1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam

82 1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả Nguyễn Triều Dương, Liễu Thị Hạnh, Lê Thị Bích Lan, Lê Thế Phúc, Trịnh Huy Tân
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn cao học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 416 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực kể từ ngày01/01/2005 Có thể nói, BLTTDS được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển của

ba Pháp lệnh trước đó, bao gồm: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm1989; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tụcgiải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, đồng thời tiếp thu những thành tựu lậppháp của nhiều nước trên thế giới Đây là văn bản có tính pháp lý cao nhất quy định

về trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, trong đó có các quy định vềquyền khởi kiện và bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện của đương sự

Vấn đề quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện là vấn đề luôn được cácnhà nghiên cứu về tố tụng, cơ quan lập pháp của nhiều nước trên thế giới quan tâm.Xét ở Việt Nam hiện nay thì các quy định trong pháp luật tố tụng dân sự của chúng

ta về cơ bản đã phần nào thể hiện được vấn đề này Tuy nhiên, về phương diện lýluận thì nhiều vấn đề về quyền khởi kiện và bảo đảm thực hiện quyền khởi kiệncũng chưa được giải quyết triệt để Thực tiễn tố tụng tại Tòa án cũng cho thấy, trongnhiều trường hợp, quyền khởi kiện của đương sự đã không được tôn trọng một cáchđúng mức Một số quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện đượcquy định trong BLTTDS còn chung chung, thiếu tính cụ thể dẫn tới những khó khăn,vướng mắc trong việc áp dụng hoặc dẫn tới những cách hiểu và vận dụng khác nhau.Đây chính là một trong những nguyên nhân của việc “tùy tiện chủ quan” trong việc

áp dụng pháp luật, làm cho quyền khởi kiện vụ án dân sự của đương sự không đượcbảo đảm thực hiện trên thực tế Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng cho thấy một số quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu củaviệc bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Do vậy, việc nghiên cứu mộtcách toàn diện, sâu sắc về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện cả vềphương diện lý luận, lập pháp và thực tiễn, từ đó đề xuất những giải pháp cho việchoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền khởi kiện là một việc làmcấp thiết

Trang 2

Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã lựa chọn đề tài “Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam” làm luận văn cao học

luật của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Sau khi BLTTDS có hiệu lực, cũng đã có một vài công trình nghiên cứu vềquyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện nhưng các công trình này cũng chỉ đềcập đến một nội dung cụ thể nào đó của quyền khởi kiện hoặc nghiên cứu một cáchgián tiếp về quyền khởi kiện của đương sự như luận văn cao học luật với đề tài

“Đương sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả

Nguyễn Triều Dương (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005); luận văn

“Thụ lý vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Liễu Thị Hạnh

(bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009) Ngoài ra, cũng có một số bài viếttrên các tạp chí chuyên ngành về một nội dung nào đó của quyền khởi kiện hoặc bìnhluận về các vụ việc cụ thể liên quan đến quyền khởi kiện Chẳng hạn như bài viết

Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự” của ThS Lê Thị Bích Lan đăng tải trênTạp chí Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội (Số Đặc san về Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2005); bài viết “Xây dựng quy định pháp lý đảm bảo quyền khởi kiện hành

vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tại toà án” của tác giả Lê Thế Phúc (Tạp chí Nhànước và Pháp luật số 6 năm 2007); “Bàn về điều kiện khởi kiện của các tổ chức tín dụng có tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay” của tác giả Trịnh Huy Tân (Tạp chíKiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao số 9/2008); “Về việc rút đơn khởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự” của ThS Nguyễn Triều Dương (Tạp chí Tòa ánnhân dân số tháng 11/2009); “Về điều kiện khởi kiện tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án trong một vụ án cụ thể” của tác giả Ngô Đình

Quyến (Tạp chí Tòa án nhân dân số tháng 3/2008); "Quyền khởi kiện và việc xác định

tư cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần Anh Tuấn (Tạp chí Tòa án nhân dân, số

23/2008)

Việc nghiên cứu cho thấy các công trình trên đây cũng mới chỉ dừng lại ở việc

đề cập một cách gián tiếp hoặc nghiên cứu một góc độ hẹp của quyền khởi kiện Chođến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện về

Trang 3

quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự.

Trước tình hình đó, tôi đã chọn đề tài " Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam" làm luận văn thạc sỹ của mình Đây là đề tài đầutiên nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về quyền khởi kiện và đảm bảoquyền khởi kiện trong tố tụng dân sự

3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

* Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng nhưnội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyềnkhởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưahợp lý trong các quy định hiện hành về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiệncủa đương sự Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng nhằm làm sáng rõ việc bảo đảm thựchiện quyền khởi kiện trên thực tế Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, luận văn

sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự ViệtNam về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện đồng thời nâng cao hiệu quảcủa việc bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn phải hoàn thành một số nhiệm vụnghiên cứu cụ thể sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởikiện trong tố tụng dân sự;

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có liên quantới quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện và thực tiễn áp dụng chúng tại cácToà án Từ đó chỉ ra những điểm bất cập, thiếu hợp lý trong các quy định của phápluật về quyền khởi kiện cũng như bảo đảm quyền khởi kiện;

- Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sựViệt Nam về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Với nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn sẽ không đi sâu nghiên cứu việc bảođảm giải quyết theo đúng pháp luật và bản chất sự việc, có nghĩa là không xét tới

Trang 4

việc giải quyết về nội dung của yêu cầu khởi kiện mà chỉ tập trung nghiên cứu việcbảo đảm quyền khởi kiện dưới góc độ tố tụng dân sự thông qua việc thụ lý, trả đơnhay đình chỉ giải quyết vụ án vì lý do không đủ điều kiện khởi kiện Nội dung cốt lõicủa luận văn là xoay quanh quyền khởi kiện và việc bảo đảm quyền khởi kiện dướigóc nhìn lý luận, luật thực định và thực tiễn Do vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ đượcgiới hạn trong phạm vi sau đây:

- Lịch sử hình thành và phát triển các quy đinh pháp luật tố tụng dân sự ViệtNam về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện;

- Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyền khởikiện và bảo đảm quyền khởi kiện;

- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền khởi kiện và bảo đảm quyềnkhởi kiện thông qua các hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được tiến hànhdựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh vềNhà nước và pháp luật Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đềtài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khácnhư phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh;phương pháp thống kê v.v

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về quyềnkhởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.Những đóng góp của luận văn thể hiện trên một số phương diện sau đây:

Thứ nhất: Lần đầu tiên quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện được

nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về lý luận, luật thực định và thựctiễn thực hiện

Thứ hai: Sau khi BLTTDS có hiệu lực, chưa có công trình nào nghiên cứu,

khảo sát chuyên sâu về thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS về quyền khởikiện và bảo đảm quyền khởi kiện Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu

Trang 5

chuyên sâu về thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền khởikiện nhằm chỉ ra thực trạng bảo đảm quyền khởi kiện cũng như những bất cập,vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật

Thứ ba: Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất những giải

pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởikiện, nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền khởi kiện trên thực tế

Thứ tư: Luận văn được bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho

giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật, các cán bộ làm công tác thực tiễn liên quanđến việc khởi kiện, bảo đảm quyền khởi kiện Ngoài ra, luận văn sẽ là tài liệu thamkhảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp liên quan tới việc hoàn thiện pháp luật vềquyền khởi kiện trong tố tụng dân sự

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kếtcầu bởi 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi

kiện trong tố tụng dân sự

Chương 2: Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện theo pháp luật tố tụng

dân sự Việt Nam hiện hành

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền

khởi kiện trong tố tụng dân sự và kiến nghị

Trang 6

CHƯƠNG 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ BẢO ĐẢM

QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, ý nghĩa của quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự

1.1.1 Khái niệm về quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự

Chúng ta thấy rằng trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật rađời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng phápluật của Nhà nước và bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập.Theo đó, quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân đã được pháp luật ghi nhận và chủ thểcho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơquan có thẩm quyền do Nhà nước quy định bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của mình.Trong cổ luật La Mã, đã có những quy định đầu tiên về quyền khởi kiện củacông dân La Mã Theo đó khi có hành vi xâm phạm quyền tư pháp của cá nhân thìngười có quyền lợi bị xâm phạm bên cạnh việc sử dụng hình thức tự trấn áp, họ còn

có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình Người bị viphạm có thực hiện quyền khởi kiện hay không, điều này pháp luật không bắt buộc

mà phụ thuộc vào ý chí của người đó [48, tr.212]

Trong xã hội hiện đại, quyền khởi kiện được ghi nhận là một quyền con ngườitrong tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các công ước quốc tế khác.Quyền khởi kiện là một trong những nhóm quyền tố tụng thuộc quyền con người vàsuy cho cùng thì quyền khởi kiện là quyền của một chủ thể trong mối quan hệ xã hộiđược pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo tốt nhất cho những quyền, lợi ích hợp phápcủa mình được thực hiện Điều này được thể hiện tại Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về

nhân quyền năm 1948 Theo đó “Mọi người đều có quyền được bảo vệ bằng các Tòa án quốc gia có thẩm quyền với phương tiện pháp lý có hiệu lực chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản đã được Hiến pháp và pháp luật công nhận”.

