CHƯƠNG I – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THANH TRÌ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ
Trang 1CHƯƠNG I – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THANH TRÌ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
1.1.1 Khái quát tình hình chung
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang là xu hướng phát triển tất yếu của thời đại và là yêu cầu khách quan đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của một nước Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực như: trao đổi hàng hóa, dịch vụ, chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia và khu vực, lưu chuyển vốn quốc tế… tạo điều kiện cho các quốc gia có thể hợp tác, trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật công nghệ… trong hoạt động kinh doanh Trong lĩnh vực ngân hàng, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới của hệ thống ngân hàng VN, tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm về vốn, kinh nghiệm quản lý, công nghệ, hoạch định chính sách tiền tệ… Từ đó có giải pháp phòng ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao uy tín kinh doanh trên thị trường tài chính quốc tế Tuy nhiên sự xâm nhập ngày càng sâu rộng của ngân hàng nước ngoài vào thị trường Việt Nam, cũng như những cam kết về mở cửa khu vực ngân hàng trong tiến trình hội nhập đã làm cho cuộc cạnh tranh giữa các NHTM tại Việt Nam ngày càng trở nên gây gắt và khốc liệt hơn Dịch vụ ngân hàng được dự báo sẽ là lĩnh vực cạnh tranh rất khốc liệt khi “vòng” bảo hộ cho ngân hàng thương mại trong nước không còn Đến năm 2010, thực hiện mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ ngân hàng; loại bỏ căn bản các hạn chế tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng trong nước, các giới hạn hoạt động ngân hàng (qui mô, tổng số dịch vụ ngân hàng được phép…) đối với các tổ chức tín dụng nước ngoài, thực hiện đối xử công bằng giữa tổ chức tín dụng trong nước và tổ chức tín dụng nước ngoài; giữa các tổ chức tín dụng nước ngoài với nhau theo các nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia và các nguyên tắc khác trong Thoả thuận GATS/WTO và các thoả thuận quốc tế khác không mâu thuẫn với thoả thuận GATS/WTO” Do vậy, cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng nội và ngân
Trang 2hàng ngoại ngày càng gay gắt hơn Thị trường của các ngân hàng nội vì thế có thể bị co hẹp, đặc biệtlà đối với loại dịch vụ tương đối nhạy cảm như dịch vụ tín dụng.
1.1.2 Lý do và tầm quan trọng của đề tài
Trong những năm vừa qua, hoạt động ngân hàng nước ta đã có những chuyển biến sâu sắc Quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng cả về số lượng lẫn phạm vi, các loại hình kinh doanh đa dạng và phong phú hơn Từ đó, việc thực hiện chiến lược Marketing nhằm quảng bá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng là rất cần thiết Nếu không hoạch định được một chiến lược Marketing hiệu quả trong dài hạn thì ngân hàng sẽ bị trì trệ rất nhiều và dần dần mất tính cạnh tranh trên thị trường Vì thế các chiến lược, chính sách Marketing ngân hàng đã được các nhà ngân hàng quan tâm chú trọng đến nhưng hiện nay hiệu quả của hoạt động này đem lại chưa tương xứng với tiềm năng hiện có Chiến lược marketing của doanh nghiệp hay nhà quản lý là hệ thống các giải pháp nhằm xác lập mối quan hệ thích ứng giữa doanh nghiệp với thị trường Nó sẽ trở thành cơ sở để hoạch định chiến lược sản xuất, chiến lược tài chính và chiến lược con người
Ngày nay, sự phát triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ của thông tin luôn đặt doanh nghiệp trước những sức ép cạnh tranh gay gắt Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những đột biến của thị trường mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc hoạch định chiến lược phát triển dài hạn
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNo & PTNT) Việt Nam là NHTM hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư vốn và phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng như các lĩnh vực khác của nền kinh tế Là doanh nghiệp nhà nước đặc biệt ngoài chức năng của 1 ngân hàng thương mại, ngân hàng No&PTNT được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư, phát triển đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung và dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho sản xuất nông - lâm - thủy sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn
NHNo & PTNT huyện Thanh Trì là 1 chi nhánh của ngân hàng No & PTNT Việt Nam Với sự nỗ lực của ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên trong ngân hàng đã
Trang 3không ngừng phát triển và hoàn thiện các hoạt động, không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ cung cấp Tuy nhiên, ngân hàng cũng không nằm ngoài những khó khăn như hệ thống ngân hàng nước ta đã và đang gặp phải Trong vài năm gần đây, trên địa bàn huyện Thanh Trì xuất hiện một số tổ chức tín dụng của các ngân hàng khác như Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàng TMCP Á châu…làm cho cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, thị trường khu vực trước đây vốn thuộc về Ngân hàng Nông nghiệp Thanh Trì nay bị chia nhỏ bởi các đối thủ cạnh tranh Điều đó cho thấy hoạt động Marketing và chiến lược Marketing nhằm mở rộng thị trường dịch vụ tín dụng của chi nhánh chưa phát huy được hiệu quả của nó
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng tại các ngân hàng vì vậy
tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng No& PTNT Thanh Trì trên địa bàn Hà Nội”
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
- Một số lý luận cơ bản về giải pháp phát chiến lược Marketing phát triển thị trường sản phẩm dịch vụ của công ty kinh doanh
- Phân tích thực trạng tình hình thị trường và hoạt động Marketing của Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì đối với dịch vụ tín dụng
- Đề xuất giải pháp chiến lược Marketing phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng No&PTNT Thanh trì trên địa bàn Hà Nội
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Công trình này nghiên cứu lý luận cơ bản về giải pháp chiến lược Marketing phát triển thị trường dịch vụ tín dụng (cho vay) đối với đoạn thị trường là doanh nghiệp nhỏ
và vừa của Ngân Hàng No&PTNT Thanh Trì giúp chi nhánh phát triển thị trường dịch
vụ tín dụng trong những năm tới; không xét cho vay đối với hộ gia đình và cá nhân, doanh nghiệp lớn
- Thời gian nghiên cứu: đánh giá thực trạng về tình hình kinh doanh và thực trạng giải pháp chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Thanh Trì từ năm 2007 – 2009 Từ đó, đề xuất các giải pháp chiến lược Marketing
Trang 4nhằm phát triển thị trường tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011 – 2015 cho chi nhánh
- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động của Ngân Hàng No&PTNT chi nhánh Thanh trì trên địa bàn Hà Nội
1.5 Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Ngoài các phần : Tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về giải pháp chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì trên địa bàn Hà NộiChương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì trên địa bàn Hà Nội
Chương 4: Các kết luận và đề xuất với chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì trên địa bàn Hà Nội
Trang 5CHƯƠNG II – TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG.
