1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc

65 686 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Và Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
Người hướng dẫn TS. Bùi Thanh Quang
Trường học Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
Thể loại khóa luận
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 606 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

Trang 1

Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt, kinh doanh tiền tệ Ngân hàng

có nhiều chức năng quan trọng Trong đó, cung cấp tín dụng là một trong nhữngchức năng thu về lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng Hoạt động kinh doanh củangân hàng cũng như những ngành nghề khác, cũng ẩn chứa nhiều rủi ro , như rủi ro

tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng,… Các loại rủi ro này có ảnh hưởng rất lớn đếnhoạt động kinh doanh của ngân hàng Đặc biệt là rủi ro tín dụng, đây là loại rủi ro màmột khi đã phát sinh thì sẽ gây cho ngân hàng rất nhiều khó khăn trong việc khắcphục hậu quả

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang từ khi chính thức đi vào hoạtđộng tháng 06/2006 đến nay, cùng với định hướng và mục tiêu phát triển chung củatoàn hàng là không ngừng mở rộng quy mô hoạt động và hạn chế thấp nhất những rủi

ro có thể xảy ra Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang đã không ngừngphát triển, mở rộng việc cung cấp tín dụng cho nhiều đối tượng khách hàng Đi cùngvới việc mở rộng cung cấp tín dụng, ngân hàng cũng đã có nhiều biện pháp nhằmhạn chế thấp nhất các rủi ro tín dụng có thể xảy ra, làm cho ngân hàng và hệ thốngngân hàng “an toàn để phát triển” và “phát triển phải an toàn”

Để thực hiện được điều đó, bản thân các ngân hàng luôn chú trọng quan tâm đếnrủi ro, nhất là rủi ro tín dụng và luôn có các biện pháp nghiệp vụ cần thiết nhằmphòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng có thể xảy ra Cùng với kiến thức đã được nhàtrường cung cấp về hoạt động tín dụng trong ngân hàng trên cơ sở lý thuyết, để thấy

được tình hình thực tế tại các ngân hàng nên tôi chọn nghiên cứu đề tài: “ Một số

biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương Mại

Cổ Phần Sài Gòn – Chi nhánh An Giang”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Trong quá trình kinh doanh của mình, các ngân hàng, tổ chức tín dụng luônkhông ngừng cạnh tranh với nhau nhằm thu hút khách hàng Vì vậy, Ngân hàngThương Mại Cổ Phần Sài Gòn – Chi nhánh An Giang cũng không tránh khỏi sự cạnhtranh từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác trên địa bàn Do đó, yêu cầu đặt ranhằm đảm bảo tính cạnh tranh cho ngân hàng là vừa phục vụ tốt cho khách hàng, vừabảo toàn vốn và có lãi cho ngân hàng

Xuất phát từ yêu cầu đó, khóa luận đi sâu vào việc nghiên cứu một số chỉ tiêu cụ

Trang 2

thể như: doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ cho vay, dư nợ quá hạn, … Từ

đó, đề ra một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro, góp phần nâng caochất lượng tín dụng tại ngân hàng

1.3 Phương pháp nghiên cứu:

Cùng với kiến thức đã được trang bị tại trường, kết hợp với thời gian thực tập tạingân hàng, chuyên đề tốt nghiệp dựa vào một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Thu thập số liệu trực tiếp tại ngân hàng như: doanh số cho vay, doanh số thu

nợ, dư nợ cho vay, dư nợ quá hạn, ….

- Nghiên cứu các văn bản tín dụng, các nghị định, nghị quyết, quyết định củaNgân hàng Nhà Nước, Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn

- Phương pháp xử lý số liệu: mô tả thông qua bảng số liệu, nhận xét, đánh giá.