Như vậy, quyền khởi kiện được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và là cơ sở vữngchắc cho việc ghi nhận quyền này trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia

Trang 7

Theo các nhà nghiên cứu về tố tụng của Pháp thì “tố quyền” là khả năng đượcthừa nhận đối với cá nhân được yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt được sự tôntrọng các quyền và lợi ích chính đáng của mình Theo từ điển thuật ngữ luật học củaPháp thì tố quyền trước công lý là khả năng được thừa nhận đối với các chủ thểđược cầu viện tới công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chínhđáng Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự mới của Pháp thì thuật ngữ “action” – “tố

quyền” được dịch là quyền tham gia tố tụng theo đó “quyền tham gia tố tụng đối với người có yêu cầu là quyền được trình bày về nội dung yêu cầu của mình để Thẩm phán quyết định xem xét yêu cầu như vậy là có căn cứ hay không có căn cứ; đối với bên bị kiện quyền tham gia tố tụng là quyền được tranh luận về căn cứ của yêu cầu

do bên kia đưa ra”[8, tr.23]

Ở Việt Nam, về phương diện lý luận thì nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh chorằng “tố quyền tức là có quyền đi kiện”[8, tr.23] TS Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳngđịnh trong Giáo trình Luật tố tụng dân của trường Đại học Luật Hà Nội 1994 rằng

“Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể của Nhà nước hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm” [19,

tr.109-110] Khái niệm này dường như không đề cập tới các việc không có tranh

chấp nhưng nghiên cứu về khái niệm vụ án dân sự trong Giáo trình này” [19, tr.6-7],

Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 và thực tiễn tố tụng tạiToà án thì có thể khẳng định trong khái niệm trên quyền khởi kiện được thực hiệnđối với cả các việc dân sự không có tranh chấp

Kết quả nghiên cứu về quyền khởi kiện trong luật thực định Việt Nam cho thấyquyền khởi kiện được ghi nhận gián tiếp tại Điều 50 Hiến pháp năm 1992 của Nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Trên cơ

sở quy định của Hiến pháp, các văn bản khác đã cụ thể hoá và ghi nhận quyền khởikiện của đương sự Cụ thể là quyền khởi kiện được ghi nhận trong các văn bản phápluật nội dung và pháp luật tố tụng

Trang 8

Tiếp tục nghiên cứu về lý luận cho thấy, trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự(BLTTDS) năm 2004 ra đời thì quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa rất rộng vàđồng nhất với quyền yêu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo BLTTDS hiện nay.Theo đó, quyền khởi kiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép công dân đượcyêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi cho rằngquyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiệnpháp lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.Tuy nhiên, BLTTDS 2004 đã tách thủ tục giải quyết vụ án dân sự trước đây thànhhai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyếtviệc dân sự nên khái niệm quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây.

Có nghĩa là quyền khởi kiện không còn bao hàm cả quyền yêu cầu xem xét về việccông nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý hoặc các quyền về dân sự, hônnhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động như trước đây nữa mà quyềnkhởi kiện được hiểu là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâmphạm hay tranh chấp trong vụ án dân sự

Theo TS Hoàng Ngọc Thỉnh thì “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể…Việc thực hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện vụ án dân sự” và “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan,

tố chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác”[46, tr.238] Theo đó, khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá

nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự,

là cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Góc nhìn này tiếp tục đượckhẳng định bởi TS Phan Chí Hiếu trong Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Học

viện Tư pháp Theo đó, “quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc bị vi phạm” [50, tr 305] Như vậy, quyền khởi kiện là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm

vi quyền hạn của mình yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp

Trang 9

pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực cơ quan, tổ chức của mình phụ trách khi quyền, lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc có tranh chấp Các phân tích ở trên cho thấy rằng xét về bản chất thì quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm.

Theo những kết quả nghiên cứu trên thì bản chất của quyền khởi kiện là quyềnyêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm Từgóc nhìn này cần phát triển khái niệm về quyền khởi kiện theo hai góc độ, theonghĩa hẹp quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyênđơn và theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyềnlợi của nguyên đơn, quyền phản tố (kiện ngược lại) của bị đơn và quyền yêu cầu Toà

án bảo vệ quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do họ đã không thựchiện quyền yêu cầu của mình trước khi nguyên đơn khởi kiện vụ án

- Xét theo nghĩa hẹp thì quyền khởi kiện là quyền của nguyên đơn trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hay bị vi phạm:

Quyền khởi kiện của nguyên đơn là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của chủ thể có quyền lợi hợp pháp bị tranh chấp hay bị vi phạm và việc thực hiện quyền này sẽ làm phát sinh vụ án dân sự tại Toà án Xét về thực chất thì đây là

quyền của chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm trong việc bắt đầu việc kiện để bảo vệquyền lợi của mình, thông qua việc đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vụ ándân sự Đó là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụtrách Chính việc khởi kiện của của nguyên đơn là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan

hệ pháp luật tố tụng dân sự, không có hành vi khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết

vụ án dân sự thì không có quá trình tố tụng tiếp theo Như vậy, việc xác định quyềnkhởi kiện của nguyên đơn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách của cácđương sự khi họ tham gia tố tụng tại Tòa án

- Xét theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện bao hàm cả quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn, quyền phản tố của bị đơn, quyền yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyên đơn có quyền khởi kiện và bị đơn có quyền phản bác việc khởi kiện của

Trang 10

nguyên đơn Bên cạnh đó, quyền phản tố của bị đơn cũng cần được pháp luật ghinhận Điều này xuất phát từ sự bình đẳng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyềnlợi của mình Trong những vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp có mối liênquan đến nhau thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và yêucầu này có thể được Toà án xem xét giải quyết trong cùng vụ án với yêu cầu củanguyên đơn khi thoả mãn những điều kiện nhất định Thực chất của phản tố là mộtviệc kiện ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn nhưng được xét cùng với yêu cầukhởi kiện của nguyên đơn vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có liên quan chặt chẽvới nhau Như vậy, xét theo nghĩa rộng về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởikiện thì có thể xem quyền phản tố cũng là quyền khởi kiện nhưng là quyền khởi kiệnngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn do các yêu cầu này có mối liên hệ nhất định Cũng theo góc nhìn về sự bình đẳng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyềnlợi của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng cóquyền đưa ra yêu cầu độc lập của mình trong vụ án đã được thiết lập giữa nguyênđơn và bị đơn Yêu cầu tố tụng này có thể chống nguyên đơn, bị đơn hoặc chống cảnguyên đơn và bị đơn Bản chất của yêu cầu độc lập này là một yêu cầu tố tụng củangười thứ ba nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đang bị tranh chấp hay vi phạm trongmột vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn Khi nghiên cứu về vấn đề này

TS Nguyễn Công Bình cho rằng: “Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp

lý của nguyên đơn và bị đơn Thông thường người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án dân sự nhưng do vụ

án dân sự đã xuất hiện giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ sau đó sẽ gặp khó khăn” [46, tr.108].

Như vậy xét về bản chất thì quyền phản tố của bị đơn có thể hiểu là quyền khởikiện ngược lại của bị đơn, quyền yêu cầu của người có quyền nghĩa vụ liên quan cóyêu cầu độc lập là quyền khởi kiện chống lại cả nguyên đơn và bị đơn hoặc chỉchống lại nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án dân sự

Tóm lại, theo nghĩa hẹp thì quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá

Trang 11

nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, cơ quan, tố chức xã hội yêu cầu Tòa án bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Việc thực hiệnquyền khởi kiện của các chủ thể này sẽ làm phát sinh vụ án dân sự tại Tòa án Nếu hiểutheo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện còn bao gồm cả quyền yêu cầu Tòa án bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác sau khi vụ án đã phát sinh tại Tòa án.Theo nghĩa này thì quyền khởi kiện còn thuộc về bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụliên quan dưới hình thức là quyền phản tố hoặc quyền đưa ra yêu cầu độc lập

Theo góc nhìn này, bản luận văn sẽ đề cập tới việc bảo đảm quyền khởi theonghĩa rộng bao hàm cả quyền khởi kiện của nguyên đơn theo nghĩa đích thực của từ

“khởi kiện” và quyền phản tố hay quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền có yêucầu độc lập hay quyền khởi kiện chống lại nguyên đơn, bị đơn hay chống cả nguyênđơn, bị đơn của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập để bảo vệquyền lợi của mình khi mà vụ án giữa nguyên đơn và bị đơn đã được thiết lập

1.1.2 Khái niệm về bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự

Theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1998 thì “bảo đảm”

nghĩa là “ làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gìcần thiết” [11, tr.36] Như vậy “bảo đảm” nghĩa là làm cho một vấn đề nào đó có thểthực thi trên thực tế Để làm được cho một vấn đề nào đó có tính khả thi thì đòi hỏiphải có một cơ chế phù hợp với từng vấn đề cần thực hiện

Bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự nghĩa là tổng thể các biện pháp,các cơ chế hỗ trợ hoặc tạo điều kiện cần thiết cho đương sự có thể thực hiện quyềnkhởi kiện như hoạt động trợ giúp pháp lý cho đương sự, đơn giản và minh bạch hóa

về thủ tục khởi kiện, miễn, giảm án phí…đồng thời việc bảo đảm này còn được thựchiện thông qua chính các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án,Viện kiểm sát Chính các biện pháp và cơ chế này là cơ sở bảo đảm tính khả thi củaquyền khởi kiện, là cơ sở để quyền khởi kiện được thực hiện một cách có hiệu quảtrên thực tế nhằm bảo vệ các quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, laođộng đã được pháp luật ghi nhận và bảo hộ

Qua những phân tích trên chúng ta có thể kết luận là bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự nghĩa là làm cho các chủ thể có quyền khởi kiện có đủ những

Trang 12

điều kiện cần thiết, chắc chắn để thực hiện được trên thực tế quyền khởi kiện nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thông qua các biện pháp được xác định

1.1.3 Ý nghĩa của quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự

Trước hết, quyền khởi kiện là một trong những phương thức để đảm bảo quyền con người, cụ thể là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi xuất hiện hành vi xâm phạm của chủ thể khác Cá nhân, cơ quan tổ chức được giả thiết bị

xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp bởi chủ thể khác có quyền lựa chọn cácphương thức giải quyết tranh chấp và một trong những phương thức đó là khởi kiệnyêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Việc quy định quyền khởi kiệntạo điều kiện để các cá nhân, cơ quan tổ chức có quyền và lợi ích bị xâm phạm lựachọn cho mình phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất

Thứ hai, quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp vừa là tiền đề vừa là cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm khôi phục những quyền lợi hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm Việc cá nhân, cơ

quan, tổ chức khởi kiện là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án thụ lý và giải quyết vụ

án dân sự, là tiền đề để cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các giai đoạn tố tụng tiếptheo