2.1 Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản
2.1.1 Thị trường là gì? (What is market? )
Dựa vào góc độ tiếp cận và phương pháp thể hiện mà tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường Theo Phillip Kotler, thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó
Do đó, khi đề cập đến thị trường nói chung, cần đề cập đền các yếu tố:
• Chủ thể hoạt động của thị trường là tập hợp những người mua và những người bán, nếu thiếu một trong hai chủ thể này thì không thể tạo thành thị trường
• Nội dung hoạt động của thị trường là trao đổi sản phẩm dựa trên quan hệ hàng hóa – tiền tệ
• Hoạt động trao đổi của thị trường được thực hiện trong những điều kiện không gian và thời gian xác định, tuy phạm vi có thể rất khác nhau
Chiến lược phát triển thị trường: là hệ thống các chính sách và biện pháp lớn của công ty nhằm triển khai các hoạt động Marketing để mở rộng thị trường cả về chiều rộng lẫn chiều sâu cũng như mở ra các khu vực thị trường địa lý mới
2.1.2 Khái niệm về chiến lược Marketing
Hiện nay, trong các tài liệu về Marketing vẫn tồn tại nhiều khái niệm về chiến lược Marketing như dưới đây:
- Theo Phillip Kotler, chiến lược Marketing được hiểu: “ Chiến lược là hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ Marketing của mình Nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với các thị trường mục tiêu, đối với phức hệ Marketing hỗn hợp và mức chi phí cho Marketing”
- Chiến lược marketing có thể hiểu là hỗn hợp của 5 yếu tố gồm định vị thị trường, định vị sản phẩm, marketing hỗn hợp, gia nhập thị trường và thời điểm Cơ cở nền tảng để tạo ra chiến lược marketing là sự kết hợp 5 yếu tố trên nhằm hình thành nên những vấn đề cốt lõi cho hoạt động marketing
- Chiến lược marketing bao gồm việc lựa chọn, phân tích một thị trường mục tiêu, định vị trên thị trường mục tiêu tạo ra và duy trì một hỗn hợp marketing phù hợp để thỏa mãn thị trường mục tiêu này Một chiến lược marketing hình thành một kế hoạch
rõ ràng để sử dụng tốt nhất các nguồn lực và chiến thuật của ngân hàng để đạt được các mục tiêu của ngân hàng
Trang 6Chiến lược marketing sẽ mang ý nghĩa khác nhau với từng ngân hàng khác nhau Chiến lược marketing sẽ thỏa mãn những nhu cầu khác nhau trong nội bộ tổ chức của ngân hàng và thị trường Chiến lược marketing của các ngân hàng khác nhau có thể khác nhau xuất phát từ sự khác nhau dưới các góc độ như:
• Sự đa dạng và bản chất của thị trường phục vụ
• Sự đa dạng và tính phức tạp của sản phẩm và/ hoặc dịch vụ được cung cấp
• Bản chất khác nhau của công nghệ và quá trình xử lý được sử dụng
• Sự tinh vi, phức tạp của các quy trình hoạch định hiện tại
• Bản tính và năng lực của những người tham gia hình thành chiến lược và quá trình hoạch định
• Các quy tắc và giá trị của ngân hàng
• Bản chất của môi trường kinh doanh mà ngân hàng đang tham gia hoạt động
• Bản chất của hoạt động cạnh tranh trên thị trường
• Bản chất và nhu cầu của cổ đông và những chủ thể có liên quan khác
Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể nhìn nhận chiến lược marketing là quá trình ngân hàng chuyển tải mục tiêu kinh doanh và chiến lược kinh doanh của mình thành các hoạt động trên thị trường
2.1.3 Dịch vụ và những khác biệt cơ bản giữa dịch vụ ngân hàng và hàng hóa
2.1.3.1 Dịch vụ và dịch vụ tín dụng
Ngày nay, chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi gọi chung là dịch vụ Và ngược lại, dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau Phillip Kotler định nghĩa dịch vụ: dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất
Tóm lại, có thể hiểu dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào
đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa Ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các tổ chức và cá nhân trong xã hội trong đó Ngân hàng giữ vai trò trung gian, vừa là người đi vay vừa là người cho vay
Dưới góc độ là người cho vay: khách hàng phải hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay cho NH đúng thời hạn đã thoả thuận trên HĐTD đồng thời cam kết sử dụng tiền vay theo đúng mục đích đã ghi trong HĐTD
Trang 7 Dưới góc độ người đi vay: NH sau thời gian sử dụng vốn vay của các cá nhân hay TCKT khác phải hoàn trả gốc và lãi tùy theo hình thức huy động và lãi suất tiền gửi.
→ Dịch vụ tín dụng (dịch vụ cho vay): ngân hàng thực hiện cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng bằng đồng Việt Nam hoặc các loại ngoại tệ mạnh với thời hạn chi theo 3 loại chủ yếu: Ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Dich vụ tín dụng đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được phân loại theo các tiêu chí như sau:
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay thì tín dụng được chia thành các loại sau:
Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất
động sản như: nhà ở, đất đai
Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn
lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ
Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như: phân
bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, công lao động
- Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Theo căn cứ này, cho vay được chia thành 3 loại gồm:
Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay không quá 12 tháng,
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến
60 tháng Loại cho vay này chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh
Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng Mục đích sử
dụng là để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: Xây dựng nhà ở, xây dựng các xí nghiệp mới, mua các thiết bị và phương tiện vận tải có quy mô lớn
- Căn cứ vào mức độ đảm bảo tiền vay trong quan hệ tín dụng đối với khách hàng:
Cho vay được chia làm 2 loại:
Cho vay có đảm bảo: Là khoản vay mà Ngân hàng yêu cầu người vay vốn phải có
đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Trang 8 Cho vay không có đảm bảo: Là khoản cho vay mà Ngân hàng không yêu cầu người
vay phải có tài sản đảm bảo
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
Căn cứ vào đối tượng tín dụng thì cho vay của NHTM được chia làm 2 loại:
Cho vay vốn lưu động: Là loại cho vay được sử dụng để hình thành vốn lưu động
của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời
Cho vay vốn cố định: Là loại cho vay được sử dụng để hình thành vốn cố định của
doanh nghiệp như đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và các công trình mới
2.1.3.2 Những khác biệt cơ bản giữa dịch vụ ngân hàng với hàng hóa
Tính vô hình
Các dịch vụ đều vô hình Không giống như những sản phẩm vật chất, chúng không thể nhìn thấy được, không nếm được, không cảm thấy được hay không ngửi thấy được trước khi mua chúng
Tính không tách rời
Dịch vụ thường được sản xuất và tiêu dùng đồng thời Điều nay không đúng với hàng hóa vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán sau đó rồi mới được tiêu dùng
Tính không ổn định
Các dịch vụ rất không ổn định, vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian
và địa điểm thực hiện dịch vụ đó
Tính không lưu giữ được
Xuất phát từ việc dịch vụ được tạo ra và tiêu dùng đồng thời làm cho người ta không thể lưu kho hoặc dự trữ dịch vụ được Dịch vụ là một sự thực hiện cam kết, không phải
là một vật thể hữu hình nên khách hàng và người cung cấp cũng không thể lữu trữ được dịch vụ
Tính không sở hữu được
Đây có lẽ là điểm khác biệt chủ yếu giữa hàng hóa và dịch vụ xuất phát từ việc khách hàng thường nhận được giá trị từ các dịch vụ mà không có được quyền sở hữu bất kỳ yếu tố hữu hình đáng kể nào
Trách nhiệm ủy thác
Trách nhiệm ủy thác đề cập đến trách nhiệm ngầm định của tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng trong việc quản lý nguồn vốn của khách hàng và bản chất những lời tư vấn tài chính cung cấp cho khách hàng của họ
Trang 9 Dòng thông tin 2 chiều
Dịch vụ ngân hàng không đơn thuần là sự mua sắm một lần rồi kết thúc mà liên quan đến một chuỗi các hoạt động 2 chiều thường xuyên trong một thời gian cụ thể
2.2 Một số lý thuyết về chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường
2.2.1 Các quan điểm khác nhau về phát triển thị trường
2.2.1.1 Phát triển theo chiều rộng
Phát triển theo chiều rộng chính là là việc tăng phạm vi thị trường, đưa sản phẩm mới đến với thị trường mới, khách hàng mới
Xét về mặt địa lý: mở rộng thị trường theo chiều rộng chính là tăng cường sự hiện diện của sản phẩm tại các địa bàn mới Mở rộng thị trường theo chiều rộng đòi hỏi công ty phải tiến hành thật tốt công tác nghiên cứu, dự báo thị trường để chọn bán sản phẩm phù hợp với nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường mới
Xét về khách hàng: Đó là việc khuyến khích, thu hút khách hàng hoàn toàn mới
có nhu cầu được thỏa mãn bằng sản phẩm tương tự Giai đoạn đầu của việc mở rộng thị trường theo chiều rộng, lượng khách hàng thường ít, nhu cầu về hàng hóa vẫn mang tính thăm dò là chính và các phân đoạn thị trường là mới
2.2.1.2Phát triển theo chiều sâu
Phát triển thị trường theo chiều sâu chính là sự nâng co chất lượng hiệu quả của thị trường
Xét về mặt địa lý: Mở rộng thị trường theo chiều sâu thì phạm vi thị trường tiêu thụ sản phẩm không đổi Thay vào đó, các doanh nghiệp cố gắng khai thác mọi cơ hội
để chiếm lĩnh được thị trường hiện tại thông qua các nỗ lực Marketing
Xét về khách hàng: Đối tượng của hoạt động mở rộng thị trường theo chiều sâu bao gồm khách hàng hiện tại, khách hàng của đối thủ cạnh tranh và những người chưa
sử dụng sản phẩm
Có 3 hình thức thể hiện phát triển theo chiều sâu:
- Thâm nhập sâu vào thị trường: là việc doanh nghiệp tìm kiếm mức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ hiện có của mình trên những thị trường hiện hữu bằng các nỗ lực Marketing
- Mở rộng thị trường vào các phân đoạn: là việc doanh nghiệp tìm cách tăng mức tiêu thụ bằng cách đưa ra những sản phẩm dịch vụ hiện có của mình vào phân đoạn thị trường mới trên cùng một khu vực địa lý
- Phát triển sản phẩm: là việc doanh nghiệp tăng mức tiêu thụ bằng cách tạo ra những hàng hóa mới hay đã được cải tiến cho những phân đoạn thị trường hiện tại 2.2.1.2 Phát triển kết hợp cả chiều rộng lẫn chiều sâu
Trang 10Khi doanh nghiệp đã có vị trí vững chắc trên thị trường và có điều kiện, tiềm năng về vốn, cơ sở vật chất và năng lực quản lý có thể phát triển theo hướng kết hợp phát triển thị trường theo chiều rộng và chiều sâu để mở rộng quy mô kinh doanh với hiệu quả cao
2.2.2 Chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường thao quan điểm của
Ansoff.