Áp dụng phương pháp so sánh tuyệt đối, tương đối qua các thời điểm

1.4 Phạm vi nghiên cứu:

Tập trung nghiên cứu, tìm hiểu những biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong quá trình họat động của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn – Chi nhánh An Giang từ tháng 06 năm 2006 đến nay

Tóm tắt chương 1: Đây là chương cơ sở hình thành đề tài, mục đích của việc nghiên

cứu đề tài, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 3

CHƯƠNG 2:

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – CÁC RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại:

Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 định nghĩa: “Ngânhàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và cáchoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiệncác mục tiêu kinh tế của Nhà nước”

2.2 Chức năng của ngân hàng thương mại:

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hệ thống ngân hàng phát triển các ngânhàng thương mại thực hiện 03 chức năng sau:

2.2.1 Ngân hàng thương mại là trung gian tín dụng:

Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.

Chức năng trung gian tín dụng được minh họa qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1: Chức năng trung gian tín dụng

Trong chức năng này, ngân hàng thương mại một mặt là người đứng ra huy động

và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, như vốn nhànrỗi của các tổ chức kinh tế, cá nhân, các tầng lớp dân cư, … biến nó thành nguồn vốntín dụng để cho vay (cấp tín dụng); mặt khác trên cơ sở nguồn vốn đã huy độngđược, ngân hàng sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho cácngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội

Cấp tín dụng

Trang 4

Nhờ nguồn vốn tín dụng lớn và luân chuyển liên tục, thông qua việc thực hiệnchức năng nói trên sẽ làm cho nền kinh tế phát triển được cung ứng vốn ngày càngđầy đủ để phát tiển.

2.2.2 Ngân hàng thương mại là trung gian thanh toán:

Đây là chức năng quan trọng cho thấy tính chất “đặc biệt” trong hoạt động củangân hàng thương mại

Chức năng trung gian thanh toán được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.2: Chức năng trung gian thanh toán

Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại trở thànhngười thủ quỹ và là trung tâm thanh toán của xã hội Thực hiện chức năng này, ngânhàng thương mại đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toángiữa các khách hàng, giữa người mua, người bán, … để hoàn tất các quan hệ kinh tếthương mại giữa họ với nhau

2.2.3 Ngân hàng thương mại cung ứng các dịch vụ ngân hàng:

Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, ngân hàng có những

điều kiện thuận lợi mà không phải tổ chức nào cũng có như kho quỹ, hệ thống thôngtin, mối quan hệ rộng khắp với các doanh nghiệp Qua đó, ngân hàng có thể thựchiện tư vấn tài chính, nhận ủy thác, dịch vụ kiều hối, … để nhận tiền hoa hồng, sẽvừa tiết kiệm chi phí vừa đạt hiệu quả cao

2.3 Những vấn đề cơ bản về tín dụng:

2.3.1 Khái niệm về tín dụng:

Tín dụng là quan hệ vay muợn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay

và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả

Tín dụng được biểu hiện theo sơ đồ:

Sơ đồ 2.3: Khái niệm tín dụng

trả tiền

Giấy yyy Người trả tiền

Người thụ hưởng, người bán (xí nghiệp,

tổ chức kinh tế,

cá nhân, …) Lệnh

qua tài khoản

Hòan trả vốn gốc và lãi vay khi đến hạn

Cho vay vốn có thời hạn

Thế chấp, cầm cốbảo lãnhTín chấp

Trang 5

- Tín dụng bao giờ cũng có giới hạn và phải đựơc “hoàn trả”.

- Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợitức tín dụng

2.3.2 Chức năng của tín dụng:

Tín dụng có 03 chức năng:

2.3.2.1 Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ:

Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng màcác nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để sửdụng nhằm phát triển kinh tế

Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là 02 mặt hợp thành chức năng cốt lõi của

tín dụng:

- Ở mặt tập trung vốn tiền tệ: Nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng mà cácnguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi của dân chúng, vốnbằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các tổ chức đoàn thể, xã hội, …

- Ở mặt phân phối lại vốn tiền tệ: Đây là mặt cơ bản của chức năng này – đó là

sự chuyển hóa để sử dụng các nguồn vốn đã tập trung được để đáp ứng nhu cầu tiêudùng trong toàn xã hội

Cả 02 mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo nguyên tắchoàn trả vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn, nó thúc đẩyviệc sử dụng vốn có hiệu quả

Nhờ chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng, mà phần lớnnguồn tiền trong xã hội từ chỗ là tiền “nhàn rỗi” một cách tương đối đã được huyđộng và sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống, làm cho hiệu quả sử dụngvốn trong toàn xã hội tăng lên