Thứ ba, việc ghi nhận quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể và sự bảo đảm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền này cũng góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân Qua đó hạn chế tình

trạng xâm phạm quyền lợi hợp pháp của chủ thể khác khi tham gia các quan hệ Quyđịnh về quyền khởi kiện sẽ góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủthể khi tham gia quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, laođộng đồng thời có ý nghĩa răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền lợi củacác chủ thể, tránh được việc tranh chấp, kiện tụng gây phiền hà, tồn kém thời gian

và tiền bạc cho các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình,kinh doanh, thương mại, lao động

Thứ tư, việc bảo đảm quyền khởi kiện có ý nghĩa thiết thực và rất quan trọng

Trang 13

đối với quyền lợi của công dân mà trực tiếp là những chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực thi quyền này của công dân Chính thông qua cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện như quy định hợp lý

các điều kiện khởi kiện, thiết lập cơ chế hỗ trợ hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho cácđương sự thực hiện quyền khởi kiện, bảo đảm thông qua các quy định về thể chế vàthủ tục liên quan tới hoạt động tố tụng dân sự của các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát

mà quyền khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức sẽ được thực thi trên thực tế

1.2 Cơ sở của quyền khởi kiện

Quyền khởi kiện được nghiên cứu trong mối liên hệ giữa quyền lợi và việc bảo

vệ quyền lợi Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu thì quyền khởi kiện có thể

được phân tích như một quyền lợi trong thể động, khi quyền lợi còn được tôn trọng,không bị phủ nhận, chưa phải đem ra Toà thì quyền lợi còn ở trong thể tĩnh Quyềnlợi chỉ có thể là căn nguyên của tố quyền chứ không thể sáp nhập với tố quyền [12,

tr 36, 40] Theo góc nhìn này thì pháp luật nội dung ghi nhận và bảo hộ các quyền

về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của các chủ thể

Để các quyền lợi hợp pháp trên được bảo đảm thực hiện trên thực tế thì pháp luậtcần phải trao cho những chủ thể có quyền lợi bị xâm hại hay tranh chấp này mộtphương tiện để bảo vệ quyền lợi của mình nhằm thiết lập lại trật tự của các quan hệpháp luật nội dung đang bị xáo trộn

Vậy tại sao cần phải ghi nhận cho các chủ thể nói trên có quyền khởi kiện màkhông trao quyền này cho các cơ quan công quyền như Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát Điều này có thể lý giải từ bản chất dân sự của các quan hệ pháp luật dân sự, hônnhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được thiết lập Các quan hệ phápluật nội dung này được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết,thỏa thuận và tự định đoạt của các chủ thể và chính bản thân họ là những chủ thể cólợi ích tài sản hoặc nhân thân trong các quan hệ này Quan hệ pháp luật nội dung là

cơ sở để xác định có sự vi phạm thỏa thuận hay vi phạm các quy định của pháp luật,

là căn cứ để xem xét chủ thể có hành vi vi phạm và chủ thể có quyền, lợi ích hợppháp bị xâm phạm Do vậy, việc ghi nhận quyền khởi kiện thuộc về các chủ thể của

Trang 14

quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, vi phạm là hoàn toàn cần thiết và hợp lý Cũng xuất phát từ bản chất dân sự của các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhângia đình, kinh doanh, thương mại, lao động nên trong tố tụng dân sự thì các đương

sự có quyền tự định đoạt về việc bảo vệ quyền lợi của mình Các đương sự được tự

do trong việc quyết định lựa chọn các phương thức để bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của mình như trung gian hoà giải, trọng tài hoặc yêu cầu sự can thiệp của Toà

án Do vậy, pháp luật đã ghi nhận việc khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợicủa mình là một quyền mà đương sự được tự do thực hiện Theo đó, cá nhân, cơquan, tổ chức và các chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyềnkhởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc người có hành vi xâmphạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc phảichịu các chế tài theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các bên Xuất phát từ việc coi khởi kiện là một quyền của đương sự nên việc có sử dụngquyền này hay không là do chính đương sự tự mình quyết định Mặt khác, Nhà nước

có nghĩa vụ phải bảo đảm cho những quyền này có thể được thực hiện trên thực tếtheo những thủ tục mà pháp luật quy định

Việc ghi nhận quyền khởi kiện trước Toà án của đương sự và bảo đảm thực hiệnquyền này theo quy định của pháp luật là một phương thức văn minh thay thế cho việc

tự do hành xử của cá nhân trong việc giải quyết tranh chấp đã tồn tại trong lịch sử Docác bên trong quan hệ pháp luật nội dung bình đẳng về địa vị pháp lý nên một bênkhông thể tự mình cưỡng chế bên kia phải thực hiện nghĩa vụ của mình Vì vậy, họcần phải tìm đến một chủ thể có địa vị pháp lý cao hơn, có quyền năng đặc biệt để canthiệp giúp họ khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm hại – đó là Nhà nước, thông qua

hệ thống các cơ quan tư pháp của mình Quyền khởi kiện chính là quyền mà pháp luậttrao cho các bên trong quan hệ pháp luật nội dung sử dụng để yêu cầu Tòa án bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm hại của chủ thể khác

Việc xác định quyền khởi kiện được thực hiện đối với ai và khởi kiện về vấn đề

gì được xác định dựa trên cơ sở quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp cần phảigiải quyết Việc giải quyết vụ án dân sự là nhằm giải quyết quan hệ pháp luật nộidung có tranh chấp, vi phạm Nên chủ thể có quyền khởi kiện được xác định là chủ

Trang 15

thể của quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp có quyền lợi cần được bảo vệ vàchủ thể này có quyền thực hiện việc khởi kiện đối với chủ thể khác của quan hệpháp luật nội dung đã vi phạm quyền lợi hoặc có tranh chấp với mình

Thông thường để xác định quyền khởi kiện được thực hiện đối với ai thì phảidựa trên việc xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là quan hệ sở hữu, quan hệhợp đồng, quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay quan hệ thừa kế v.v.Riêng đối với những tranh chấp về quyền sử dụng đất thì cần phải xác định đượcbản chất của quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về việc ai là người có quyền

sử dụng đất (thực chất là tranh chấp quyền sử dụng đất hay cụ thể hơn là kiện đòi đấtđang bị người khác chiếm giữ, tranh chấp mốc giới) hay tranh chấp về các hợp đồngchuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trịquyền sử dụng đất; tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất để xác định cụ thể việckhởi kiện có thể thực hiện được đối với chủ thể nào Có thể nhận thấy đối với cácloại tranh chấp này, người có hành vi xâm phạm đến quyền của chủ sử dụng đất nhưlấn chiếm đất trái phép, vi phạm nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng về quyền sử dụngđất như không thực hiện đúng các quy định pháp luật về hình thức, không thanh toántiền đúng hạn, không chuyển giao tài sản… đều có thể trở thành chủ thể bị kiện nếungười sử dụng đất hợp pháp thực hiện quyền khởi kiện của họ

1.3 Các bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự

1.3.1 Tính hợp lý của các điều kiện khởi kiện – Bảo đảm cần thiết để đương

sự không bị hạn chế hoặc mất quyền khởi kiện

* Điều kiện về chủ thể và vấn đề bảo đảm quyền khởi kiện

Chủ thể muốn thực hiện việc khởi kiện thì phải có năng lực pháp luật tố tụngdân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự là mộtphạm trù có liên quan đến yếu tố chủ quan như khả năng nhận thức, khả năng hànhđộng, ý chí và lý trí, là khả năng của đương sự trong việc tự mình thực hiện quyền,nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng

Đối với cá nhân thì năng lực hành vi tố tụng của họ được xác định trên cơ sởkhả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân trong việc tham gia

Trang 16

vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Việc quy định điều kiện về năng lực hành vicủa cá nhân để họ có thể tự mình thực hiện việc khởi kiện là nhằm bảo đảm chongười có quyền lợi có thể thể hiện ý chí đích thực của mình trong việc bảo vệ quyềnlợi trước Toà án Tuy nhiên, đối với những đương sự có đủ năng lực hành vi để thựchiện quyền khởi kiện nếu vì những ly do khác nhau mà họ không thể thực hiện đượcquyền khởi kiện thì pháp luật cũng có thể bảo đảm điều kiện thuận lợi cho họ thựchiện quyền này thông qua cơ chế uỷ quyền cho người khác đại diện thay mặt mìnhkhởi kiện trước Toà án Việc cho phép đương sự thực hiện quyền khởi kiện thôngqua đại diện theo ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho đương

sự bằng nhiều hình thức khác nhau có thể thực hiện quyền khởi kiện một cách thuậnlợi nhất để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Ngoài ra, đối với những chủ thể có quyền lợi tranh chấp hoặc vi phạm nhưngkhông có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì pháp luật cũng ghi nhận những cơ chế

để bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện của họ Đó là cơ chế về đại diện để khởi kiệnbởi một số những chủ thể mà pháp luật xác định hay còn gọi là khởi kiện thông quangười đại diện theo pháp luật

* Tính hợp lý của các điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền khởi kiện – Điều kiện cần thiết để bảo đảm quyền khởi kiện

Quyền khởi kiện là một quyền quan trọng của đương sự cần được bảo đảm thựchiện Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau pháp luật quốc gia cũng có thể đặt ra nhữngđiều kiện bắt buộc chủ thể có quyền phải đưa sự việc tranh chấp ra giải quyết bằng conđường hoà giải tiền tố tụng trước khi thực hiện việc khởi kiện ra Toà án hoặc phải tuânthủ những điều kiện nhất định trước khi thực hiện việc khởi kiện Để bảo đảm quyềnkhởi kiện của đương sự thì pháp luật cần phải hạn chế một cách tối đa những trườnghợp được coi là điều kiện tiên quyết này Do vậy, chỉ có thể coi là quyền khởi kiệnkhông bị hạn chế nếu những điều kiện tiên quyết này là giải pháp cuối cùng để đảm bảocho sự hoạt động bình thường của bộ máy tư pháp hoặc đáp ứng yêu cầu về tính nhânđạo của pháp luật hoặc yêu cầu về tôn trọng cam kết của các bên

Việc các đương sự thỏa thuận, thương lượng để giải quyết tranh chấp luônđược Nhà nước khuyến khích Bởi vì, khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải

Trang 17

quyết tranh chấp thì tranh chấp, mâu thuẫn giữa các đương sự cũng được giải quyếtmột cách triệt để, tiết kiệm, nhanh chóng nhất và thông thường Nhà nước khôngphải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó Xét về mặt kinh tế, hòagiải thành trước khi khởi kiện có ý nghĩa rất lớn, các bên sẽ tránh được việc kiệntụng kéo dài, gây hao tiền, tốn của và Toà án cũng không mất thời gian, sức lực choviệc giải quyết vụ kiện Tuy nhiên, theo góc nhìn đã phân tích ở trên thì việc coi hoàgiải tiền tố tụng là một điều kiện bắt buộc trước khi khởi kiện ra Toà án cũng là điềucần phải cân nhắc thận trọng Cần phải đảm bảo hài hoà giữa quyền khởi kiện và lợiích của việc hoà giải tiền tố tụng.