Dựa trên ma trận Ansoff ( ma trận chiến lược dựa vào cặp sản phẩm/thị trường của Ansoff): đánh giá và phân tích giải pháp thâm nhập thị trường, mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm, phát triển đa dạng hóa
Sơ đồ 2.1 – Ma trận Ansoff
Ma trận Ansoff xác định 4 khả năng doanh nghiệp có thể xem xét xác định mục tiêu thị trường:
2.2.2.1 Chiến lược thâm nhập thị trường
Các chiến lược này tập trung vào cải thiện vị trí của sản phẩm của doanh nghiệp với khách hàng hiện tại của nó
Một số trường hợp áp dụng:
• Khi các thị trường sản phẩm và dịch vụ hiện tại chưa bão hòa
• Khi tỷ lệ tiêu thụ của khách hàng có khả năng gia tăng đáng kể
• Khi thị phần của đối thủ cạnh tranh chủ yếu đã suy giảm do doanh số toàn ngành đang gia tăng
Trang 11• Khi trong quá khứ có mối tương quan giữa một đồng doanh thu và một đồng chi tiêu Marketing
• Khi gia tăng tính kinh tế theo quy mô cung cấp các lới thế cạnh tranh chủ yếu ( Nguồn: Chiến lược kinh doanh quốc tế - Đại học Thương mại)
Triển khai chiến lược này, công ty sẽ phải tập trung toàn bộ nỗ lực của mình vào nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh chuẩn phẩm hiện có để tăng mức tiêu thụ trên thị trường hiện tại Công ty có thể sử dụng các biến số Marketing hỗn hợp trên thị trường mục tiêu nhằm định vị sản phẩm của mình trên thị trường và tạo sự khác biệt đối với đối thủ cạnh tranh
2.2.2.2 Các chiến lược phát triển thị trường
Phát triển thị trường là chiến lược giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ hiện tại của doanh nghiệp vào các khu vực thị trường mới ( địa lý)
Trường hợp áp dụng:
• Doanh nghiệp có sẵn các kênh phân phối mới tin cậy, có chất lượng, chi phí hợp lý
• Doanh nghiệp đạt được thành công trên thị trường hiện có
• Các thị trường khác chưa được khai thác hoặc chưa bão hòa
• Khi doanh nghiệp có đủ nguồn lực quản lý doanh nghiệp mở rộng
• Khi doanh nhiệp có công suất nhàn rỗi
• Khi ngành hàng của doanh nghiệp phát triển nhanh thành quy mô toàn cầu
Yêu cầu của chiến lược này là công ty cần tiến hành nghiên cứu sâu thị trường để tìm ra đoạn thị trường mới cho sản phẩm hiện có của công ty Theo cách này, nó có thể khai thác lợi thế về sự khác biệt sản phẩm của nhãn hiệu và định vị vào các phân đoạn thị trường mới để cạnh tranh trong đó
2.2.2.3 Chiến lược phát triển sản phẩm
Phát triển sản phẩm là chiến lược tìm kiếm tăng doanh số bán thông qua cải tiến hoặc biến đổi các sản phẩm và dịch vụ hiện tại
Đây là chiến lược đòi hỏi chi phí nghiên cứu và phát triển lớn, thường được áp dụng trong các trường hợp:
• Sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp đang ở vào giai đoạn chín của chu kỳ sống
• Khi doanh nghiệp cạnh tranh trong một ngành kinh donh có đặc trưng công nghệ
ký thuật thay đổi nhanh chóng
• Đối thủ cạnh tranh đưa ra các sản phẩm nổi trội hơn với mức giá tương đương
• Doanh nghiệp phải cạnh tranh trong ngành có tốc độ phát triển cao
Trang 12• Doanh nghiệp có khả năng nghiên cứu và phát triển (R&D) mạnh.
