Trong giai đoạn quá độ này chúng ta phải đầu tư nhiều để pháttriển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, tạo đà cho sự phát triển vững chắc sau này.Vì thế vấn đề đặt ra hiện nay đối với các doa
Trang 1Chương 1: Tổng quan về hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân
hàng thương mại.
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài.
Thực hiện quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế, nước ta đã bước đầuđạt được những thành tựu to lớn như: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, tốc độlạm phát được kiểm soát, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.Tuy nhiên, do xuấtphát điểm của chúng ta không cao, nền sản xuất ở mức độ thấp, công nghệ kỹ thuật cònlạc hậu hơn nữa do đất nước ta trải qua thời kỳ chiến tranh lâu dài, đất nước thống nhấtchưa được bao lâu mà trong điều kiện hiện nay, khi mà xu thế hội nhập và hợp tác trongtất cả các lĩnh vực của nền kinh tế ngày càng trở nên rõ ràng và cần thiết hơn bao giờhết.Do đó đất nước chúng ta cũng không thể tránh khỏi những quy luật tất yếu kháchquan trong tiến trình phát triển của xã hội loài người,nền kinh tế của chúng ta cũng phảitrải qua những giai đoạn mà các nước phát triển đã trải qua.Ở giai đoạn quá độ lên chủnghĩa xã hội này nhiệm vụ đặt ra đối với chúng ta là cực kỳ khó khăn, chúng ta vừa phảiphát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng quan hệ sản xuất của chúng ta là quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn quá độ này chúng ta phải đầu tư nhiều để pháttriển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, tạo đà cho sự phát triển vững chắc sau này.Vì thế vấn
đề đặt ra hiện nay đối với các doanh nghiệp là đầu tư mua sắm tài sản cố định, mở rộng
cơ sở xuất, đầu tư theo chiều sâu nhằm hiện đại hoá kỹ thuật công nghệ, hoàn thành vànâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ phục vụ nhu cầu ngày càng cao của xã hội.Muốnthực hiện được điều này các doanh nghiệp phải cần đến một lượng vốn lớn và có tínhchất ổn định cao.Nguồn vốn mà các doanh nghiệp dùng để đầu tư có thể là nguồn vốn tự
có, vốn do Nhà nước cấp, vốn liên doanh liên kết, vốn cổ phần hay vốn vay ngân hàng…Trong điều kiện nước ta hiện nay thì tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mạiđóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng vốn đầu tư cho các doanh nghiệp
Trang 2 Sau hơn 20 năm cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các ngân hàng thươngmại ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt, kể có sốlượng, quy mô, nội dung và chất lượng; đã có những đóng góp xứng đáng vào công cuộccông nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế nói chung và quá trình đổi mới, phát triển cácthành phần kinh tế, các doanh nghiệp và dân doanh nói riêng; thực sự là ngành tiên phongtrong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế Đặc biệt trong những năm qua, hoạt động ngânhàng góp phần tích cực trong việc huy động vốn, mở rộng đầu tư cho lĩnh vực sản xuấtphát triển, tạo điều kiện thu hút vốn nước ngoài góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởngkinh tế trong nước Ngành ngân hàng xứng đáng là công cụ đắc lực hỗ trợ cho nhà nướctrong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định kinh tế
Tuy nhiên, hiện nay hoạt động ngân hàng ở nước ta đang gặp nhiều khó khăn và cònkhông ít tồn tại đặc biệt là ở khâu tín dụng trung và dài hạn Tín dụng trung dài hạn đượccoi là mảng hoạt động chiếm vị trí then chốt trong hoạt động kinh doanh của NHTM Mặtkhác các NHTM, hơn cả là NHTM quốc doanh đang là những chủ lực cung ứng vốntrung dài hạn trên thị trường tín dụng khi mà trong điều kiện thị trường tiền tệ còn nhiềuhạn chế thì việc quản lý nguồn vốn này vô cùng quan trọng tránh tình trạng mất vốn.Trong bối cảnh đó, hoạt động tín dụng trung dài hạn đã trở thành mối quan tâm không chỉcủa các cấp lãnh đạo, giới quản lý hệ thống ngân hàng mà đã trở thành tâm điểm chú ýcủa toàn xã hội
Bởi vậy làm thế nào để tín dụng trung dài hạn của các NHTM Việt Nam hoạt động antoàn hiệu quả cao, phục vụ tốt cho nhu cầu phát triển kinh tế,xã hội đang là vấn đề bức
xúc, có ý nghĩa quan trọng và quyết đinh về mặt lý thuyết lẫn thực tế
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài.
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề cộng với những kiến thực có được trong quátrình nghiên cứu thực tập tại ngân hàng TMCP công thương Việt Nam - Chi nhánh Thái
Trang 3TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THÁI BÌNH“ làm luân văn của mình nhằm đưa ra những giải pháp có căn cứ khoa học đểgiải quyết những vấn đề còn tồn tại và nâng cao hơn nữa hoạt động tín dụng trung dài hạntại chi nhánh.
Vấn đề đặt ra trong đề tài nghiên cứu về tình hình tín dụng trung dài hạn cuối cùng làđưa ra biện pháp ngăn ngừa, khắc phục hạn chế trong hoạt động tín dụng trung dài hạncủa ngân hàng
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu.
Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tín dụng đặc biệt tín dụng trung dài hạn trên bìnhdiện lý thuyết và thực tiễn
Phân tích tình hình tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh NHTMCP công thương TháiBình
Đưa ra nhận xét chủ quan của bản thân về tổng quan hoạt động tín dụng trung dài hạncủa chi nhánh NHTMCP công thương Thái Bình
Đề xuất các giải pháp để ngân hàng xem xét và ứng dụng nhằm hoàn thiện hoạt độngtín dụng trung dài hạn tại đây
1.4Phạm vi nghiên cứu.
Về thời gian: Tiến hành nghiên cứu các dữ liệu của ngân hàng trong các năm 2008,
2009, 2010, quý I năm 2011 và dữ liệu thông tin sơ cấp việc điều tra trắc nghiệp em cóthể đánh giá được tình hình hoạt động tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng Từ đó tìm ranhững khó khăn của ngân hàng trong quá trình tác nghiệp và có biện pháp khắc phụcnhững khó khăn đó, hạn chế được rủi ro cho ngân hàng
Về không gian: Em tiến hành nghiên cứu hoạt động tín dụng trung dài hạn tạiNHTMCP công thương Thái Bình
Trang 4 Về khách hàng: Khách hàng là những đối tượng xin được cấp tín dụng trung dài hạn
có thể là quốc doanh, ngoài quốc doanh, hộ sản xuất kinh doanh cũng như cá nhân
Dựa theo số liệu điều tra trắc nghiệm và số liệu thực tế của chi nhánh có thể nghiêncứu trên phạm vi hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngânhàng.Trên thực tế số liệu không thể đầy đủ và nhiều khi không cụ thể nên ta có thể dựatheo những số liệu ngân hàng đã công bố và những số liệu có thể khai thác để viết mộtcách khách quan nhất và chính xác nhất
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số vấn đề lý luận, thực tiễn có liên quan trực tiếpđến hoạt động tín dụng trung dài hạn của NHTM và Chi nhánh NH TMCP CT Thái Bìnhtrong những năm 2008 đến 2011
1.5 Kết cấu luận văn tốt nghiệp.
Đề tài nghiên cứu về hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại cổphần công thương Thái Bình với kết cấu luận văn gồm 4 chương :
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất với hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình.
Trang 5Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng trung và dài
hạn tại ngân hàng thương mại.
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản.
2.1.1 Ngân hàng thương mại.
Có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại nhưng nhìn chung có hai khái
niệm đặc trưng nhất như sau:
Theo tài liệu “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter S Rose:
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói
chung và đối với cộng đồng nói riêng Các ngân hàng có thể được định nghĩa
thông qua các chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế
Theo đó ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục
các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ
thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế
Theo điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng có sửa đổi:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật các tổ chứctín dụng và các quy định khác để hoạt động ngân hàng
Ngân hàng là loại hình Tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, cácloại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu
tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác
Trang 6 Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng vớinộidung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng vàcung ứng cácdịch vụ ngân hàng.
Như vậy, có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loạibậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốnnhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triểnkinh tế Từ đó có thể nói bản chất của NHTM thể hiện qua các điểm sau:
Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh tế
Ngân hàng Thương mại hoạt động mang tính chất kinh doanh
Ngân hàng Thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng
Cho vay, cung cấp dịch vụ ngân hàng
Trang 7 Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thểthiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người chovay sang người đi vay.
Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở cóhoàn trả giữa hai chủ thể Như một công ty công nghiệp hoặc thương mại bán hàng trảchậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người bán chuyển giao hàng hoá chobên mua và sau một thời gian nhất định theo thoả thuận bên mua phải trả tiền cho bênbán Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính khác với cácdoanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền caycho bên đi vay và sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi
Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp chokhách hàng
Trong một số ngữ cảnh cụ thể thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay
Mục đích của chương này là xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bản của ngânhàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng
được hiểu như sau: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản( tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay( ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên đi vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả
vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán’’.
2.1.3 Hoạt động tín dụng trung và dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng, nó là hình thức tíndụng phân theo thời hạn
Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt Nam, cho vay trung hạn có thờihạn trên 12 tháng đến 5 năm Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua
Trang 8sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinhdoanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh Trongnông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: Máy cày, máybơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều…
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốnlưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thànhlập
Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lênđến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xâydựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vậ tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới
2.2 Một số lý thuyết cơ bản về vấn dề nghiên cứu.
2.2.1 Một số vấn đề chung về ngân hàng thương mại.
2.2.1.1 Các hoạt động cơ bản.
Huy động vốn
Đây là nghiệp vụ đầu tiên, là sự khởi tạo cho hoạt động của ngân hàng Cho vay đượccoi là hoạt động sinh lời cao do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động vốncho vay với chức năng này ngân hàng đóng vai trò là nhân tố tập hợp các nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi trong xã hội thông qua các hình thức:
Nhận tiền gửi của các cá nhân và tổ chức kinh tế Đây là nguồn tiền chiếm tỉ lệ chủyếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng
Nguồn đi vay: Trong quá trình kinh doanh, đôi khi NHTM có thể cũng lâm vào tìnhtrạng thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả hay nhu cầu vay vốncủa khách hàng NHTM có thể vay ngân hàng nhà nước, vay các tổ chức tín dụng khác,
Trang 9đáp ứng được kịp thời và đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng diễn ra một cách liêntục.
Hoạt động sử dụng vốn
Vốn huy động được sẽ được ngân hàng đầu tư vào các khoản mục tài sản khác nhau,nhằm đạt được mục tiêu mà ngân hàng đề ra.Nhìn chung sẽ được sử dụng vào các hoạtđộng sau:
Hoạt động tín dụng: hoạt động này đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng, nóchiếm tỷ trọng chủ yếu và là hoạt động cơ bản của một ngân hàng Tuy nhiên nó lại chứađựng nhiều rủi ro, ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của ngân hàng
Các hoạt động đầu tư khác: Hoạt động này rất đa dạng và góp phần làm tăng thêm thunhập cho các ngân hàng Đó là hình thức ngân hàng tham gia vào hoạt động góp vốn,mua cổ phần của các công ty, liên doanh liên kết, mua bán chứng khoán, cổ phiếu, tráiphiếu nhằm đa dạng hoá danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro, đem lại nhiều lợi nhuận chocác ngân hàng,
Xuất xứ tín dụng
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành 2 loại
Trang 10 Tín dụng trực tiếp: Là hình thức cấp tín dụng giữa người có tiền (hoặc hàng hoá) vớingười cần sử dụng tiền (hoặc hàng hoá) đó, không cần thông qua một TGTC nào cả.
Cho vay gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng thông qua một TGTC như NHTM hoặcTCTD khác bằng việc mua lại các giấy tờ có giá hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh vàcòn thời hạn thanh toán Đây là hình thức cấp tín dụng được áp dụng phổ biến và chiếm
tỷ trọng lớn
Đối tượng tín dụng
Căn cứ vào hình thức này, người ta chia tín dụng thành 2 loại đó là:
Tín dụng vốn lưu động: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn ngắn thường <1 năm ược sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, có nghĩa là cho vay bùđắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời Nó bao gồm: cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chiphí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kì phiếu
Đ- Tín dụng vốn cố định: là hình thức đầu tư vốn của ngân hàng mà chi phí đầu tư gắnliền với TSCĐ, có nghĩa là đầu tư để mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới kĩ thuật, mởrộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và các công trình mới
Mục đích sử dụng vốn.
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành 2 loại
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là hình thức cấp tín dụng lấy đối tượng thựchiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của ngân hàng để làm cơ sở cấp tín dụng nhưcác nhà doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá
Tín dụng tiêu dùng: là hình thức cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như muasắm nhà cửa, các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thôngthường của đời sống thông qua việc phát hành thẻ tín dụng
Mức độ tín nhiệm với khách hàng.
Trang 11Theo căn cứ này, tín dụng được chia làm hai loại.
Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người bảo lãnh đứng
ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay Hình thức này áp dụng đối với các khách hàng không
có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm Bảo đảm tín dụngnhằm bảo vệ quyền lợi của người cho vay dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc
sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Tín dụng không có bảo đảm: là hình thức tín dụng không có tài sản hoặc người bảolãnh đảm bảo cho khoản nợ vay Tuy nhiên, khách hàng vay không có bảo đảm sẽ đượcnhận khoản vay khi hội tụ đầy đủ các yếu tố sau:
+ Có uy tín với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đúnghạn, đầy đủ cả gốc và lãi
+ Có dự án đầu tư, hoặc phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi, có khảnăng hoàn trả nợ, hoặc dự án đó phục vụ an sinh xã hội có tính khả thi, phù hợp với quyhoạch của vùng, của ngành và đáp ứng được các yêu cầu của nhà nước
+ Có khẳ năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
+ Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của TCTD nếu
sử dụng vốn vay không đúng theo hợp đồng tín dụng, và chấp nhận trả nợ trước hạn nếukhông thực hiện được các biện pháp đảm bảo bằng tài sản
Phương pháp hoàn trả.
Dựa theo tiêu thức này tín dụng được chia 2 loại
Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể trong hợpđồng Đối với loại cho vay này khách hàng có thể trả nợ trước hạn nhưng ngân hàng đượcquyền thu lãi toàn bộ kì hạn trả nợ theo hợp đồng trừ trường hợp có những thoả thuậnkhác Nó bao gồm: cho vay chỉ có một kì hạn trả nợ, cho vay có nhiều kì hạn trả nợ cụ
Trang 12thể (cho vay trả góp), cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kì hạn nợ cụ thể, màviệc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay.
Cho vay không có thời hạn cụ thể: là loại cho vay mà ngân hàng có thể yêu cầu ngư ời
đi vay tự nguyện trả nợ bất kì lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thờigian này có thể được thoả thuận trong hợp đồng
Thời hạn tín dụng.
Căn cứ theo tiêu thức này, người ta chia Tín dụng thành 3 loại
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn < 1 năm và được sử dụng để bù đắp
sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắnhạn của cá nhân Nó bao gồm tín dụng chiết khấu, tín dụng thấu chi, tín dụng ứng trư ớc
và tín dụng bổ sung vốn lưu động
Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm Loại tín dụng nàychủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị,công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và thờigian thu hồi vốn nhanh Ngoài ra, tín dụng trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưuđộng thường xuyên của các doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập
Nó bao gồm các hình thức chủ yếu sau: tín dụng thực hiện theo dự án, tín dụng hợp vốn,tín dụng cho thuê tài chính
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn >5 năm được sử dụng để cấp vốn choxây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng(đường xá, bến cảng, sân bay ), cải tiến và mở rộng sản xuất với qui mô lớn
Nghiệp vụ truyền thống của NHTM là cho vay ngắn hạn, nhưng từ năm 1970 trở lạiđây các NHTM chuyển sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới
đó là nâng cao tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của Ngân hàng vìvậy việc nghiên cứu, phân tích tình hình hoạt động tín dụng trung dài hạn ngày càng trở
Trang 13nên cấp thiết hơn bao giờ hết.Những vấn đề liên quan đến tín dụng trung dài hạn ta có thểtìm hiểu ở phần tiếp theo của luận văn này.
