ điều kiện kinh tế, đời sống xã hội, tránh chủ quan, duy ýchí, xa rời thực tiễn; cần cân nhắc lựa chọn phương án có hiệu quả kinh tế cao;

Hai là: phải phù hợp với văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán của

dân tộc Văn hóa, truyền thống là cốt cách của dân tộc Vì vậy, các văn bảnQPPL do chính quyền địa phương ban hành phải phù hợp với văn hóa, truyềnthống của dân tộc, phong tục tập quán tốt đẹp của địa phương

Sự phù hợp của văn bản QPPL với văn hóa, truyền thống, phong tục tậpquán của dân tộc vừa nâng cao giá trị thực tế của văn bản QPPL, vừa đảm bảokết quả điều chỉnh bền vững của văn bản QPPL, dễ dàng thiết lập và duy trì trật

tự xã hội với sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của nhân dân;

Ba là: phải phù hợp với đối tượng tác động của văn bản QPPL Với nội

dung là các quy tắc xử sự chung, văn bản QPPL có đối tượng tác động được xácđịnh một cách chung chung, trừu tượng Do vậy, để văn bản QPPL của chínhquyền địa phương có tính khả thi cao thì việc xác định đúng đối tượng tác độngcủa văn bản là rất quan trọng Bởi lẽ, pháp luật được thực hiện bằng chính hành

Trang 32

vi của từng con người cụ thể thông qua nhận thức của các chủ thể đó Văn bảnQPPL có được tự giác thực hiện hay không phụ thuộc vào việc văn bản có phùhợp với mong muốn, nguyện vọng, có đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của

họ hay không Vì vậy, nội dung của bản QPPL cần phù hợp với điều kiện vậtchất, tinh thần, độ tuổi, tâm sinh lý, trình độ nhận thức của người thi hành;

Bốn là: phải phù hợp với cách thức trình bày Để đảm bảo chất lượng của

văn bản QPPL của chính quyền địa phương, HĐND và UBND khi ban hành vănbản QPPL cần phải chú ý đến cách thức trình bày theo quy định của pháp luật.Yêu cầu này được hình thành trên cơ sở xem xét văn bản QPPL từ góc độ kỹthuật soạn thảo, coi văn bản QPPL là phương tiện quan trọng và chủ yếu để thểhiện ý chí nhà nước trong quản lý nên cần được soạn thảo với cách thức, kỹthuật pháp lý phù hợp với trình độ chung của xã hội;

Bên cạnh đó, việc sử dụng ngôn ngữ phải đảm bảo các yêu cầu là sử dụngtiếng Việt chuẩn, từ ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông,không sử dụng khẩu ngữ địa phương, từ lóng, từ cổ…, cách diễn đạt phải rõràng, dễ hiểu; đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung thì phảiđược giải thích trong văn bản Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng trựctiếp tới chất lượng văn bản QPPL của chính quyền địa phương

Trang 33

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VĂN BẢN QPPL

VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QPPL CỦA CÁC CẤP

CHÍNH QUYỀN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền Duyên hải Bắc Bộ,cách thủ đô Hà Nội 102 km, có diện tích là 1.519km2 Về ranh giới hành chính:Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; Phía Tây giáp tỉnh Hải Dương; PhíaNam giáp tỉnh Thái Bình; Phía Đông giáp biển Đông

Hải Phòng là một thành phố cảng và công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam,

là đô thị loại 1 - thành phố trực thuộc trung ương, là đầu mối giao thôngđường biển phía Bắc Với lợi thế cảng nước sâu, phát triển vận tải biển tại HảiPhòng là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ

Hải Phòng hiện nay bao gồm 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 7quận (Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, Đồ Sơn, DươngKinh), 8 huyện (An Dương, An Lão, Bạch Long Vĩ, Cát Hải, Kiến Thuỵ, TiênLãng, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo) Dân số thành phố là trên 1.837.000 người,trong đó số dân thành thị là trên 847.000 người và số dân ở nông thôn là trên990.000 người (theo số liệu điều tra dân số năm 2009) Mật độ dân số 1.207người/km2

Kinh tế phát triển ổn định và liên tục tăng trưởng; Cơ sở vật chất kỹthuật và quy mô kinh tế thành phố tiếp tục phát triển rõ nét; cơ cấu kinh tếchuyển dịch tích cực theo hướng tiên tiến; tiềm năng, lợi thế của thành phốcảng được khai thác, phát huy toàn diện và hiệu quả hơn; đang từng bước trởthành một trong những trung tâm công nghiệp, thương mại lớn của cả nước và

Trang 34

trung tâm dịch vụ của vùng Duyên hải Bắc bộ; tích cực chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế, đạt được những kết quả bước đầu quan trọng.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt tốc độ tăng trưởng khá cao tronggiai đoạn 2006- 2008 (bình quân tăng 12,76%/năm); từ năm 2009 đến năm

2010, tốc độ tăng trưởng chậm hơn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính

và suy thoái kinh tế thế giới, bình quân trong 5 năm đạt 11,32%; tuy khôngđạt mục tiêu Đại hội đề ra (12-13%/năm), song vẫn gấp 1,5 lần mức tăng bìnhquân chung của cả nước Nhiều chỉ tiêu đạt cao, về trước kế hoạch từ 1 đến 3năm, như sản lượng hàng hoá thông qua cảng, thu ngân sách trên địa bàn,tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Quy mô kinh tế tăng đáng kể so vớinăm 2005, GDP năm 2010 gấp 1,7 lần, GDP bình quân đầu người tăng 63,4%(năm 2010 đạt 1.742USD/người); tỷ trọng GDP (theo giá so sánh) trong GDP

cả nước chiếm khoảng 4,4% (năm 2005 là 3,6%) Cơ cấu kinh tế chuyển dịchtheo hướng tiên tiến, tỷ trọng GDP của các nhóm ngành công nghiệp - xâydựng và dịch vụ tăng từ 87% năm 2005 lên 90% năm 2010 (trong đó dịch vụtăng từ 50,8% lên 53%) Một số ngành, lĩnh vực kinh tế chủ lực, nhiều lợi thếphát triển nhanh, có thêm sản phẩm mới

Hải Phòng là một thành phố lớn của cả nước, đang trong quá trìnhchuyển mình để thành một thành phố công nghiệp, các hoạt động kinh tế - xãhội diễn ra sôi động Để điều hành và quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội,các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng đã thực hiện việc đưa các chủtrương, chính sách của Đảng, văn bản pháp luật của các cơ quan trung trungương vào đời sống xã hội Tuy nhiên, các văn bản QPPL của các cơ quantrung ương ban hành ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội chung nhất trêntoàn quốc nên không thể điều chỉnh hết tất cả các quan hệ xã hội ở thành phốHải Phòng Chính vì thế hoạt động xây dựng pháp luật của các cấp chínhquyền ở thành phố Hải Phòng là rất cần thiết để điều chỉnh các quan hệ xã hộirất đặc trưng của địa phương

Ngày đăng: 03/04/2013, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w