Việc thực hiện chiến lược này đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ phận chức năng Công ty có thể cho cải tiên chất lượng, phát triển những tính mới của sản phẩm, nghiên cứu sản phẩm mới với nhiều ứng dụng mới và tái định vị thương hiệu, thay đổi nội dung quảng cáo, phương thức truyền thông…
2.2.2.4 Các chiến lược đa dạng hóa
Chiến lược này nhằm thực hiện sản xuất kinh doanh nhiều chủng loại sản phẩm trên các thị trường khác nhau để tăng doanh thu, lợi nhuận và vị thế của công ty Chiến lược được thực hiện bằng các phát triển sản phẩm mới cho thị trường mới Bởi vậy nó đòi hỏi công ty tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường tìm ra những mục tiêu thích ứng với các sản phẩm đó Từ đó tăng quy mô của công ty cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Tuy nhiên, chiến lược này cần tới một khả năng đầu tư mới về khoa học công nghệ, trình độ quản lý tốt, tiềm lực về tài chính và nhân lực mạnh
Có thể có 3 kiểu đa dạng hóa
- Chiến lược đa dạng hóa đồng tâm: công ty có thể tìm kiếm những sản phẩm mới
có thể kết hợp với những sản phẩm hiện có để tạo ra một sức mạnh tổng hợp về công nghệ và/ hay marketing cho dù những sản phẩm đó có thể đòi hỏi một lớp khách hàng mới
Các trường hợp sử dụng:
• Cạnh tranh trong ngành không phát triển/ phát triển chậm
• Khi bổ sung các sản phẩm mới nhưng có liên quan đến sản phẩm đang kinh doanh sẽ nâng cao được doanh số bán của sản phẩm hiện tại
• Khi các sản phẩm mới sẽ được bán với giá cạnh tranh cao
• Khi sản phẩm mới có thể cân bằng sự lên xuống trong doanh thu của doanh nghiệp
• Khi sản phẩm hiện tại của công ty đang ở giai đoạn suy thoái
• Khi doanh nghiệp có đội ngũ quản lý mạnh
- Đa dạng hóa hàng ngang: công ty có thể tìm kiếm những sản phẩm mới hấp dẫn
đối với chủng loại sản phẩm hiện có của mình cho các khách hàng hiện tại
Các trường hợp sử dụng:
• Doanh thu từ các sản phẩm hiện tại bị ảnh hưởng nếu bổ sung các sản phẩm mới
và không liên quan
• Kinh doanh trong ngành có tính cạnh tranh cao hoặc không tăng trưởng
• Các kênh phân phối hiện tại được sử dụng nhằm tung ra sản phẩm mới cho khách hàng hiện tại
Trang 13• Khi các sản phẩm mới có mô hình doanh số bán không theo chu kỳ so với sản phẩm hiện tại
- Đa dạng hóa tích hợp: công ty có thể tìm kiếm những nghề kinh doanh mới hoàn
toàn không có liên quan gì đến công nghệ, sản phẩm hay thị trường hiện có của công
ty
Chiến lược này nhằm:
• Xây dựng lới thế cạnh tranh
• Tạo sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh
• Kiểm soát các công nghệ bổ sung( trong cùng một lĩnh vực sản xuất nhưng liên quan đến các giai đoạn khác nhau của quy trình sản xuất)
• Cắt giảm chi phí sản xuất
2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
Trong các năm trước, đã có một số đề tài tương tự áp dụng chiến lược Marketing để phát triển thị trường như:
• Giải pháp chiến lược marketing nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu mặt hàng ván sàn của công ty TNHH sản xuất ván sàn Việt Nam (TBF) – SV thực hiện: Trần Thị Lan Hương K40E2 - GVHD: TS Phan Thị Thu Hoài - 2008
• Giải pháp chiến lược marketing nhằm phát triển thị trường tiêu thụ hạt giống rau nhập khẩu của công ty TNHH giống rau Bình Minh –SV thực hiện: Nguyễn Thu Huyền K41E5B - GVHD: TS Phan Thị Thu Hoài - 2009
• Giải pháp chiến lược marketing nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu thiết bị công nghiệp sang thị trường EU của công ty cổ phần tập đoàn VINA Megastar – SV thực hiện:Phan Thị Thanh Huyền K41E1 – GVHD: GS – TS Nguyến bách Khoa - 2009Các công trình nghiên cứu năm trước đều đề cập đến chiến lược marketing nhằm phát triển thị trường cho các sản phẩm là hàng hóa (mang tính hữu hình) Luận năn này đề cập đến giải pháp chiến lược marketing nhằm phát triển thị trường cho các sản phẩm là dịch vụ với những đặc trưng khác biệt của nó, do đó các giải pháp chiến lược cho sản phẩm như dịch vụ ngân hàng cũng có nhiều khác biệt so với sản phẩm cụ thể nào đó Công trình này không trùng lặp với các công trình năm trước
2.4 Phân định nội dung nghiên cứu về giải pháp chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường.
Dựa vào tình hình thực tiễn của chi nhánh, luận văn nghiên cứu theo quan điểm phát triển thị trường của ma trân Ansoff, xác định phát triển thị trường theo hướng
Trang 14thâm nhập và mở rộng thị trường từ đó xác định chiến lược phân đoạn thị trường mục tiêu đã chọn
2.4.1 Phân đoạn thị trường.
Mục đích của phân đoạn thị trường là nhóm các khách hàng đơn lẻ vào một phân đoạn tùy theo sự giống nhau hoặc khác nhau về nhu cầu sản phẩm Để phân đoạn thị trường tổ chức, ta có thể dùng các biến số sau:
Theo ngành nghề kinh doanh: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng, công nghiệp, viễn thống, thủy sản, bất động sản và các ngành khác
Quy mô kinh doanh: lớn, trung bình và nhỏ
Sở hữu: Nhà nước, tư nhân và hình thức sở hữu khác
Loại hình doanh nghiệp: công ty, hợp tác xã, nghiệp đoan và loại hình khác
Quốc tịch: Trong nước và nước ngoài
Đảm bảo: đảm bảo bằng tài sản và đảm bảo phi tài sản
Vùng địa lý: thành thị và nông thôn, miền Bắc, Trung, Nam
Sản phẩm: huy động, cho vay…
Doanh số: cao, trung bình và thấp
Chất lượng tín nhiệm: cao, trung bình, thấp
Tính chất mối quan hệ: khách hàng mới, khách hàng cũ, khách hàng thân thiết,
khách hàng VIP
2.4.2 Chiến lược thị trường mục tiêu của ngân hàng thương mại
Các ngân hàng có thể quan sát được nhiều mức độ phân khúc thị trường trên thực tế mang tính tổng thể hoặc phân tán Phần này sẽ trình bày về vấn đề của các phân đoạn và làm thế nào để xác định phân đoạn thị trường mục tiêu và cung cấp những gì cho từng phân đoạn theo quan điểm marketing hỗn hợp Căn cứ vào tương quan cặp nhãn hiệu mặt hàng/đoạn thị trường đích, marketing chiến lược được phân thành 5 hình thái chiến lược bao phủ thị trường
2.4.2.1 Tâp trung hóa đơn đoạn
Điều này xảy ra khi một ngân hàng chỉ nhắm đến một phân đoạn duy nhất và loại trừ tắt cả các phân đoạn khác của thị trường Toàn bộ nỗ lực marketing của họ chỉ nhắm đến phân đoạn duy nhất này Một ngân hàng có thể lựa chọn phương án này vì
bị hạn chế về nguồn lực hoặc phân đoạn thị trường duy nhất đó phù hợp một cách tự nhiên với những gì mà họ cung cấp hoặc được ngân hàng xem đay như là một “bước đà” cho việc mở rộng các phân đoạn thị trường của mình trong tương lai Tuy nhiên, trong trường hợp này, ngân hàng cũng phải chấp nhận rủi ro “tập trung” vì đã theo đuổi chiến lược “bỏ trứng vào một giỏ”
2.4.2.2 Chuyên môn hóa có chọn lọc – nhiều phân đoạn thị trường
Trang 15Điều này xảy ra khi trong một ngân hàng chọn nhiều phân đoạn thị trường khác nhau do họ có nhiều sản phẩm khác nhau hoặc họ đang nỗ lực giảm bớt áp lực cạnh tranh Tuy nhiên, tính hấp dẫn của chiến lược này là khả năng đa dạng hóa rủi ro Dưới một chừng mực nào đó thì các ngân hàng thương mại truyền thống cũng đã áp dụng phương pháp này dưới góc độ sản phẩm Nhu cầu cân đối giữa hoạt động nguồn vốn
và sử dụng vốn nhằm tạo ra doanh thu cũng đã hàm ý rằng ngân hàng quan tâm đến những nhóm sản phẩm và khách hàng khác nhau để đạt được mục tiêu kinh doanh của mình
2.4.2.3 Chuyên môn hóa theo sản phẩm
Điều này xảy ra khi một tổ chức tập trung vào marketing một sản phẩm cụ thể cho các phân đoạn thị trường Sản phẩm sẽ được chỉnh sửa cho phù hợp với những khác nhau trong các phân đoạn và sở thích của họ Tuy nhiên, không có các nhóm sản phẩm khác nhau Chiến lược này đã làm khác biệt hóa sang mang tính lấy người bán làm trung tâm chứ không phục vụ cho nhu cầu của người mua Phụ thuộc vào một sản phẩm có thể là một chiến lược đầy rủi ro đặc biệt khi vòng đời của sản phảm ngày càng ngắn Đối với các ngân hàng thì không thể sử dụng chiến lược kiểu này vì nó không cho phép cân bàng giữa tiền gửi và tiền vay nếu họ chỉ tập trung vào một mảng sản phẩm tiền gửi hoặc cho vay
2.4.2.4 Chuyên môn hóa theo thị trường
Khi một tổ chức tập trung phục vụ nhiều nhu cầu của một nhóm khách hàng cụ thể, họ thường có một dãy các sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu của thị trường mục tiêu của họ Chiến lược này có vẻ giống như phân đoạn thị trường đơn nhưng trái lại ở đây không chỉ cung cấp một sản phẩm hoặc thị trường đơn lẻ mà cung cấp nhiều sản phẩm cho một thị trường Chiến lược phân đoạn thị trường đơn có thể phát triển thành chuyên môn hóa theo thị trường
2.4.2.5 Phục vụ toàn bộ thị trường
Khi một ngân hàng cố gắng phục vụ tất cả mọi nhóm khách hàng với mọi sản phẩm mà họ có thể cần trong chuỗi sản phẩm của doanh nghiệp Chiến lược này phù hợp với những ngân hàng lớn, có khả năng sản xuất cho một lượng lớn khách hàng Phục vụ toàn bộ thị trường có thể tiến hành theo hai cách: phân biệt hoặc không phân biệt thị trường Không phân biệt có thể hiểu theo nghĩa là làm marketing hàng loạt Đây là chiến lược dựa trên lợi ích kinh tế theo quy mô, chú ý đến các nhu cầu chung của khách hàng chứ không chú ý đến các nhu cầu khác biệt và nỗ lực có được số khách hàng lớn nhất Các ngân hàng sử dụng chiến lược marketing khác biệt sử dụng chiến lược marketing khác biệt phục vụ cho nhiều đoạn phân đoạn thị trường nhưng
Trang 16thiết kế các chương trình marketing khác nhau cho mỗi phân đoạn nhằm tính đến sự khác nhau trong yêu cầu của khách hàng