2.2.2 Vai trò của tín dụng trung - dài hạn trong nền kinh tế thị trường.
2.2.2.1 Đối với nền kinh tế
Tín dụng có vai trò quan trọng trọng nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung - dài hạn nếu
có hiệu quả sẽ có tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội Phát triển cho vay tíndụng trung - dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xâydựng cơ bản và giảm bớt thâm hụt ngân sách Xuất phát từ chức năng tập trung và phânphối lại vốn trong nền kinh tế tín dụng trung - dài hạn đã thu hút được nguồn vốn dưthừa, tạm thời nhàn rỗi để đưa vào sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanhnghiệp, từ đó phục vụ cho sự tăng trưởng của nền kinh tế
Mặt khác, trong quá trình huy động vốn và cho vay cũng như tổ chức thanh toán chokhách hàng, ngân hàng có thể đánh giá được tình hình tiêu thụ sản phẩm, tinh hình sảnxuất kinh doanh cũng như khả năng thanh toán chi trả của khách hàng Trong quá trìnhcho vay, để tránh rủi ro ngân hàng luôn đánh giá, phân tích khả năng tài chính và thườngxuyên giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khicần thiết, hướng cho hoạt động của doanh nghiệp đi đúng hướng, từng bước tạo tiền đềvật chất cho xã hội
Đầu tư tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng theo trọng điểm của ngành và trong nội
bộ từng ngành góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý Hoạt động tín dụng theo chiềusâu, xây dựng mới… đã tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật vững chắc cho nền kinh tế phát triểnlâu dài, góp phần tăng cường kim ngạch xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế Với năng lực sản xuất tăng, hàng hoá sảnphẩm nhiều hơn đủ tiêu dùng và dư thừa cho xuất khẩu Nhiều xí nghiệp với máy móc
Trang 14hiện đại sản xuất ra sản phẩm thay thế hàng nhập Tất cả các kết quả đó góp phần tiếtkiệm chi ngoại tệ, tăng thu ngoại tệ, tạo cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh
Tín dụng trung - dài hạn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu đầu
tư, làm cho cơ cấu của nền kinh tế trở lên hợp lý từ đó làm tiền đề cho sự ổn định và trật
tự an toàn xã hội
2.2.2.2 Đối với doanh nghiệp
Trong môi trường kinh tế cạnh tranh, để có thể tồn tại và phát triển được thì các doanhnghiệp phải không ngừng đầu tư vào tài sản cố định Bởi lẽ tài sản cố định là tư liệu chủyếu, chiếm bộ phận lớn trong tổng giá thành, là yếu tố quan trọng quyết định lợi thế cạnhtranh… Tuy nhiên, trong thực tế giá trị tài sản cố định thường rất cao, nếu chỉ trông chờvào nguồn vốn tự tích luỹ thì cần phải mất rất nhiều thời gian doanh nghiệp mới đổi mớiđược tài sản cố định và sẽ bị tụt lại xa so với các doanh nghiệp có vốn đã trang bị hiệnđại Vì thế lối thoát duy nhất cho doanh nghiệp là đi vay để đổi mới Khi tìm kiếm cácnguồn vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp mong muốn có đựơc những khoản tín dụng trung -dài hạn từ ngân hàng Có người cho rằng cách tốt nhất để huy động vốn là doanh nghiệpphát hàng cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn dài hạn Chúng ta không phủ nhận nhữngmặt tích cực của thị truờng chứng khoán trong việc phục vụ nhu cầu bổ sung vốn chodoanh nghiệp, nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trườngvốn và thị trường chứng khoán hoàn hảo thậm trí ở những nước này trong nhiều trườnghợp doanh nghiệp có thể giảm bớt những khoản chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chứcphát hành chứng khoán Đối với những khoản đi vay doanh nghiệp được chủ động điềuhành các hoạt động kinh doanh, tiến hành các dự án lớn mà không phải phân chia quyềnlực nếu lựa chọn việc tài trợ thông qua phát hành cổ phiếu, không phải đối phó với cáctrái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi khi doanh nghiệp không còn cần vốn nữa và có ý muốn thulại số cổ phiếu này Mặt khác, việc trả nợ trung - dài hạn cũng được ấn định theo định kỳ
Trang 15theo từng kỳ hạn hợp lý và ổn định.Vì vậy, doanh nghiệp có cơ sở để thực hiện tráchnhiệm trả nợ của họ.
Như vậy, tín dụng trung - dài hạn đã giúp các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhàxưởng, mua sắm máy móc thiết bị… để cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượngsản phẩm tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và mở rộng chiếm lĩnh thịtrường mới Có thể nói, tín dụng trung - dài hạn là trợ thủ đắc lực cho các doanh nghiệpđạt được mục tiêu kinh doanh : lợi nhuận, an toàn, phát triển không ngừng trong khinguồn vốn trung - dài hạn doanh nghiệp có trong tay không đủ đáp ứng nhu cầu
2.2.2.3 Đối với ngân hàng
Nếu ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài để đầu tư dài hạn sẽ tạo
ra lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với việc dùng nó để cho vay ngắn hạn, vì mỗi món vaytrung - dài hạn cấp cho doanh nghiệp thường là rất lớn, lãi suất cao Bên cạnh khoản lợinhuận hấp dẫn, tín dụng trung - dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất có hiệu quả giữa cácngân hàng với nhau Với các sản phẩm này, ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủdoanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng Khi xác định
mở rộng cho vay trung - dài hạn, các ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt màcòn nhìn vào lợi ích lâu dài hơn đó là mở rộng tín dụng trung - dài hạn để đẩy mạnh chovay ngắn hạn
Các doanh nghiệp sau khi được ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc mới hayxây dựng mở rộng, năng lực sản xuất sẽ tăng lên doanh nghiệp lại cần có nhiều vốn lưuđộng hơn để đáp ứng cho sản xuất Lúc này, người đầu tiên mà doanh nghiệp tìm đếnchính là các ngân hàng đã đầu tư cho họ Bởi lẽ, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thôngcảm vì hai bên đã hiểu nhau, ngân hàng đã nắm được tình hình tài chính và các khoản thuchi của doanh nghiệp nên các dịch vụ sẽ tiện lợi hơn
2.2.3 Đặc điểm, phân loại tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại.
2.2.3.1 Đặc điểm
Trang 16 Độ rủi ro cao.
Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn chậm nên độ rủi rocủa một khoản tín dụng trung dài hạn là cao Kết quả của một dự án đầu tư chịu ảnhhưởng của nhiều yếu tố Sự phân tích và xác định của ngân hàng về các rủi ro này là cóhạn Các ngân hàng cũng không thể khắc phục hết được các rủi ro này Khi khoản chovay dài hạn thời gian đầu tư dài, có rất nhiều sự thay đổi trong môi trường kinh tế: Nhưnhững thay đổi về chính sach, thị trường, thiên tai, chiến tranh…Khiến cho dự án bị thua
lỗ hoặc không có khả năng thu hồi vốn
Lợi nhuận từ các khoản cho vay trung dài hạn là lớn.
Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tư mong đợicàng nhiều Không nằm ngoài quy luật này các khoản tín dụng trung dài hạn của ngânhàng thường mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn Biểu hiện cụ thể đó là lãixuất các khoản cho vay tín dụng trung dài hạn rất cao Có đặc điểm này là do để bù đắpcho những chi phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạt động cho vaytrung dài hạn, chi phí bù đắp rủi ro
Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm.
Nếu như tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu động của doanh nghiệp
và được hoàn trả trong thời hạn ngắn( dưới 1năm) thì tín dụng trung dài hạn phần lớn tàitrợ cho bất động sản, công cụ lao động, hay đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Do đóviệc tài trợ này còn đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài Những khoảntín dụng trung dài hạn này thì nguồn trả nợ gốc và lãi chủ yếu dựa vào khấu hao và lợinhuận của dự án đầu tư Trong khi đó ngân hàng phải bỏ vốn trong suốt thời gian xâydựng dự án và chỉ tín hành thu hồi vốn đầu tư khi dự án đi vào hoạt động và đạt kết quản,dẫn đến thời hạn thu hồi vốn chậm
2.2.3.2 Phân loại
Trang 17 Căn cứ vào đồng tiền cho vay.
Tín dụng trung dài hạn bằng bản tệ: Là việc cho vay bằng đồng nội tệ
Tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ nhằm cấp tín dụng cho ngườ vay có nhu cầuthanh toán các công trình xây dựng cơ bản, các khoản chi phí có liên quan đến nướcngoài bằng đồng ngoại tệ
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn trung dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho tiêu dùng là loại tín dụng cấp cho các cá nhân đểđáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các phương tiện sinh hoạt, phươngtiện đi lại…
Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng cấp cho các
tổ chức kinh tế để tín hành sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá
Căn cứ vào tính chất có đảm bảo.
Tín dụng trung dài hạn có đảm bảo là loại tín dụng khi cho vay bên cho vay đòi hỏingười vay phải có tài sản đảm bảo
Tín dụng trung dài hạn không có đảm bảo: Là loại tín dụng ma khi cho vay bên chovay không đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo Việc cho vay được tín hành trên
cơ sở lòng tin uy tín của bản thân khách hàng
Căn cứ vào cách thức hoàn trả.
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ đều nhau theo tháng, quý, năm là loại tíndụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ một lần là loại tín dụng mà bên vay phải hoàntrả cả gốc và lãi một lần vào thời điểm kết thúc khoản vay
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ có tính thời vụ là loại tín dụng mà người vay
có thể hoàn trả vốn gốc và lãi bất cứ khi nào khi có khả năng, có thu nhập
Trang 18 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của đối tượng xin vay.
