1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp góp phần giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 2

34 2,6K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 194 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Đổi mới giáo dục là một thử thách đối với giáo viên tiểu học,chúng ta cầnphải thay đổi quan niệm,điều chỉnh các phương pháp dạy học cho phù hợp để đạtđược hiệu quả giá

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN GIÚP HỌC SINH HỌC

TỐT PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2”

Trang 2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lý do chọn đề tài

Đổi mới giáo dục là một thử thách đối với giáo viên tiểu học,chúng ta cầnphải thay đổi quan niệm,điều chỉnh các phương pháp dạy học cho phù hợp để đạtđược hiệu quả giáo dục cao nhất, thực hiện thành công mục tiêu giáo dục của nộidung sách giáo khoa mới.Công việc thực sự không đơn giản chút nào.Đối với phânmôn Luyện từ và câu cũng vậy là một phân môn mới đối với các em học sinh lớp 2

đã có một số bậc phụ huynh nói với tôi rằng “Phân môn Luyện từ khó quá, tôi dạymãi mà cháu không hiểu”.Là một giáo viên đã dạy nhiều năm ở lớp 2 khi dạy phânmôn Luyện từ và câu tôi cũng nhận thấy nội dung chương trình phân môn nàytương đối khó đối với nhận thức của các em Bởi vì các em còn hạn chế về vốnsống,vốn hiểu biết về Tiếng Việt.Làm thế nào để nâng cao chất lượng phân mônnày đó là điều tôi băn khoăn trăn trở.Tôi nghĩ rằng nếu đòi hỏi tất cả các em học tốttrong ngày một ngày hai là điều không thể thực hiện ngay được Đúng như nhà giáodục J A Komes đã từng nói: “Mọi điều đều phải tiến hành theo một trình tự liêntục sao cho tất cả những điều có hôm nay phải củng cố cái hôm qua và mở ra conđường cho ngày mai ” Chính vì những lí do trên tôi quyết định chọn nghiên cứu đềtài: “ Một số biện pháp góp phần giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu -lớp 2”

II Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của đề tài:

Trang 3

+ Xác định một số nguyên nhân, học sinh chưa học tốt phân môn Luyện từ vàcâu

+ Trên cơ sở đã đề xuất một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Luyện

từ và câu lớp2

III Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài này, tôi đã tập trung vào một sốnhiệm vụ nghiên cứu như sau:

+ Cơ sở lý luận của đề tài

+ Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến học sinh học chưa tốt phân mônLuyện từ và câu

+Từ đó đề xuất một số biện pháp dạy học giúp học sinh học tốt phân môn Luyện

từ và câu

IV Phương pháp nghiên cứu

+ Với mục đích và nhiệm vụ đã được xác định đề tài tập trung sử dụng một sốphương pháp sau:

+ Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: tham khảo tài liệu, thông tinđại chúng…

+ Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát việc học tập của các em trên lớp và ở nha.ø

- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với đồng nghiệp, học sinh, phụ huynh đểtìm ra nguyên nhân và nêu phương án khắc phục

Trang 4

- Phương pháp điều tra : Điều tra kết quả học tập năm trước

Ngoài ra còn sử dụng phương pháp hỗ trợ: Phân tích sản phẩm hoạt động

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Xuất phát từ thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước cần có những con

người lao động năng động sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với điều kiện đổi mới đangdiễn ra hàng ngày Trong khi đó cách dạy truyền thống như hiện nay mặc dù có đổimới song chất lượng vẫn còn thấp so với yêu cầu thực tế Vì vậy cùng với việc đổimới nội dung chương trình thì đổi mới phương pháp dạy học trong mỗi tiết học cómột vị trí hết sức quan trọng và cần thiết, đây là việc làm thiết thực góp phần nângcao chất lượng dạy học cũng như thực hiện được mục tiêu giáo dục mà Đảng và nhànước, ngành đề ra

Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học phân môn luyện từ câu nóiriêng, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động của học sinh, mọi học sinhđều hoạt động học tập để phát triển năng lực cá nhân Giáo viên tổ chức hướng dẫnhọc sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để học sinh chiếmlĩnh tri thức rồi vận dụng các tri thức đó vào thực hành Tạo cho học sinh thói quen

tự giác, chủ động, không dập khuôn máy móc, biết tự đánh giá và đánh giá kết quảcủa mình, của bạn Đặc biệt là giúp học sinh có niềm tin, niềm vui trong học tập.Đồng thời tạo điều kiện để học sinh phát huy năng lực sở trường của mình, biết ápdụng kiến thức mới trong bài học vào thực tế dời sống xã hội

Trang 6

Phân môn luyện từ và câu là một phân môn không thể thiếu của chương trìnhtiểu học bởi vậy giáo viên phải tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động dưới sự trợgiúp của dụng cụ, đồ dùng học tập để từng học sinh hoặc từng nhóm học sinh pháthiện và chiếm lĩnh nội dung học tập rồi thực hành vận dụng nội dung đó

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC:

a, Về phía giáo viên

Trong thực tế giảng dạy mà đặc biệt là qua những lần thao giảng ở trường củabản thân tôi nhận thấy: Các hình thức tổ chức hoạt động học tập trong giờ họcLT&C còn đơn điệu Một số giáo viên tổ chức dạy theo vở bài tập từ đầu đếncuối Tức là hướng dẫn học sinh lần lượt làm các bài tập ở vở theo trình tự vàhình thức như nhau ( chủ yếu là làm việc cá nhân)

-Cũng có nhiều giáo viên đã biết thay đổi các hình thức cá nhân, nhóm, lớp chocác bài tập trong một tiết dạy nhưng nhìn chung việc vận dụng chưa đem lại hiệuquả cao

- Đối với dạy LTVC nhiều GV chưa tạo cho HS sự chủ động , tích cực trong

việc huy động các kiến thức và kinh nghiệm sử dụng tiếng mẹ đẻ vào việc chiếmlĩnh kiến thức mới của bài học khiến giờ học trở nên nặng nề

Sở dĩ có tình trạng trên là do bản thân cũng như một vài đồng chí giáo viên chưathấy hết ý nghĩa, tầm quan trọng của giờ học Luyện từ và câu

Trang 7

b, Về phía học sinh

Các em học sinh lớp 2 đa số có vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt cònrất sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết câu còn cụt lủn hoặc câu có thể có đủ ýnhưng chưa có hình ảnh Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng Việctrình bày , diễn đạt ý của các em có mức độ rất sơ lược Mặt khác, do thực tế họcsinh mới được làm quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 nên học sinh cònnhiều bỡ ngỡ, chưa có phương pháp học tập bộ môn một cách khoa học và hợp lý

CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN

MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU.

Để góp phần giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu tôi tập trung vàonhững nhiệm vụ chủ yếu sau:

1 Nắm vững các nguyên tắc dạy học Luyện từ và câu

Để dạy Luyện từ và câu một cách có mục đích, có kế hoạch, có hiệu quả cầnnắm vững một số nguyên tắc sau:

1 Nguyên tắc giao tiếp

Việc thay tên gọi hai phân môn “Từ ngữ”, “Ngữ pháp” của chương trìnhTiếng Việt cũ bằng “Luyện từ và câu” ở chương trình Tiếng Việt mới không chỉđơn thuần là việc đổi tên mà là sự phản ánh quan điểm giao tiếp trong dạy họcLuyện từ và câu Nó đòi hỏi việc dạy học từ, câu nằm trong quỹ đạo dạy tiếng như

Trang 8

một công cụ giao tiếp, nhằm thực hiện mục tiêu của chương trình Tiếng Việt Tiểuhọc mới: “hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi”.Quan điểm giao tiếp chi phối nội dung chương trình môn Tiếng Việt nói chungcũng như phân môn Luyện từ và câu nói riêng Trật tự các khái niệm được đưa ra,

“liều lượng” kiến thức và phương pháp của giờ học Luyện từ và câu đều bị chi phốibởi quan điểm này.Nguyên tắc giao tiếp (hay cũng chính là sự vận dụng nguyên tắcthực hành của lí luận dạy học vào dạy học tiếng mẹ đẻ nên còn gọi là nguyên tắcthực hành) trong dạy học Luyện từ và câu không chỉ được thể hiện trên phươngdiện nội dung mà cả ở phương pháp dạy học.Về phương pháp dạy học, trước hết,các kĩ năng tiếng Việt phải được hình thành và phát triển thông qua hệ thống bài tậpmang tính tình huống phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên Chính vìvậy, trong SGK Tiếng Việt Tiểu học, phần thực hành nhiều, dung lượng lí thuyết ít

và khái niệm được hình thành ở phần lí thuyết cũng ở dạng đơn giản nhất Nhưvậy,nguyên tắc giao tiếp trong dạy Luyện từ và câu đòi hỏi học sinh phải tiến hànhhoạt động ngôn ngữ thường xuyên Đó là việc yêu cầu thực hiện những bài tậpmiệng, bài viết trình bày ý nghĩ, tình cảm, đọc, ứng dụng tri thức lí thuyết vào bàitập, vào việc giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của ngữ pháp, tập đọc, chính tả, tập làmvăn Quán triệt nguyên tắc giao tiếp trong dạy Luyện từ và câu chính là việc hướngđến xây dựng nội dung dạy học dưới hình thức các bài tập Luyện từ và câu Đểhướng dẫn học Luyện từ và câu, thầy giáo phải tạo ra hệ thống nhiệm vụ và hệthống câu hỏi nhằm dẫn dắt HS thực hiện

Trang 9

Và nguồn cơ bản của dạy từ cần được xem là kinh nghiệm sống của cá nhân

HS và những quan sát thiên nhiên, con người, xã hội của các em.Việc làm giàu vốn

từ, dạy từ phải gắn với đời sống, gắn với việc làm giàu những biểu tượng tư duy,bằng con đường quan sát trực tiếp và thông qua những mẫu lời nói Phải thiết lậpđược quan hệ đúng đắn giữa hình ảnh bằng lời (từ ngữ) với những biểu tượng củatrẻ em về đối tượng Mọi quy luật cấu trúc và hoạt động của từ và câu chỉ được rút

ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh động, những kinh nghiệm lời nói và kinhnghiệm sống đã được bổ sung Các bài tập Luyện từ và câu phải được xây dựng dựatrên kinh nghiệm ngôn ngữ của HS.Việc dạy học Luyện từ và câu phải bảo đảm sựthống nhất giữa lí thuyết ngữ pháp và thực hành ngữ pháp với mục đích phát triểncác kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ: việc phân tích từ, câu không có mục đích tự thân

mà là phương tiện để nhận diện các phương tiện ngữ pháp, nắm chức năng củachúng, từ đó sử dụng chúng trong lời nói Chương trình hướng đến gắn lí thuyết vớithực hành Trên quan điểm thực hành, các tác giả SGK đã chọn những giải phápngôn ngữ có nhiều lợi thế nhất trong sử dụng tiếng mẹ đẻ Đối chiếu nội dung từngkhái niệm ngữ pháp được dạy ở Tiểu học với các khái niệm được trình bày trongcác giáo trình Việt ngữ học, ta thấy rằng nội dung những khái niệm ở Tiểu học như

từ, câu đều được đưa ra ở dạng đơn giản nhất

Chương trình nặng về thực hành nên bên cạnh hệ thống khái niệm được trình bàymột cách đơn giản lại rất chú trọng dạy hệ thống quy tắc ngữ pháp Quy tắc ngữpháp là những điều phải tuân theo để tạo nên những đơn vị ngữ pháp cụ thể nhằmthực hiện nhiệm vụ giao tiếp (nói, viết) nào đó Hệ thống quy tắc ngữ pháp giúp HSchuyển từ nhận thức sang hành động Ví dụ, liên quan đến các khái niệm câu có các

Trang 10

quy tắc chính tả, dấu chấm câu,viết hoa chữ cái đầu câu, quy tắc nói, đọc: nói, đọchết câu phải nghỉ hơi,đọc đúng giọng điệu phù hợp với các kiểu câu chia theo mụcđích nói Liên quan đến danh từ riêng có quy tắc viết hoa tên riêng

và các câu nói cụ thể HS thu nhận được trong giờ Luyện từ và câu là rất nhỏ so vớilượng từ, mẫu câu thu nhận được trong các giờ học khác, trong các hoạt động ngoàigiờ học cũng như rất nhỏ so với vốn từ, vốn câu cần có của các em Do đó khôngthể dạy từ và câu bó hẹp trong tiết Luyện từ và câu mà cần đề ra nguyên tắc tíchhợp trong dạy từ, câu Nguyên tắc này đòi hỏi việc dạy Luyện từ và câu phải đượctiến hành mọi nơi, mọi lúc ngoài giờ học, trong tất cả các môn học, trong tất cả cácgiờ học khác của các phân môn Tiếng Việt Không phải chỉ trong giờ học TiếngViệt mà trong tất cả các hoạt động khác và trong các giờ học khác, giáo viên cầnchú ý điều chỉnh kịp thời những cách hiểu từ sai lạc, những cách nói, viết câu khôngđúng ngữ pháp của HS, kịp thời loại ra khỏi vốn từ tích cực của HS những từ ngữkhông văn hoá.Tất cả các môn học và các phân môn Tiếng Việt đều có vai trò tolớn trong việc luyện từ và câu Chúng mở rộng sự hiểu biết về thế giới, con người,

Trang 11

góp phần làm giàu vốn từ và khả năng diễn đạt tình cảm, tư tưởng của HS Để nắmbất kì môn học nào: Toán, Tự nhiên - Xã hội, Đạo đức , HS phải nắm vốn từ vàmẫu câu tối thiểu của môn học đó Chúng sẽ bổ sung cho vốn tiếng mẹ đẻ của HS.Người giáo viên khi dạy tất cả các môn học đều phải có ý thức gắn với dạy từ vàcâu Trên lớp cũng như khi hướng dẫn các hoạt động khác cho HS: tham quan, hoạtđộng tập thể, ngoại khoá v.v , giáo viên cần dạy HS phát hiện ra các từ mới, tìmhiểu nghĩa và cách sử dụng chúng trong câu, đoạn Việc hoàn thiện những từ này sẽđược tiếp tục trong giờ Luyện từ và câu.

3 Nguyên tắc trực quan

Những hình ảnh cảm tính, những biểu tượng của trẻ em về thế giới xungquanh là một tổ hợp cần thiết cho bất kì việc dạy học nào Quan điểm này là cơ sởcủa nguyên tắc trực quan Nguyên tắc trực quan được xây dựng còn dựa vào sựthống nhất giữa trừu tượng và cụ thể trong ngữ pháp Đặc điểm của việc vận dụngnguyên tắc trực quan trong dạy từ là ở chỗ: từ là một tổ hợp kích thích nghe, nhìn,vận động, cấu âm Một quy luật tâm lí là càng có nhiều cơ quan cảm giác tham giavào việc tiếp nhận đối tượng (hiện tượng) thì càng ghi nhớ một cách chắc chắn đốitượng ấy, có nghĩa là càng ghi nhớ cả từ mà nó biểu thị, do đó, khi giải nghĩa từ,trong phạm vi có thể, cần sử dụng các phương tiện tác động lên các giác quan Thựchiện nguyên tắc trực quan trong việc dạy nghĩa từ là cần làm sao trong giải nghĩa,việc tiếp nhận của HS không phiến diện mà hình thành trên cơ sở của sự tác độngqua lại của những cảm giác khác nhau: nghe, nhìn, phát âm, viết Giai đoạn đầu, khigiới thiệu cho HS một từ mới, một mặt cần phải đồng thời tác động bằng cả kíchthích vật thật và bằng lời Mặt khác HS cần nghe, nhìn, phát âm và viết từ mới,

Trang 12

đồng thời phải để HS nói thành tiếng hoặc nói thầm điều các em quan sát được.Giáo viên cần giúp các em biểu thị thành lời, thành từ ngữ tất cả những gì đã quansát Vì vậy, quán triệt nguyên tắc trực quan, ở một khía cạnh nào đó cũng đồng thời

đã tuân thủ nguyên tắc thực hành Đối tượng nghiên cứu của Luyện từ và câu là từngữ, câu, thành phần câu v.v Do đó, bên cạnh biểu bảng, sơ đồ, vật thật, tranhvẽ như người ta vẫn thường quan niệm về đồ dùng trực quan trong giờ học, trựcquan trong giờ dạy Luyện từ và câu còn được hiểu là sử dụng những ngữ liệu (lờinói) trực quan - những bài văn, những câu, những từ

Ngoài các nguyên tắc chung, trong dạy học Luyện từ và câu còn có những nguyêntắc đặc thù Đó là nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống của từ, câu trong dạy họcLuyện từ và câu và nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất giữa nội dung và hình thứcngữ pháp trong dạy học Luyện từ và câu

4 Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống của từ, câu trong dạy học Luyện từ và câu

Những thành tựu nghiên cứu trong Ngôn ngữ học về bản chất nghĩa của từ,cấutạo từ, các lớp từ, bản chất cấu tạo của câu, các kiểu câu, liên kết câu là cơ sở đểdạy các bài lí thuyết về từ, câu Chúng ta cần nắm được và cho học sinh từng bướclàm quen với các khái niệm nghĩa của từ, tính nhiều nghĩa,đồng nghĩa, trái nghĩa,cấu tạo câu, các kiểu câu Mặt khác, dựa vào kiến thức từ vựng học, người ta đã xáclập những nguyên tắc để dạy từ theo quan điểm thực hành, hay nói cách khác, làmgiàu vốn từ cho học sinh Dạy từ nhất thiết phải tính đến đặc điểm của từ như mộtđơn vị ngôn ngữ: quan hệ trực tiếp của từ với thế giới bên ngoài Việc dạy từ cầnphải trình bày như là việc thiết lập quan hệ giữa từ và các yếu tố của hiện thực,quan hệ giữa từ với một lớp sự vật cùng loại được biểu thị bởi từ Đó là hai mặt

Trang 13

hình thức và nội dung của tín hiệu từ Hai mặt này gắn chặt với nhau, tác động lẫnnhau Phải làm cho học sinh nắm vững hai mặt này và mối tương quan giữa chúng.Học sinh vừa phải thiết lập được mối quan hệ của các từ với sự vật, một lớp sự vật,mặt khác lại phải phải tách được ý nghĩa từ vựng của từ khỏi vật được từ gọi tên.Đồng thời dạy từ nhất thiết phải tính đến những quan hệ ý nghĩa của từ với những

từ khác bao quanh trong các phong cách chức năng khác nhau (tính đến khả năngkết hợp của từ) Chính vì vậy, đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ là cơ sở đểxây dựng các bài tập từ ngữ Sự hiểu biết về nghĩa từ, đặc điểm của từ trong hệthống sẽ giúp cho nhà sư phạm xác lập được mục đích, nội dung cũng như kĩ thuậtxây dựng từng bài tập từ ngữ cụ thể Giá trị của từ trong hệ thống sẽ là chỗ dựa đểxem xét, đánh giá tính khoa học cũng như hiệu quả của một bài tập từ ngữ.Từ đặcđiểm tính hệ thống của ngôn ngữ, trong dạy học Luyện từ và câu,ngoài các nguyêntắc chung, người ta còn đề xuất một nguyên tắc dạy học có tính chất đặc thù, đó lànguyên tắc “Bảo đảm tính hệ thống của từ trong dạy học từ ngữ (luyện từ)”.Nguyên tắc này đòi hỏi việc “luyện từ” phải tính đến đặc điểm của từ trong hệthống ngôn ngữ Như vậy, trong sự tương

ứng với những đặc điểm đã nêu của từ, khi dạy từ cần phải:

4.1 Đối chiếu từ với hiện thực (vật thật hoặc vật thay thế) trong việc giải nghĩa từ

(nguyên tắc ngoài ngôn ngữ)

4.2 Đặt từ trong hệ thống của nó để xem xét, nghĩa là đặt từ trong các lớp từ,

trong các mối quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng chủ đềv.v (nguyên tắc hệ hình)

Trang 14

4.3 Đặt từ trong mối quan hệ với những từ khác xung quanh nó trong văn bản với

mục đích làm rõ khả năng kết hợp của từ (nguyên tắc cú đoạn)

4.4 Chỉ ra việc sử dụng từ trong một phong cách xã hội (nguyên tắc chức năng).

Hai việc làm đầu cần thiết cho dạy nghĩa từ, hai việc làm sau cần thiết cho việc dạy

sử dụng từ

Cũng như vậy, việc dạy câu: hiểu nghĩa câu, nói, viết câu phải đặt trong ngữcảnh, trong văn bản để luyện tập, để đánh giá đúng/sai, hay/dở Chú ý đến đặc điểmcủa từ, câu trong hệ thống được xem là một nguyên tắc quan trọng trong dạy họcLuyện từ và câu

5 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa nội dung và hình thức ngữ pháp trong dạy học Luyện từ và câu

Khái niệm ngữ pháp mang tính trừu tượng và khái quát cao Dạy học phải chỉ

ra được nội dung của khái niệm - ý nghĩa, chức năng, lí do tồn tại của khái niệmtrong hệ thống, bởi vì đó là bản chất của khái niệm, lẽ sống còn của nó Nhưng nộidung ngữ pháp bao giờ cũng trừu tượng, nhất là đối với học sinh nhỏ Ví dụ, nhữngcách nói “danh từ chỉ sự vật, hiện tượng”, “từ có nghĩa, tiếng có thể không cónghĩa”, v.v… rất khó nắm bắt, nhận dạng Đây là nguyên nhân gây ra những khókhăn của học sinh nhỏ trong quá trình hình thành khái niệm Để nắm bắt khái niệmngữ pháp, cần có trình độ tư duy lôgic nhất định Quá trình hình thành khái niệmcũng đồng thời là quá trình học sinh nắm những thao tác tư duy như phân tích, tổnghợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá và cụ thể hoá Hiệu quả của việc hìnhthành khái niệm phụ thuộc vào trình độ phát triển của hoạt động trừu tượng của tư

Trang 15

duy Những học sinh gặp khó khăn trong việc tách ý nghĩa ngữ pháp của từ ra khỏi

ý nghĩa từ vựng của nó, không đối chiếu được từ và tập hợp chúng trong một nhómtheo những dấu hiệu ngữ pháp bản chất sẽ gặp khó khăn trong việc hình thành kháiniệm và sẽ bị mắc lỗi Để giảm bớt những khó khăn trên, đầu tiên chỉ để học sinhnhận ra những dấu hiệu dễ nhận, đập vào trực quan của các em, lần sau sẽ hướngvào những dấu hiệu mới, dần dần mở ra toàn bộ nội dung khái niệm Mặt khác,trong dạy học Luyện từ và câu, lúc nào cũng phải xác lập mối quan hệ giữa ý nghĩa

và hình thức ngữ pháp, phải luôn giúp học sinh nhận ra ý nghĩa và các dấu hiệuhình thức của hiện tượng ngữ pháp được nghiên cứu và chức năng của nó trong lờinói Mỗi nội dung ý nghĩa đều có một hình thức tương ứng, nghĩa là nội dung được

cố định lại trong một hình thức nhất định và hình thức này có thể nắm bắt được.Khái niệm được lĩnh hội trong sự thống nhất của nội dung và hình thức mới chắcchắn Ví dụ, làm cho học sinh ý thức được danh từ là toàn bộ các từ chỉ người, vật,

sự vật, có dấu hiệu hình thức trả lời được cho câu hỏi “Ai”, “Cái gì”, thường làmchủ ngữ trong câu đơn hai thành phần; động từ là từ chỉ hoạt động, trả lời cho câuhỏi: “Làm gì”, thường làm vị ngữ trong câu đơn hai thành phần; tính từ là toàn bộcác từ chỉ tính chất của sự vật, trả lời cho câu hỏi “Như thế nào”; hình thức cấu tạocủa từ và ý nghĩa của chúng, hình thức và ý nghĩa của câu, hình thức và chức năngcủa các kiểu câu Cần triệt để sử dụng các câu hỏi để phát hiện ra các dấu hiệu hìnhthức của hiện tượng nghiên cứu, ví dụ câu hỏi xác định thành phần câu, câu hỏi xácđịnh từ loại

6 Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học

Trang 16

- Việc dạy học đối với mỗi bài học là trách nhiệm của mỗi giáo viên, vì vậychính giáo viên là người quyết định cho việc lựa chọn phương pháp dạy học thíchhợp cho từng bài học, sao cho tương tác giữa thầy và trò trong quá trình lĩnh hội trithức của trò đạt hiệu quả cao nhất Kinh nghiệm cho thấy, trong một bàigiảng thành công không bao giờ chỉ dùng một phương pháp mà phải phốihợp nhiều phương pháp, cả phương pháp hiện đại và phương pháp truyềnthống một cách hợp lý Mỗi giáo viên phải nắm chắc các phương pháp đặc trưngdạy phân môn Luyện từ và câu Lựa chọn phương pháp thích hợp để bổ sung, hỗ trợlẫn nhau.

Ví dụ : Luyện từ và câu

Bài : MRVT: Từ ngữ về sông biển

Đặt và trả lời câu hỏi : Vì sao ?

Dạy học bài mới :

Bài 1: Tìm các từ ngữ có tiếng biển :

M : tàu biển , biển cả

- GV tổ chức cho HS chơi trò chơi tiếp sức ( chia lớp làm 2 đội , mỗiđội gồm 4 em, chơi trong 4 phút)

Đội A : Tìm từ có tiếng biển đứng sau.

Đội B : Tìm từ có tiếng biển đứng trước.

Đội A Đội B

Trang 17

….……biển biển………

- GV tổng kết trò chơi

- HS dưới lớp bổ sung thêm 1 số từ khác ( nếu có )

Kết quả :

- Tàu biển, sóng biển, nước biển, cá biển, tôm biển , cua biển, rong biển….

- Biển cả, biển khơi, biển xanh, biển lớn….

Bài 2: Tìm từ ngữ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:

( suối , sông , hồ )

a) Dòng nước chảy tương đối lớn , trên đó thuyền bè đi lại được

b) Dòng nước chảy tự nhiên ở đồi núi

c) Nơi đất trũng chứa nước, tương đối rộng và sâu, ở trong đất liền

Ngày đăng: 02/04/2015, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w