2.4.3 Chiến lược định vị trên thị trường mục tiêu.
Định vị là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của công ty làm sao để nó chiếm được một chỗ đặc biệt và có giá trị trong tâm trí của khách hàng mục tiệu
Phân theo mức giá trị gia tăng ( GTGT) ngân hàng cung ứng cho khách hàng và
độ rộng tyến sản phẩm dịch vụ ngân hàng, có 4 loại định vị như sau:
Sơ đồ 2.2 – Chiến lược định vị trên thị trường mục tiêu
2.4.3.1 MINK ( tuyến sản phẩm hẹp, mức giá trị gia tăng cao)
Các ngân hàng định vị theo chiến lược này thường xây dựng hình ảnh ngân hàng có tính đặc biệt và có tính bao quát tức là phải tạo một hình ảnh khác biệt so với đối thủ cạnh tranh Các sản phẩm dịch vụ được cung ứng phải có tính duy nhất và phải
có giá trị gia tăng cao, chất lượng cao Do đó, các sản phẩm đó khi tung ra thị trường thường được định giá cao, lợi nhuận cận biên đối với sản phẩm/dịch vụ cao và sản phẩm/dịch vụ phải được điều chỉnh cho phù hợp với từng cá nhân khách hàng
2.4.3.2 LION ( Tuyến sản phẩm rộng và GTGT của sản phẩm dịch vụ cung ứng
cao)
Theo đuổi chiến lược định vị này, ngân hàng phải tạo ra cho mình hình ảnh là ngân hàng dẫn đầu hoặc ngân hàng hàng đầu Vì vậy, hoạt động marketing cần được thực hiện một cách sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng trên thị trường và hướng đến những khách hàng ít nhạy cảm về giá Giá chào bán dịch vụ của cac ngân hàng
Trang 17định vị theo chiến lược này thường cao, tỷ lệ lợi nhuận cận biên với sản phẩm dịch vụ cao và các dịch vụ phải có tính cá nhân hóa
2.4.3.3 MULE (Tuyến sản phẩm hẹp, GTGT ngân hàng cung ứng cho khách hàng
thấp)
Yêu cầu của chiến lược định vị này là, ngân hàng phải xây dựng cho ngân hàng một hình ảnh nhất quán và nhạy cảm với giá Tuyến sản phẩm hẹp, các ngân hàng phải thực hiện các hoạt động marketing đại trà và có tính chuyên môn hóa cho loại hình dịch vụ Sản phẩm dịch vụ của họ thường được định giá thấp và mức lợi nhuận cận biên ở mức thấp
2.4.3.4 HORSE (Tuyến sản phẩm rộng, GTGT cả sản phẩm dịch vụ thấp)
Ngân hàng tạo cho mình hình ảnh là ngân hàng tiện lợi đối với khách hàng và tạo ra hình ảnh mà khách hàng nhận được giá hời (khách hàng cực nhạy cảm về giá ) Các ngân hàng theo đuổi chiến lược định vị này thường dựa trên tính kinh tế theo quy
mô và cung ứng sản phẩm / dịch vụ với khối lượng lớn Thông thường, sản phẩm dịch
vụ của họ được định giá thấp và lợi nhuận cận biên thấp Do đó, các dịch vụ khách hàng thường thấp và khách hàng phải tự phục vụ
2.4.4 Khái quát về giải pháp marketing mix hướng tới phân đoạn thị trường mục
tiêu nhằm phát triển thị trường
Marketing - mix là một tập hợp những công cụ marketing mà doanh nghiệp sử dụng để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thị trường mục tiêu Các tiếp cận Marketing - mix dang 4P truyền thống là phù hợp với Marketing hàng hóa, nhưng cần bổ sung thêm một số công cụ markeiting trong kinh doanh dịch vụ Booms
và Bitner đã đề xuất bổ sung thêm 3P cho marketing dịch vụ Do vậy, các bộ phận cấu thành nên Marketing – mix trong kinh doanh dịch vụ bao gồm: chiến lược 4P – viết tắt của Product (chiến lược sản phẩm), Price ( chiến lược giá), Place ( chiến lược phân phối), Promotion (chiến lược xúc tiến); và chiến lược 3P – viết tắt của People (con người), Physical evidence ( bằng chứng vật chất) và Process ( quá trình )
2.4.4.1 Giải pháp về sản phẩm, dịch vụ ngân hàng
Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là một dạng hoạt động, một quá trình, một kinh nghiệm được cung ứng bởi ngân hàng nhằm đáp ứng một nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu Như vậy, sản phẩm ngân hàng tồn tại dưới dạng dịch vụ mang bản chất tài chính Các ngân hàng thiết kế một sản phẩm dựa trên quan niệm đó là một tập hợp các ích lợi mang đến sự thỏa mãn khách hàng mục tiêu Các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng bao gồm: các dịch vụ tiền gửi, dịch vụ cho vay, dịch vụ
Trang 18thanh toán, dịch vụ tư vấn, các dịch vụ về thẻ, các dịch vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán…
Theo truyền thống, sản phẩm ngân hàng được chia thành 3 cấp độ sau: sản phẩm cơ bản, sản phẩm hiện hữu và sản phẩm gia tăng
• Sản phẩm cơ bản: là cấp độ cốt lõi và quan trọng nhất của một sản phẩm Đây là cấp độ liên quan đến lợi ích cơ bản mà sản phẩm được giả định sẽ cung cấp hoặc thực
sự cung cấp nhằm thỏa mãn các nhu cầu sản phẩm tài chính ngân hàng của khách hàng như khả năng rút tiền mặt, chuyển tiền, vay trả góp,tư vấn tài chính… Nói cách khác, mỗi sản phẩm cơ bản sẽ giải đáp cho các ngân hàng biết lý do khách hàng đến sử dụng sản phẩm dịch vụ và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
• Sản phẩm hiện hữu: là cấp độ thứ hai của sản phẩm chứa đựng trong nó nội hàm của sản phẩm cơ bản cùng các thuộc tính cụ thể hình thành nên sản phẩm mà khách hàng đang muốn sử dụng bao gồm thiết kế của sản phẩm (điều kiện, điều khoản, lãi suất và các yêu cầu theo luật định) và các yếu tố cần thiết khác (giấy đề nghị, màu sắc của thẻ, của sổ tài khoản)
• Sản phẩm gia tăng: là cấp độ thứ ba của sản phẩm nhắm đến việc thỏa mãn, đáp ứng tốt hơn sự mong đợi của khách hàng khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ do ngân hàng cung cấp Cấp độ 3 của sản phẩm được gọi là các hệ thống hỗ trợ phục vụ khách hàng bao gồm thời gian xử lý hồ sơ, giấy tờ, giờ mở cửa hoạt động, các tiện nghi trong phòng đợi, sự giúp đỡ thân thiện của nhân viên, các điều khoản thanh toán thuận tiện, chuyển giao, bảo hành, hỗ trợ sau khi bán
Nhìn chung, hiện nay hầu hết các hoạt động cạnh tranh giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng đều xảy ra ở cấp thứ 3 – cấp độ cho phép tạo sự khác biệt cho ngân hàng khi cùng cung cấp một sản phẩm cơ bản Các quyết định về sản phẩm bao gồm các quyết định về danh mục sản phẩm, loại sản phẩm, nhẵn hiệu bao bì và cách gắn nhãn hiệu Tùy vào mục tiêu và chiến lược phát triển mà mỗi ngân hàng có thể đưa ra các quyết định khác nhau cho sản phẩm của mình
2.4.4.2 Giải pháp về giá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng
Việc xác định những yếu tố cấu thành giá của một sản phẩm, dịch vụ ngân hàng không đơn giản là số tiền xuất hiện trên bảng báo giá của nhà cung cấp mà nó có thể xuất hiện dưới nhiều vỏ bọc khác nhau làm cho nhận thức của khách hàng về những gì mình phải trả cho ngân hàng trở nên khó khăn hơn
