1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn ban học của học sinh THPT

27 635 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn ban học của học sinh thpt
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2006-2007
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 175 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

,yếu tố ,ảnh hưởng,sự lựa chọn ,ban học, học sinh THPT

Trang 1

đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO1), thìmục tiêu quan trọng cấp thiết của ngành giáo dục là đào tạo ra đội ngũ lao động

có trình độ cao đáp ứng cho nhu cầu của xã hội, đào tạo ra những con ngườiViệt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghềnghiệp

Nhưng cho đến nay, nền giáo dục Việt Nam vẫn còn tồn tại khá nhiềuvấn đề bất cập bắt đầu từ việc xây dựng chương trình học, nội dung, phươngpháp giảng dạy, đội ngũ cán bộ giáo viên… và hậu quả tất yếu của nền giáodục chưa hiệu quả đó là sản phẩm của nền giáo dục (chất lượng lao động) còn

có một khoảng cách khá xa so với tiêu chuẩn chung của toàn thế giới nhất là sovới các nước trong khu vực Theo đánh giá của tổ chức Lao động Quốc tế(ILO), chất lượng lao động của Việt Nam chỉ đạt 29,6% so với tiêu chuẩn củaQuốc tế(100%) trong khi đó Philippin đạt 49,7%, Trung Quốc 52,5%, Singapođạt 70,2% Qua đó ta có thể thấy rằng nền giáo dục Việt Nam đang bị tụt hậu

so với nền giáo dục của thế giới và khu vực Theo báo cáo của Ngân hàng thếgiới (WB) năm 2006 Việt Nam xếp hàng chót trong khu vực Châu Á về sốngười học đại học Nếu xét trong độ tuổi từ 20-24 chỉ có 10% học đến đại học

1 WTO Tổ chức thương mại quốc tế thành lập ngay 1/1/1995 hiện nay có 151 thành viên, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tố chức này ngày 11/1/2007

Trang 2

so với thế giới là 15%, Thái Lan là 41%, Hàn Quốc là 89% Tỷ lệ 167 sinhviên/ 1 vạn dân của nước ta hiện nay là quá thấp trong khu vực.

Thực trạng này của nền giáo dục đã sớm được phát hiện và nền giáo dụcnước ta cũng đã và đang tiến hành nhiều lần đổi mới cải cách giáo dục để đưachất lượng nền giáo dục tiến lên Có nhiều biện pháp đã được đưa vào thựchiện như: cải cách chương trình SGK ở phổ thông, đổi mới phương pháp giảngdạy trong nhà trường, chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo

dục Chương trình phân ban được triển khai đại trà ở THPT năm học

2006-2007 cũng là một trong những cố gắng của ngành giáo dục nhằm nâng cao chất

lượng giáo dục Việt Nam, định hướng tương lai cho nền giáo dục nước nhànhưng cho đến nay nó vẫn bộc lộ khá nhiều bất cập

Là những nhà giáo trong tương lai, chúng tôi cũng rất quan tâm và cómột số những băn khoăn thắc mắc xung quanh vấn đề này Đó là:

1 Cho đến nay ngành giáo dục nước ta đã tiến hành khá nhiều lần phânban nhưng chưa có lần nào phát huy được hiệu quả của nó, cứ phân ban rồi lại

bỏ Điều này tác động không tốt đến nền giáo dục nước nhà Do vậy, chúng tôimuốn tìm hiểu xem chương trình phân ban hiện nay đã thực sự phù hợp vớihọc sinh chưa? Nó có tác động như thế nào đến quá trình học tập của học sinh?

