1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG

26 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 615,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, tuymức tăng của ngành công nghiệp không cao 5,35% nhưng ngành công nghiệpchế biến, chế tạo tăng khá ở mức 7,44% Năm 2012 tăng 5,80% đã tác độngđến

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG

Họ và tên sinh viên : Bùi Minh Ngọc STT 56 Lớp : TCNH 19D

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Trang 2

MỤC LỤC PHẦN 1: PHÂN TÍCH KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM VÀ PHÂN TÍCH NGÀNH

XÂY DỰNG 3

A.PHÂN TÍCH KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM 3

1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 3

2.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 5

3 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 6

4 Chính sách lãi suất 7

5 Triển vọng kinh tế Việt Nam 2014-2015 7

B PHÂN TÍCH NGÀNH XÂY DỰNG 8

1 Tổng quan ngành xây dựng 8

2 Triển vọng ngành 9

3 Phân tích năm yếu tố cạnh tranh M.Porter 10

4 Vị trí của ngành xây dựng thủy lợi 12

PHẦN 2: PHÂN TÍCH MÃ CỔ PHIẾU LHC 14

(CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG) 14

I-Giới thiệu về doanh nghiệp 14

1 Lịch sử hình thành: 14

2 Các ngành kinh doanh chính: 15

3 Một số thành tựu của công ty trong 10 năm gần đây: 15

4 Sơ đồ bộ máy quản lý 16

5 Tầm nhìn chiến lược: 16

II-Phân tích các chỉ số tài chính và so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành 17

Bảng 1: Bảng cân đối kế toán 17

Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh 18

Bảng 3: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 19

Bảng 4: Các thông tin tài chính qua các năm 2010-2013 19

Bảng 5: Các chỉ tiêu tài chính từ quý 2/2013- quý 1/2014 20

Bảng 6: Bảng so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành 23

III Phân tích SWOT 23

IV Đánh giá 25

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 3

PHẦN 1: PHÂN TÍCH KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM VÀ

PHÂN TÍCH NGÀNH XÂY DỰNG A.PHÂN TÍCH KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM

Năm năm kể từ năm 2008, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàncầu đã đi qua, để lại hậu quả nặng nề; dư chấn vẫn còn, thậm chí rất mạnh Songnhìn chung, kinh tế thế giới đã bước vào quỹ đạo phục hồi Với Việt Nam, kinh tếđang có dấu hiệu phục hồi, các chỉ báo về kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, lạmphát, tỷ giá, xuất nhập khẩu… có sự ổn định hơn so với các năm trước; lạm phátđược kiềm chế, dự trữ ngoại hối cao, thị trường tài chính, thị trường bất động sảntuy chưa khởi sắc, nhưng đang diễn biến theo chiều hướng tích cực hơn Tuynhiên, nhìn chung, kinh tế Việt Nam vẫn đang còn ở trong giai đoạn trì trệ, tăngtrưởng dưới tiềm năng và vẫn đang còn phải đối diện với những khó khăn ngắnhạn

Các chính sách của Chính phủ đang thực thi, tuy vẫn ưu tiên mục tiêu ổnđịnh kinh tế vĩ mô, nhưng đồng thời cũng đang áp dụng nhiều giài pháp để tăngtổng cầu, kích thích phục hồi tốc độ tăng trưởng và từng bước triển khai Đề ántổng thể tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng

1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so vớinăm 2012, trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%;quý IV tăng 6,04% Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5%

đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và có tín hiệu phục hồi.Trong bối cảnh kinh tế thế giới những năm qua có nhiều bất ổn, sản xuất trongnước gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, Chính phủ tập trung chỉ đạo quyết liệtcác ngành, các cấp thực hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mônên đây là mức tăng hợp lý, khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả củacác biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành

Trong mức tăng 5,42% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp

và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm trước, đóng góp 0,48 điểm phầntrăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng 5,75%của năm trước, đóng góp 2,09 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,56%,cao hơn mức tăng 5,9% của năm 2012, đóng góp 2,85 điểm phần trăm Như

Trang 4

vậy mức tăng trưởng năm nay chủ yếu do đóng góp của khu vực dịch vụ, trong

đó một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng khá là: Bán buôn và bán lẻtăng 6,52%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,91%; hoạt động tài chính, ngânhàng và bảo hiểm tăng 6,89% Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, tuymức tăng của ngành công nghiệp không cao (5,35%) nhưng ngành công nghiệpchế biến, chế tạo tăng khá ở mức 7,44% (Năm 2012 tăng 5,80%) đã tác độngđến mức tăng GDP chung Ngành xây dựng mặc dù chiếm tỷ trọng không lớnnhưng đạt mức tăng 5,83%, cao hơn nhiều mức tăng 3,25% của năm trước cũng

là yếu tố tích cực trong tăng trưởng kinh tế năm nay Về cơ cấu trong quy mônền kinh tế cả năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng18,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,3% và khu vực dịch vụchiếm 43,3% (Năm 2012 các tỷ trọng tương ứng là: 19,7%; 38,6% và 41,7%)

Xét về góc độ sử dụng GDP năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,36% sovới năm 2012, đóng góp 3,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tàisản tăng 5,45%, đóng góp 1,62 điểm phần trăm; chênh lệch xuất nhập khẩuhàng hóa và dịch vụ đóng góp 0,08 điểm phần trăm do xuất siêu

Biểu đồ 1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 2010 (Năm trước = 100)

Đơn vị tính: % Năm 2012 Năm 2013

Phân theo khu vực kinh tế

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 2,68 2,67

2013, GDP của Việt Nam nói chung đã tăng thêm 5,42%, cao hơn mức tăng

Trang 5

5,25% đạt được trong năm 2012, đồng thời cũng cao hơn cả mức dự báo trungbình của các nhà kinh tế học do Hãng Bloomberg khảo sát - 5,3 %.

Biểu đồ 2: Tăng trưởng GDP theo Quý từ 2001-2013

(Nguồn: Công ty Chứng khoán MB)

2.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2013 tăng 0,51% so với tháng trước và tăng6,04% so với tháng 12/2012 Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhấttrong 10 năm trở lại đây Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% sovới bình quân năm 2012, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,21% của năm 2012.Trong năm nay, CPI tăng cao vào quý I và quý III với mức tăng bình quân tháng

là 0,8%; quý II và quý IV, CPI tương đối ổn định và tăng ở mức thấp với mứctăng bình quân tháng là 0,4%

Chỉ số giá tiêu dùng năm nay tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

 Giá một số mặt hàng và dịch vụ do Nhà nước quản lý được điều chỉnhtheo kế hoạch và theo cơ chế thị trường Ví dụ, giá xăng dầu được điềuchỉnh tăng/giảm và cả năm tăng 2,18%, góp vào CPI chung cả nướcmức tăng 0,08%; giá điện điều chỉnh tăng 10%, đóng góp vào CPIchung khoảng 0,25% Bên cạnh đó, giá gas cả năm tăng gần 5%, đónggóp vào CPI cả nước với mức tăng 0,08%;

 Nhu cầu hàng hóa tiêu dùng của dân cư và tiêu dùng cho sản xuất tăngvào dịp cuối năm;

 Ảnh hưởng của thiên tai, mưa bão;

 Mức cầu trong dân yếu

Trang 6

Biểu đồ 3: Chỉ số giá tiêu dùng

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

3 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thu hút đầu tư nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2013 ước tínhđạt 21,6 tỷ USD, tăng 54,5% so với cùng kỳ năm trước Vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài thực hiện năm 2013 ước tính đạt 11,5 tỷ USD, tăng 9,9% so với năm 2012.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm nay tập trung chủ yếu vào ngành côngnghiệp chế biến, chế tạo với 16,6 tỷ USD, chiếm 76,9% tổng vốn đăng ký; ngànhsản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí

đạt 2 tỷ USD, chiếm 9,4%; các ngành còn lại đạt 3 tỷ USD, chiếm 13,7%

Như vậy, Vốn FDI tăng mạnh thể hiện việc tái lập niềm tin trong trung hạncủa các nhà đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam, góp phần gia tăngnguồn cung ngoại tệ, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối và ổn định tỷ giá

Biểu đồ 4: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

năm 2013 theo giá hiện hành

Nghìn tỷ đồng Cơ cấu(%) So với cùng kỳnăm trước (%)

Khu vực có vốn đầu tư trực

Trang 7

Báo cáo Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 9 đã phản ánh quá trình hồi phục khi có mức tăng từ 49,4 điểm trong tháng 8 lên 51,5 điểm trongtháng 9 Mặc dù vẫn còn yếu do các điều kiện trong nước nhưng chỉ số PMI trong tháng 9 đã cải thiện nhờ vào nhu cầu nước ngoài tăng

4 Chính sách lãi suất

Đầu năm 2011, đứng trước nguy cơ lạm phát cao, Chính phủ đã ban hànhNghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trungkiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Ngay sau đó,Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có nhiều giải pháp khống chế tốc độ tăng trưởng

dư nợ và dư nợ cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất trong năm 2011 lần lượt là20% và 16% Từ tháng 9/2011 đến tháng 6/2013, NHNN đã 8 lần điều chỉnh giảmtrần lãi suất huy động tiền gửi VND Cụ thể, lãi suất huy động VND có kỳ hạndưới 1 tháng đã giảm từ 6%/năm xuống 1,25%/năm, kỳ hạn từ 1 đến dưới 12tháng giảm từ 14%/năm xuống còn 7%/năm

Đối với tiền gửi ngoại tệ, từ tháng 4/2011 đến nay, NHNN đã 3 lần điềuchỉnh giảm lãi suất tiền gửi USD, đưa lãi suất tiền gửi USD của tổ chức và cánhân xuống còn 0,25%/năm và 1%/năm

Cùng với giảm lãi suất huy động, NHNN đã triển khai nhiều biện pháp đểgiảm mặt bằng lãi suất cho vay, đặc biệt là đối với 5 lĩnh vực ưu tiên là nôngnghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệpứng dụng công nghệ cao Riêng trong thời gian từ tháng 6/2012 đến 6/2013,NHNN đã 5 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất đối với các lĩnh vực và ngành nghềnày Hiện nay, lãi suất cho vay đối với những lĩnh vực này dao động trong khoảng9%/năm so với mức 13%/năm trước đây Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay

đã giảm đáng kể Lãi suất cho vay đối với nền kinh tế giảm nhanh, từ 18,2% năm

2011 xuống 15,4% năm 2012 và 10,5% trong 6 tháng đầu năm 2013

Ngoài ra, việc điều chỉnh giảm lãi suất còn giúp đẩy lùi tình trạng đô la hóanền kinh tế, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán giảm từ 18%cuối năm từ cuối năm 2011 xuống còn 12% năm 2012, tỷ giá được duy trì ổn định

từ năm 2011, dự trữ ngoại hối nhà nước được cải thiện đáng kể Và cuối cùng, vềphía doanh nghiệp, việc điều chỉnh giảm lãi suất đã giúp các doanh nghiệp tiếtgiảm chi phí sản xuất, đồng thời ngăn chặn được nguy cơ tái lạm phát Tuy nhiên,trên thực tế, dù đã điều chỉnh mặt bằng lãi suất nhưng lãi suất nhìn chung vẫn ởmức cao và đa phần các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ)vẫn khó tiếp cận tới tín dụng với lãi suất ưu đãi từ các ngân hàng thương mại

Trang 8

5 Triển vọng kinh tế Việt Nam 2014-2015

Từ sự đánh giá tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2013 có thể thấy, năm

2014 nền kinh tế vẫn chưa thể ra khỏi giai đoạn trì trệ Những khó khăn đặt ratrong năm 2013 vẫn sẽ tiếp tục kéo dài trong năm 2014 Nền kinh tế tiếp tục tăngtrưởng, song tốc độ chậm; khu vực kinh tế trong nước vẫn còn tiếp tục khó khăn:Khu vực FDI giữ được lợi thế tăng trưởng, nhưng không có sự đột biến trong năm2014; Nông nghiệp đã đạt đến đỉnh tăng trưởng do chưa thay đổi về cơ cấu, nênkhó có khả năng tăng trưởng cao hơn năm 2013; Khu vực dịch vụ sẽ tăng trưởngkhá hơn năm 2013, nhưng chưa có khả năng thúc đẩy cả nền kinh tế Tuy nhiên,bức tranh chung của nền kinh tế năm 2014 vẫn sáng hơn 2 năm 2012-2013 Do đó,

có thể dự báo trong năm 2014 tốc độ tăng GDP khoảng 5,5% và CPI tăng khoảng7% Nhiệm vụ chính trong năm 2014-2015 vẫn là giữ ổn định kinh tế vĩ mô, đẩynhanh tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế và quan trọng nhất là khôi phục lại niềm tincủa thị trường

B PHÂN TÍCH NGÀNH XÂY DỰNG

1 Tổng quan ngành xây dựng

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những thành tựu trongphát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình khá Đạt được nhữngthành tựu kinh tế trên do sự nỗ lực của Chính phủ trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng,cải thiện môi trường pháp lý để thu hút đầu tư trong nước và khuyến khích đầu tưnước ngoài Việt Nam xuất phát điểm là một nước làm nông nghiệp với trình độthấp và lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém do vậy nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng, xây dựng khu công nghiệp, xây dựng đô thị ngày càng tăng

Xét theo cơ cấu ngành thì tỷ trọng ngành xây dựng chiếm trung bình 8.6%/năm GDP của Việt Nam từ năm 2008 – 2013 Ngành xây dựng có tốc độ tăngtrưởng khá nhanh trong những năm qua, do tốc độ đô thị hóa và nhu cầu về đầu tưxây dựng hạ tầng của Việt Nam là rất lớn Ngành xây dựng chủ yếu tập trung vàoxây dựng các công trình kiến trúc và cơ sở hạ tầng Trung bình giai đoạn 2007 –

2010, tốc độ phát triển của ngành đạt 8.92%/năm, nếu tính theo giá thực tế thì tốc

độ phát triển của ngành xây dựng đạt 15.1%/năm Giai đoạn từ năm 2010 – 2013,tốc độ tăng trưởng của ngành còn cao hơn lần lượt là 9.6%/năm và 17.7%/năm

Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO đã tạo điều kiện thuận lợi cho cácdoanh nghiệp trong ngành xây dựng hội nhập với quốc tế, tiếp thu các công nghệ

và phương pháp quản lý hiện đại từ đó nâng cao năng lực tham gia thực hiện các

dự án, công trình xây dựng có quy mô lớn, phức tạp trong và ngoài nước Tuy

Trang 9

nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều thách thức docạnh tranh ngày càng gay gắt trong ngành cũng như các doanh nghiệp đến từ nướcngoài.

Ngành xây dựng và bất động sản có mối quan hệ tương quan chặt chẽ.Chính vì vậy, tình hình đi xuống của ngành bất động sản trong thời gian qua đã tácđộng làm cho ngành xây dựng gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại Năm 2012, dotình hình lạm phát trong nước tăng mạnh làm giá các nguyên vật liệu chủ chốttăng mạnh như xi măng, sắt, thép,…cũng tăng theo Theo tính toán của Công ty tàichính Châu Á Morgan Stanley Hoa Kỳ (chi nhánh Châu Á), chi phí xây dựng tạithời điểm tháng 05/2012 đã tăng hơn 40% so với cuối năm 2011, nhiều Công tytrong ngành đã gặp khó khăn khi phải đi vay với lãi suất lên đến 21% Chủ đầu tưnhiều dự án phải trì hoãn tiến độ dự án để tránh bị lỗ và ngành xây dựng tiếp tụcphải chịu ảnh hưởng do đóng băng của ngành bất động sản

Bong bong bất động sản phát nổ, lãi suất leo thang do chính sách bình ổnkinh tế của Chính phủ và giá nguyên vật liệu tăng mạnh đã tác động làm GDP củangành xây dựng lần đầu tiên sụt giảm và có mức tăng trưởng âm 0.4% kể từ năm

2005 cho đến nay

Sang đầu năm 2014, triển vọng kinh doanh của ngành xây dựng vẫn chưathoát khỏi sự khó khăn của năm 2013 do nền kinh tế thế giới và trong nước vẫnsuy giảm và thị trường bất động sản vẫn ảm đạm Đây là điều không tránh khỏikhi ngành xây dựng như Anh, Mỹ,…vẫn đang trải qua thời kỳ khó khăn do nhucầu xây dựng nhà cửa giảm sút

Theo tính chất chu kỳ của nền kinh tế, khi bước ra khỏi cuộc khủng hoảng

và có tín hiệu phục hồi thì ngành tài chính, xây dựng và bất động sản sẽ là nhữngngành phục hồi nhanh nhất Sau khi lãi suất ngân hàng đã thấp hơn nhờ vào cácbiện pháp kích thích nền kinh tế, giá các nguyên vật liệu đầu vào của ngành giảmmạnh là thời điểm tốt cho các công trình xây dựng triển khai trở lại và ngành xâydựng đã phục hồi rõ rệt trong năm 2014 và do tác động của gói kích cầu kinh tế vàmột phần của gói kích cầu này đã được sử dụng cho mục đích chi tiêu công trong

đó đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà ở xã hội và các công trình khác

2 Triển vọng ngành

Theo Nghị quyết Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 của Quốchội thì GDP năm 2014 sẽ tăng khoảng 5.5% Giá trị tăng thêm của khu vực nông,lâm nghiệp và thủy sản tăng khoảng 2.8%; khu vực công nghiệp và xây dựng sẽtăng khoảng 7%; khu vực dịch vụ sẽ tăng khoảng 7.5% so với năm 2013

Trang 10

Trong năm 2014, ngành xây dựng tập trung vào các giải pháp nhằm nângcao năng lực cạnh tranh của ngành, tăng cường cải cách thủ tục hành chính và xâydựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo hướng đồng bộ và ngày càngthông thoáng hơn; tập trung công tác chỉ đạo về tiến độ, chất lượng đối với các dự

án trọng điểm lớn; quan tâm đến công tác lập quy hoạch, quy hoạch phải đi trướcmột bước; xây dựng cơ chế, đề án triển khai áp dụng các công nghệ mới, vật liệumới; ban hành quy chế về quản lý kiến trúc, chiến lược đào tạo nguồn nhân lực

Sự phục hồi của ngành xây dựng trong năm qua sẽ tiếp tục tạo đà cho sựtăng trưởng trong những năm tới khi thị trường bất động sản được dự báo sẽ sôiđộng trở lại Ngoài ra, khu vực đầu tư xây dựng công vẫn được đẩy mạnh triểnkhai trong trong thời gian tới Bên cạnh các công trình đang thi công thì một loạtcác dự án BOT xây cầu, cảng và đường mới được Chính phủ thông qua trong năm

2013 dự kiến sẽ được bổ sung thực hiện trong năm 2014

Theo BMI, ngành xây dựng Việt Nam năm 2010 sẽ tăng trưởng 21.86% so vớinăm 2009 và đạt mức giá trị là 134,526 tỷ đồng, chiếm 6.90% GDP do sự phụchồi nhanh chóng và mạnh mẽ của ngành trong năm qua Tốc độ tăng trưởng trungbình ngành giai đoạn 2010 – 2014 được dự báo sẽ đạt 16.07%/năm Có thể khẳngđịnh, triển vọng tăng trưởng của lĩnh vực xây dựng trong thời gian tới được đánhgiá là khá tốt với rất nhiều cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong ngành

3 Phân tích năm yếu tố cạnh tranh M.Porter

 Đối thủ mới gia nhập ngành - mức độ trung bình

 Sản phẩm thay thế - mức độ trung bình

 Sức mạnh của khách hàng - mức độ cao

 Sức mạnh của nhà cung cấp - mức độ cao

 Mức độ cạnh tranh trong ngành - mức độ cao

Trang 11

Đối thủ mới gia nhập ngành - mức độ trung bình

Việc thành lập mới các doanh nghiệp trong ngành xây dựng là rất dễ dàng,

do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội việc phát triển cơ sở hạ tầng, các công trìnhphục vụ nhu cầu của con người ở khắp mọi nơi nên các doanh nghiệp mới thànhlập nhằm đáp ứng nhu cầu này Tuy nhiên, các doanh nghiệp mới thành lập sẽkhông dễ dàng phát triển như mong đợi vì đa số các doanh nghiệp xây dựng đãhoạt động nhiều năm trong ngành, sự am hiểu của họ về thị trường, các bạn hànglâu năm và đều trực thuộc các Tổng Công ty Nhà nước lớn, mặc dù có nhiềudoanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng do yếu tố chiến lược nên sự chi phối của Nhànước đối với các doanh nghiệp xây dựng vẫn còn cho nên việc họ nhận được sự

ưu ái của Công ty mẹ đối với các Công ty con như tham gia một khâu trong quátrình xây dựng một công trình, một dự án lớn,…đủ để các Công ty này phát triển

sẽ là nguy cơ thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp mới thành lập nếu muốntham gia vào quá trình xây dựng Đặc biệt, khi Việt Nam gia nhập WTO thì cácdoanh nghiệp nước ngoài với lợi thế về vốn, công nghệ hiện đại, chiến lược kinhdoanh mang tầm quốc sẽ là những thách không nhỏ đối với các doanh nghiệptrong nước Đây là mối đe dọa trung bình đối với các doanh nghiệp xây dựng ViệtNam khi sự hòa nhập kinh tế ngày càng cao

Sản phẩm thay thế - mức độ trung bình

Nguyên vật liệu trong ngành xây dựng chủ yếu là xi măng, sắt thép, songvai trò của thiết bị máy móc trong việc giải quyết các vấn đề kỹ thuật, kinh tếngày càng cấp thiết Khoa học kỹ thuật hiện đại đã giúp ngành xây dựng giải quyếtđược nhiều khâu mà con người không thể trực tiếp làm được Tuy nhiên, nếukhông có con người tác động hay sử dụng vào một mục đích nào đó trong xâydựng thì vẫn chỉ là một công cụ làm việc đơn thuần Do vậy, mức độ đe dọa này ởmức độ trung bình

Trang 12

Sức mạnh của khách hàng - mức độ cao

Với vai trò là chủ đầu tư, khách hàng có thể lựa chọn hoặc chỉ định thầutheo ý muốn nên các doanh nghiệp xây dựng sẽ phải cạnh tranh một cách quyếtliệt để tham gia vào quá trình xây dựng nhằm đảm bảo doanh nghiệp có doanh thu

và lợi nhuận nếu không họ sẽ bị loại bỏ khỏi thị trường Do vậy, mức độ đe dọa ởmức độ cao

Sức mạnh của nhà cung cấp - mức độ cao

Ngành xây dựng phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nguyên vật liệu và ximăng, sắt thép Yếu tố chi phí này luôn tác động mạnh đến quá trình đầu tư và xâydựng công trình Thị trường các nguồn nguyên liệu này biến động rất mạnh phụthuỗ vào nhiều yếu tố Như vậy, nhà cung cấp nguyên vật liệu có thể lợi dụng thịtrường để ép giá ảnh hưởng đến quá trình, thời gian và tiến độ thực hiện dự án đốivới chủ đầu tư và gây ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận của doanhnghiệp Do vậy, mức độ đe dọa ở mức độ cao

Mức độ cạnh tranh trong ngành - mức độ cao

Tổng hòa các yếu tố trên cho thấy, mức độ cạnh tranh trong ngành xâydựng là khá gay gắt, nhất là phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài cóchiến lược kinh doanh, công nghệ hiện đại Do vậy mức hấp dẫn của ngành bị suygiảm Tuy nhiên, với sự am hiểu và bề dày kinh nghiệm trên thị trường của doanhnghiệp Việt Nam, ngành xây dựng sẽ có chiến lược dài hạn hơn để đối phó với sựthách thức của làn sóng đầu tư bên ngoài hiệu quả

4 Vị trí của ngành xây dựng thủy lợi

Kinh tế Việt nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trong đó song ngòi ao hồ,kênh rạch chằng chịt Muốn phát triển nông nghiệp, mùa màng bội thu thì ưu tiênphát triển thủy lợi là mục tiêu hàng đầu Các công trình thủy lợi không chỉ giúpphân phối nguồn nước, cải thiện cuộc sống nhân dân mà còn đảm bảo an toàn trênsông nước, đảm bảo không để xảy ra lũ lụt Nhờ có hệ thống công trình thuỷ lợi đamục tiêu, như đê bao - bờ bao… đã hình thành hệ thống giao thông, nơi ở an toàncho người dân vùng ngập lũ, sản xuất chủ động hơn (lúa, màu, cây ăn trái, thuỷsản nước mặn, nước ngọt ), ngành nghề phát triển đa dạng, giao thông nông thônthông thoáng hơn Nói cách khác, hệ thống thuỷ lợi đã tạo ra nền tảng làm giàucho vựa lúa hôm nay, góp phần đắc lực vào chương trình an ninh lương thực quốcgia và ổn định kinh tế - xã hội

Trang 13

Tuy nhiên, những lợi ích của thuỷ lợi không phải bao giờ cũng tuyệt đối,với hai lý do: Thứ nhất là khi con người tác động vào thiên nhiên bằng nhữngcông trình, chắc chắn thiên nhiên sẽ tác động ngược lại Thứ hai, không một ai cóthể lường hết mọi diễn biến, tác động biến đổi rất sinh động của môi trường Bởivậy, từ chủ trương đến khi thực hiện xây dựng công trình có rất nhiều yếu tố bênngoài tác động.

Trên thực tế, trong những năm qua, đầu tư vào thủy lợi còn hết sức hạn chế,chủ yếu huy động vốn góp từ nhân dân, các công trình lớn, tầm cỡ đảm bảo hiệuquả và an toàn còn thiếu và yếu Nhiều công trình thuỷ lợi còn thô sơ, không đồng

bộ, chưa khép kín nên chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu khi chuyển đổi cơ cấu sảnxuất Vì vậy, chủ trương về mặt lâu dài, chính phủ xác định tập trung đầu tư lớnvào lĩnh vực thủy lợi để đối phó với sự khắc nghiệt của thiên nhiên như mực nướcbiển ngày càng dâng cao, bão lũ càng lớn, và mùa cạn thiếu nguồn nước ngọt

Do đó, có thể nói lĩnh vực xây dựng thủy lợi luôn chiếm một vị trí quantrọng trong nên kinh tế, và là tiền đề phát triển nông lâm ngư nghiệp, cải thiện đờisống nhân dân Đây được đánh giá là lĩnh vực còn nhiều tiềm năng khai thác pháttriển Cụ thể, ví dụ với khu vực Tây Nguyên, Ban Chỉ đạo Tây nguyên cho biếtđang cùng Bộ NN-PTNT tập trung chỉ đạo quy hoạch phát triển thủy lợi toàn vùngTây nguyên từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 Theo đó, trong giai đoạn tới

cả vùng xây dựng mới 1.614 công trình thủy lợi, nâng cấp 756 công trình, bảođảm tưới cho gần 390.000 ha cây trồng Với quy hoạch này, nhu cầu vốn đầu tưkhoảng 79.000 tỉ đồng; dự kiến vốn từ ngân sách nhà nước (bao gồm vốn ODA)đáp ứng 80 - 85%, còn lại là vốn tín dụng, vốn từ khu vực doanh nghiệp, dân cư

và đầu tư trực tiếp nước ngoài

Ngày đăng: 02/04/2015, 16:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4. Sơ đồ bộ máy quản lý - PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG
4. Sơ đồ bộ máy quản lý (Trang 16)
Bảng 1: Bảng cân đối kế toán - PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG
Bảng 1 Bảng cân đối kế toán (Trang 17)
Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh - PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG
Bảng 2 Kết quả hoạt động kinh doanh (Trang 18)
Bảng 4: các thông tin tài chính qua các năm 2010-2013 - PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG
Bảng 4 các thông tin tài chính qua các năm 2010-2013 (Trang 19)
Bảng 3: báo cáo lưu chuyển tiền tệ - PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG
Bảng 3 báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Trang 19)
Bảng 5: các chỉ tiêu tài chính từ quý 2/2013- quý 1/2014 - PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG
Bảng 5 các chỉ tiêu tài chính từ quý 2/2013- quý 1/2014 (Trang 20)
Bảng 6: bảng so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành - PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG
Bảng 6 bảng so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành (Trang 22)
Hình công ty cổ phần. Với lợi thế - PHÂN TÍCH MÃ CHỨNG KHOÁN LHC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THỦY LỢI LÂM ĐỒNG
Hình c ông ty cổ phần. Với lợi thế (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w