Để đưa ra một chính sách giá hợp lý, ngân hàng cần phải xác định mục tiêu chiến lược mà mình muốn đạt đến ở một phân đoạn thị trường cụ thể Các mục tiêu có thể là: gia tăng thị phần, tối đa hóa doanh thu thường xuyên, tăng cường mối quan hẹ giữa ngân hàng với khách hàng , tiếp đến ngân hàng cần phẩi dự báo nhu cầu về sản
Trang 19phẩm dịch vụ, phân tích cơ cấu chi phí, phân tích giá của đối thủ cạnh tranh để lựa chọn được phương pháp định giá phù hợp cho quyêt định cuối cùng về giá
Các chiến lược định giá của sản phẩm dịch vụ:
- Định giá hớt váng thị trường: với chiến lược này, ngân hàng thường đặt giá bán cho sản phẩm, dịch vụ của mình ở mức cao nhất có thể được nhằm nhanh chóng thu được lợi nhuận cao Khi mức tiêu dùng giảm xuống, họ giảm giá để thu hút phần tối đa
về doanh thu ở các đoạn thị trường khác nhau Chiến lược định giá này thường áp dụng cho những sản phẩm có tính đổi mới rất cao, sản phẩm có chu kù sống tương đối dài và hướng tới những khách hàng ưa thích sự mới mẻ và chấp nhận sớm
- Định giá thâm nhập thị trường: là chiến lược giá nhằm tăng thị phần với các sản phẩm hiện tại trên thị trường hiện tại Chiến lược này không nhấn mạnh đến lợi nhuận
Để thực hiện nó, ngân hàng sẽ phải tăng lãi suất huy động hoặc giảm chi phí dịch vụ cho khách hàng hoặc giảm lãi suất cho vay thấp hơn thị trường để xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường, sau đó ngân hàng thay đổi giá nhằm nâng cao thu nhập của mình
- Định giá theo giá trị cảm nhận: chiến lược này dựa trên mối quan hệ giữa chất lượng và mức giá sản phẩm
Trang 20Thấp
Sơ đồ 2.3 – Chiến lược giá/ chất lượng
• Các chiến lược đường chéo: 1; 5 và 9 có thể cùng tồn tại trên cùng một thị trường, nghĩa là một doanh nghiệp chào bán sản phẩm chất lượng cao với giá cao, doanh nghiệp thứ 2 chào bán sản phẩm chất lượng trung bình với giá trung bình và doanh nghiệp thứ ba chào bán sản phẩm chất lượng thấp với giá thấp Cả 3 đối thủ này đều cùng tồn tại được vì thị trường có 3 nhóm người mua, một nhóm chỉ quan tâm đến chất lượng, một nhóm chỉ quan tâm đến giá còn nhóm thứ 3 cân đối cả 2 vấn đề đó
• Các chiến lược định vị 2,3 và 6 là những cách tiến công các vị trí trên đường chéo Chẳng hạn nhu chiến lược 2: sản phẩm có chất lượng như sản phẩm 1 nhưng định giá thấp hơn Chiến lược 3 cũng tuyên bố như vậy nhưng giá chào bán còn thấp hơn
• Các chiến lược định vị 4,7 và 8 thuộc loại định giá quá cao so với chất lượng sản phẩm Khách hàng sẽ cảm thấy bị lừa Người làm marketing cần tránh áp dụng những chiến lược này
2.4.4.3 Giải pháp phân phối sản phẩm, dịch vụ ngân hàng
Xuất phát từ đặc tính dịch vụ của sản phẩm do ngân hàng cung cấp là không thể lưu trữ, tồn kho giống như hàng hóa thông thường khác nên các ngân hàng cần phải làm cho sản phẩm và dịch vụ của mình luôn ở trạng thái sãn sàng để khách hàng sử dụng, chấp nhận sử dụng sản phẩm, dịch vụ Một kênh phân phối hoặc một kênh marketing dùng để chỉ một nhóm cá nhân hoặc tổ chức, công ty liên quan đến việc hướng dẫn bán sản phẩm, dịch vụ từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng
Các kênh phân phối truyền thống được sử dụng nhiều nhất như mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, các nhà tư vấn tài chính độc lập và các lực lượng bán hàng trực tiếp Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghệ đã tạo ra ảnh hưởng sâu sắc đến phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng Hiện nay, công nghệ cung cấp các giải pháp tiết kiệm chi phí và lợi thế cạnh tranh trong việc phân phối sản phẩm và giao tiếp với khách hàng Các công nghệ chủ yếu trong việc phân phối các sản phẩm tài chính bao gồm:
Công nghệ tự phục vụ như ATM và telebanking
Thẻ trả trước như thẻ thông minh ( Smarrtcard)
Trang 21 Dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Online banking) như dịch vụ ngân hang tại nhà (home banking) và dịch vụ ngân hang internet (Internet banking)
2.4.4.4 Giải pháp xúc tiến thương mại của ngân hàng thương mại
Xúc tiến thương mại là một lĩnh vực hoạt động marketing đặc biệt và có chủ đích được định hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác lập một quan hệ thuận lợi nhất giữa ngân hàng và bạn hàng với tập khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm phối hợp triển khai năng động chiến lược và chương trình marketing mix đã chọn Một số công cụ xúc tiến thương mại thường được áp dụng khi phát triển thị trường:
• Quảng cáo: là việc thực hiện giao tiếp phải trả tiền mang tính phi cá nhân thông qua các phương tiện truyền tông đại chúng Ví dụ: truyền hình, truyền thanh, rạp chiếu phim, báo, tạp chí
• Bán hàng cá nhân: Thông tri và thuyết phục khách hàng mua thông qua giao tiếp
cá nhân Ví dụ: nhân viên hỗ trợ, tư vấn tại chi nhánh, điểm giao dịch…
• Quan hệ công chúng: Xây dựng hoạt động hướng tới công chúng đại trà nhằm tạo dựng hình ảnh, tạo ra nhận thức về sản phẩm, thương hiệu và các hoạt động của tổ chức Ví dụ: tạp chí, báo,…
• Xúc tiến bán: là những biện pháp tác động trong ngắn hạn nhằm khuyến khích khách hàng, thành viên của kênh hoặc nhân viên bán hàng thực hiện việc ma sắm Ví dụ; quà tặng, vật lưu niệm, tiền thưởng, thẻ khách hàng thân thiết,…
• Marketing trực tiếp: sử dụng cá công cụ tiếp xúc trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng nhằm xúc tiến, thúc đẩy sản phẩm Ví dụ: phát tờ rơi trực tiếp, thư từ, liên lạc bằng điện thoại, internet…
• Tài trợ: hỗ trợ về tài chính hoặc vật chất cho một sự kiện, hoạt động, cá nhân, tổ chức…
2.4.4.5 Giải pháp về con người
Yếu tố con người trước hết là những nhân viên của công ty, đặc biệt là những nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng Họ vừa là người khai thác tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ, vừa là người bán hàng Hành vi, cử chỉ, lời nói, trang phục, của họ đều ảnh hưởng đến tâm lý khách hàng Kiến thức, kỹ năng của họ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ
Con người ở đây còn là khách hàng tiếp nhận dịch vụ Sự tham gia của khách hàng vào quá trình cung cấp dịch vụ, mối quan hệ giữa các khách hàng với nhau cũng
là vấn đề mà Marketing dịch vụ quan tâm
2.4.4.6 Giải pháp cho các bằng chứng vật chất( các yếu tố hiện hữu) trong ngân hàng