* Điều kiện về sự việc chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định và việc ghi nhận quyền khởi kiện lại của đương sự

Về lý luận thì một vụ án đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện lại đối với vụ án đónữa Cách quy định này hoàn toàn phù hợp, xuất phát từ việc đảm bảo hiệu lực của cácbản án, quyết định của Tòa án, đảm bảo sự ổn định của các quan hệ xã hội, tránh tìnhtrạng chồng chéo, cùng một sự việc mà có nhiều cơ quan cùng giải quyết và quyết định.Tuy nhiên, nếu quy định trên là một quy định cứng nhắc, thiếu tính mềm dẻo thìquyền khởi kiện của đương sự đã không được tôn trọng và bảo đảm đúng mức Dovậy, pháp luật cũng cần có những quy định về các trường hợp ngoại lệ mà người cóquyền lợi bị vi phạm vẫn có thể có quyền khởi kiện lại Chẳng hạn như trường hợpbản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn; yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thayđổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại v.v Chính các ngoại lệ này là đã tạothêm cơ hội cho họ thực hiện tốt hơn quyền khởi kiện của mình và qua đó khả năngbảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ bằng con đường tố tụng được nâng lên

Do đó, việc ghi nhận quyền khởi kiện lại của đương sự trong những trường hợp nhấtđịnh cũng chính là một trong những phương thức bảo đảm quyền khởi kiện hữu hiệu

* Sự mềm dẻo trong các quy định về thời hiệu khởi kiện – Một bảo đảm cần thiết của quyền khởi kiện

Trong các giao dịch dân sự, chủ thể tham gia quan hệ dân sự được hưởng cácquyền và thực hiện các nghĩa vụ dân sự Sự ổn định của các quan hệ dân sự là một

Trang 18

trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự Ngoài ra, xét về góc độ tốtụng thì một sự việc xảy ra đã quá lâu thì việc xác định sự thật khách quan cũngkhông hề đơn giản và việc giải quyết sẽ vô cùng khó khăn phức tạp Do vậy, phápluật các nước đều có các quy định về thời hiệu khởi kiện Nếu các quy định về thờihiệu khởi kiện này có tính hợp lý thì quyền khởi kiện cũng đã được bảo đảm

Tuy nhiên, pháp luật cũng cần ghi nhận những trường hợp ngoại lệ về thời hiệukhởi kiện nếu người có quyền khởi kiện có những lý do chính đáng có thể được phápluật thừa nhận hoặc theo sự thoả thuận của các bên thì thời hiệu khởi kiện có thể đượckéo dài hoặc được bắt đầu lại Đó là các trường hợp thời hiệu khởi kiện bị gián đoạn khixảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc các bên có thoả thuận lại.Ngoài ra, trong một số trường hợp thì việc quy định về thời hiệu khởi kiện sẽ là một sựbất hợp lý, không bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự Do vậy, trong những trườnghợp này pháp luật không được hạn chế thời hiệu khởi kiện của đương sự Đó là các vụ

án dân sự liên quan đến các quyền nhân thân như quyền khởi kiện ly hôn Điều này làhoàn toàn phù hợp, bởi các quyền nhân thân luôn tồn tại lâu dài và nhiều khi gắn với cảcuộc đời của một cá nhân Việc ghi nhận quyền khởi kiện tuyệt đối của đương sự,không hạn chế về mặt thời gian là một phương thức bảo đảm quyền khởi kiện một cáchhợp lý và chặt chẽ Các ngoại lệ nói trên về thời hiệu khởi kiện là hoàn toàn hợp lý và là

cơ sở cần thiết để bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự

1.3.2 Ghi nhận các cơ chế hỗ trợ hoặc tạo điều kiện cho đương sự có thể thực hiện được quyền khởi kiện

- Ghi nhận và thực hiện quyền được trợ giúp pháp lý của đương sự

Quyền được trợ giúp pháp lý (TGPL) hay là quyền tiếp cận TGPL là mộtquyền cơ bản trong hệ thống quyền con người, là một quyền cụ thể của quyền tiếpcận tư pháp (hay tiếp cận công lý) Nội hàm của nó là những yêu sách chính đángcủa cá nhân hoặc nhóm người nhất định về việc được tiếp cận hệ thống dịch vụ và tưvấn pháp lý miễn phí dựa trên quy định của pháp luật Quyền được tiếp cận tư phápnói chung và quyền tiếp cận TGPL nói riêng được quy định trong một số công ướcquốc tế về các quyền dân sự - chính trị năm 1966, Công ước về các quyền kinh tế, xãhội và văn hóa Việt Nam tham gia 2 công ước này vào ngày 24/9/1982

Trang 19

Thực tiễn tư pháp và bảo đảm quyền con người (trong đó có quyền khởi kiện)trên thế giới chỉ ra rằng, hoạt động TGPL có tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảođảm và thực hiện các quyền con người Ở nước ta, theo Chỉ thị số 12 – CT/TƯ ngày12/7/1992 của Ban Bí thư TW Đảng khóa VII về “vấn đề quyền con người và quanđiểm, chủ trương của Đảng ta”, thì cơ chế bảo đảm quyền con người là tổng thể cácchính sách và biện pháp mà Nhà nước và xã hội thực hiện để các quyền con ngườitrong mọi điều kiện – hoàn cảnh được thực thi trên thực tế phù hợp với điều kiệnchính trị, kinh tế, xã hội của đất nước [53, tr 40].

Ghi nhận quyền được TGPL là sự giúp đỡ, hỗ trợ pháp lý của các cá nhân, tổchức khác như luật sư, nhân viên của các Trung tâm TGPL hoặc tổ chức xã hội đốivới việc tham gia tố tụng của các đương sự sẽ giúp đương sự khắc phục được nhậnthức không đầy đủ về pháp luật, xử sự lúng túng khi tham gia tố tụng do thiếu hiểubiết pháp luật và kinh nghiệm tham gia tố tụng Ngoài ra, sự hỗ trợ pháp lý của các

cá nhân, tổ chức khác đối với đương sự còn tạo được sự cân bằng trong việc thamgia tố tụng giữa các bên đương sự nhất là trong những VADS điều kiện tham gia tốtụng của các đương sự khác nhau như đương sự là cá nhân với đương sự là cơ quanNhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

Ghi nhận và thực hiện quyền được TGPL là một sự bảo đầu đảm tiên của nhànước trong việc tạo cơ chế hỗ trợ cho đương sự có thể thực hiện quyền khởi kiệnnhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, duy trì trật tự xã hội, khắc phụctình trạng thờ ơ, mất niềm tin vào pháp luật

- Đơn giản hóa và minh bạch hóa các quy định về đơn kiện và chứng cứ, tài liệu nộp kèm theo đơn kiện

Vụ án dân sự phát sinh chủ yếu là do cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khởikiện của mình bằng cách nộp đơn Đơn khởi kiện ở khía cạnh nào đó chính là thểhiện mối quan hệ thủ tục giữa Tòa án và người dân Do đó, thực hiện chiến lược cảicách các loại thủ tục thì quy định về hình thức, nội dung đơn kiện, chứng cứ kèmtheo phải rõ ràng không gây khó khăn hoặc gây phiền hà cho người khởi kiện thựchiện quyền khởi kiện Pháp luật cần quy định một cách hợp lý các chứng cứ, tài liệu

mà đương sự phải xuất trình khi nộp đơn khởi kiện theo hướng đủ để quyết định

Trang 20

việc thụ lý chứ không bắt buộc phải nộp toàn bộ các chứng cứ của vụ án

- Miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, án phí nhằm tạo điều kiện cho người nghèo

Do đó, Nhà nước căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể (như thu nhập bình quânđầu người, chi phí tố tụng…) để có thể áp dụng một mức tạm ứng án phí hợp lý đểvừa bảo đảm cho hoạt động của Tòa án vừa không làm hạn chế con đường đến vớicông lý của người dân Ngoài ra, một trong những cơ chế hỗ trợ hiệu quả nhất là cầnquy định những trường hợp miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, án phí nhằm tạo điều kiệncho người thu nhập thấp có thể thực hiện được quyền khởi kiện của mình

- Vấn đề kế thừa quyền khởi kiện và tạm đình chỉ giải quyết vụ án để xác định chủ thể tiếp tục thực hiện quyền khởi kiện

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc tòa án quyết định tạm dừng việcgiải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định Tạm đình chỉgiải quyết VADS là tạm thời ngừng việc giải quyết VADS chứ không phải ngừnghẳn việc giải quyết VADS Tính chất gián đoạn này sẽ được khắc phục, mọi hoạtđộng tố tụng sẽ được khôi phục khi nguyên nhân tạm đình chỉ không còn nữa Cácđương sự có quyền khởi kiện, phản tố, yêu cầu độc lập nhưng khi tham gia vào quan

hệ pháp luật tố tụng dân sự sẽ có thể xuất hiện những trường hợp làm cho việc thựchiện các quyền này bị gián đoạn Đó là trường hợp đương sự là cá nhân chết, cơquan, tổ chức bị chia, tách, sáp nhập, giải thể nhưng chưa có chủ thể kế thừa thamgia tố tụng hoặc đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa xácđịnh được người đại diện, chấm dứt đại diện mà chưa có người thay thế Trongnhững trường hợp này thì các quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự làmột giải pháp để xác định chủ thể kế thừa quyền khởi kiện và cũng là nhằm bảo đảmquyền khởi kiện sẽ được tiếp tục thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Trang 21

- Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện; quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu liên quan độc lập và tính hợp lý của thời điểm thụ lý vụ án

Vụ án dân sự chỉ phát sinh trên cơ sở có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.Dựa trên nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, nguyên đơn hoàn toàn có quyềnthay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình Vì suy cho cùng, VADS do Tòa ánthụ lý giải quyết là nhằm đạt đến mục đích và nguyện vọng của nguyên đơn, giảiquyết mối bất hòa trong quan hệ của các bên Tuy nhiên, xét trên phương diện lýluận nhà nước và pháp luật: quyền luôn đi liền với nghĩa vụ Hay nói khác đi, mặc

dù có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng nó phải đặt trong lợi ích củacác chủ thể khác, bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tranh tụng của bị đơn và người cóquyền và nghĩa vụ liên

Nếu chúng ta coi nguyên đơn có quyền khởi kiện để làm phát sinh VADSnhằm bảo vệ quyền, lợi ích của mình với vai trò chủ động thì cũng phải ghi nhậnquyền phản tố (kiện ngược lại) của bị đơn Tuy nhiên, quyền phản tố này phải đượcthực hiện trong mối liên hệ với bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tranh tụng của nguyênđơn và để nguyên đơn có thể chủ động chuẩn bị chứng cứ, tài liệu nhằm bảo vệmình và phản bác lại yêu cầu bị đơn

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù không chủ động đi kiện nhưngviệc giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thì có thể ảnh hưởng tớiquyền, lợi ích của họ Để giải quyết vụ án toàn diện, triệt để đòi hỏi cần thiết có sựtham gia của người thứ ba này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.Ghi nhận, quyền đưa ra yêu cầu độc lập là điều kiện để bảo đảm quyền yêu cầu Toà

án bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ

Thời điểm thụ lý vụ án là căn cứ để xác định các thời hạn giải quyết vụ án dân

sự Các đương sự bình đẳng trước Toà án trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, dovậy, pháp luật phải đảm bảo sự công bằng ngay trong các quy định về thời hạn xemxét giải quyết các yêu cầu Do vậy, việc quy định thời điểm thụ lý vụ án không chỉ căn

cứ vào thời điểm có đơn khởi kiện của nguyên đơn mà còn phải căn cứ vào thời điểm

có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trang 22

- Cơ chế chuyển hóa từ việc dân sự sang vụ án dân sự - Một đảm bảo cần thiết của quyền khởi kiện đối với chủ thể giữ nguyên yêu cầu trong việc dân sự

Việc nghiên cứu các loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân

sự cho thấy rằng, đối với các việc mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợiích hợp pháp giữa các bên do tính chất đặc thù của loại việc và chỉ một bên đương

sự yêu cầu Tòa án giải quyết như yêu cầu xác định tình trạng cá nhân do sự vắngmặt của họ tại nơi cư trú hoặc yêu cầu xác định năng lực hành vi dân sự của một cánhân, yêu cầu Tòa án hỗ trợ cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong quátrình Trọng tài thương mại giải quyết tranh chấp… thì bản chất của những loại việcnày không thay đổi trong suốt quá trình Tòa án giải quyết Do vậy, đối với nhữngviệc này, vấn đề chuyển hóa giữa việc dân sự và VADS không được đặt ra

Vấn đề chuyển hóa giữa việc dân sự sang VADS chỉ đặt ra đối với các việc màbản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các

đương sự đã thỏa thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Tòa án công nhận làm cơ sở

cho việc thi hành án sau này như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con,chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôicon… Bởi lẽ, trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết việcdân sự, trên cơ sở nguyên tắc quyền định đoạt các bên đương sự có thể thay đổi yêucầu của mình [55, tr.13-14]

Như vậy, đối với một số việc dân sự do các bên đương sự cùng yêu cầu Toà áncông nhận thoả thuận của mình nhưng sau đó một bên rút lại yêu cầu công nhận thoảthuận, trong khi đó bên kia vẫn yêu cầu Toà án giải quyết quan hệ pháp luật nộidung thì pháp luật cũng cần phải bảo đảm quyền khởi kiện của chủ thể giữ nguyênyêu cầu trong việc dân sự thông qua việc thiết lập cơ chế chuyển hoá giữa việc dân

Trang 23

tại Điều 74 Hiến pháp 1992 Ghi nhận quyền khiếu nại của đương sự đối với cácquyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm quyềnkhởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự vì thông qua đó đương sự có thể yêucầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xử lý các quyết định, hành vi

tố tụng trái pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ

Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, cũng như thiết lập cơ chế xem xét lạibản án quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục đặc biệt là quytrình tố tụng khoa học và tiến bộ nhằm cho phép các chủ thể có thể kháng cáo,kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án, thể hiện tính dân chủ trong tốtụng, bảo đảm và tạo cơ hội để quyền khởi kiện của đương sự thực thi có hiệu quả.Trả lại đơn kiện hay đình chỉ vụ án không đúng sẽ làm cho quyền, lợi ích hợppháp của đương sự không được Toà án xem xét đến và quyền khởi kiện sẽ khôngđược bảo đảm thực hiện trên thực tế Do đó, để bảo đảm quyền khởi kiện trongnhững trường hợp này thì pháp luật cần phải ghi nhận quyền khiếu nại của đương sựđối với hành vi trả lại đơn kiện của Tòa án và quyền kháng cáo của đương sự, khángnghị của Viện kiểm sát đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án Trên

cơ sở các quyền này người có thẩm quyền, Tòa án cấp trên sẽ xem xét lại tính đúngđắn của việc trả lại đơn khởi kiện hoặc quyết định đình chỉ giả quyết vụ án

1.3.3 Bảo đảm quyền khởi kiện thông qua hoạt động của cơ quan tiến hành

- Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát – Điều kiện cần thiết để quyền khởi

Trang 24

kiện không bị xâm phạm

Tòa án là một trong các cơ quan tư pháp, được thực hiện quyền lực của Nhànước để xét xử các VADS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức

Về mặt nguyên lý, quyền lực mà không bị giám sát, kiềm chế sẽ dẫn tới lạm quyền.Đối với hoạt động giải quyết các VADS của Tòa án nói riêng càng phải giám sát,kiểm sát vì hoạt động xét xử của Tòa án dễ bị thiên lệch, xâm phạm đến quyền, lợiích hợp pháp của đương sự Viện kiểm sát được ví như “cánh tay vươn dài của Quốchội”, thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, theo đó mọi hành vi của cơquan tiến hành tố tụng đều phải chịu sự kiểm sát của VKS Việc ghi nhận quyềntham gia tố tụng của VKS ngay từ khi Tòa án thụ lý vụ án là điều kiện cần thiết đểbảo đảm quyền khởi kiện không bị xâm phạm Một mặt sự tham gia này sẽ hạn chếtối đa việc trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án không đúng pháp luật.Ngoài ra, thông qua hoạt động kiểm sát của mình VKS có thể kịp thời kháng nghị đểquyền khởi kiện được bảo đảm thực hiện

- Việc thụ lý, trả đơn, chuyển đơn khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án và trách nhiệm của Tòa án

Nếu như pháp luật đã có những quy định hợp lý và minh bạch hoá về điều kiệnthụ lý, căn cứ trả đơn, chuyển đơn khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án nhằm bảođảm về mặt pháp lý quyền khởi kiện thì hoạt động tố tụng cụ thể của Toà án trongviệc nhận đơn, xem xét, quyết định việc thụ lý hay không thụ lý yêu cầu của đương

sự, chuyển đơn khởi kiện hay đình chỉ giải quyết vụ án lại có ý nghĩa bảo đảm trênthực tế quyền khởi kiện của đương sự Nếu như pháp luật đã quy định rõ ràng nhữngtrường hợp mà Toà án có quyền trả lại đơn khởi kiện thì Toà án chỉ có quyền từ chốithụ lý trong những trường hợp đã được quy định Ngoài những trường hợp đó thìToà án phải xem xét thụ lý đúng thời hạn luật định Sự chậm trễ của Toà án trongviệc thụ lý mà không có lý do chính đáng, việc chuyển đơn kiện lòng vòng màkhông có cơ sở pháp lý hay đình chỉ giải quyết vụ án ngoài những trường hợp luậtđịnh cũng phải được coi là đã xâm phạm đến quyền khởi kiện của đương sự Do vậy,

để đánh giá về quyền khởi kiện có được bảo đảm thực hiện hay không thì ngoài việccăn cứ vào quy định của pháp luật cần phải xét đến hoạt động tố tụng cụ thể của Toà

Trang 25

án trong việc thụ lý, trả đơn, chuyển đơn khởi kiện hay đình chỉ giải quyết vụ án

Do tính chất nghiêm trọng của vấn đề trả lại đơn kiện hay đình chỉ giải quyết

vụ án không đúng nên pháp luật cần quy định chặt chẽ, rõ ràng về căn cứ của cáchoạt động này Ngoài ra, để hạn chế và phòng ngừa những trường hợp từ chối thụ lýhay đình chỉ giải quyết vụ án không đúng thì pháp luật cũng cần ràng buộc tráchnhiệm của Tòa án và người tiến hành tố tụng trong những trường hợp nói trên bằngnhững chế tài nhất định Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết VADS cầnphải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn củamình Trường hợp người có thẩm quyền có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theomức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quyđịnh của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường

1.4 Lược sử các quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

1.4.1 Thời kỳ trước cách mạng Tháng 8 năm 1945

Không phải đến pháp luật hiện hành mới có các quy định về quyền khởi kiện

và bảo đảm quyền khởi kiện Cổ luật Việt Nam đã có những quy định về quyền khởikiện cũng như thủ tục thực hiện quyền khởi kiện trong Bộ Luật Hồng Đức và BộLuật Gia Long Cổ luật Việt Nam không phân biệt các vụ kiện về dân sự hay hình

sự, tất cả các hành vi vi phạm pháp luật đều bị các chế tài về hình sự kể cả những vụviệc mà ngày nay chúng ta coi chỉ có tính chất dân sự Cổ luật không có những quyđịnh trực tiếp về quyền khởi kiện Tuy nhiên, từ những quy định về luật hình thức vàthủ tục thực hiện đơn kiện và đơn tố cáo có thể cho chúng ta biết Cổ luật Việt Nam