Tín dụng trung dài hạn đầu tư trong nước: Là loại tín dụng ngân hàng cấp cho ngườivay nhằm thực hiện các dự án đầu tư trong nước
Tín dụng trung dài hạn tài trợ xuất nhập khẩu: Tín dụng loại này co thể chia ra thành + Tín dụng người cung cấp: Là loại tín dụng trung dài hạn của ngân hàng tài trợ cho cácnhà cung cấp máy móc, thiết bị, công cụ để xuất khẩu
+ Tín dụng người mua: Là ngân hàng cấp tín dụng cho người mua các máy móc thiết bịcủa nước ngoài
Trên đây là một số cách thức phân loại tín dụng trung dài hạn mà tuỳ theo từng điềukiện cụ thể mỗi ngân hàng có thể phân chia theo những tiêu thức khác nhau phục vụ chohoạt động của mình
2.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao hoạt động tín dụng trung - dài hạn
2.2.4.1 Nâng cao hoạt động tín dụng trung - đài hạn là đòi hỏi bức thiết đối với sự phát triển kinh tế
Trước hết, ta hiểu nâng cao hoạt động tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàngphù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngânhàng Chất lượng hoạt động tín dụng trung dài hạn chính là vốn cho vay trung dài hạn củangân hàng được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ … để tạo ramột số tiền lớn hơn thông qua đó ngân hàng sẽ thu được cả gốc và lãi cho ngân hàngđúng thời hạn, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận Như vậy, qua một quá trình chuchuyển vốn, ngân hàng sẽ thu hồi vốn và lãi cón khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả.Xét về tổng thể ngân hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế vừa tạo ra được hiệu quả xãhội
Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tín dụng nói chung và tín dụng trung dài hạn nói
Trang 19để đẩy mạnh tiến trình phát triển của nền kinh tế Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tíndụng đã có những đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn
để đẩy mạnh tiến trình phát triển của xã hội lịch sử đã chứng minh điều đó thông qua sự
ra đời và phát triển của xã hội loài người qua các hình thái kinh tế -xã hội
Hoạt động tín dụng trung dài hạn góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăngtrưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia Xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối lạivốn trong nền kinh tế, tín dụng trung - dài hạn đã thu hút những nguồn vốn dư thừa, tạmthời nhàn rỗi để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanhnghiệp từ đố phục vụ cho sự tăng trưởng nền kinh tế Mặt khác tín dụng trung - dài hạn
là một trong những cách để đưa tiền vào lưu thông nhằm làm cho khối lượng tiền tệ trongnền kinh tế phù hợp với khối lượng hàng hoá Xuất phát từ chức năng tạo tiền của cácngân hàng thương mại, thông qua cho vay chuyển khoản, thực hiện thanh toán khôngdùng tiền mặt, các ngân hàng thương mại có thể mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần so với
sô tiền thực có hoặc vì lý do nào đó, các chủ tài khoản có khả năng phát hành séc vàthanh toán bằng các phương tiện khách cho khách vượt quá số tiền gửi thực tế của hộ …nhưng khi đi vào lưu thông chúng đều có quyển thanh toán, chi trả như các phương tiệnkhác và thường chúng được chuyển thành tiền mặt Hoạt động tín dụng trung - dài hạngóp phần làm lành mạnh quan hệ tín dụng: hoạt động tín dụng được mở rộng với các thủtục đơn giản hoá, thuận tiện nhưng vẫn tuân thủ các nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần chovay đúng các đối tượng cần thiết, giảm thiểu và đi đến xoá bỏ nạn cho vay nặng lãi chủyếu hiện nay đang hoành hành ở nông thôn và các vùng xa xôi hẻo lánh
2.2.4.2 Nâng cao hoạt động tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của cácngân hàng thương mại do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín dụng
Trang 20và thu hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ tạo ra mộthình ảnh về biểu tượng và uy tín của ngân hàng và sự trung thành của khách hàng.
Hoạt động tín dụng trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng sinh lợi của sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, các chiphí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay đã cho vay Mặt khác nó còn đảm bảo khảnăng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnhtranh, tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng vì hoạt động tín dụng tốt tạo chongân hàng có nhiều khách hàng trung thành và những khoản lợi nhuận để bổ xung vốnđầu tư Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng tốt giúp ngân hàng củng cố các mối quan hệ xãhội bằng những điều kiện tốt nhất
Có thể nói, với những ưu thế trên, việc củng cố và tăng cường chất hoạt động tín dụngtrung - dài hạn của các ngân hàng thương mại là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại vàphát triển lâu dài của các ngân hàng thương mại Vì vậy, hoạt động tín dụng luôn luôn đòihỏi phải được nâng cao…
2.2.5 Các chỉ tiêu phản ánh hoạt động tín dụng trung dài hạn
2.2.5.1 Chỉ tiêu định tính.
Để đánh giá hoạt động tín dụng trung dài hạn, đứng trên giác độ là một nhà ngân hàngchúng ta phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặt định tính và mặt định lượng Về mặt địnhtính, các chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Cho vay phải tuân thủ ba nguyên tắc: Vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản đảmbảo nợ vay, phải hoàn trả vốn, lãi đúng thời hạn và theo cam kết tại hợp đồng tín dụng đãký
Cho vay phải tuân thủ các điều kiện như lập hồ sơ cho vay, có phương án sản xuấtkinh doanh, có báo cáo tài chính, sản xuất kinh doanh phải có hiệu quả, có tài sản thếchấp hợp pháp… kèm theo đó là việc kiểm tra trước, trong và sau khi vay - Chất
Trang 21lượng hoạt động tín dụng trung dài hạn được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhucầu của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, antoàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kỳ kinh doanh của khách hàng.
Những ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị tốt, đồngthời ngân hàng tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng hoá và không ngừngứng dụng các dịch vụ ngân hàng mới Ngân hàng có tổng nguồn vốn huy động lớn, ổnđịnh có lượng khách hàng vay đông đảo chứng tỏ ngân hàng có uy tín
Ngoài ra hoạt động tín dụng trung dài hạn còn được xem xét thông qua tình hình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của ngân hàngtrên địa bàn hoạt động
nợ cao chứng tỏ ngân hàng cho vay được nhiều, uy tín của ngân hàng tương đối tốt, cókhả năng thu hút khách hàng Ngược lại, khi tổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng không
có khả năng mở rộng và phát triển cho vay, từ đó có thể thấy rằng uy tín của ngân hàngchưa cao, chưa có khả năng thu hút khách hàng, khả năng tiếp thị kém, ảnh hưởng đếnhoạt động kinh doanh của cả ngân hàng Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ dựa vào riêngmột chỉ tiêu này để đánh giá, Tuỳ từng thời điểm chỉ tiêu này sẽ phản ánh những thựctrạng khác nhau Do đó khi đánh giá chúng ta phải đặt vào mối quan hệ với nguồn vốnđiều kiện kinh doanh cụ thể, của khách hàng và ngân hàng
Dư nợ tín dụng trung dài hạnChỉ tiêu dư nợ =
Trang 22Tổng dư nợ tín dụngChỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn trên tổng dư nợ tín dụng củangân hàng Qua chỉ tiêu này chúng ta có thể so sánh được quy mô của tín dụng trung dàihạn so với tín dụng ngắn hạn của ngâng hàng Tỷ lệ dư nợ này càng cao chứng tỏ ngânhàng này có quy mô tín dụng trung dài hạn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng cũngnhư của nền kinh tế Tuỳ từng ngân hàng cụ thể và tuỳ từng thời điển mà ngân hàngmong muốn lệ này cao sẽ đem lại cho ngân hàng thu nhập cao do lãi suất tín dụng trungdài hạn cao song rủi ro đối với ngân hàng cũng cao.
Hệ số sử dụng vốn
Tổng dư nợ trung dài hạn
Hệ số sử dụng vốn =
Tổng nguồn vốn trung dài hạn
Hệ số sử dụng vốn cho biết khả năng sử dụng nguồn vốn trung dài hạn huy động được
để cho vay trung dài hạn là cao hay thấp
Chỉ tiêu về lợi nhuận
Lợi nhuận tín dụng trung dài hạn Chỉ tiêu lợi nhuận 1 =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
Lợi nhuận tín dụng trung dài hạn Chỉ tiêu lợi nhuận 2 =
Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu này phả ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung dài hạn Nó cho biết mộtđồng dư nợ tín dụng trung dài hạn mang lại bao nhiêu đồng lợ nhuận Bất kì một khoảntín dụng nào cũng sẽ không thể được đánh giá là có chất lượng cao nếu không đem lại lợinhuận thực tế cho ngân hàng Tỷ lệ này càng cao chức tỏ chất lượng tín dụng trung dàihạn tại ngân hàng càng tốt, mang lại lợi nhuân cao cho cả ngân hàng Mỗi một ngân hàng
có một cách đánh giá về chỉ tiêu này khác nhau song hầu như không có một con số chínhxác cụ thể nào để làm căn cứ đưa ra so sánh, mà các ngân hàng dựa vào chỉ tiêu này của
Trang 23từng dự án cụ thể của từng năm để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngânhàng mình.
Chỉ tiên về nợ quá hạn
Nợ quá hạn tín dụng trung dài hạn Chỉ tiêu nợ quá hạn =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
Nợ khó đòi trung dài hạn Chỉ tiêu nợ khó đòi 1 =
Nợ quá hạn trung dài hạn
Nợ khó đòi trung dài hạn Chỉ tiêu nợ khó đòi 2 =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn xem xét giá trị các khoản nợ quá hạn trung dài hạn trong tổng dư nợtrung dài hạn, còn tỷ lệ nợ khó đòi xem xét đến giá trị các khoản nợ trung dài hạn khó đòitrong nợ quá hạn Các chỉ tiêu trên là những chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá chất lượngtín dụng trung dài hạn Tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn cao biểu hiện chất lượng tín dụngcủa ngân hàng thấp, rủi ro cao vì số lượng lớn nợ không được hoàn trả đúng hạn, ảnhhưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng Do vậy không phả dư nợ tín dụng trungdài hạn càng cao thì càng tốt bởi điều đó còn phải phụ thuộc nhiều yếu tố khác như việcquản lý và chất lượng các khoản tín dụng đó
Theo Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ
Trang 24+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4Điều này
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấulại;
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4Điều này
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4Điều này
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
+ Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
+ Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được
cơ cấu lại
Trang 25Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng thương mại
cổ phần công thương Việt Nam - Chi nhánh Thái Bình
3.1Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề.
3.1.1 Dữ liệu sơ cấp(Sử dụng phương pháp điều tra trắc nghiệm):
Trong quá trình thực tập tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh
Từ Liêm, để có được các thông tin cần thiết viết báo cáo cho luận văn em đã thực hiệnphát phiếu điều tra trắc nghiệm tới khách hàng và cán bộ tín dụng cho một tập mẫu gồm
10 người với các câu hỏi được chuẩn bị trước nhằm thu được các dữ liệu sơ cấp dùng choviệc phân tích
Bước 1(Xác định mục đích cuộc phỏng vấn): Làm rõ một số vấn đề liên quan đến tíndụng tại đơn vị thực tập
Bước 2(Xây dựng bảng hỏi): Khi đã xác định rõ mục đích phỏng vấn ta xây dựng mộtbảng hỏi chi tiết và đảm bảo các yêu cầu của một bảng hỏi chuẩn
Bước 3(Thực hiện điều tra trắc nghiệm): Chọn thời điểm phù hợp để hẹn gặp và thựchiện phỏng vấn đối với các đối tượng cần phỏng vấn
Bước 4(Tổng hợp): Dựa vào các câu trả lời của các đối tượng thực hiện phỏng vấn đểtổng hợp dữ liệu
Bằng việc sử dụng excel xử lý các phiếu điều tra thu về ta sẽ có bảng tổng hợp và cácbiểu đồ làm dữ liệu cho bài viết
3.1.2 Dữ liệu thứ cấp(thu tập qua các báo cáo tài chính,website của ngân hàng, ):
Song song với việc pháp phiếu điều tra phỏng vấn, em cũng thu thập các thông tin, dữliệu mà ngân hàng công bố,qua website của ngân hàng cũng như các tài liệu mà chinhánh cung cấp mà em có thể dùng làm dữ liệu thức cấp cho bài viết của mình
Trang 26 Lên lịch trình cho việc xin số liệu tại chi nhánh nộp cho trưởng phòng và làm theotừng bước đã đề ra.
Thường xuyên vào website của ngân hàng để tìm hiểu và cập nhật những thông tinmới
Làm quen và tìm thông tin qua các nguồn không chính thức nhưng vẫn đảm bảo tínhchính xác của dữ liệu
Thông qua việc phân tích, lập bảng, so sánh số tuong đối, số tuyệt đối, tỷ trọng để cónhững dữ liệu cụ thể cung cấp cho quá trình nghiên cứu
3.2Tổng quan về NH TMCP công thương Thái Bình, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại NH TMCP CT Thái Bình.
3.2.1 Giới thiệu về chi nhánh NH TMCP CT Thái Bình.
3.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Thái Bình (NH TMCP CT Thái Bình)trực thuộc Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam, được thành lập vào ngày 08tháng 02 năm 1991 , hiện có trụ sở đặt tại khu Số 190 Hai Bà Trưng, thành phố TháiBình, tỉnh Thái Bình Thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, cung cấp dịch vụngân hàng và kinh doanh ngoại hối với phạm vi hoạt động chủ yếu trên địa bàn tỉnh TháiBình
Ngân Hàng TMCP Công Thương Thái Bình là ngân hàng cấp I, thành lập được 20năm và ngân hàng đã thể hiện là một chi nhánh có tốc độ phát triển nhanh và bền vững,với quy mô ngày càng lớn với đầy đủ các phòng ban chức năng theo quy định của ngânhàng TMCP Công Thương Việt Nam với 12 phòng giao dịch và 6 quỹ tiết kiệm
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàngthương mại nói riêng thì ngân hàng TMCP công thương Thái Bình đã tìm ra một chỗđứng và con đường đi đúng đắn cho riêng mình với hai yêu cầu đặt lên hàng đầu là antoàn vốn và lợi nhuận hợp lý đi đôi với việc góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
Trang 273.2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Là một chi nhánh chịu sự quản lý của Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam,
NH TMCP CT Thái Bình được thành lập ngày với số cán bộ nhân viên toàn chi nhánhlên tới 213 nhân viên Ngân Hàng hoạt động dưới sự điều hành của Ban lãnh đạo gồmmột Giám Đốc và hai Phó Giám Đốc phụ trách các mảng công việc khác nhau Bộ máyhành chính của ngân hàng TMCP công thương Thái Bình có cơ cấu tổ chức với quy định
rõ ràng cụ thể về chức năng và nhiệm vụ như sau:
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của NHTMCP công thương Thái Bình:
(Nguồn: Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam_http://www.vietinbank.vn )
Phòng giao dịch: là phòng thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng, tổ chứchạch toán kế toán theo qui định cuả Nhà nước và của NH TMCP CT Việt Nam Cung cấpcác dịch vụ ngân hàng theo qui định cuả NHNN và NH TMCP CT Quản lý hệ thốnggiao dịch trên máy, quản lý quĩ tiền tệ trong ngày, thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho kháchhàng về sử dụng các sản phẩm của ngân hàng, thực hiện công tác liên quan đến thanhtoán bù trừ, thanh toán điện tử liên ngân hàng, lập và phân tích báo cáo cuối ngày củagiao dịch viên và chi nhánh, làm các báo cáo theo quy định Bao gồm các phòng giaodịch sau:
PGD Lê Hồng Phong - 39B Trưng Trắc, Tp Thái Bình
PGD Hồng Phong - 57 Hai Bà Trưng, Lê Hồng Phong Tp.Thái Bình
Trang 28 PGD Trần Hưng Đạo - 36 Trần Phú ,Quang Trung, Tp.Thái Bình
PGD Đông Hưng - Tổ 6 Thị trấn Đông Hưng, Thái Bình
PGD Minh Khai - Số 1 Minh Khai, P.Bồ Xuyên, Tp Thái Bình
PGD Hưng Hà - Khu Nhân Cầu 2 Thị trấn Hưng Hà, Tp Thái Bình
PGD Vũ Thư - Khu Minh Tân 1 Thị trấn Vũ Thư
PGD Diêm Điềm - Khu 5 Thị trấn Diêm Điền ,Thái Thụy Thái Bình
PGD Tiền Hải - Khu 4 thị Trấn Tiền Hải, huyện Tiền hải Thái Bình
PGD Tiểu Hoàng - 141 Phố Tiểu Hoàng, Thị trấn Tiền Hải, huyện Tiền Hải Thái Bình
PGD Bổ Xuyên - 197 Nguyễn Thị Minh Khai, Bồ Xuyên Tp.Thái Bình
PGD Phục Dực - Ngã Tư Môi An Bài, Quỳnh phụ Thái Bình
Quỹ tiết kiệm: Quỹ tiết kiệm hiện nay chỉ được phép thực hiện các chức năng là huyđộng tiền gửi tiết kiệm, phát hành và chiết khấu giấy tờ có giá do chính ngân hàng thươngmại phát hành, và làm dịch vụ đại lý chi trả kiều hối, và dịch vụ chuyển tiền trongnước.Mặc dù quỹ tiết kiệm không thực hiện chức năng cho vay, nhưng nếu khách hàngmuốn, nơi đây sẽ chuyển hồ sơ sang phòng giao dịch khác của ngân hàng, như vậy cũngthỏa mãn được việc tăng cường sự hiện diện của ngân hàng trong thành phố.Các quỹ tiếtkiệm sau này đủ điều kiện sẽ nâng cấp lên thành phòng giao dịch rồi chi nhánh
Tổ kiểm tra nội bộ thực hiện các chức năng của mình tong qua quá trình thanh kiểmtra các hoạt động của ngân hàng để chỉ ra các sai sót của các bộ phận trong chi nhánh từ
Trang 29đó tìm ra phương hướng giải quyết phù hợp nhất
Các phòng ban nghiệp vụ: Phòng tổ chức hành chính là phòng thực hiện công tác tổchức cán bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của nhà n uớc vàquy định của NH TMCP CT Việt Nam Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục
vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện quy định của nhà nước và của NHTMCP CT có liên quan đến chính sách cán bộ về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm ytế Phòng kho quỹ: là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền mặttheo quy định của NHNN và NH TMCP CT ứng và thu tiền cho phòng giao dịch, vàngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn Phối hợp vớiphòng kế toán giao dịch, tổ chức hành chính thực hiện điều chuyển tiền giữa quỹ nghiệp
vụ của chi nhánh và NHNN, các NH TMCP CT trên địa bàn các quỹ tiết kiệm, điểm giaodịch, phòng giao dịch, máy rút tìên tự động ATM an toàn, đúng chế độ trên cơ sở đápứng đầy đủ kịp thời nhu cầu tại chi nhánh Phòng kinh doanh là phòng nghiệp vụ trựctiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp lớn, để khai thác vốn bằng VNĐ vàngoại tệ; xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phùhợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT; tiếp thị, hỗ trợ khách hàng,thẩm định, tính toán hạn mức, phản ánh kịp thời những vấn đề vướng mắc trong nghiệp
vụ và những vấn đề mới nảy sinh, đề xuất biện pháp giải quyết trình Giám đốc chi nhánhxem xét giải quyết Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là cácDNVVN để khai thác vốn bằng VNĐ & ngoại tệ, xử lý các nghiệp vụ liên quan đến chovay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ thể lệ hiện hành của NHNN vàhướng dẫn của NH TMCP CT cùng nhiều phòng ban hỗ trợ khác
3.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng trung - dài hạn tại chi nhánh NHTMCP công thương Thái Bình.
3.2.2.1 Những nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế:
Trang 30 Môi trường kinh tế là một nhân tố mà không một chủ thể kinh tế không bị tác độngchỉ có sự tác động đó là tốt hay xấu tùy thuộc vào mỗi chủ thể với các đặc trưng củanó.Do đó không ngoại lệ, môi trường kinh tế cũng sẽ tác động tới hoạt động tín dụng nóichung và tín dụng trung và dài hạn nói riêng của Vietinbank Thái Bình Nếu sự thay đổitheo chiều hướng tốt thì hoạt động tín dụng trung - dài hạn sẽ được nâng cao Ngược lại,
sự thay đổi theo chiều hướng xấu thì sẽ làm cho hoạt động tín dụng trung - dài hạn xấu đingoài ý muốn Ví dụ khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát tăng vọt, giá cả đồng tiềngiảm sút, chỉ số giá cả tăng nhanh gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tác động xấuđến khả năng thu hồi công nợ của Vietinbank Thái Bình; điển hình là vào năm 2008 vàcuối năm 2010 đầu năm 2011 khi mà CPI tăng chóng mặt làm cho đồng tiền trượt giá, khi
đó việc huy động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn vì lúc này việc gửi tiền dẫnđến việc mất giá thị hay mất tiền do lạm phát quá cao dẫn tới lãi suất thực tế huy độngvốn âm khá lớn Hay khi có sự biến động lớn trong tỷ giá do sự thay đổi chính sách tiền
tệ của Nhà nước, đồng nội tệ bị giảm giá, các doanh vốn bằng ngoại tệ mà không cónguồn thu bằng ngoại tệ sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng Sự biến động về tỷgiá như vậy cũng khiến các doanh nghiệp phải nhập thiết bị nước ngoài lẽ ra đã vay ngânhàng đủ tiền sẽ trở thành không đủ tiền để nhập gây ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượngkhoản vay
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ môi trường kinh tế trong nước này thay đổi sẽ tácđộng tới hoạt động tín dụng trung - dài hạn mà sự thay đổi của môi trường kinh tế thếgiới cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới Vietinbank Thái Bình thông qua các doanhnghiệp hoạt động xuất nhập khẩu đặc biệt sự chuyển ngoại tệ từ nước ngoài về của ngườidân đi xuất khẩu lao động(có những xã tới 80% hộ gia đình có người đi xuất khẩu laođộng)
Môi trường chính trị - xã hội
Môi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ giúp cho các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tưlâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu môi trường chính trị - xã hội
Trang 31mà bất ổn thì các doanh nghiệp sẽ không dám mạnh dạn đầu tư mà chỉ duy trì ở mức táisản xuất giản đơn để bảo đảm an toàn vốn Điều này sẽ ảnh hưởng tới quy mô các khoảntín dụng trung - dài hạn của chi nhánh, các món vay chủ yếu sẽ là ngắn hạn còn khoản tíndụng trung - dài hạn sẽ không có hoặc rất nhỏ vì sự không ổn định về chính trị - xã hộidẫn đến việc kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro, bất trắc hơn nên nó sẽ ảnhhưởng tới công tác thu nợ của Vietinbank Thái Bình.Như việc những vụ án chống đốichính quền xảy ra trên địa bàn tỉnh mà đình đám là vụ Vũ Quang Thuận làm cho cácdoanh nghiệp rất lo lắng và đắn đo trong việc đầu tư đặc biệt là đầu tư trung dài hạn.
Tuy nhiên, không chỉ có tình hình chính trị xã hội mà cả tình hình chính trị - xã hội ởnước ngoài cũng có ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng trung - dài hạn bởi vì hiện nay cácquan hệ kinh tế - xã hội ngày càng được mở rộng cho nên các loại hình doanh nghiệp đaquốc gia cũng ngày càng tăng cả về số lượng và quy mô hoạt động Như cuộc khủnghoảng kinh tế thế giới năm 2008 làm cho Vietinbank Thái Bình gặp khá nhiều khó khăntrong công tác thu hồi vốn trung dài hạn của các doanh nghiệp do các doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ không có khả năng hoàn vốn cho ngân hàng(tỷ lệ nợ quá hạn lên tới6,1%_Bảng 12)
Môi trường pháp lý
Pháp lý là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết củanhà nước Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với những yêu cầu pháttriển của nền kinh tế thì mọi hoạt động của nền kinh tế không thể trôi chảy được Phápluật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiếnhành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao, là cơ sở để giải quyết khiếu nại khi có tranhchấp xảy ra Môi trường pháp lý ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng trung và dài hạn củaVietinbank Thái Bình nói riêng và cho hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tếnói chung;như quyết định số 1141/QĐ-NHNN điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc 10% làmcho chi nhánh phải giảm tỷ trọng cho vay trung và dài hạn xuống và tăng tỷ trọng chovay ngắn hạn để đảm bảo tính thanh khoản của mình Hệ thống pháp luật quốc gia với
Trang 32các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý sẽ không đảm bảomôi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế, là nguyên nhân trực tiếp dẫnđến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên các khoản nợ quá hạncho chi nhánh.
Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tín dụng của ngânhàng nói chung đặc biệt là tín dụng trung - dài hạn nói riêng bởi vì thiên tai là một yếu tốbất khả kháng, chúng ta không thể dự đoán một cách chắc chắn là khi nào những thiên tainhư bão lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…sẽ xảy ra và mức độ ảnh hưởng, thiệt hạicủa chúng là như thế nào Thông thường khi thiên tai xảy ra, nó thường gây thiệt hại rấtlớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ, gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mốiquan hệ tín dụng giữa chi nhánh và các khách hàng của mình làm cho vốn của chi nhánhđầu tư vào các doanh nghiệp sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng và dẫn tới rủi ro tín dụng.Như hiệntượng cúm gia súc những tháng đầu năm 2009 làm cho nhóm khách hàng là các hộ chănnuôi vay vốn trung dài hạn của Vietinbank Thái Bình điêu đứng và lien tục xin gia hạnnợ
3.2.2.2 Các nhân tố chủ quan
Về phía khách hàng
Sự trung thực của khách hàng
Nếu khách hàng trung thực, sử dụng vốn vay đúng mục đích thì xác suất xảy ra rủi ro
sẽ giảm đi đáng kể vì tính khả thi của dự án cũng đã được ngân hàng thẩm định một cách
kỹ càng trước khi ra quyết định cho vay Nhưng việc sử dụng vốn vay sai mục đích củakhách hàng đã góp phần không nhỏ vào việc đổ bể của các tổ chức tín dụng.Chẳng hạnnhư sử dụng vốn vay đầu tư vào tài sản cố định, vào bất động sản, sau đó các tài sản này
bị sụt giá dẫn đến việc doanh nghiệp không trả được nợ cho ngân hàng Các doanhnghiệp còn chiếm dụng vốn lẫn nhau dẫn đến các doanh nghiệp làm ăn nghiêm chỉnh gặp
Trang 33mạo hồ sơ tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng tuy ở Vietinbank Thái Bình chưa xảy ranhưng trên địa bàn có vụ cô giáo Bùi Thanh Tuyền làm giả hơn 150 hồ sơ vay vốn để lừađảo tại ngân hàng VCB.
Ý thức trả nợ của khách hàng:Việc trả nợ cho ngân hàng của khách hàng phụ thuộc
rất lớn vào ý thức trả nợ của khách hàng do chưa có một văn bản nào giao quyền hànhpháp cho ngân hàng trong việc xử lý các khoản nợ khó đòi nhưng điều này hoàn toàn hợp
lý vì không thể giao quá nhiều quyền cho ngân hàng được và nhiều lý do khác Tại chinhánh NHTMCP công thương Thái Bình ý thức trả nợ của khách hàng chưa thực sự caođóng góp làm cho tỷ lệ nợ quá hạn còn khá cao(chiếm 7,76% năm 2008,năm 2009 tỷ lệnày là 6,1% và 5,4% năm 2010)
Về phía ngân hàng
Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng là kim chỉ nan đảm bảo cho hoạt động tín
dụng đi đúng quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của mọi ngân hàng Mộtchính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều ngân hàng, đảm bảo khả năng sinhlời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chínhsách của nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội Ngược lại, nếu chính sách tín dụngkhông hợp lý, chồng chéo sẽ gây khó khăn cho ngân hàng khi thực hiện nghiệp vụ tíndụng, điều đó có nghĩa là hoạt động tín dụng trung - dài hạn phụ thuộc vào việc xây dựngchính sách tín dụng của ngân hàng có đúng đắn hay không.Như trong giai đoạn 2008-
2009 chính sách của Vietinbank là giảm cho vay trung dài hạn để cho vay ngắn hạn nhằmgiảm thiểu rủi ro và Vietinbank Thái Bình cũng phải thực hiện những quyết định từ hội
sở và điều chỉnh hoạt động tín dụng trung và dài hạn của mình
Công tác tổ chức và chất lượng nhân sự của ngân hàng
Công tác tổ chức của chi nhánh đòi hỏi phải được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý,đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban và trong toàn hệ thống chi nhánhcũng như giữa chi nhánh với các cơ quan khác như tài chính, pháp lý… Như vậy sẽ tạođiều kiện cho chi nhánh đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, giúp chi nhánh theo
Trang 34dõi sát sao các khoản cho vay trung dài hạn cũng như công tác huy động vốn Đây là cơ
sở để tiến hành các hoạt động tín dụng trung dài hạn lành mạnh và quản lý hiệu quả cáckhoản vay Chất lượng nhân sự là yếu tố quyết định và có ảnh hưởng trực tiếp đến sựthành bại trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong việc đảm bảo hoạt động tíndụng trung và dài hạn nói riêng Tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp, có trình độchuyên môn là yếu tố rất quan trọng bởi vì con người là nhân tố chủ quan với tư cách làchủ thể cho vay trong quan hệ tín dụng trung dài hạn, sẽ quyết định sự thành bại của dự
án trung dài hạn.Hiện nay tại NHTMCP công thương Thái Bình có một số vị trí chưathực sự phù hợp,họ có kinh nghiệm nhưng khả năng nắm bắt khoa học kỹ thuật chưa caohay nói cách khác họ không thể sử dụng một số trang thiết bị hiện đại và một số phầnmềm hỗ trợ
Kiểm soát nội bộ :
Là việc theo dõi, giám sát các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng để có những thông tinthường xuyên về tình hình tín dụng qua đó phát hiện các vi phạm pháp luật, qui chế, thể
lệ, chính sách, nguyên tắc cho vay để đưa ra biện pháp khắc phục kịp thời Hoạt động tíndụng trung dài hạn phụ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời các sai sót phát sinh trongquá trình thực hiện một khoản tín dụng Nhưng việc này tại Vietinbank Thái Bình đượcthực hiện chưa triệt để còn mang tính chất hình thức hóa và đại khái
Tóm lại, tuỳ từng điều kiện mà các nhân tố này có ảnh hưởng khác nhau đến hoạtđộng tín dụng Song chúng ta cần phải nắm bắt được những yếu tố tác động chủ yếu để
có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, uytín của ngân hàng mình giúp cho ngân hàng có thể đứng vững trong cạnh tranh
3.3Kết quả điều tra trắc nghiệm chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Thái Bình.
Trang 35 Với việc điều tra các khách hàng xin cấp tín dụng của ngân hàng bằng cách phát ra 10phiếu điều tra tới khách hàng và thu lại toàn bộ số phiếu điều tra và không có phiếukhông hợp lệ, em đã có một số kết quả sau : tới 80% khách hàng xin cấp tín dụng trungdài hạn là khách hàng truyền thống, 20% là khách hàng mới tới ngân hàng lần đầu để xinđược cấp tín dụng trung dài hạn Với những khách hàng mới tới lần đầu họ cảm thấy rấtthoải mái và thủ tục vay tương đối dễ thực hiện, còn với những khách hàng truyền thốngvay tại đây họ luôn sẵn sàng đến với ngân hàng Số tiền vay của khách hàng năm 2010tương đối lớn dưới 200 triệu là 1phiếu tương ứng với 10% từ 200 triệu -1 tỷ có 2 phiếuchiếm 20%, từ 1 tỷ – 2 tỷ có 4 phiếu tương ứng chiếm 40%, còn 3 phiếu xin vay trên 2 tỷchiếm 30% Với hình thức trả lãi thường là lãi gốc chiếm tới 80% còn lại 20% là trả lãitheo niên kim
Dưới 200 triệu
Từ 200 triệu - 1 tỷ
Từ 1 tỷ - 2 tỷ Trên 2 tỷ
(Tình hình số tiền vay năm 2010 của khách hàng)
Hình thức cấp tín dụng của Vietinbank chi nhánh Thái Bình bao gồm rất nhiều hìnhthức nhưng liệt kê trong phiếu điều tra có 4 hình thức là : hạn mức tín dụng, vay tài trợ dự
án, vay từng lần, hạn mức thấu chi Thì hạn mức tín dụng chiếm tới 30% với 3 phiếu, vaytừng lần chiếm 20% với 2 phiếu, vay tài trợ dự án chiếm tới 40% còn 10% là hạn mứcthấu chi với duy nhất 1 phiếu
Trang 36 Khi được hỏi về tình hình môi trường kinh doanh đang biến động không ngừng họ cóthể kinh doanh tốt không thì 100% câu trả lời là họ kinh doanh có lãi.
3.3.2 Kết quả điều tra từ phía ngân hàng
Cũng với việc đưa ra 10 phiếu điều tra phỏng vấn tới cán bộ tín dụng ngân hàng vàthu lại 100% số phiếu đã phát ra số phiếu không hợp lệ là 0 phiếu, đã giúp em có kết quảđiều tra
Thứ nhất: Chi nhánh quan tâm tới tỷ lệ lợi nhuận doanh thu ROS và hệ số thanh toán
lãi vay hơn các chỉ số khác như tỷ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần ROE hay hệ số nợ,… củadoanh nghiệp cần vay vốn trung dài hạn.Khi được hỏi về việc chi nhánh đánh giá khảnăng tài chính của doanh nghiệp thì có 7 phiếu lựa chọn chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận doanh thuROS và hệ số thanh toán lãi vay chiếm 70%, có 2 phiếu lựa chọn chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuậnvốn chủ sở hữu ROE cao hơn và hệ số nợ thấp hơn mức chung bình của ngành chiếm20%, có 1 phiếu lựa chọn tỷ lệ vòng quay tài sản thấp hơn và hệ số tự tài trợ tài sản cốđịnh cao hơn mức trung bình của ngành chiếm 10%,không có phiếu lựa chọn tỷ lệ vòngquay hàng tồn kho thấp hơn và hệ số nợ cao hơn mức trung bình của ngành Điều nàycho thấy ngân hàng quan tâm tới khả năng trả nợ và ý thức trả nợ của doanh nghiệp hơncả; điều này có thể giải thích do tình trạng bất ổn của nền kinh tế trong thời gian qua nênviệc ngân hàng thận trọng trong sử dụng vốn là hoàn toàn hợp lý
Thứ hai :Việc cấp tín dụng trung dài hạn có tài sản đảm bảo được ngân hàng đưa lên
hàng đầu khi xét cấp tín dụng cho một pháp nhân vay vốn.Khi được hỏi về vấn đề này100% cán bộ tín dụng của chi nhánh xem xét vấn đề tài sản đảm bảo trước Điều này chothấy ngân hàng đặt mức độ an toàn vốn lên rất cao; một dự án cho dù khả thi đến đâu đinữa và lợi nhuận cao nhưng vối môi trường kinh tế hiện nay nó có thể trở thành một dự
án thất bại dẫn tới khả năng mất vốn của ngân hàng Do đó việc ngân hàng đòi hỏi tài sảnđảm bảo là rất đúng đắn
Thứ ba :Việc quản lý nợ cũ và các khoản nợ mới pháp sinh của cùng chủ thể được
Trang 37ngân hàng quản lý chặt chẽ.Khi vấn đề này được đưa ra có khá nhiều ý kiến trái ngượcnhau nhưng dựa vào các phiếu điều tra thu về có thể tổng hợp chung như sau: Có 6 phiếutương ứng 60% cho rằng chưa thánh toán nợ cũ hoặc một phần nợ cũ thì không thể chovay tiếp(họ cho rằng dù có tài sản đảm bảo thì cũng có khả năng dẫn tới việc ứ đọng vốncủa ngân hàng khi chủ thể vay vốn không trả được nợ vì tài sản đảm bảo thường là BĐS
vì để thanh lý TSĐB này không đơn giản), có 3 phiếu tương ứng 30% cho rằng nếuphương án kinh doanh khả thi và có TSĐB thì nên tiếp tục cho vay, có 1 phiếu cươngquyết không cho vay khi chưa thanh toán hết nợ cũ chiếm 10%
3.4 Vài nét về tình hình hoạt động của NHTMCP công thương Thái Bình
Trong những năm qua, được sự ủng hộ nhiệt tình của các Ban, ngành hữu quan với sự
nỗ lực vươn lên của đội ngũ hơn 213 cán bộ công nhân viên toàn chi nhánh, NHCT TháiBình đã thực hiện tốt được sự chỉ đạo sát sao của NH TMCP CT VN, NHNN và đạt đượcnhững thành công nhất định góp phần trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh TháiBình
3.4.1 Về hoạt động huy động vốn.
Để đáp ứng nhu cầu cho vay đòi hỏi ngân hàng phải có nguồn vốn tương xứng, có thể
đủ dùng để cho vay Vốn của ngân hàng có từ nhiều nguồn khác nhau: tự huy động, vốn
từ hội sở, vay từ các tổ chức tín dụng khác Trong đó vốn tự huy động đóng vai trò quantrọng nhất bởi vì bất kỳ một tổ chức kinh tế nào cũng mong muốn từ một số tiền tương đối
có thể tạo ra số tiền lớn hơn Điều này được thể hiện ở hoạt động tự huy động vốn với lãiphải trả thấp hơn so với lãi có được từ hoạt động cho vay
Bảng 3.1: Tình hình nguồn vốn huy động của NH TMCP CT Thái Bình.
(đơn vị: tỷ đồng) n v : t ị: tỷ đồng) ỷ đồng) đồng) ng)
So sánh 09/08 So sánh 10/09 Tuyêt
đối
Tương đối(%)
Tuyệt đối
Tương đối(%)
Trang 38(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của NH TMCP CT Thái Bình)
Qua bảng trên ta thấy tổng nguồn huy động đến 31/12/2009 (năm 2009 tổng vốn huyđộng đạt 7255 tỷ VNĐ) có sự tăng trưởng mạnh so với năm 2008 (trong năm 2008 đạt
6087 tỷ VNĐ) tăng1168 tỷ VNĐ, cao hơn so với cùng thời điểm năm trước cả về sốtuyệt đối và số tương đối Xu thế này tiếp tục pháp triển sang năm 2010 (vốn huy độngnăm 2010 là 8760 tỷ VNĐ) cao hơn năm 2009 (năm 2009 tổng vốn huy động đạt 7255 tỷđồng) tăng 1505 tỷ VNĐ Sang năm 2010 mức độ tăng trưởng vốn huy động cao hơnnăm 2009 cho thấy sự phát triển của chi nhánh ngày càng mạnh mẽ vì trong năm 2009 vàsang đầu năm 2010 là lúc mà nền kinh tế việt nam gặp rất nhiều khó khăn sau khi phảithực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng và đương đầu với cuộc khủng hoảngkinh tế thế giới mà chi nhánh vẫn tăng trưởng huy động vốn Tuy nhiên mức tăng này chủyếu do đóng góp của việc huy động vốn bằng VNĐ (vốn huy động bằng VNĐ tăng 780
tỷ đồng năm 209 và tăng 1122 tỷ đồng năm 2010); vốn huy động bằng ngoại tệ có tăngnhưng mức tăng không cao và có xu hướng chững lại (năm 2009 huy động bằng ngoại tệtăng 348 tỷ đồng và tăng 383 tỷ đồng năm 2010) Khi xét trên bình diện đối tượng huyđộng vốn ta thấy nguồn vốn huy động của chi nhánh chủ yếu là từ khu vực dân cư ( khuvực này huy động được 4053 tỷ đồng năm 2008, đạt 4232 tỷ đồng năm 2009 và 6347 tỷ
Trang 39định (năm 2009 tăng 179 tỷ đồng trong khi đó sang năm 2010 tăng 2115 tỷ đồng) có thểgiải thích là do các chủ thể gửi tiền là các hộ gia đình nên sự bất ổn là điều hợp lý Đặcbiệt nhất là việc huy động vốn từ các tổ chức kinh tế năm 2010 giảm 610 tỷ đồng sau khităng 898 tỷ đồng năm 2009 do các doanh nghiệp phải tập trung tiền vốn để duy trì ổnđịnh SXKD và thanh khoản sự canh tranh gay gắt của giữa các TCTD trên địa bàn ,NHNN Việt Nam thay đổi trần lãi suất.
Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là:
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tác động tới toàn thể các chủ thểkinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng: Nhiều tổ chức tài chính của các nướcphát triển, nhất là các nước ở châu Âu, cũng tham gia vào thị trường tín dụng nhà ở thứcấp ở Hoa Kỳ Chính vì vậy, bóng bóng nhà ở của Hoa Kỳ bị vỡ cũng làm các tổ chức tàichính này gặp nguy hiểm tương tự như các tổ chức tài chính của Hoa Kỳ Những nướcchâu Âu bị rối loạn tài chính nặng nhất là Anh, Iceland, Ireland, Bỉ và Tây Ban Nha.Ngay từ tháng 9 năm 2007, Northern Rock của Anh bị tình trạng đột biến rút tiền gửi vàhậu quả là phải chịu quốc hữu hóa Đột biến rút tiền gửi còn làm căng thẳng các ngânhàng khác của nước này Sang năm 2008, đến lượt Bradford & Bingley plc của Anh phảichịu chia nhỏ thành 2 công ty riêng biệt Các ngân hàng khác phải chịu đổi chủ sở hữubao gồm Catholic Building Society, Alliance & Leicester London Scottish Bank vàDunfermline Building Society phải chịu sự giám sát đặc biệt của Chính phủ Anh ỞIceland đã xảy ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng trên diện rộng Ngay quý I năm 2008,GDP của Iceland giảm 1,5%, mức giảm lớn nhất kể từ năm 1983 tới thời điểm này.Glitnir, Straumur Investment Bank, Reykjavík Savings Bank phải chịu quốc hữu hóa.Kaupthing, Landsbanki của nước này phải chịu đặt dưới sự quản lý của cơ quan giám sáttài chính quốc gia Đầu năm 2008, xếp hạng tín dụng của Ngân hàng Ireland bị giảm,khiến cho giá cổ phiếu của ngân hàng này sụt ghê gớm, giá cổ phiếu tại thời điểm đầutháng 3 Năm 2008 giảm tới 99% so với giá đỉnh cao vào năm 2007 Đầu năm 2009,Anglo Irish Bank bị quốc hữu hóa Allied Irish Banks cũng phải chịu tình trạng cổ phiếu