Do dịch vụ có nhược điểm là vô hình nên cần phải sử dụng các yếu tố hữu hình thay thế để nhằm tác động tích cực đến tâm lý khách hàng, nâng cao chất lượng dịch
Trang 22vụ trong cảm nhận của khách hàng Đó là các yếu tố hiện hữu tại điểm giao dịch, các sản phẩm kèm theo, con người, thiết bị phương tiện quảng cáo
Trang 23CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THANH TRÌ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu về thực trạng thị trường và chiến lược Marketing đối với dịch vụ tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Trì trên địa bàn Hà Nội
Để phân tích các giải pháp chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch
vụ tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Trì trên địa bàn Hà Nội, em đã tiến hành thu thập thông tin theo hệ dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp
3.1.1 Phương pháp đối với dữ liệu thứ cấp
Việc tìm kiếm dữ liệu thứ cấp nhằm mục đích tìm hiểu về tình hình thị trường, tình hình doanh thu ở từng phân đoạn thị trường đối với các loại hình dịch vụ tín dụng Đó là các dữ liệu về hoạt động kinh doanh, các thông tin về khách hàng
Nguồn thông tin tìm kiếm: các dữ liệu được thu thập từ hai nguồn chính đó là nguồn dữ liệu bên trong và nguồn dữ liệu bên ngoài
- Nguồn dữ liệu bên trong:
• Các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các năm 2007, 2008, 2009 của chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Thanh Trì do phòng Kế hoạch kinh doanh của chi nhánh lập qua các năm
• Báo cáo tín dụng của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Trì
• Các công văn chỉ đạo các chi nhánh thực hiện kế hoạch kinh doanh năm từ ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
• Các thông tin về dịch vụ, lãi suất được đăng tải trên website agribank.com.vn
- Nguồn dữ liệu bên ngoài: các tài liệu có liên quan thu thập được từ các website liên quan như website của ngân hàng nhà nước Việt Nam : sbv.gov.vn; …
Phương pháp và cách xử lý
Các dữ liệu thứ cấp này sẽ được tập hợp lại thành bảng biểu, tính tỷ lệ % tương ứng,
vẽ biểu đồ và so sánh giữa các loại hình tín dụng khác nhau qua năm khác nhau
3.1.2 Phương pháp đối với dữ liệu sơ cấp
Trang 24 Mục tiêu của cuộc điều tra phỏng vấn là nhằm làm rõ chiến lược marketing và hoạt động marketing - mix đối với dịch vụ tín dụng mà chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Trì đang áp dụng trên địa bàn Hà Nội
Phương pháp tiến hành thu thập: dữ liệu được thu thập bằng 2 hình thức:
- Phỏng vấn trực tiếp những cán bộ cấp cao của chi nhánh có liên quan đến điều hành hoạt động kinh doanh của chi nhánh Đó là: Giám đốc điều hành chi nhánh, phó giám đốc kinh doanh, trưởng phòng kế hoạch kinh doanh và cán bộ nhân viên phòng
kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Trì
- Điều tra phỏng vấn khách hàng đến giao dịch tại chi nhánh và các phòng giao dịch trực thuộc Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện
Tập hợp và xử lý thông tin: các thông tin thu thập được sẽ được tổng hợp lại và phân tích qua phần mềm SPSS, được diễn giải trên cơ sở logic và biện chứng nhằm phản ảnh rõ vấn đề nghiên cứu đang cần làm sáng tỏ
3.2 Đánh giá tổng quan ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông Thanh Trì.
3.2.1 Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
3.2.1.1 Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế
Nền kinh tế là một thực thể bao gồm nhiều hoạt động kinh tế có quan hệ mật thiết với nhau Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của hoạt động này sẽ kéo theo sự thay đổi hàng loạt của các hoạt động khác Hơn nữa, hoạt động của các NHTM có thể được coi là
“chiếc cầu nối” giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Vì vậy, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế là môi trường thuận lợi để mở rộng và phát triển hoạt động tín dụng Và ngược lại, khi nền kinh tế bất ổn thì chất lượng tín dụng sẽ giảm sút Các nhân tố tác động trực tiếp và thường xuyên tới hoạt động tín dụng bao gồm: lạm phát, thất nghiệp, lãi suất trên thị trường
Khủng hoảng kinh tế ở một số nền kinh tế lớn năm 2008 đã đẩy nền kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, lạm phát tăng cao, lãi suất biến động mạnh làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn và tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực kinh tế ở nước ta Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng đạt mức 5.2% năm 2009 là do chính phủ đã có nhiều chính sách hợp lý, kịp thời Các gói kích cầu cứu trợ nền kinh tế đã kích thích thị trường nội
Trang 25địa, kích thích tiềm lực kinh tế tư nhân quyết liệt vượt qua “cơn bão” toàn cầu, nhờ vậy đã kéo dậy sản xuất và kinh doanh trong nước Năm 2010, các gói cứu trợ vẫn tiếp tục được triển khai, hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn được duy trì sau khi kết thúc hỗ trợ lãi suất ngắn hạn Chính phủ chủ trương tiếp tục kích thích nền kinh tế thận trọng Sau đợt điều chỉnh tỷ giá và lãi suất cơ bản hồi tháng 11/2009 vừa qua, sức ép mất cân đối cung cầu về ngoại tệ và tín dụng của cả khối doanh nghiệp và ngân hàng đã có chiều hướng giảm
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Trì có địa bàn kinh doanh chủ yếu thuộc phía Nam thủ đô Hà Nội, là khu vực thuộc quy hoạch giãn dân của thủ
đô nên có tốc độ đô thị hóa nhanh Các khu, cụm công nghiệp đang hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ công nghiệp - nông nghiệp – dịch vụ sang công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn trong các năm qua đã có những bước tăng trưởng ổn định Năm 2009, kinh tế tăng trưởng từ 10 – 12%, an ninh chính trị - xã hội tiếp tục được giũ vững tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp Thanh Trì phát triển
3.2.1.1 Các nhân tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật
Trong nền kinh tế thị trường mọi đối tượng, mọi thành phần kinh tế đều có quyền
tự chủ về hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổ pháp luật Trong kinh doanh Ngân hàng cũng vậy, nhân tố pháp lý có tác động trực tiếp đến mọi hoạt động của Ngân hàng Các nhân tố pháp lý ở đây bao gồm hệ thống pháp luật đồng bộ, các văn bản pháp quy đầy đủ , chẳng hạn như những quy định về giải thể, phá sản doanh nghiệp, tài sản thế chấp, cầm cố Hoạt động tín dụng Ngân hàng rất phức tạp, do đó vị trí của pháp luật rất quan trọng, nó là cơ sở để các bên thực hiện nghĩa vụ và giải quyết tranh chấp xảy ra