2 Khi chương trình phân ban được thực hiện đại trà có một thực trangtại hầu hết các trường Phổ thông đó là phần lớn học sinh chọn ban cơ bản vàban Tự nhiên còn ban KHXH-NV không có hoặc có rất ít học sinh lựa chọn.Theo thống kê của Bộ Giáo dục- Đào tạo với trên 1,1 triệu học sinh lớp 10trong năm 2006- 2007 ở 64 tỉnh, thành phố thì ban KHXH- NV chiếm 6,47%,ban KH cơ bản 72.76% ban KH Tự nhiên chiếm 19,77% Riêng tại TP Hồ ChíMinh 1% học sinh học Ban KHXH2 Vậy nguyên nhân gì dẫn đến sự chênhlệch này? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến sự lựa chọn phân ban của học sinhTHPT

Trong đề tài này, chúng tôi không có tham vọng có thể đưa ra đượcnhững cải cách mới cho nền giáo dục Việt Nam nhưng rất mong rằng thông

2 Theo số liệu thống kê của Bộ GD-ĐT năm 2005-2006

Trang 3

qua đề tài này bước đầu chúng tôi có thể tìm thấy câu trả lời cho những bănkhoăn thắc mắc của mình Thiết nghĩ nó cũng rất hữu ích cho công việc củachúng tôi sau này Là những người giáo viên tương lai chúng tôi có thể biếtđược mình cần chuẩn bị những gì cho việc dạy học phân ban và xa hơn là dạyhọc tự chọn sau này Ngoài ra, khi hiểu được các yếu tố tác động đến sự lựachọn ban học của học sinh thì chúng tôi có thể định hướng cho học sinh giúpcác em có những lựa chọn đúng đắn vì việc lựa chọn ban học là một bướcngoặt khá quan trọng quyết định đến việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai củacác em

3.Lịch sử nghiên cứu đề tài

Giai đoạn THPT là giai đoạn quan trọng đối với việc lựa chọn nghềnghiệp của các em sau này vì vậy công tác hướng nghiệp trong bậc THPT3 đãđược ngành giáo dục chú trọng từ rất lâu Đã có rất nhiều bài báo, các đề tàinghiên cứu khoa học, nhiều cuốn sách viết về giáo dục Hướng nghiệp cho họcsinh THPT

Từ năm học 2006-2007, khi Bộ Giáo dục Đào tạo thực hiện chủ trươngphân ban trên diện rộng thì sự lựa chọn ban học của học sinh khi bước vào đầulớp 10 cũng trở nên rất quan trọng Nó là tiền đề cho việc lựa chọn khối thi vàlựa chọn nghề nghiệp của các em sau này Tuy nhiên, vấn đề này chưa đượcchú trọng nghiên cứu Mọi người mới chỉ tập trung thảo luận xem chươngtrình phân ban đã phù hợp chưa? Nó bất cập ở điểm nào? Các trường thực hiệnphân ban ra sao? Chứ chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về tác động của một sốyếu tố trong việc lựa chọn ban và chọn nghề của học sinh THPT

Trong Hội nghị khoa học sinh viên lần thứ VI (năm 2007) của Khoa

Sư Phạm- Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã có một đề tài nghiên cứu vềchương trình phân ban của các bạn K50 SP Hoá nhưng mới chỉ dừng lại ở việcđánh giá bước đầu về chương trình phân ban chứ chưa đặt nó trong mối tươngquan tác động đến tâm lý của học sinh khi chọn ban Trong đề tài nghiên cứu

3 Công tác giáo dục hướng nghiệp bắt đầu được Đảng và NN chú trọng từ những năm 70.

Trang 4

của mình, chúng tôi muốn một cái nhìn sâu sắc hơn về một số yếu tố tác độngđến việc chọn ban học của học sinh THPT nhưng chúng tôi cũng không bỏ quanhững kiến thức tương đối sâu sắc về chương trình phân ban.

4 Đối tượng nghiên cứu

Là một số yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ban học của học sinhTHPT ngoài ra còn nghiên cứu, tìm hiểu về chương trình phân ban hiện nay.Nhưng do thời gian có hạn, chúng tôi mới chỉ tiến hành khảo sát tại một số lớp

10 và 11 trường THPT Nhân Chính – Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc các loại sách, tạp chí có nộidung liên quan đến phân ban và tâm lý học sinh THPT sau đó tiến hành tổnghợp phân tích tài liệu

- Phương pháp điều tra thống kê: xây dựng mẫu phiếu điều tra gồm 14câu hỏi có nội dung về : các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến việc lựa chọn banhọc của học sinh THPT ; việc có hay không thi đại học sau khi tốt nghiệpTHPT; về thế mạnh của học tập của học sinh…sau đó phát cho học sinh trườngTHPT Nhân Chính để trưng cầu ý kiến của các em Cuối cùng, tổng hợp số liệuđiều tra, rút ra nhận xét đánh giá

- Phương pháp quan sát : thu thập thông tin thông qua những quan sátnghi chép mọi yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu Trong báo cáo nàychúng tôi quan sát một buổi học ngoại khoá của các em học sinh về lựa chọnnghề nghiệp

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

I Vài nét về phân ban

1 Khái quát chung về phân ban:

Khái niệm phân ban:

- “Phân ban”4 được thực hiện trong quá trình dạy học ở cấp THPT Khithực hiện phân ban những học sinh có năng lực, sở thích nhu cầu, điều kiện họctập tương đối giống nhau được tổ chức thành nhóm học theo cùng một chươngtrình Mỗi nhóm học sinh như vậy gọi là một ban Tuỳ theo số lượng học sinh

mà mỗi ban có thể chia thành một lớp Ví dụ những học sinh có cùng khả năngnhu cầu sở thích về lĩnh về toán và khoa học tự nhiên có thể học ở ban KHTN,những học sinh có cùng khả năng sở thích về lĩnh vực khoa học xã hội có thểtham gia ban KHXH và NV

1.2 Phân biệt khái niệm Phân ban với các khái niệm: Phân hoá, Phân

luồng và dạy học tự chọn :

+ Dạy học phân hoá là quan điểm dạy học đòi hỏi phải tiến hành hoạt

động dạy học dựa vào những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng, cácđiều kiện học tập….nhằm phát triển tốt nhất cho người học, đảm bảo côngbằng giáo dục

+ Phân luồng được thực hiện sau cấp THCS và THPT nhằm tạo ra

những cơ hội cho học sinh tiếp tục học tập hoặc làm việc sau cấp THCS cónhững luồng như: tiếp tục học THPT, học trung cấp chuyên nghiệp, học nghề,tham gia làm việc tại các cơ sở lao động sản xuất…

+ Dạy học tự chọn được thực hiện trong quá trình dạy học ở các cấp học Nếu Phân ban hướng đến các nhóm học sinh với khả năng, sở thích, nhu cầu điều kiện học tập tương đối giống nhau thì Dạy học tự chọn hướng đến từng cá

nhân học sinh

4 Khái niệm Phân ban được một nhà giáo dục học người Pháp đưa ra lần đầu tiên ở Châu Âu.

Trang 6

Dạy học tự chọn cho phép mỗi học sinh, ngoài việc học theo chương

trình chung còn có thể học một chuơng trình học với các môn học khác nhau,hoặc có thể học các chủ đề khác nhau trong một môn học

Như vậy, ta thấy rằng: các hình thức học tập này đều là những hình thứchọc tập tiên tiến phát huy tối đa khả năng của người học, tạo cho người họcđiều kiện học tập tốt nhất Hiện nay, các hình thức dạy học này đã và đangđược các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng để nâng cao chất lượng giáo dụcnhưng nó đòi hỏi điều kiện cơ sở vật chất cao và đội ngũ giáo viên trình độ cao

mà những điều kiện này hiện nay chúng ta chưa thể đáp ứng ngay được

2 Lịch sử phân ban ở nước ta:

- Phân ban ra đời từ khoảng Thế kỷ XVIII ở nhiều nước Châu Âu, sau đóhình thức này càng được hoàn thiện và áp dụng rộng rãi ở các nước Châu Âu

và các nước thuộc địa chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp

2.1 Trước cách mạng Tháng Tám 1945

Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, phân ban THPT đã có từ thời Phápthuộc Năm 1906, với cải cách của Toàn quyền Paul Beau5 bậc trung học đượcchia làm hai: trung học đệ nhất cấp và trung học đệ nhị cấp, trong đó trung học

đệ nhị cấp được phân làm hai ban là Ban văn học và Ban khoa học Hình thứcphân ban này nhằm đào tạo ra những nhân viên phục vụ cho nền thông trị củaPháp

Năm 1917, Toàn quyền Albert Saurraut 6 lại tiến hành cải cách giáo dụclần hai, vẫn chia giáo dục trung học làm hai ban Cao đẳng Tiểu học và Trunghọc nhưng không phân ban

2.2 Sau cách mạng Tháng Tám 1945

Sau cách mạng Tháng Tám 1945, ta tiếp quản nền giáo dục của Pháp Hệthống giáo dục Phổ thông được sửa đổi thành hệ 11 năm trong đó bậc Trunghọc được chia làm 3 ban: ban Toán- Lý-Hoá, ban Lý- Hoá- Sinh, ban Văn-Sử-

5 Paul Beau - người Pháp giữ chức Toàn quyền Đông Dương từ 1902-1907

6 6 Albert Saurraut – Toàn quyền Đông dương từ 1912-1919

Trang 7

Địa Năm 1950, ta tiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất chia làm 3 cấp học:Cấp I, CấpII, Cấp III không phân ban

Từ 1954 đến 1975, khi đất nước bị chia cắt, ở miền Nam vẫn duy trìchương trình phân ban gồm 4 ban: mỗi ban có 3 môn chính: ban khoa học thựcnghiệm- Ban A gồm Sinh-Hoá-Lý, ban toán- ban B gồm Toán-Lý-Hoá, banNgôn ngữ hiện đại- ban C gồm Văn-Sử-Địa-Ngoại ngữ và ban Cổ ngữ gồmHán Nôm-Văn-Ngoại ngữ

Đến năm 1981-1982, Bộ Giáo dục bỏ chương trình phân ban cũ và cảnước thống nhất chương trình Phổ thông 12 năm không phân ban

Năm 1993- 1994, phân ban lại tiếp tục được thực hiện, lần này Bộ Giáodục Đào tạo chỉ chia thành 3 ban: Ban A(KHTN), Ban B (KHTN-KT), Ban C(KHXH) thực hiện ở 214 trường với gần 2000 học sinh (chiếm gần 20% tổng

số trường toàn quốc) Nhưng trong quá trình thực hiện rất ít học sinh chọn ban

B lại thêm nhiều rắc rối trong thi cử năm 1998 nên Bộ quyết định dừng tuyểnsinh lớp 10 chuyên ban Thủ tướng đã có chỉ thị số 30 về việc điều chỉnh chủtrương phân ban ở PTTH và đào tạo 2 giai đoạn ở đại học

Năm 2003-2004, một chương trình phân ban THPT mới lại được thíđiểm tại 48 trường THPT thuộc 11 tỉnh, thành phố với 2 ban KHTN (ban A) vàKHXH(ban C) và dự kiến 2005-2006 sẽ triển khai đại trà chương trình này.Nhưng sau 2 năm thí điểm chương trình phân ban đã bộc lộ nhiều khuyết điểm

Cụ thể là số học sinh vào ban KHXH rất thấp(23,3%) nhiều trường chỉ có 10%học sinh học ban C và có tới 60% học sinh không đủ trình độ học ban A lẫnban C nhưng không biết chọn chương trình nào khác để học

Trước tình hình đó, tại hội nghị giao ban giám đốc Sở giáo dục-đào tạonăm 2005 diễn ra tại Hà Nội từ ngày 23- 24/3/2005, Ban chỉ đạo về chuơngtrình phân ban đã đưa ra 3 phương án:

+ Phương án 1: thực hiện phân thành hai ban từ lớp 10 gồm 2 ban(KHTN, KHXH-NV) như hiện nay và có điều chỉnh kế hoạch giảng dạy của 2ban, điều chỉnh số tiết học tự chọn

Trang 8

+ Phương án 2: thực hiện phân 4 ban ở lớp 12 Theo đó, học sinh lớp

10 và 11 cùng học theo chương trình chuẩn gồm 12 môn và các hoạt động giáodục kết hợp với chủ đề tự chọn Đến lớp 12, học sinh được chọn 1 trong 4 ban:KHTN I- ban A với các môn nâng cao Toán, Lý, Hoá; KHTN II- ban B với cácmôn nâng cao Toán, Hoá, Sinh; KHXH-NV- ban C với các môn nâng caoVăn, Sử, Địa; ban Tổng hợp- ban D với các môn nâng cao Toán, Ngoại ngữ,Văn

+ Phương án 3: phân ban sớm và sâu dần ở cuối cấp Theo đó, học sinhlớp 11 và 12 được phân thành 2 ban như đang thí điểm (KHTN, KHXH) Lớp

12 phân thành 4 ban (KHTN I, KHTN II, KHXH I, KHXH II) Mức độ phânhoá ở một số môn lớp 12 sâu hơn nhiều so với phân ban thí điểm, so vớiphương án 1,2 được đề xuất ở trên

Mỗi phương án trên đều có những ưu điểm, thuận lợi cũng như nhữnghạn chế khó khăn khi thực hiện trong đó phương án 3 phân ban sớm và sâu dần

ở cuối cấp được nhiều người lựa chọn vì phương án này bắt đầu từ lớp 10 sâudần ở lớp cuối cấp vừa tránh đột ngột cho học sinh, chuẩn bị tốt hơn cho thi

CĐ, ĐH đồng thời nó đảm bảo sự ổn định và kế thừa được những gì đã chuẩn

bị cho thí điểm ở lớp 10,11

Năm học 2006-2007, chương trình phân ban được đưa vào thực hiệnđại trà với nội dung phân ban như sau: học sinh học phân ban ngay từ lớp 10với 3 ban: KHTN học theo chương trình nâng cao của 4 môn Toán, Lý, Hoá,Sinh và chương trình chuẩn của các môn còn lại; KHXH học theo chương trìnhnâng cao của 4 môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ và chương trìnhchuẩn của các môn còn lại; KH Cơ bản học sinh sử dụng thời lượng dạy học tựchọn 4 tiết/ tuần để học theo chương trình và sách giáo khoa nâng cao của một

số môn có nội dung nâng cao Toán, Lý, Hoá, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ vàhọc chủ đề tự chọn thuộc một số môn học Các môn còn lại học SGK biên soạntheo chương trình chuẩn

1 Thực trạng lựa chọn ban học hiện nay

Trang 9

Khi chương trình phân ban được đưa vào thực hiện đại trà thì có một thực tế đang diễn ra ở nhiều trường phổ thông trong toàn quốc đó là số học sinh chọn ban KHXH rất ít thậm chí không có, còn số học sinh chọn ban KH

Cơ bản là khá cao Có thể dẫn ra đây một vài số liệu thống kê như sau:

chú ý là tỷ lệ chênh lệch nhau giữa hai ban này rất lớn 73,76/6,7(năm

2006-2007) Trên địa bàn Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh hầu hết các trường THPT đềukhông có ban KHXH vì số học sinh lựa chọn không đủ để thành lập một lớp.Đây là một bất cập mà hiện nay chúng ta chưa giải quyết được

Hiện nay đang có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề phân ban nhưnghầu hết đều chưa đánh giá cao chương trình phân ban hiện nay (từ ban họcchưa hợp lý, chưa phong phú đến chương trình học quá nặng, phương phápgiảng dạy chưa hiệu quả, cơ sở vật chất không đáp ứng được nhu cầu của họcsinh và giáo viên….) Nhìn chung, đây là một vấn đề đang được xã hội quantâm và là một vấn đề còn gây nên nhiều tranh cãi

I Khái quát chung về tâm lý học sinh THPT

Bảng 2:Tỷ lệ tham gia ban học của học sinh năm học 2007-2008(chưa thống kê đ

ược số liệu của cả nước) Bảng 1: Tỷ lệ tham gia ban học của học

sinh năm học 2006-2007

Trang 10

Yếu tố tâm lý lứa tuổi cũng có tác động rất lớn đến sự lựa chọn ban họccủa học sinh THPT Để thấy được sự tác động này trước hết ta đi tìm hiểu một

số đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT

Học sinh THPT là học sinh lứa tuổi từ 15-18 Đặc điểm nổi bật nhất củathời kỳ này là các em đã đạt đến sự trưởng thành về mặt cơ thể, có sức lực dồidào và hệ thần kinh khoẻ mạnh Chính sự phát triển khá hoàn thiện về mặt thểchất ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tâm lý giai đoạn này

1.Đặc điểm về nhận thức và sự hình thành thế giới quan 7

Nhận thức của các em đã khác về chất so với tuổi thiếu niên, ví dụ nhưkhi nhìn nhận một sự vật hiện tượng các em không chỉ dừng lại ở đánh giá bềngoài mà đã có những nhận xét về bản chất bên trong của sự vật hiện tượng Ởgiai đoạn này cảm giác và tri giác đã đạt đến mức độ tinh nhạy, tư duy logic, tưduy lý luận phát triển cao, các em đã biết xâu chuỗi các sự kiện để đưa ra kếtluận cuối cùng Giai đoạn này là giai đoạn quyết định sự hình thành thế giớiquan, do sự phát triển tương đối cao về mặt nhân cách những nguyên tắcchuẩn mực đã có từ trước được đưa vào hệ thống toàn vẹn

Sự hình thành thế giới quan trong giai đoạn này quy định tính tích cực

về nhận thức Hoạt động chủ đạo của các em vẫn là hoạt động học tập, sự pháttriển về mặt nhận thức giúp cho quá trình lĩnh hội tri thức tốt hơn, các em chủđộng hơn trong việc tìm tòi khám phá tri thức mới Học sinh THPT đã có sựphối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan vận động: mắt nhìn- tai nghe- tay viết-

óc suy nghĩ; khả năng quan sát tốt theo một kế hoạch chung Ngoài ra, các em

đã có những khám phá hiểu biết về thế giới xung quanh và từ đó có thể xâydựng lên quan điểm của riêng mình, các em muốn sống tích cực vì xã hội

2 Về tính cách và đời sống tình cảm

Các em ở giai đoạn này luôn có xu hướng thoát khỏi những sự ràngbuộc, muốn hoà nhập vào cuộc sống tập thể, luôn muốn tìm hiểu khám phá cáimới và muốn khẳng định “cái tôi” của bản thân, khẳng định vị trí xã hội của

7 7 Thế giới quan của các em đã được hình thành từ rất sớm tuy nhiên đến giai đoạn này mới

có tính hệ thống, quy tắc và chuẩn mực.

Trang 11

mình với các bạn cùng trang lứa Đời sống tình cảm của các em cũng phongphú hơn trước rất nhiều bao gồm cả tình bạn và tình yêu……các quan hệ xãhội được mở rộng, kỹ năng giao tiếp xã hội của các em ngày càng được hoànthiện thông qua các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp Các em có nhiềubạn hơn không chỉ bạn cùng học trên lớp mà còn nhiều bạn khác lớp và chịuảnh hưởng rất lớn từ bạn bè Hầu hết các em thích trò chuyện tâm sự với bạn

bè hơn là đối với cha mẹ và người thân trong gia đình

Lứa tuổi này ngoài tình bạn đã xuất hiện tình yêu , đây hầu hết là nhữngrung động đầu đời trong sáng vô tư Tình yêu ở lứa tuổi này là một hiện tượnghoàn toàn khách quan và thể hiện sự hoàn thiện về mặt tâm sinh lý của cá em.Tuy nhiên, các em còn nông nổi và thiếu hiểu biết chưa xác định được đó đã làtình yêu đích thực chưa? Vì vậy cần có sự quan tâm giúp đỡ của cha mẹ, thầycô…

3 Vấn đề định hướng nghề nghiệp

Các em học sinh lứa tuổi này rất quan tâm đến việc lựa chọn cho mìnhmột nghề nào đó phù hợp với điều kiện và khả năng của bản thân Việc chọnnghề đối với học sinh THPT có ý nghĩa nghiêm túc, trực tiếp và cấp bách

Như Mác đã nói “ Cân nhắc cẩn thận vấn đề này là trách nhiệm đầu

tiên của một thanh niên bước vào đời mà không muốn coi việc quan trọng nhất của mình là ngẫu nhiên” Học sinh THPT đã bắt đầu hiểu rõ ràng rằng cuộc

sống tương lai của bản thân phụ thuộc vào chỗ các em có biết lựa chọn nghề

nghiệp một cách đúng đắn không? “ dù chàng thanh niên là người nhẹ dạ và

vô tư thì thì việc lựa chọn nghề nghiệp vẫn là mối quan tâm chính và thường xuyên của anh ta” 8 Và để lựa chọn được một nghề phù hợp cho bản thân thìtrước hết các em phải lựa chọn được thế mạnh của mình trong học tập, có thái

độ học tập đúng đắn lĩnh hội được tri thức nhân loại vì trong bất kỳ lĩnh vựcnào tri thức hiểu biết và kỹ năng cũng là những tiêu chí hàng đầu Nhưng thực

tế học sinh THPT hiện nay vẫn còn rất thiếu hiểu biết về các nghề nghiệp trongtương lai, thiếu hiểu biết về những thuộc tính của nghề và những yêu cầu mà

8 Tâm lý học sư phạm và lứa tuổi-Petrovoski-Nxb GD năm 1982 Trang 42

Trang 12

nghề đưa ra để có những lựa chọn hợp lý về môn học cách học trong quá trìnhhọc tập nên dễ mắc phải những sai lầm trong việc lựa chọn môn học có thểphát huy tối đa khả năng của bản thân Vì vậy, chúng ta phải có sự định hướngcho học sinh trong việc lựa chọn môn học ban học ngay từ đầu khi các em mớibước vào lớp 10.

Như vậy, ta thấy rằng lứa tuổi THPT là lứa tuổi tâm sinh lý phát triển rấtphức tạp nên chúng ta cần tôn trọng và vận dụng hợp lý những quy tắc quy luậtphát triển

tâm lý của trẻ để có những định hướng phương pháp giáo dục phù hợp.Cần phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình- nhà trường-xã hội để giúpcác em phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tâm hồn, có những định hướngđúng đắn cho tương lai

II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Vì thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp nên chúng tôi đã tiến hành khảo sátthực tế ở khối lớp 10 và 11 Trường THPT Nhân Chính - Hà Nội để bước đầuđưa ra những yếu tố tác động đến sự lựa chọn ban học của học sinh

1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Trường THPT Nhân Chính là một ngôi trường trẻ mới thành lập cáchđây 5 năm Được thành lập khá muộn nên Trường THPT Nhân Chính có nhữnglợi thế về cơ sở vật chất, hệ thống cơ sở vật chất của nhà truờng khá rộng vàhiện đại Trong những năm học gần đây số lượng học sinh của nhà trường ngàycàng tăng lên và điểm tuyển sinh đầu vào lớp 10 khá cao Trong năm học2006-2007, tỷ lệ học sinh đạt khá giỏi chiếm 59,4% trường nằm trong tốp 20trường có tỷ lệ tốt nghiệp cao nhất thành phố Đây là sự nỗ lực cố gắng hếtmình của cả thầy và trò nhà trường

Khi Bộ GD-ĐT tiến hành chủ trương phân ban đại trà thì nhà trường đã

có những biện pháp cụ thể và tích cực để hướng dẫn cho học sinh và phụhuynh trong việc lựa chọn ban học phù hợp với khả năng và điều kiện của các

em đồng thời tổ chức những buổi tập huấn chuyên môn nâng cao nghiệp vụcho giáo viên để có thể đáp ứng được yêu cầu mới của chuơng trình phân ban

Trang 13

2 Kết quả nghiên cứu

- Số phiếu phát ra: 180

- Số phiếu thu về : 171

Sau khi phân tích, tổng hợp số phiếu khảo sát thực tế chúng tôi đưa ranhững yếu tố tác động đến sự lựa chọn ban học của học sinh THPT như sau:

Về tỷ lệ học sinh tham gia các ban học

Trong số 171 em được điều tra thì có 101 em học ban KHCB chiếm59,06%; 64 em học ban KHTN chiếm 37,42%; 6 em học ban KHXH chiếm3,52% Như vậy cũng giống như tình hình chung của các trường THPT trên cảnước số học sinh theo học ban CB tại trường Nhân Chính chiếm tỷ lệ cao nhất

và số học sinh theo học ban KHXH chiếm tỷ lệ thấp nhất Tại sao lại có sự lựachọn chênh lệch như vậy? Chúng tôi có thể đưa ra những lý do sau:

So với hai ban KHTN và KHXH, học sinh ban CB sẽ được học chươngtrình chuẩn nhẹ nhàng hơn Thêm vào đó ban CB vẫn có các môn học tự chọndành cho học sinh học nâng cao trong suốt 3 năm học ở bậc THPT Khi phỏngvấn cô giáo Hiệu phó nhà trường chúng tôi được biết rằng : trong đơn nhập họccủa học sinh hầu hết các em hầu hết các em lựa chọn ban CB vì có thể họcđược các môn tự chọn theo khối thi ĐH Chẳng hạn, học sinh có thể học 3 môn

tự chọn là Toán-Lý-Hoá nều thi khối A, học 3 môn Văn-Toán-Ngoại ngữ nếuthi khối D… Học sinh học ban CB sau đó nâng cao ở các môn học tự chọn đểthi vào ĐH-CĐ thuận lợi hơn Rõ ràng động cơ chọn ban CB của học sinh là đểthi ĐH

Hơn nữa nhiều học sinh ngại học ban A vì phải học nâng cao 4 môntrong khi thi ĐH chỉ có 3 môn từ đó học sinh e ngại ban A qúa nặng học sẽ vất

vả và nhiều áp lực Những học sinh thật sự có khả năng và yêu thích nhữngmôn học này thì mới ưu tiên lựa chọn nó Còn ban C có rất ít lựa chọn vìđường vào ĐH quá hẹp, phải học thuộc nhiều vất vả (mà hầu hết học sinh đềungại việc học thuộc) việc chọn ngành nghề hạn chế lại không được xã hội ưachuộng Chỉ những học sinh thật sự đam mê những môn học thuộc lĩnh vựcKHXH mới theo học Như thực trạng các trường THPT hiện nay thì các em

Ngày đăng: 03/04/2013, 11:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:Tỷ lệ tham gia ban học của học sinh năm học 2007-2008(chưa thống kê đ - Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn ban học của học sinh THPT
Bảng 2 Tỷ lệ tham gia ban học của học sinh năm học 2007-2008(chưa thống kê đ (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w