đã có những quy định về quyền khởi kiện

Căn cứ để khởi kiện là các hành vi phạm tội được ghi nhận trong luật HồngĐức và Luật Gia Long Người đứng đơn khởi kiện được gọi là nguyên cáo, là người

có quyền lợi bị xâm phạm phải chứng minh được quyền khởi kiện của mình bằngviệc đưa ra những bằng chứng và chứng cứ để chứng minh về cơ sở của việc kiện.Chẳng hạn, khởi kiện về điền thổ phải có văn tự, về tài sản phải có chức thư, về nợphải có giấy tờ ghi nhận nợ

Người bị nguyên cáo kiện được gọi là bị cáo, cũng có quyền phản đối yêu cầu

Trang 26

của nguyên cáo bằng hình thức tương tự, đưa ra bằng chứng chứng minh làm cơ sởcho việc phản đối nộp cho nha môn Như vậy, Cổ luật Việt Nam đã có những quyđịnh cơ bản về điều kiện khởi kiện Tuy nhiên, Cổ luật cũng có những quy định hạnchế quyền khởi kiện của các thành viên trong gia đình Cụ thể là cấm con cháu kiệnông bà, cha mẹ, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng (Điều 511 Luật Hồng Đức, Điều

306 Luật Gia Long); con cháu cũng không được tố cáo ông bà cha mẹ, ông bà ngoại,ông bà cha mẹ chồng (Điều 504 Bộ Luật Hồng Đức, Điều 304 Bộ luật GiaLong) v.v Chính các quy định này đã hạn chế quyền khởi kiện của công dân.Trong thời kỳ Pháp thuộc thì các Bộ luật dân sự được áp dụng riêng rẽ cho ba

kỳ Các bộ luật quan trọng ta phải kể đến đến đó là Bộ Luật Dân sự Nam Kỳ giảnyếu ra đời năm 1883, Bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ(Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936 Các Bộ luật trên đều ghi nhậnquyền công dân trong lĩnh vực dân sự

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959

Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước dân chủ cộng hòa ra đời.Ngay sau đó Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945 cho giữ tạmthời những luật lệ hiện hành của chế độ cũ Nhà nước đã ban hành hàng loạt các sắclệnh trong đó cho phép Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng để giải quyết tranh chấp dân

sự như: Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩmphán; Sắc lệnh 52/SL ngày 17/04/1946 quy định thẩm quyền của các Tòa án; Sắclệnh 112/SL ngày 28/06/1946 bổ sung Sắc lệnh 51; Sắc lệnh 130/SL ngày19/07/1946 quy định về thể thức thi hành án; Sắc lệnh 85/SL ngày 22/05/1950 cảicách bộ máy tư pháp và tố tụng; Sắc lệnh 159/SL ngày 07/11/1950 quy định về vấn

đề ly hôn Tuy nhiên, trong điều kiện kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1954 cácSắc lệnh do Nhà nước ban hành chủ yếu quy định chung về thủ tục tố tụng màkhông có quy định cụ thể về quyền khởi kiện và đảm bảo quyền khởi kiện

1.4.3 Từ năm 1960 đến năn 1989

Ngay sau khi kháng chiến thắng lợi Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bảnpháp luật quy định các nguyên tắc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho côngdân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, Điều 22 Hiến pháp năm 1959 đã

Trang 27

ghi nhận nguyờn tắc “ Công dân nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đều bình đẳng trớc pháp luật ”, trờn tinh thần đú Luật Tổ chức Tũa ỏn, Luật Tổ chức Viện Kiểm sỏt đó

ghi nhận và đảm bảo đầy đủ nguyờn tắc đú

Để cụ thể húa nguyờn tắc trờn Tũa ỏn nhõn dõn tối cao cũng đó cú hướng dẫn

về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dõn sự tạo cơ sở choviệc ỏp dụng trờn thực tế quyền này của cụng dõn Qua nghiờn cứu cho thấy một sốvăn bản tố tụng quan trọng trong thời kỳ này trực tiếp hoặc giỏn tiếp quy định vềquyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện Đú là cụng văn số 1111/NCLP ngày13/07/1963 của Tũa ỏn nhõn dõn tối cao về thủ tục xử chia tài sản ly hụn đối vớingười mất trớ; cụng văn số 05/NCLP ngày 29/06/1966 của Tũa ỏn nhõn dõn tối cao

về tư cỏch bị đơn; Thụng tư số 39/NCLP ngày 21/01/1972 của Tũa ỏn nhõn dõn tốicao hướng dẫn về thụ lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hụn nhõn và gia đỡnh vàtranh chấp dõn sự; Cụng văn số 96/NCLP ngày 08/02/1977 của Tũa ỏn nhõn dõn tốicao hướng dẫn trỡnh tự xột xử sơ thẩm về dõn sự Sau này Cụng văn số 546/DS ngày07/07/1989 về quyền khởi kiện của cỏ nhõn, tổ chức vỡ lợi ớch của Nhà nước cú quyđịnh khi Viện kiểm sỏt khởi tố vụ kiện thỡ cần đưa cơ quan Nhà nước hoặc hợp tỏcđứng vào vai trũ nguyờn đơn trong vụ kiện vỡ họ là đương sự chớnh trong vụ kiện.Tiếp đến là cụng văn số 05/NCLP ngày 29/06/1986 của Tũa ỏn nhõn dõn tối cao về

tư cỏch của bị đơn trong vụ kiện dõn sự; Nghị quyết 01/NQ/H ĐTP của Hội đồngthẩm phỏn Tũa ỏn nhõn dõn tối cao ngày 20/01/1988

Cú thể nhận xột trong giai đoạn từ năm 1960 đến 1989, vấn đề quyền khởi kiện

và bảo đảm quyền khởi kiện tiếp tục được ghi nhận và củng cố Tuy nhiờn để xỏc địnhchủ thể cú quyền khởi kiện thỡ cần phải căn cứ vào phỏp luật nội dung, trong đú sẽ xỏcđịnh quyền và nghĩa vụ của cỏc chủ thể khi tham gia cỏc quan hệ cụ thể, từ đú mớixỏc định được chủ thể mang quyền và chủ thể cú nghĩa vụ Cỏc văn bản này cũng đềcập đến việc thực hiện quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện Theo đú, nguyờnđơn cú đủ tư cỏch để đi kiện phải là người cú năng lực hành vi dõn sự và cú quyền lợi

bị xõm phạm Nguyờn đơn cú thể ủy quyền bằng văn bản cú chứng thực của Uỷ bannhõn dõn xó cho người cú năng lực hành vi thay mặt mỡnh trong việc kiện

1.4.4 Từ năm 1989 đến năm 2004:

Trang 28

Kế thừa và phát triển các quy định về tố tụng dân sự của giai đoạn trước đó,Nhà nước ta đã ban hành ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng Đó là Pháp lệnh Thủ tụcgiải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) ngày 29/11/1989, Pháp lệnh Thủ tụcgiải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) ngày 06/03/1994, Pháp lệnh Thủ tụcgiải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) ngày 11/04/1996 Đây lànhững văn bản pháp luật quan trọng về tố tụng dân sự, trong đó có những quy địnhliên quan đến quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện.

PLTTGQCVADS 1989 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc thực thi

quyền khởi kiện của công dân trên thực tế Điều 1 Pháp lệnh này quy định: “Công dân, pháp nhân theo thủ tục do pháp luật quy định, có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình” Điều 34 quy định về phạm

vi khởi kiện, theo đó một người có thể khởi kiện đối với một người về một hoặc nhiềuyêu cầu khác nhau, một người có thể khởi kiện đối với nhiều người hoặc nhiều người

có thể khởi kiện một người về cùng một quan hệ pháp luật Tuy nhiên, theo quy địnhcủa Pháp lệnh năm 1989, trình tự thủ tục giải quyết những vụ việc phát sinh tranh chấp

và không phát sinh tranh chấp đều được giải quyết theo một thủ tục chung

PLTTGQCVAKT 1994 và PLTTGQTCLĐ 1996 đã tách hai mảng kinh tế vàlao động ra khỏi trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự theo quy định củaPLTTQGCVADS năm 1989 Hai Pháp lệnh này về cơ bản được xây dựng trên cơ sởPLTTGQCVADS năm 1989 nên các quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyềnkhởi kiện về cơ bản tương tự như trong PLTTGQCVADS PLTTQGCVAKT năm

1994 không quy định quyền khởi tố vụ án kinh tế của Viện kiểm sát nhân dân Tuy

nhiên, theo Điều 28 PLTTQGCTCLĐ 1996 thì “đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác, nếu không có ai khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố”

Có thể nói pháp luật tố tụng thời gian này với ba pháp lệnh riêng rẽ với các thủtục khác nhau, đã gây rất nhiều khó khăn cho các chủ thể khi thực hiện quyền khởikiện bởi người dân vốn hạn chế về kiến thức pháp luật nay lại phải chịu sự phức tạpcủa các quy định nên việc khởi kiện hạn chế Mặt khác, trong khoảng thời gian này

Trang 29

pháp luật cũng chưa quan tâm nhiều đến các cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện.