3.2.1.3 Các nhân tố thuộc môi trường văn hóa - xã hội
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó Những giá trị văn hóa là những giá trị làm lên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội
đó tồn tại và phát triển Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông thường được bảo vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là các văn hóa tinh thần
Bên cạnh văn hóa , các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập … khác nhau:
Trang 26+ Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống
+ Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập
+ Lối sống, học thức,các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống
+ Điều kiện sống
Tập quán kinh doanh ngày nay cũng thay đổi, người số lượng các tổ chức kinh doanh với quy mô vốn lớn ngày càng nhiểu Do đó, nhu cầu về vốn của các tổ chức này ngày càng lớn và việc mạo hiểm với các khoản đẩu tư tài chính càng tạo ra nhiều lợi nhuận
và nhiều rủi ro ngày càng nhiều
3.2.1.4 Các nhân tố thuộc môi trường công nghệ
Thay đổi công nghệ tác động lên nhiều bộ phận của xã hội Công nghệ bao gồm: Các thể chế, các hoạt động liên quan đến việc sáng tạo ra các kiến thức mới, chuyển dịch các kiến thức đó đến các đầu ra: các sản phẩm, các quá trình và các vật liệu mới Thay đổi công nghệ bao gồm cả sáng tạo và hủy diệt, cả cơ hội và đe dọa Thay đổi công nghệ có thể tác động lên chiều cao của rào cản nhập cuộc và định hình lại cấu trúc ngành tận gốc rễ Sự phát triển của công nghệ đã tạo ảnh hưởng sâu sắc đến việc phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng và tốc độ thay đổi cũng như mức độ ảnh hưởng của nó đang ngày càng gia tăng Hiện nay, công nghệ cung cấp các giải pháp tiết kiệm chi phí, phòng ngừa rủi ro cho cả khách hàng và ngân hàng, tạo lợi thế cạnh tranh trong việc phân phối sản phẩm và giao tiếp với khách hàng
3.2.1.5 Các nhân tố thuộc môi trường cạnh tranh
Mức độ cạnh tranh trên thị trường thể hiện ở chỗ: có bao nhiêu đối thủ cạnh tranh trong cùng một ngành hàng, kinh doanh cùng một tuyến sản phẩm? Thị phần và vị thế của các đối thủ này trên thị trường so với mình như thế nào? Đối thủ áp dụng chiến lược cạnh tranh nào? Và những đối thủ cạnh tranh trong tương lai là những ai? Đặc biệt là trong bối cạnh kinh tế khó khăn, cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng ngày càng gay gắt Những điều đó cũng tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Thị phần khách hàng trên địa bàn của chi nhánh chiếm 40% Trong một vài năm trở lại đây, trên địa bàn cung xuất hiện thêm nhiều điểm giao dịch của các tổ chức tín dụng khác như phòng giao dịch của Ngân hàng Công Thương (chiếm khoảng 25% thị phần khách hàng trên địa bàn), ngân hàng ACB (10%), Ngân hàng TMCP Sacombank (10%), Ngân hàng Đầu tư và phát triển (15%) Họ cũng đều là những ngân hàng khá mạnh và có uy tín trong ngành Ngân hàng Để xâm nhập vào khu vực thị trường huyện Thanh Trì thì các chính sách định giá thấp để giành được thị phần của họ
Trang 27là một thách thức lớn với hoạt động kinh doanh của chi nhánh Vì vậy, thị phần khách hàng cũng bị phân tán ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động nguồn vốn và thị phần khách hàng của chi nhánh
3.2.2 Các nhân tố bên trong
3.2.2.1 Giới thiệu chung về chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Trì
Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Trì (Phụ lục 1)
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì.
Giải thích sơ đồ 3.1 (phụ lục 2)
3.2.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn Thanh Trì giai đoạn 2007 – 2009
P.HCNS P.KTKS
Trang 28Bảng 3.3 Tình hình sử dụng vốn của NH NO&PTNT Thanh Trì giai đoạn 2007 -
Dư nợ
Tỷ trọng(%)
Dư nợ
Tỷ trọng (%)
Số tuyệt đối (+/-)
Số tương đối (%)
Số tuyệt đối (+/-)
Số tương đồi (%)
(Nguồn : Phòng kế hoạch kinh doanh)
Qua biểu 2.3 trên ta thấy: Tổng dư nợ qua các năm có biến động 2007 là 527 tỷ năm 2008 đạt 415 tỷ đồng và năm 2009 487 tỷ Chi nhánh đã chấp hành tốt chính sách của Nhà nước là kìm hãm lạm phát qua con đường tín dụng nên đã không cho vay các đối tượng kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản, ưu tiên cho vay các đối tượng kinh doanh lương thực và nhập khẩu phân bón, thuốc trừ sâu, phát triển nông nghiệp, nông thôn Chấp hành nghiêm túc chỉ tiêu dư nợ NHNo&PTNT Việt Nam giao nên dư nợ năm 2008 của Chi nhánh đã giảm xuống chỉ còn 415 tỷ đồng Năm
Trang 292008/2007 tổng dư nợ giảm 112tỷ đồng (-26.98%); năm 2009/2008 tăng 72 tỷ đồng (+17.34%) Trong khi doanh nghiệp nhà nước giảm dư nợ qua các năm, năm 2009/2008 giảm tới 75% do Chi nhánh chủ động giảm bớt cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước theo định hướng Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ
Tỷ trọng dư nợ của DN ngoài quốc doanh luôn luôn chiếm trên 50% trong tổng dư nợ các năm Điều này chứng tỏ Chi nhánh NHNo Thanh trì luôn quan tâm, chú trọng tới khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Đối với hộ sản xuất, dư nợ từ 196 tỷ đồng năm
2007 (chiếm tỉ trọng 37.2% trong tổng dư nợ) giảm xuống 139 tỷ đồng năm 2008 (chiếm tỉ trọng 33,4%) và đạt 191 tỷ đồng vào năm 2009 (chiếm tỉ trọng 39%)
Từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và phương hướng hoạt động các năm thì có thể thấy rằng, dư nợ cho vay của chi nhánh tập trung chủ yếu vào 2 đối tượng khách hàng chính là Doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ gia đình và cá thể Đặc biệt, mục tiêu của chi nhánh được thể hiện qua phương hướng hoạt động kinh doanh hàng năm
là muốn đẩy mạnh dư nợ cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm
2007
Năm 2008
Năm 2009
Số tuyệt đối (%)
Số tương đối(+/-)
Số tuyệt đối (%)Ngắn
Đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Qua biểu số liệu trên cho thấy NHNo&PTNT Thanh Trì đã tập trung nguồn vốn dành cho đầu tư ngắn hạn Nguyên nhân chủ yếu là do khách hàng muốn sử dụng vốn ngắn hạn với lãi suất thấp hơn để thu được mức lợi nhuận cao hơn Về phía ngân hàng cũng muốn hạn chế rủi ro tín dụng, và sớm thu hồi được nợ, đồng thời cũng phù hợp với cơ cấu nguồn vốn của Chi nhánh chủ yếu là nguồn vốn dưới 12 tháng như đã phân tích ở phụ lục 3
Theo báo cáo kết quả hoạt động tín dụng doanh nghiệp: