Trong sắc ký các chất khác nhau được tách dựa trên sự phân chia khác nhau của chúng vào hai pha luôn tiếp xúc và không hoà lẫn vào nhau : một pha tĩnh và một pha động.. Cho pha động ch
Trang 1SẮC KÝ LỎNG HI ỆU NĂNG CAO
HPLC
PGS Phạm gia Huệ
Sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC-High performance liquid
chromatography) còn được gọi là sắc ký lỏng cao áp, hoặc chỉ đơn giản gọi là sắc ký lỏng vì ngày nay nó đã trở thành quá thông dụng
HPLC ra đời khi người ta sản xuất được chất nhồi cột có cỡ hạt khoảng 10
µm hay nhỏ hơn (5 và 3 µm), có hiệu suất tách rất cao Cỡ hạt bé đòi hỏi dùng bơm
để nén dung môi qua cột Với loại chất nhồi mới này và hệ thống máy vi tính, phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao ra đời
UPLC (Ultra performance liquid chromatography) hay sắc ký lỏng siêu hiệu
năng với hạt chất nhồi cột có đường kính dưới 2 µm, có hiệu suất tách cao hơn nữa
1 Quá trình sắc ký và các đại lượng đặc trưng
1.1 Một số khái niệm mở đầu
1.1.1 Định nghĩa:
Sắc ký là một nhóm các phương pháp hoá lý dùng để tách các thành phần của một hỗn hợp Trong sắc ký các chất khác nhau được tách dựa trên sự phân chia
khác nhau của chúng vào hai pha luôn tiếp xúc và không hoà lẫn vào nhau : một pha
tĩnh và một pha động Pha tĩnh được nhồi trên cột, pha động đi qua cột Khi hỗn hợp
cần tách được pha động kéo qua cột, chất nào có ái lực mạnh hơn với pha tĩnh sẽ di chuyển chậm hơn, vì vậy các chất có thể tách khỏi nhau
1.1.2 Quá trình sắc ký:
Quá trình tách sắc ký thường bao gồm 3 giai đoạn chính:
a Đưa hỗn hợp lên pha tĩnh: đưa hỗn hợp lên cột.
b Cho pha động chạy qua pha tĩnh: dung môi qua cột, kéo theo các chất di
chuyển trên pha tĩnh với tốc độ khác nhau, tách khỏi nhau và có vị trí khác nhau trên
cột tạo thành sắc đồ (sắc ký đồ) Giai đoạn này gọi là khai triển sắc ký
(development)
Nếu tiếp tục cho pha động chạy thì các chất có thể lần lượt bị kéo ra ngoài ra
khỏi cột Đó là quá trình rửa giải (elution) và dung môi dùng được là dung môi rửa
giải (eluent) dịch hứng được ở cuối cột gọi là dịch rửa giải (eluate)
Nếu các chất được tách trên pha tĩnh (sắc ký khai triển) ta có thể lấy từng phần pha tĩnh có mang chất (phân đoạn bột trên cột) đem chiết lấy chất
Nếu các chất được tách ra ngoài pha tĩnh (sắc ký rửa giải) ta có thể hứng lấy các phân đoạn dịch rửa giải có chất
c Phát hiện các chất : các chất màu có thể phát hiện dễ dàng, các chất không
màu có thể phát hiện bằng đèn tử ngoại hay bằng các thuốc thử Trong sắc ký rửa giải
có thể phát hiện các chất khi chúng đi ra khỏi cột bằng cách cho dung dịch rửa giải đi qua một bộ phận phát hiện gọi là detectơ (detector) đặt sau cột
Trang 21.1.3 Phân loại các phương pháp sắc ký.
-Sắc ký hấp phụ (adsorption chromatography): pha tĩnh là chất rắn có khả
năng hấp phụ Pha động có thể là chất lỏng hay chất khí
-Sắc ký phân bố (partition chromatography): pha tĩnh được giữ trên bề mặt
một chất rắn gọi là chất mang (support), chất mang phải là chất trơ, không tham gia vào quá trình sắc ký Pha động có thể là chất lỏng hay chất khí
-Sắc ký trao đổi ion (ion-exchange chromatography): pha tĩnh là chất nhựa
trao đổi ion (hợp chất cao phân tử có mang những ion có khả năng trao đổi với các ion cùng dấu của hỗn hợp sắc ký)
-Sắc ký theo loại cỡ (size-exclusion chromatography) còn gọi là sắc ký trên
gel Các phân tử cỡ lớn sẽ được loại, các phân tử nhỏ hơn sẽ được tách theo kích thước, phân tử bé di chuyển chậm
Các phương pháp sắc ký khác: sắc ký ái lực, sắc ký điện…
Ghi chú: Trong sắc ký khí, chủ yếu là sắc ký phân bố và sắc ký hấp phụ
1.2. Cơ sở lý thuyết sắc ký (Giới thiệu sơ lược):
Có hai yếu tố quyết định quá trình tách sắc ký :
- Tốc độ di chuyển của các chất: Các chất khác nhau phải có tốc độ di
chuyển khác nhau, cho các pic ở vị trí khác nhau trên sắc đồ
- Sự mở rộng dải hay sự doãng pic (band broadening, peak spreading), do các tiểu phân của cùng một chất di chuyển với tốc độ khác nhau
Hai pic ở gần nhau trên sắc đồ nếu bị doãng nhiều sẽ trùm lên nhau (xen phủ lên nhau), không tách được khỏi nhau
Ta hãy xét hai vấn đề nêu trên :
1.2.1 Tốc độ di chuyển của các chất:
1.2.1.1 Tốc độ di chuyển của một chất:
Tốc độ di chuyển của một chất có thể được mô tả bởi các đại lượng về sự lưu giữ của chất đó trên pha tĩnh (thời gian lưu, hê)
a- Thời gian lưu (retention time): Trên sắc đồ, trục tung chỉ cường độ tín hiệu
của detectơ, trục hoành là trục thời gian (hoặc thể tích dung môi)
Hãy quan sát sắc đồ, trường hợp có một chất (hình 1)
Thời gian lưu t R (phút) là thời gian cần để một chất di chuyển từ nơi tiêm mẫu qua cột sắc ký,tới detectơ và cho pic trên sắc đồ (tính từ lúc tiêm đến lúc xuất hiện đỉnh của pic)
t 0 : là thời gian lưu của một chất không bị lưu giữ (là chất di chuyển với tốc độ của pha động) t0 thường được gọi là thời gian chết.
tR càng lớn, chất tan bị lưu giữ càng mạnh và di chuyển càng chậm
b-Thời gian lưu hiệu chính t’ R được tính theo công thức:
t’R = tR - t0
đường nền
to Tín hiệu đến
detector
Trang 3Hình 1: Sắc đồ một chất
1.2.1.2 Tốc độ di chuyển tỷ đối của hai chất:
Được đặc trưng bởi đại lượng thừa số chọn lọc hay hệ số chọn lọc α (selectivity factor), còn gọi là hệ số tách:
α = '
'
RA
RB
t t
Theo qui ước, B là chất bị lưu giữ mạnh hơn A vì vậy α luôn luôn lớn hơn 1
α còn được gọi là độ lưu giữ tỷ đối (relative retention)
Để tách riêng hai chất, cần có >1, thường chọn α trong khoảng 1,05 đến 2,0
α càng lớn hai chất càng tách ra khỏi nhau với α quá lớn thời gian phân tích sẽ kéo dài
1.2.2 Sự doãng píc và hình dáng píc.
Như trên đã trình bày, hình dáng của pic và sự doãng píc liên quan chặt chẽ đến sự
tách sắc ký Hình dáng lý tưởng của píc là píc đối xứng Trên thực tế píc sắc ký
thường chỉ gần đối xứng Để đánh giá tính bất đối của píc người ta dùng hệ số bất đối
AF (Asymmetry Factor)
AF = b / a
h
b = phần chiều rộng phía sau của píc
a = phần chiều rộng phía trước của píc a b
w1/10 = a+b = chiều rộng của píc được 10% h
đo ở 1/10 chiều cao của píc
Hình 2
Tính bất đối của pic
w
Thời gian, phút
w = chiều rộng pic
đường nền
t
o
Tín hiệu đến
Tiêm
Trang 4Một cột được nhồi tốt sẽ có AF trong khoảng 0,9 -1,1.(xác địnhAF với píc của các chất chuẩn)
Cũng có thể dùng hệ số đối xứng SF (symmetry factor):
SF= w1/20 / 2a trong đó w1/20 được đo ở 1/20 chiều cao của pic
Sự doãng píc (peak spreading) hay sự mở rộng dải là một hiện tượng đặc biệt
quan trọng trong sắc ký và được nghiên cứu qua thuyết về đĩa và thuyết động học
Sự doãng píc là kết quả của sự di chuyển nhanh chậm khác nhau của các phân
tử của cùng một chất trong khi đi qua cột sắc ký Các píc ra muộn bao giờ cũng tù hơn Một cột sắc kí tốt (hiệu lực cao) sẽ cho các píc nhọn (ít bị doãng)
1.2.3 - Hiệu lực của cột và đĩa lý thuyết:
Hiệu lực của cột (column efficiency ) thường được đo bằng hai thông số :
số đĩa lý thuyết N và chiều cao đĩa lý thuyết H (hay HETP).
Ta có thể coi như cột sắc ký được chia thành N phần mỏng hay N lớp, ở mỗi
lớp sự phân bố chất tan vào hai pha lại đạt đến một trạng thái cân bằng mới (sắc ký là một quá trình động, thực ra pha động chảy liên tục và thời gian không đủ để thiết lập
trạng thái cân bằng) Những phần mỏng (hay lớp)giả định này được gọi là đĩa lý thuyết (vì không có thực).Nếu cột sắc ký có chiều dài là L thì ta có biểu thức:
H = L / N Trong đó N : là số đĩa lý thuyết của cột L : chiều dài cột
H : là chiều cao của đĩa lý thuyết
Cột có N lớn (hay có H nhỏ) là cột có hiệu lực cao
a Chiều cao đĩa lý thuyết và sự doãng píc.
Ta có thể xác định H và N dựa vào thực nghiệm
Hình 3 Pic sắc ký (a) so sánh với đường cong phân bố chuẩn Gauss (b)
Dựa vào sắc đồ (xem hình 3a) ta có thể tính số đĩa lý thuyết N
N = 16
2
b
R
W
t
trong đó Wb = chiều rộng píc ở đáy píc
tR
Trục thời gian
tR
Trục thời gian
Trang 5hay N = 5,54
2
2 /
1
W
t R
với W1/2 = chiều rộng píc đo ở nửa chiều cao của pic
Và từ đó tính H : H = L/N
Qua đây ta thấy rõ : khi cột có hiệu lực cao (H nhỏ N lớn)
thì Wb nhỏ (độ doãng píc nhỏ)
b Độ phân giải và các yếu tố ảnh hưởng (sự tách hai chất).
Độ phân giải (Resolution) là đại lượng đo mức độ tách hai chất trên một cột sắc
ký Xét trường hợp tách hai chất A và B (xem hình 4)
Độ phân giải RS được định nghĩa như sau:
RS = 1/2( )
A B
RA RB
W W
t t
+
−
hay
RS =
A B
RA RB
W W
t t
, 2 / 1 , 2 / 1
) (
18 , 1 +
−
trong đó W là chiều rộng pic ở đáy và W1/2 là chiều rộng pic ở nửa chiều cao
Hình 4 R S và sự tách 2 pic
Với hai pic có độ lớn tương đương thì:
Rs = 0,75 hai pic không tách tốt, còn xen phủ nhau nhiều
Rs = 1,0 hai pic tách khá tốt,còn xen phủ nhau 4%
Rs =1,5 hai pic tách gần hoàn toàn (chỉ xen phủ 0,3%)
1.2.4 Trường hợp tách nhiều chất, ảnh hưởng của thành phần dung môi và nhiệt độ.
Khi có nhiều chất cần tách, trong sẵc ký lỏng thường có thể thay đổi thành
phần dung môi để tách riêng được tất cả các chất trong hỗn hợp Có thể phải thay đổi
loại dung môi, cũng có thể chỉ cần thay đổi tỷ lệ giữa các thành phần
1.2.4.1 Rửa giải đẳng dòng (isocratic elution, rửa giải thường) :
Đó là cách dùng một hệ dung môi có thành xác định trong suốt quá trình phân tích Hình 5 dưới đây cho sắc đồ của 4 lần phân tích 1 hỗn hợp 5 chất, mỗi lần dùng 1 pha động có thành phần khác
Trang 6Hình 5 ảnh hưởng của thành phần pha động (hỗn hợp methanol-nước)
đến việc tách hỗn hợp 5 chất
Hình 5 cho thấy việc thay đổi thành phần dung môi có thể ảnh hưởng đến quá trình tách mạnh mẽ như thế nào (thêm một ít nước vào Methanol 60% để có Methanol 50%: các pic 1,2,3,4,5 lần lượt được tách trên sắc đồ (c)
Trong 4 hệ dung môi, hệ c (50% methanol) là thích hợp nhất vì các pic được tách tốt và chỉ cần 10 phút, hệ d tách rất tốt nhưng thời gian phân tích cần đến 20 phút
1.2.4.2 Rửa giải gradient (gradient elution), chương trình hoá dung môi (solvent programming)
Trong nhiều trường hợp, rửa giải đẳng dòng (dùng một hệ dung môi có thành phần không đổi) không giải được bài toán tách các chất
Trong những trường hợp này, người ta phải thay đổi thành phần dung môi ngay trong quá trình phân tích (chương trình hoá dung môi hay rửa giải gradient) Xem hình 6
Hình 7 Rửa giải gradient cho phép tách hỗn hợp 10 chất, hình (b)
Trang 72
5
7
6
8
Trên hình 7 ta thấy nếu rửa giải với một hệ dung môi có thành phần cố định (sắc đồ a) trong số 10 chất, thì 5 chất đầu không tách được (các pic quá gần nhau) trong khi 5 chất sau ra chậm và quá tù Bằng phương pháp chương trình hoá dung môi (thành phần dung môi biến đổi dần trong quá trình chạy sắc ký, bắt đầu từ một hệ dung môi yếu hơn và kết thúc bằng một hệ mạnh hơn so với hệ dung môi dùng ở sắc
đồ a) ta có sắc đồ b ở đó các pic được phân bố đều và tách rất tốt Chương trình dung môi có thể chia làm nhiều đoạn với các kiểu biến đổi thành phần dung môi khác nhau
Để giải các bài toán tách nhiều chất với yêu cầu thời gian phân tích càng ngắn càng tốt, nếu không thể chọn một điều kiện sắc ký thích hợp, ta có thể dùng phương pháp biến đổi dần dần điều kiện sắc ký theo một chương trình nào đó
Trong sắc ký lỏng, hay dùng chương trình hoá dung môi (rửa giải gradient)
Trong sắc ký khí, thường dùng phương pháp chương trình nhiệt độ
2 Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao:
Hình 8 giới thiệu sơ đồ nguyên tắc chung cho các máy HPLC
Hình 8
1-Bình chứa dung môi ;
2- Lọc dung môi
3- Bơm cao áp; 4- Bộ tiêm mẫu5- Cột sắc ký;
6- detectơ ;
7 - Máy ghi tín hiệu;
8 – Bình hứng
2.1 Bình chứa dung môi và hệ thống sử lý dung môi:
Cần lọc loại các hạt vẩn trong dung môi và đuổi khí hoà tan trong dung môi Khí hoà tan có thể làm biến dạng các pic và sinh bọt khí làm nhiễu đường nền làm
xuất hiện các pic lạ Có thể đuổi khí dung môi bằng nhiều cách: dùng siêu âm, đun
và khuấy, sục khí trơ như heli, lọc dưới áp suất giảm
Trong phương pháp rửa giải thường chỉ cần một bình dung môi Trong phương pháp rửa giải gradient, thường dùng 2,3,4 bình chứa các dung môi khác
Trang 8nhau và hệ dung môi rửa giải là hỗn hợp của các loại dung môi trên được trộn với tỷ
lệ biến đổi theo chương trình đã định
2.2 Hệ thống bơm:
Các đơn vị áp suất hay dùng trong HPLC: 1Pa = 1 Nm-2; 1 bar = 105 Pa;
1 psi = 0,4536 × 9,81 / 0,02542 = 6897 Pa; 1 at = 1 kg cm-2 = 1,01 bar
Trong phân tích hay dùng loại bơm dòng không đổi (constant flow).Bơm
kiểu piston là loại được dùng phổ biến, để khử xung người ta dùng bơm có hai piston
bơm luân phiên Loại sau được dùng phổ biến vì có nhiều ưu điểm
2.3 Hệ tiêm mẫu:
Phương pháp phổ biến là dùng van tiêm có vòng chứa mẫu (sample
loop) với dung tích xác định và chính xác Có thể thay đổi các vòng mẫu dung tích khác nhau: 5 đến 500 µl Loại 20µl được dùng phổ biến Tiêm bằng van tiêm có độ chính xác cao Hình 9 Mô tả một loại van tiêm
Van tiêm có hai vị trí của rô-to, vị trí (a) để nạp mẫu (load) vào vòng mẫu, vị trí (b) để tiêm mẫu (inject) bằng cách cho dung môi qua vòng mẫu để đưa mẫu lên cột
2.4 Cột sắc ký lỏng hiệu năng cao
Cột bằng thuỷ tinh dùng ở áp suất thấp (dưới 50 at), được bọc trong một vỏ thép Cột bằng thép không gỉ được dùng phổ biến
Cột phân tích thường dài 10-30 cm có đường kính trong 4-10 mm, hạt chất
nhồi cỡ 5-10 µm Với chất nhồi cỡ 3-5 µm có thể dùng các cột ngắn (3-10 cm) và nhỏ (1- 4,6 mm) Loại cột này có hiệu lực rất cao, có số đĩa lý thuyết lên đến 100.000 đĩa cho 1 m cột Đường kính ngoài của cột thường là 1/4 inch
Cột điều chế có thể có kích thước lớn hơn cột phân tích nhiều lần Cột bán
điều chế nhỏ nhất(để tách lấy lượng nhỏ chất để đem phân tích) thường có đường kính trong 9-12 mm dài 50 cm hoặc hơn nữa
Hình 9 Van tiêm mẫu: 1- Vòng chứa mẫu, 2- Bình dung môi và bơm, 3-
Cột sắc ký 4- Nơi nạp mẫu vào vòng chứa mẫu 5- Phần mẫu còn thừa
Trang 9Chất nhồi cột thường là silicagel hoặc có bọc một lớp mỏng chất hữu cơ Bên cạnh silicagel người ta còn dùng những hạt khác: nhôm oxyt, polyme xốp, chất trao đổi ion
2.5 Detector:
Là bộ phận phát hiện các chất khi chúng ra khỏi cột và cho các tín hiệu được ghi trên sắc đồ Các loại detector được dùng phổ biến là:
- Detector đo chỉ số khúc xạ (RI) là detector vạn năng nhưng kém nhạy.
- Detector huỳnh quang và detector điện hoá có độ nhạy độ chọn lọc cao hay
dùng trong phân tích vết và phân tích y sinh học
- Detector tử ngoại-khả kiến (UV-Vis), còn gọi là detector hấp thụ quang,
dùng đèn deuterium (đo ở 190-400 nm) và đèn wolfram (đo ở 380-600 nm), có thể làm việc ở bước sóng tùy chọn theo tính chất hấp thụ ánh sáng của chất muốn phát hiện Loại này hiện nay được dùng nhiều nhất
- Detector chuỗi diod (mảng diod) DAD hay PDA là detector hấp thụ quang
nhưng cho phép đo đồng thời tại nhiều bước sóng (đo phổ UV) trong quá trình săc
ký, cho phép đánh giá độ tinh khiết của pic và góp phần xác định định tính thêm chắc chắn
- Detector khối phổ Chát phân tích được ion hóa Các ion mảnh/ion con (của
phân tử) hay ion phân tử/ion mẹ được phát hiện Detector này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao Hệ thống sắc ký-khối phổ có thư viện phổ khối cho phép xác định nhiều chất chưa biết
3 Các phương pháp sắc ký
3.1 Sắc ký phân bố (Partition chromatography)
Gồm 2 loại: Phương pháp sắc ký lỏng-lỏng và sắc ký pha liên kết
- Sắc ký lỏng-lỏng (LLC) pha tĩnh là chất lỏng được bao trên bề mặt của các
hạt chất mang(support) Pha tĩnh thường được dung môi hoà tan và mất dần Hiện tượng này làm cột mất dần hiệu lực (cột chảy máu) Ngày nay phương này ít được dùng Một ví dụ: tách thuốc trừ sâu dùng β-β’oxydipropionitril (ODPN) làm pha tĩnh, isooctan làm pha động
- Sắc ký pha liên kết (BPC - Bonded phase chromatography) ở đây pha tĩnh được gắn hoấ học (liên kết) với chất mang (hạt silicagel) tạo nên hợp chất cơ- siloxan:
CH3 CH3 CH3 CH3
| | | |
- Si - OH + Cl - Si – R → - Si – O – Si – R + HCl
| | | |
CH3 CH3 CH3 CH3
Nhóm silanol
của silicagel
Dẫn chất Clorosilan
Dẫn chất Siloxan
- Nếu R là một nhóm ít phân cực như octyl (C8), octadecyl (C18) hay phenyl và dung
môi phân cực như methanol, acetonitril thì có sắc ký pha đảo (pha ngược)
Trang 10Ở đây pha tĩnh ít phân cực hơn pha động, trái với truyền thống của sắc ký trước đây
là pha tĩnh phân cực hơn pha động
- Nếu R là nhóm khá phân cực như alkylamin - (CH2)n NH2 hay alkylnitril - (CH2)n
CN và dung môi ít phân cực như hexan thì ta có sắc ký pha thuận (pha thường).
Hiện nay sắc ký pha đảo được dùng hết sức rộng rãi vì nó cho kết quả tách tốt với rất nhiều đối tượng tách
Cơ chế tách trong sắc ký pha liên kết là khá phức tạp, còn nhiều điều tranh cãi
- Cách chọn pha: thường chọn pha tĩnh có tính phân cực giống các chất cần tách, và khác với pha động
- Thứ tự rửa giải: Trong sắc ký pha thuận các chất ít phân cực ra trước.Trong
sắc ký pha đảo các chất phân cực ra trước rồi đến các chất ít và không phân cực ra sau
- Ứng dụng: sắc ký lỏng phân bố hiệu năng cao được dùng trong việc tách các
chất thuộc nhiều lĩnh vực như: dược, sinh hóa, thực phẩm (Đường nhân tạo, chất chống oxy hoá, chất phụ gia, aflatoxin), độc chất (thuốc trừ sâu, diệt cỏ)
Ghi chú: Các chất khá phân cực, các ion có khối lượng nhỏ khó bị lưu giữ trên pha
tĩnh ít phân cực của sắc ký pha đảo Các ion có thể tác dụng với các thuốc thử là ion đối (trái dấu) có trong pha động, tạo thành cặp ion trung hoà điện và có thể được lưu
giữ trên pha tĩnh Đó là cơ sở của phương pháp sắc ký pha đảo tạo cặp ion
3.2 Sắc ký hấp phụ (sắc ký lỏng – rắn: LSC)
Là phương pháp phát triển sớm nhất và được dùng phổ biến.Trong phương pháp này chất tan bị giữ trên bề mặt pha tĩnh tức là chất hấp phụ và bị dung môi đẩy
ra (phản hấp phụ) Sắc ký hấp phụ cũng thường được gọi là sắc ký pha thuận (normal phase)
-Các pha tĩnh và động: pha tĩnh là những bột mịn, xốp, có diện tích bề mặt
riêng lớn (Spherisorb S 10W: 220 m2/g) Silicagel và nhôm oxyd là những chất được dùng nhiều trong sắc ký hấp phụ nhưng silicagel là chất được ưa dùng hơn cả Ở đây các chất càng phân cực càng bị lưu giữ mạnh và ra chậm khi rửa giải
Về pha động bảng 1 dưới đây cho ta một dãy một số các dung môi với sức rửa giải tăng dần: Hexan, benzen, cloroform, aceton, butanol, methanol
Alcol metylic
Dãy này xếp theo khả năng đẩy các chất ra khỏi chất hấp phụ Có thể dùng hỗn hợp vào dung môi theo tỷ lệ thích hợp
3.3 Sắc ký trao đổi ion:
Là phương pháp sắc ký trong đó các nhựa trao đổi ion
- Nhựa trao đổi ion (ionit) Đó là những hợp chất cao phân tử có chứa nhóm
chức có khả năng trao đổi ion (nhóm trao đổi)
- Nhựa trao đổi cation (cationit) có 2 loại: Cationit acid mạnh có nhóm -SO3H
và được ứng dụng rộng rãi, cationit acid yếu có nhóm - COOH
- Nhựa trao đổi anion (anionit) cũng có 2 loại: Anionit base mạnh có nhóm amoni bậc 4 - N(CH3)3+OH- và anionit yếu có nhóm trao đổi là các amin bậc 2 hay 3