1.4.5 Từ năm 2005 đến nay

BLTTDS năm 2004 có hiệu lực từ ngày 1/1/2005 đã thay thế ba pháp lệnhPLTTGQCVADS PLTTQGCVAKT, PLTTGQCTCLĐ và ghi nhận quyền khởi kiệncủa các tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại

và lao động và có các cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện như cơ chế hỗ trợ của Tòa án,Viện kiểm sát, các cơ quan và tổ chức xã hội v.v Bộ luật này đã quy định về haitrình tự khác nhau là trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và trình tự thủ tụcgiải quyết các việc dân sự không có tranh chấp Theo đó các quy định về quyền khởikiện, quyền yêu cầu và cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện cũng có nhiều thay đổi.Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng, banhành các văn bản hướng dẫn các quy định của BLTTDS Cụ thể là Nghị quyết số01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phầnthứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTPngày 17-9-2005hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “Chứng minh

và chứng cứ”; Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thihành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơthẩm” của BLTTDS; Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04-8-2006 hướng dẫnthi hành một số quy định trong phần thứ ba “Thủ tục giải quyết các vụ án tại Tòa áncấp phúc thẩm” của BLTTDS; Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01-9-2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tốicao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sát việc tuân theopháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của Kiểm sát viên trong việc giải quyếtcác vụ việc dân sự; Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28-12-2007 Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,

Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn ápdụng một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng Các văn bản trênđóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hoá BL TTDS, hướng dẫn áp dụng thốngnhất BLTTDS trên phạm vi toàn quốc, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm quyềnkhởi kiện trên thực tế

Trang 30

Tóm lại, qua việc nghiên cứu khái quát về quá trình hình thành và phát triểncủa các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền khởi kiện và bảo đảm quyềnkhởi kiện ta thấy rằng mặc dù trước đó Cổ luật Việt Nam đã có những ghi nhận banđầu về quyền khởi kiện Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước được độclập, các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiệnngày càng được quan tâm chú trọng BLTTDS năm 2004 ra đời đã đánh dấu mộtbước phát triển và ngày càng hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng dân sự vềquyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Để xây dựng cơ sở lý luận và góc nhìn cách khách quan, khoa học về vấn đềquyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự, tại Chương này,luận văn đã cố gắng phân tích, xây dựng các khái niệm cơ bản về “Quyền khởi kiện”

và “Bảo đảm quyền khởi kiện” trên cơ sở tham khảo, kế thừa và phát triển các kháiniệm có liên quan của các nhà khoa học trước đó

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thểtrong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi hợp pháp Quyền này có thể được hiểutheo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa hẹp, quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi hợppháp của nguyên đơn, là cơ sở làm phát sinh vụ án dân sự Theo nghĩa rộng thìquyền khởi kiện còn bao hàm cả quyền khởi kiện ngược lại (phản tố) của bị đơn vàquyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Cơ sở của quyền khởi kiện là dựa trên tính chất của quan hệ pháp luật nội dung

có tranh chấp, trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận trong dân sự vànguyên tắc về quyền bình đẳng, quyền định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự.Việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện, có quyền phản tố hay có yêu cầu độc lậpđược dựa trên quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp mà Toà án cần phải giảiquyết Việc kiện ai, kiện về vấn đề gì cũng phải dựa trên các quan hệ pháp luật nộidung này để xác định

Trang 31

Quá trình tố tụng dân sự tại Tòa án là quá trình tố tụng phức tạp, để cho cácchủ thể có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thì phảiminh bạch hoá và quy định hợp lý các điều kiện thụ lý vụ án, có cơ chế hỗ trợ đương

sự thực hiện quyền khởi kiện, có cơ chế ràng buộc trách nhiệm, giám sát hoạt động

tố tụng của Toà án và tạo cơ hội cho đương sự có thể chống lại sự lạm quyền hay viphạm quyền này từ phía Toà án

Trang 32

CHƯƠNG 2 QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN KHỞI KIỆN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1 Các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự

2.1.1 Quy định về chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự

Việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện là yêu cầu tất yếu đối với pháp luật tốtụng dân sự Có thể thấy rằng chủ thể có quyền khởi kiện dân sự là rất rộng, thuộc vềtất cả các chủ thể có quyền và lợi ích cần được bảo vệ trong các quan hệ pháp luật

về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

Theo Điều 161 BLTTDS thì “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Theo Điều

162 BLTTDS thì “Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách” Nếu hiểu theo nghĩa rộng của quyền khởi kiện

thì quyền khởi kiện vụ án dân sự còn bao gồm cả quyền phản tố của bị đơn và quyền đưa

ra yêu cầu độc lập của chủ thể thứ ba – người có quyền và nghĩa vụ liên quan

Chủ thể có quyền khởi kiện là nguyên đơn: Nguyên đơn là người đầu tiên nộp

đơn khởi kiện tại Tòa án, chính họ là người đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết

vụ án dân sự Đó có thể là cá nhân khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình hoặc cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích củaNhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách Việc khởi kiện của nguyên đơn là cơ sở pháp

lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự và quá trình tố tụng tiếp theo

Chủ thể có quyền phản tố: Phản tố là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự, đó là

việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn Thực chất việc phản tố của bị đơn là đưa ra mộtyêu cầu độc lập và bị đơn hoàn toàn có quyền khởi kiện thành một vụ án riêng biệtnhưng vì có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên được xem xét, giải

Trang 33

quyết trong cùng một vụ án Điều 176 BLTTDS đã quy định về quyền yêu cầu phản tốcủa bị đơn và tạo điều kiện cho bị đơn thực hiện quyền này của mình Mục đích phản tốcủa bị đơn là để nhằm bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn như trường hợp bịđơn cũng có nghĩa vụ với nguyên đơn và nguyên đơn cũng có nghĩa vụ với bị đơn; bịđơn phản tố để khấu trừ việc thực hiện nghĩa vụ, bị đơn cũng có thể phản tố để loại trừviệc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình cho nguyên đơn

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập – là chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu độc lập:

Nếu hiểu quyền khởi kiện theo nghĩa rộng thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan cũng có quyền khởi kiện một vụ án dân sự độc lập Tuy nhiên, việc họ thamgia vào vụ án giữa nguyên đơn và bị đơn sẽ bảo đảm tốt hơn cho họ trong việc bảo

vệ quyền lợi của mình Điều 177 BLTTDS đã ghi nhận quyền yêu cầu của người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan Theo quy định này thì yêu cầu độc lập của họ phảithỏa mãn điều kiện là việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ củahọ; yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết; yêu cầu độclập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án đượcchính xác và nhanh hơn

Ngoài ra, BLTTDS cũng ghi nhận một số chủ thể có quyền khởi kiện vì lợi ích của người khác Đó chính là quyền khởi kiện của các chủ thể không có quyền lợi

trong vụ kiện hay quyền khởi kiện của người đại diện của đương sự Cơ chế khởikiện thông qua người đại diện này cũng là một bảo đảm để quyền khởi kiện củađương sự có thể được thực thi một cách gián tiếp thông qua người đại diện của họ Người đại diện của đương sự không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật nộidung có tranh chấp nên không phải là đương sự trong vụ án Họ khởi kiện hoàn toàn

vì quyền lợi của đương sự và tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện đươngnhiên hoặc theo sự ủy quyền của đương sự

Điều 139 BLDS năm 2005 và Khoản 1 Điều 73 BLTTDS đã có quy định về cácloại đại diện trong tố tụng dân sự Theo đó người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồmngười đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền Nếu như người đại diện

Trang 34

theo pháp luật được ghi nhận trong luật thì người đại diện theo ủy quyền lại phụ thuộcvào ý chí của người có quyền khởi kiện Hiện nay BLTTDS không có quy định cụ thể

về người đại diện do Tòa án chỉ định nhưng xét về lý luận và theo quy định tại Điều 76BLTTDS thì người đại diện do Tòa án chỉ định cho bị đơn hoặc người có quyền, nghĩa

vụ liên quan vẫn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập

2.1.2 Về phạm vi khởi kiện

Phạm vi khởi kiện vụ án dân sự là giới hạn những vấn đề khởi kiện trong một

vụ án dân sự Để đảm bảo việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án được nhanhchóng và đúng đắn, BLTTDS quy định phạm vi khởi kiện vụ án dân sự Theo Điều

163 BLTTDS thì phạm vi khởi kiện được xác định như sau:

- Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện đối với một hoặc nhiều cá nhân,

cơ quan, tổ chức khác về một hay nhiều quan hệ pháp luật có liên quan đến nhautrong cùng một vụ án;

- Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể cùng khởi kiện đối với một cá nhân,một cơ quan, một tổ chức khác về một hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quanđến nhau trong cùng một vụ án

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định tại Điều 162 BLTTDS cóthể khởi kiện đối với một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệpháp luật hoặc các quan hệ pháp luật có liên quan đến nhau để giải quyết trong cùngmột vụ án

Mục 3 phần I nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hànhcác quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm”của BLTTDS cũng có hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này Theo đó, được coi là

“nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau” để giải quyết trong cùng một vụ ánkhi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a Việc giải quyết quan hệ pháp luật này đòi hỏi phải giải quyết đồng thời quan

hệ pháp luật khác; Ví dụ: A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc B phải trả lại quyền sửdụng đất Đồng thời A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc C phải tháo dỡ công trình mà

C đã xây dựng trên đất đó;

Trang 35

b Việc giải quyết các quan hệ pháp luật có cùng đương sự và về cùng loạitranh chấp quy định trong một điều luật tương ứng tại một trong các điều 25, 27, 29

và 31 của BLTTDS Ví dụ: A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc B phải trả nợ 100 triệuđồng Đồng thời A còn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc B phải trả lại chiếc xe ôtô mà

B thuê của A do đã hết thời hạn cho thuê

Như vậy, các yêu cầu liên quan đến nhau là những yêu cầu phát sinh từ mộtquan hệ pháp luật hoặc các quan hệ pháp luật có liên quan đến nhau và được giảiquyết trong cùng một vụ án dân sự Trong trường hợp đương sự khởi kiện về nhữngyêu cầu không liên quan đến nhau thì Tòa án phải thụ lý giải quyết các yêu cầu của

họ trong những vụ án riêng

2.1.3 Về chủ thể có thể bị kiện

Chủ thể có thể bị kiện là các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào các quan

hệ pháp luật nội dung như quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hôn nhân giađình, kinh doanh, thương mại, lao động bị cho rằng đã có hành vi xâm phạmquyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hoặc tranh chấp với nguyên đơn Nhữngngười này rất có thể bị khởi kiện ra Tòa án và tham gia tố tụng với tư cách bị đơn.Ngoài ra, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì chủ thể bị kiện cũng có thể là nguyên đơntrong trường hợp họ bị bị đơn phản tố hay kiện ngược trở lại Theo quy định tại

khoản 3 Điều 56 BLTTDS thì “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.

Như vậy, nếu xét theo nghĩa rộng thì chủ thể có thể bị kiện là một bên đã thamgia vào các quan hệ pháp luật nội dung như quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinhdoanh, thương mại, lao động và có thể là bị đơn hoặc nguyên đơn trong vụ án dân sựkhi bị đơn thực hiện quyền phản tố Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chỉ cho phép bịđơn có quyền phản tố đối với nguyên đơn, trong khi đó người có quyền và nghĩa vụliên quan có yêu cầu độc lập có thể đưa ra yêu cầu chống lại cả nguyên đơn, bị đơn.Đây là một hạn chế của pháp luật, do vậy cần mở rộng hơn quyền phản tố của bị đơnđối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trang 36

2.2 Các quy định pháp luật về bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự

2.2.1 Các quy định về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự và vấn đề bảo đảm quyền khởi kiện

2.2.1.1 Điều kiện về tư cách pháp lý

Để xác định tư cách pháp lý của một chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân

sự, chủ thể đó phải có lợi ích cần bảo vệ Nói cách khác, nếu không có lợi ích thì không

có tư cách khởi kiện Pháp luật cũng đòi hỏi nguyên đơn khi khởi kiện vụ án dân sựphải là người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều 161 BLTTDS)

Quyền khởi kiện hiểu theo nghĩa rộng còn bao gồm cả việc khởi kiện củanguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền yêu cầu độc lập của người cóquyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự Để việc thực hiện quyền của đương sựnày không làm ảnh hưởng hoặc gây cản trở đến quyền của các đương sự khác, phápluật đã quy định những điều kiện nhất định để quyền khởi kiện, quyền phản tố,quyền đưa ra yêu cầu độc lập:

* Đối với nguyên đơn, Khoản 2, Điều 56 BLTTDS quy định: “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm hại Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách cũng là nguyên đơn”

Để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng những yêucầu sau:

- Một là, để có tư cách nguyên đơn trong vụ án dân sự, về nguyên tắc các chủ

thể này phải là một bên chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình,kinh doanh, thương mại, lao động Chủ thể không có quyền lợi chỉ được coi lànguyên đơn trong trường hợp đặc biệt khi họ khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợiích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách

Hai là, họ là người cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đang bị tranh

chấp hoặc bị xâm hại

Ba là, để có thể tự mình thực hiện việc khởi kiện với tư cách là nguyên đơn họ

Trang 37

phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự Trường hợp cá nhânkhông có năng lực hành vi TTDS thì việc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của họ dongười đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

* Đối với bị đơn thì quyền phản tố của họ chỉ được chấp nhận khi thoả mãn các điều kiện luật định Theo quy định tại Điều 176 BLTTDS thì yêu cầu này được thực hiện “Cùng với việc phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện” và yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn được

chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn;

- Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;

- Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau vànếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án đượcchính xác và nhanh hơn

* Đối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, theo quy định tại khoản 4, Điều 56 BLTTDS thì “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân

sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Như vậy, việc tham gia tố

tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể do họ chủđộng hoặc theo yêu cầu của đương sự khác và được Tòa án chấp nhận đưa vào thamgia tố tụng dân sự

* Việc khởi kiện có thể được thực hiện thông qua người đại diện: Nguyên đơn,

bị đơn, người có quyền nghĩa vụ liên quan đều có thể thực hiện quyền khởi kiện,quyền phản tố hoặc quyền có yêu cầu độc lập thông qua người đại diện hợp pháp Đốivới những cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng dân sự như người chưa thànhniên, người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì khi lợi ích bị xâmphạm hoặc tranh chấp thì việc thực hiện quyền này phải do người đại diện của họ thaymặt thực hiện Đối với đương sự có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì việc khởi kiện

Trang 38

có thể do họ thực hiện trực tiếp hoặc thông qua người đại diện được ủy quyền.

2.2.1.2 Điều kiện về thẩm quyền

Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự đối với các tranh chấp thuộc thẩm quyền giảiquyết của Tòa án được quy định tại các điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS Ngoài ra, khithụ lý vụ án, Toà án cũng xem xét vụ án đó có thuộc thẩm quyền của mình theo cấp

và theo lãnh thổ hay không

Việc xác định và quy định cụ thể, rõ ràng những tranh chấp thuộc thẩm quyềndân sự của Toà án và xây dựng các tiêu chí trong luật thực định nhằm phân địnhrạch ròi giữa thẩm quyền sơ thẩm của Toà án các cấp và các Toà án cùng cấp là cơ

sở quan trọng để bảo đảm quyền khởi kiện Một mặt, quy định này tạo điều kiệnthuận lợi cho đương sự trong việc chủ động xác định Toà án có thẩm quyền để thựchiện việc khởi kiện của mình Mặt khác, là cơ sở để xác định trách nhiệm của Toà ántrong việc thụ lý vụ án, tránh việc từ chối thụ lý thiếu căn cứ hoặc đùn đẩy thụ lý vụ

án vì lý do thẩm quyền

Ngoài ra, trong một số trường hợp pháp luật tố tụng dân sự hiện hành đã ghinhận quyền của đương sự trong việc thoả thuận hoặc lựa chọn Tòa án để yêu cầubảo vệ quyền lợi của mình Việc BLTTDS ghi nhận các bên tranh chấp được quyềnthỏa thuận, lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp trong một số trường hợp nhất định

đã tạo điều kiện cho các bên chủ động thực hiện tốt hơn việc khởi kiện của mình.Trong trường hợp nhiều Tòa án đều có điều kiện giải quyết một vụ việc dân sự thìpháp luật hiện hành đã tạo điều kiện cho nguyên đơn có quyền lựa chọn một trongcác Tòa án mà họ cho là phù hợp nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình(Điều 36 BLTTDS) Đây là quy định tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện tốtquyền đi kiện của mình, bảo đảm quyền khởi kiện của công dân

Tuy nhiên, như đã phân tích ở Chương 1 thì có một số trường hợp nhất định phápluật cũng đặt ra những điều kiện tiên quyết về sự việc phải được một cơ quan, tổ chứcnào đó hoà giải trước khi khởi kiện ra Toà án Quy định này chỉ được coi là không cảntrở quyền khởi kiện của chủ thể nếu có những lý do hợp lý để có thể chấp nhận

Theo quy định hiện hành thì đối với tranh chấp về bồi thường thiệt hại chongười bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra phải được tiến

Trang 39

hành trên cơ sở thương lượng nếu đương sự không đồng ý với quyết định bồi thườngthì mới có quyền khởi kiện ra Tòa án Đối với các tranh chấp lao động thì trước hếtcác tranh chấp này phải được giải quyết thông qua hòa giải tại Hội đồng hoà giải laođộng hoặc hoà giải viên lao động, trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định tạiĐiều 31 BLTTDS Về cơ bản các quy định này có những cơ sở là bảo đảm uy tíncủa cơ quan tư pháp, vì lợi ích lâu dài của người lao động hay bảo đảm cho Toà ánkhông quá tải về công việc như đã lập luận tại Chương 1 Đây có thể coi như lý dochính đáng để quyền khởi kiện của đương sự có thể bị giới hạn.

Riêng đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất thì Theo Khoản 1 Điều 135

Luật đất đai 2003 thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở” Như vậy, theo quy định này thì Nhà nước khuyến khích giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở chứ không coi hoà giải cơ sở là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện ra

Toà án Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao thì mọi tranh chấpđất đai đều phải qua thủ tục hoà giải tại UBND xã, phường trước khi khởi kiện raToà án Toà án chỉ thụ lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất đã được hòa giải tại

ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhưng đương sự không thoả thuận được.Hướng dẫn này không hợp lý và trong nhiều trường hợp không bảo đảm quyền khởikiện, hạn chế quyền tiếp cận công lý của công dân

2.2.1.3 Quy định ngoại lệ về điều kiện về sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án

Điều 168 BLTTDS quy định nếu một vụ án đã được Tòa án của Việt Nam giảiquyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không đượckhởi kiện lại đối với vụ án đó nữa Quy định này dựa trên cơ sở đảm bảo hiệu lựccủa bản án, quyết định, sự ổn định của các quan hệ xã hội, một việc đã được giảiquyết thì không giải quyết lại nữa để tránh tình trạng chồng chéo cùng một vụ việc

mà nhiều cơ quan giải quyết và tránh việc kiện tụng kéo dài Tuy nhiên, để bảo đảmquyền khởi kiện của đương sự Điều 168 BLTTDS cũng quy định những ngoại lệ màđương sự có quyền khởi kiện Đó là các trường hợp sau đây:

Trang 40

- Bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn.

- Yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại

- Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ

mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;

Ngoài ra, trường hợp Tòa án còn ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theoquy định tại điểm c, e, g khoản 1 Điều 192 BLTTDS: người khởi kiện rút đơn khởikiện và được Toà án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; Đã có quyếtđịnh của Toà án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bênđương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản củadoanh nghiệp, hợp tác xã đó thì đương sự được quyền khởi kiện lại

2.2.1.4 Một số quy định ngoại lệ về điều kiện thời hiệu khởi kiện

Theo Điều 159 BLTTDS, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các chủ thể cóquyền khởi kiện được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp về dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp bị xâm phạm Hết thời hạn đó thì các chủ thể mất quyền khởi kiện, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác

Lý do pháp luật quy định về điều kiện thời hiệu khởi kiện đã được phân tích tạiChương 1 của Luận văn Tùy thuộc vào tính chất của mỗi loại tranh chấp mà phápluật nội dung quy định thời hiệu khởi kiện là khác nhau Theo các quy định hiệnhành thì thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp về thừa kế là mười năm kể từ thờiđiểm mở thừa kế; thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ vềtài sản do người chết để lại là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế (Điều 645 BLDS2005); thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp thương mại là 2 năm (Điều 319 LTM2005) Ngoài ra, thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp lao động tuỳ theo trườnghợp là một năm; ba năm hoặc sáu tháng

Theo quy định của Điều 160 BLTTDS thì pháp luật hiện hành đã có cơ chế bảođảm quyền khởi kiện thông qua việc ghi nhận ngoại lệ về thời hiệu khởi kiện: bắtđầu lại thời hiệu khởi kiện, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện, không hạnchế thời hiệu khởi kiện

Ngày đăng: 03/04/2013, 11:15

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w