2.3.2.2 Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội:

Nhờ hoạt động của tín dụng mà nó có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền mặt

và chi phí lưu thông cho toàn xã hội, điều này thể hiện qua các mặt sau đây:

Trang 6

- Hoạt động tín dụng, trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưuthông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu, ngân hàng, các loại séc, … cho phépthay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành nhờ đó làm giảm bớt các chi phí có liênquan như in tiền, đúc tiền, vận chuyển, bảo quản tiền, …

- Với sự hoạt động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng đã mở ra mộtkhả năng lớn trong việc mở tài khoản và giao dịch thanh toán thông qua ngân hàngdưới các hình thức chuyển khoản hoặc bù trừ cho nhau

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tín dụng thì hệ thống thanh toán qua ngânhàng ngày càng mở rộng, vừa cho phép giải quyết nhanh chóng các mối quan hệ kinh

tế, vừa thúc đẩy quá trình ấy, tạo điều kiện cho nền kinh tế - xã hội phát triển

- Nhờ hoạt động của tín dụng, mà các nguồn vốn đang nằm trong xã hội đượchuy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ có tácdụng tăng tốc độ chu chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội

2.3.2.3 Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế:

Đây là chức năng phát sinh, hệ quả của 02 chức năng trên

Sự hoạt động của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động

của vật tư, hàng hóa, chi phí trong các xí nghiệp, các tổ chức kinh tế, vì vậy qua đótín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, mà còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động đó nhằm ngănchặn các hiện tượng tiêu cực, lãng phí, vi phạm pháp luật, … trong hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.3.3 Vai trò của tín dụng:

Vai trò của tín dụng bao gồm 02 mặt: tích cực và tiêu cực

2.3.3.1 Mặt tích cực:

 Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển:

- Tín dụng trước hết là nguồn cung ứng vốn cho các doang nghiệp, các tổ chứckinh tế

- Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệutrong nền kinh tế

- Tín dụng không những là công cụ tập trung vốn mà còn là công cụ thúc đẩytích tụ vốn cho các xí nghiệp, tổ chức kinh tế

Có thể nói, trong mọi nền kinh tế - xã hôi, tín dụng đều phát huy vai trò to lớnnói trên

- Đối với doanh nghiệp: Tín dụng góp phần cung ứng vốn, bao gồm vốn cốđịnh và vốn lưu động

- Đối với dân chúng: Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư

- Đối với toàn xã hội: Tín dụng là tăng hiệu suất sử dụng vốn

Trang 7

Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế - xã hội khiến tạo ra động lựcphát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế được.

 Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, giá cả:

Trong khi thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng đãgóp phần làm giảm khối lượng tiền tệ lưu hành trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặttrong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần làm ổnđịnh tiền tệ Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, tạo điều kiện chocác doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh … làm cho sản xuất ngàycàng phát triển, sản phẩm hàng hóa dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được

nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, chính nhờ đó mà tín dụng góp phần làm ổn địnhthị truờng giá cả trong nước …

 Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự

xã hội:

Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng

hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người laođộng Mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai tháccác tiềm năng sẵn có trong xã hội như tài nguyên thiên nhiên, lao động, đất đai … do

đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuấtmới để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống được ổn định, ai cũng có công ăn việclàm … đó là tiền đề quan trọng ổn định trật tự xã hội

 Tín dụng góp phần phát triển các mối quan hệ quốc tế:

Tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng và phát triển các mối quan hệ

kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế Sự phát triển của tín dụng khôngnhững ở trong phạm vi quốc nội mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, nhờ đó nó thúcđẩy mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyếtcác nhu cầu lẫn nhau trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm cho cácnước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển

2.3.3.2 Mặt tiêu cực:

Nếu để tín dụng phát triển một cách tràn lan không kiểm soát, thì không nhữngkhông làm cho nền kinh tế phát triển mà còn làm cho lạm phát có thể gia tăng gâyảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế, xã hội

2.4 Các nguyên tắc tín dụng:

Việc vay vốn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để ngân hàng cấptín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động của mình Tuy nhiên, cấp tín dụng liên quanđến việc sử dụng vốn huy động của khách hàng nên phải tuân thủ những nguyên tắcnhất định Nói chung khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo 02 nguyêntắc:

2.4.1 Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và có hiệu quả kinh tế:

Trang 8

Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do 02 bên, ngân hàng và khách hàng, thỏathuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đíchthỏa thuận nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ vay saunày Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốncủa khách hàng đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúngnhư mục đích đã cam kết hay không Điều này rất quan trọng vì việc sử dụng vốnvay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ sau này.

Về phía khách hàng , việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng caohiệu quả sử dụng vốn vay đồng thời khách hàng đảm bảo khả năng hoàn trả nợ chongân hàng Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và củng cốquan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này

2.4.2 Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi vay theo đúng hạn đã

Các nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho Ngân hàng có thể tồn tại và hoạt động một cách bình thường

2.5 Những vấn đề chung về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:

2.5.1 Đặc trưng trong kinh doanh ngân hàng:

Là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, hoạt động kinh doanh của

ngân hàng thương mại có những đặc trưng cơ bản như sau:

- Ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền gửi

Trên thị trường tài chính, ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chínhquan trọng, chuyển tải những khoản vốn huy động được trong xã hội đến nhữngngười có nhu cầu chi tiêu và đầu tư Với chức năng ban đầu là nhận tiền gửi của xãhội, sau đó ngân hàng thương mại đã trở thành các chủ thể chuyên mua bán quyền sửdụng vốn

- Hoạt động của ngân hàng thương mại có tính nhạy cảm cao và luôn chịu sựgiám sát chặt chẽ của pháp luật

Kinh doanh ngân hàng dựa trên niềm tin, vì vậy tính nhạy cảm trong kinh doanhrất cao Chỉ cần một biến động nhỏ cũng có thể gây tác động đối với hoạt động kinhdoanh ngân hàng (một sự thay đổi nhỏ về lãi suất cũng có thể dẫn đến sự dịch chuyểnkhách hàng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác)

Trang 9

Nếu ngân hàng hoạt động tốt, sẽ góp phần tiết kiệm các nguồn lực, giảm thiểu chiphí cho xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững.Ngược lại, khi ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những người gửi tiền,

và sự phá sản của ngân hàng luôn có hiệu ứng dây chuyền, lây lan rất lớn và có tácđộng xấu đến nền kinh tế, cho nên hoạt động kinh doanh ngân hàng phải được giámsát chặt chẽ, thường xuyên bằng các luật định

- Các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng thương mại mang tính tương đồng, dễbắt chước và gắn chặt với yếu tố thời gian

Các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng rất đadạng Song phần lớn các sản phẩm của mỗi ngân hàng này lại tương đồng với các sảnphẩm của các ngân hàng thương mại khác Nếu một ngân hàng thương mại vừa thựchiện một loại hình dịch vụ nào đó có hiệu quả thì ngay lập tức có thể bị các ngânhàng khác thực hiện theo Như vậy, khái niệm sản phẩm dịch vụ mới của ngân hàngthương mại phải được hiểu là sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng đó đưa ra thị trườngtrước các đối thủ cạnh tranh

Mặt khác, thời gian chính là yếu tố quan trọng thực hiện giá trị sản phẩm, đồngthời cũng là một trong những yếu tố quyết định giá cả của sản phẩm dịch vụ ngânhàng Vì vậy, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng luôn gắn chặt với yếu tố thời gian

- Khách hàng của ngân hàng rất đông đảo và đa dạng

Khách hàng của ngân hàng thương mại đông đảo và đa dạng, đòi hỏi của kháchhàng đối với sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng rất khác nhau Vì vậy, mỗi ngânhàng phải nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng phù hợp

- Kinh doanh ngân hàng gắn liền với yếu tố rủi ro

Rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ loại hình kinh doanh nào Tuy nhiên, rủi rotrong kinh doanh ngân hàng có những điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanhkhác về mức độ và nguyên nhân Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có tính lantruyền và để lại hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành, mà còncủa tất cả các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốc gia

mà còn ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác

2.5.2 Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:

2.5.2.1 Rủi ro ngân hàng:

Rủi ro ngân hàng không phải là nổi ám ảnh của hệ thống ngân hàng một nước mà

là nổi ám ảnh chung của các hệ thống ngân hàng trên thế giới Những bất ngờ luônxảy ra, ngay cả đối với những ngân hàng giỏi nhất, nhiều kinh nghiệm nhất cũng khóphỏng đoán Vì vậy, rủi ro ngân hàng và quản lý nó luôn luôn là nhữnng vấn đề thời

sự cho mỗi nền kinh tế trong mỗi thời kỳ

Có nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau, có nhiều định nghĩa về rủi ro của các nhàkinh tế và các nhà kinh doanh Khó tìm được một định nghĩa nào là hoàn hảo, songrủi ro thường có 02 đặc điểm:

- Biên độ rủi ro, đó là sự thiệt hại từ rủi ro gây ra ở mức độ nào

- Tần số xuất hiện của rủi ro nhiều hay ít

Trang 10

Là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại cũng gánh chịucác rủi ro do các tác động của môi trường vĩ mô và vi mô gây nên như các doanhnghiệp khác.

2.5.2.2 Phân loại rủi ro:

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng về cơ bản có thể chia thành 02 loại: rủi ro môitrường và rủi ro đặc thù

 Rủi ro môi trường:

Rủi ro môi trường luôn luôn tồn tại trong tổ chức và ngoài tổ chức Hay nói cáchkhác, rủi ro môi trưòng gồm 02 loại: rủi ro môi trường vĩ mô và rủi ro môi trườngcạnh tranh

- Rủi ro môi trường vĩ mô: Môi trường mà ngân hàng hoạt động chứa đựngmuôn vàn rủi ro, chúng tác động đến ngân hàng bằng nhiều cách: hoặc làm suy yếukhả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng, hoặc gây cho ngân hàng những thiệt hại về

tài chính Những rủi ro này rất khó kiểm soát nên chúng được gọi là “rủi ro không

kiểm soát được” Trong thực tế, người ta có thể kiểm soát chúng ở mức độ hạn chế

trên cơ sở dự báo

Các rủi ro môi trường vĩ mô mà ngân hàng thường gặp là:

+ Rủi ro tự nhiên hay rủi ro bất khả kháng: lũ lụt, hỏa hoạn, động đất, …

+ Rủi ro về luật pháp liên quan đến việc thay đổi các luật lệ gây bất lợi cho ngânhàng Ở các nước đang phát triển, đây là rủi ro có thể gây thiệt hại lớn cho nền kinh

tế, do thiếu các luật lệ hay các quy định cần thiết

+ Rủi ro về kinh tế liên quan đến sự vận động của nền kinh tế và chu kỳ kinhdoanh: lạm phát, thất nghiệp, suy thoái kinh tế, khủng hoảng, … Ảnh hưởng của cácyếu tố này đến ngân hàng thường rất lớn

- Rủi ro môi trường cạnh tranh: Một ngân hàng trong hoạt động kinh doanhthường chịu tác động của khách hàng hoặc các đối thủ cạnh tranh từ nhiều phía Từ

đó luôn nhận rất nhiều các tác động đầy rủi ro

 Rủi ro đặc thù:

Luôn tồn tại trong lĩnh vực hay ngành nghề kinh doanh Rủi ro đặc thù là rủi ro

do bản chất của ngành hay lĩnh vực kinh doanh tạo ra Trong lĩnh vực ngân hàng, rủi

ro đặc thù thường bao gồm:

- Rủi ro về quản lý: Rủi ro này có thể bắt nguồn từ ban quản lý ngân hàng dothiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu khả năng điều hành Nó cũng có thểxảy ra do sự yếu kém về năng lực hay đạo đức của nhân viên ngân hàng

- Rủi ro cung cấp các dịch vụ tài chính hay rủi ro kinh doanh, bao gồm: Rủi ro

về hoạt động, rủi ro về sản phẩm, rủi ro về công nghệ, rủi ro đòn cân nợ, rủi ro dothiếu nổ lực nghiên cứu và phát triển

Trang 11

- Rủi ro thích ứng vốn: Nó thể hiện ngân hàng có quy mô vốn nhỏ thường ít antoàn hơn ngân hàng có vốn lớn.

- Rủi ro tài sản thế chấp: Tài sản thế chấp không đủ giá trị để bù đắp thiệt hạicho ngân hàng

Có thể tóm tắt phân loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.4: Các loại rủi ro

Trang 12

Các loại rủi ro có quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời

2.5.3 Ảnh hưởng của rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:

Cũng như các doanh nghiệp khác, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro và có thể bị

mất vốn Nhưng do kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, nên rủi ro trong kinh doanhngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng thương mại mà còn tácđộng xấu đến nền kinh tế - xã hội

 Rủi ro xảy ra tạo cho ngân hàng những tổn thất về mặt tài chính:

Bất kỳ một rủi ro nào xảy ra cũng gây nên những tổn thất về tài chính cho ngânhàng: hoặc làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng, hoặc làm giảm thu nhập củangân hàng Nếu thu không đủ chi ngân hàng sẽ bị thua lỗ, nghiêm trọng hơn ngânhàng có thể bị phá sản

Rủi ro và tổn thất tài chính là điều khó tránh khỏi trong việc tìm kiếm lợi nhuận,hoạt động nào mang lại lợi nhuận cao thì khả năng xảy ra rủi ro sẽ lớn Điều đó đặt racho ngân hàng là phải cân nhắc lựa chọn phương án kinh doanh nhằm đạt được sựcân bằng hợp lý giữa lợi nhuận với rủi ro và tổn thất

 Rủi ro xảy ra làm giảm uy tín của ngân hàng:

Những thiệt hại về uy tín của ngân hàng, làm mất lòng tin của của công chúng lànhững tổn thất còn lớn hơn rất nhiều so với những tổn thất về mặt tài chính Các thua

lỗ trong hoạt động của ngân hàng luôn có ảnh hưởng bất lợi đến niềm tin của côngchúng Khi dân chúng thiếu tin tưởng vào khả năng kinh doanh của ngân hàng, hoặcnghi ngờ ngân hàng mất khả năng thanh toán, họ sẽ đồng loạt rút tiền gửi ra khỏingân hàng, dẫn đến việc khủng hoảng tài chính hoặc phá sản của ngân hàng

 Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng còn gây tác động xấu đến nền kinh tế - xã hội:

RR môi trường

RR môi trường cạnh tranh

RR môi trường vĩ mô

Trang 13

Các thua lỗ của ngân hàng nếu nghiêm trọng có thể làm cổ đông mất vốn đầu tư,những người gửi tiền mất đi những khoản tiền tiết kiệm mà suốt đời mới có được.Tình trạng tài chính xấu của một ngân hàng còn tạo ra sự nghi ngờ của những ngườigửi tiền về sự ổn định và khả năng thanh toán của hệ thống ngân hàng, gây tác độngxấu đến tình hình tài chính của các ngân hàng khác, kéo theo phản ứng dây chuyền

và phá vỡ tính ổn định của thị trường tài chính

2.6 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng:

2.6.1 Rủi ro tín dụng:

Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả

gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúnghạn

Rủi ro tín dụng là vấn đề đặc biệt được quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngânhàng, mà còn trong toàn nền kinh tế

Rủi ro tín dụng là một loại rủi ro do sự suy giảm về khả năng trả nợ của cáckhách hàng Giảm giá trị của khoản cho vay tín dụng không chỉ bao gồm việc khôngtrả được nợ của khách hàng tăng lên mà còn dẫn đến thị trường vốn định giá khảnăng tín dụng của công ty qua mức lãi suất cao hơn đối với các công cụ nợ do công

ty phát hành, hoặc là việc giảm giá của các cổ phiếu, hoặc giảm cấp các đại lý

Đây cũng chính là việc định giá về chất lượng của các công cụ nợ mà các công typhát hành

Rủi ro tín dụng rất nguy hiểm, khi một vài khách hàng quan trọng không trả được

nợ có thể gây nên những khoản lỗ lớn cho ngân hàng và có thể dẫn ngân hàng đếntình trạng mất khả năng thanh toán

2.6.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng:

2.6.2.1 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan:

 Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định:

- Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế

Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăngkhi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, nhữngkhách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quyluật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của cácngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũngkhiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơrủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị cácngân hàng nước ngoài thu hút

- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảngthừa về đầu tư trong một số ngành

Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìmkiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi

Trang 14

nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đâycũng là một hiện tượng khách quan Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh

đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợptác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của cáchiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước

Thời gian qua, tại một số địa phương đã xảy ra tình trạng mặc dù điều kiện địaphương không thuận lợi cho việc chăn nuôi bò sữa, nhưng tại đây chính quyền địaphương lại khuyến khích người dân tham gia vào các chương trình chăn nuôi bò sữađiều này tất yếu dẫn đến việc là đầu tư không hiệu quả, không thể thu hồi vốn Haytại nhiều tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đất nông nghiệp đã được chuyển thành khucông nghiệp, khu dân cư Nhưng thật trớ trêu, không ít khu dân cư có rất ít người dânsinh sống, còn các khu công nghiệp thì đang bỏ hoang, nông dân mất nghề phải chịucảnh ly nông…

 Rủi ro do môi trường pháp lý không thuận lợi:

- Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương

Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ,Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dướiluật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên,luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sứcchậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việccưỡng chế thu hồi nợ Những văn bản này đều có quy định: Trong những trườnghợp khách hàng không trả được nợ, ngân hàng có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợvay Trên thực tế, các ngân hàng thương mại không làm được điều này vì ngân hàng

là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chứcnăng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lýhoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua con đường tố tụng…cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng ngân hàng thương mại không thểgiải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng

- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng vàđảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng Năng lực cán

bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinhdoanh và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp Nội dung vàphương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đựơc đổi mới Vai trò kiểm toán chưađựơc phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu Thanh tratại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ vàgiám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theokiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro và viphạm Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập Do vậy mà cónhững sai phạm của các ngân hàng thương mại không được thanh tra Ngân hàng Nhànước cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy rarồi mới can thiệp Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một sốngân hàng thương mại dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn

Trang 15

của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh traphát hiện và xử lý sớm hơn

- Hệ thống quản lý thông tin còn bất cập

Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanhnghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của Ngân hàngNhà nước đã hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầurất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tíndụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập

và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật và ngoài ra việc kết nốithông tin với trang Web – CIC qua đường X25 của Chi cục tin học ngân hàng cònnhiều trục trặc, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin tại Thành phố

Hồ Chí Minh Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng vàkiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tintương xứng Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụngtrong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấucho hệ thống ngân hàng

2.6.2.2 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan:

 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay:

- Do không thấy được năng lực của khách hàng

- Do không thẩm định kỹ về khách hàng trước khi cho vay

- Do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ chuyênmôn nghiệp vụ, dẫn đến việc cho vay khống, cho vay không đúng mục đích, thẩmđịnh dự án đầu tư, phương án kinh doanh không chính xác

- Do cho vay tập trung quá nhiều vào một lĩnh vực

- Do giá trị tài sản đảm bảo tiền vay không đáp ứng được yêu cầu thu nợ củangân hàng

- Do ngân hàng quá chú trọng đến lợi tức, đặt kỳ vọng về lợi tức cao hơnkhoản cho vay lành mạnh

- Do không tìm hiểu kỹ thị trường, thiếu thông tin thị trường dẫn đến cho vaykhông hợp lý

- Do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng đã cho những khách hàngkinh doanh kém hiệu quả vay vốn, nên việc thu nợ gặp khó khăn, đến hạn kháchhàng không trả được nợ cho ngân hàng

- Do trong quá trình khách hàng sử dụng vốn, nhân viên tín dụng đã khôngkiểm tra thường xuyên việc khách hàng sử dụng vốn vay, do đó có thể khách hàng

sử dụng vốn vay sai mục đích dẫn đến việc khách hàng mất khả năng thanh toán Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm địnhtrước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi chovay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ

Trang 16

động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quantrọng nhất của nhân viên tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Việc theodõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợpđồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanhmới và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên trong thời gian qua, các ngân hàngthương mại chưa thực hiện tốt công tác này Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngạigây phiền hà cho khách hàng của nhân viên ngân hàng, một phần do hệ thống thôngtin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấpđược kịp thời, đầy đủ các thông tin mà ngân hàng thương mại yêu cầu

- Do việc cho vay sai đối tượng, tính toán cho vay không phù hợp với kháchhàng, định kỳ trả nợ không phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng,cho vay vượt nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng

- Do đánh giá không đúng tài sản thế chấp, bảo lãnh, cầm cố về giá trị, tínhchất pháp lý

- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng

Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra Ngân hàng Nhà nước ở tính thờigian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát củangười kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với côngviệc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của cácngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như

hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thốngnày càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngả rẽ rủi

ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới

 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay:

- Khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý

- Tính chất công việc của khách hàng có mức độ rủi ro cao

- Do khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, kinh doanh kém hiệu quả,không có thiện chí trong việc trả nợ

Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh

cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảongân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lạihết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến cácdoanh nghiệp khác

- Khả năng quản lý kinh doanh kém

Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đaphần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạnđổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kếtoán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý

là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ

ra nó phải thành công trên thực tế

Trang 17

- Do năng lực vay vốn của khách hàng không tốt về tài sản đảm bảo, vốn tự có,

… dẫn đến khuynh hướng khách hàng mạo hiểm kinh doanh để có tỷ suất lợi nhuậncao bù đắp trả lãi tiền vay dẫn đến rủi ro cao

- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch

Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểmchung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ,chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủnghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấpcho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do cácdoanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyênnhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuốicùng để phòng chống rủi ro tín dụng

- Những nguyên nhân khác như: khách hàng cố ý không trả nợ, khách hàngchết hoặc mất tích

2.6.3 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng:

2.6.3.1 Phát hiện sớm các dấu hiệu:

 Nhóm dấu hiệu báo trước từ rủi ro về ngành nghề kinh doanh – đặc điểm

phân tích ngành nghề kinh doanh:

- Lượng hàng bán trước đây và lợi nhuận

- Chính sách của Chính phủ

- Các điều kiện lao động

- Các điều kiện cạnh tranh

- Chu kỳ của ngành nghề kinh doanh

 Nhóm dấu hiệu báo trước từ rủi ro trong kinh doanh (rủi ro về cơ cấu, chiến lược và hoạt động):

- Kế hoạch, chiến lược và sự không đồng nhất trong việc lập kế hoạch

- Cơ cấu lại quy mô lớn, mở rộng hay thu hẹp công ty (doanh nghiệp)

- Sụt giá cổ phiếu trên thị trường

- Những thay đổi trong nhu cầu thị trường, cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi côngnghệ hay các quy chế hoặc việc xóa bỏ quy chế

- Giới thiệu hay hủy bỏ các sản phẩm và dịch vụ chính

- Chất lượng sản phẩm

- Những điều chỉnh của luật pháp có ảnh hưởng đến tính cạnh tranh

- Hệ thống phân phối không hiệu quả trong điều kiện thị trường biến động

- Sự thay đổi về giá bán hàng

- Sự thay đổi về giá đầu vào

Trang 18

- Khả năng điều chỉnh giá đầu ra theo những thay đổi của giá đầu vào.

 Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin tài chính:

- Kiểm soát tài chính yếu kém và không thống nhất trong báo cáo

- Báo cáo không đầy đủ thông tin tài chính

- Trì hoãn việc chuẩn bị các báo cáo tài chính

- Những dấu hiệu hạch toán không minh bạch trong báo cáo tài chính

- Giảm các khả năng tài chính

- Tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần

- Lỗ và các khoản dự phòng lớn, ngoài dự kiến

- Tài khoản có rút quá số dư không

- Có hiện tượng sai phạm hay thanh toán chậm các nghĩa vụ không

- Giá trị của các khoản đảm bảo có được kiểm tra thường xuyên không

- Ngân hàng có nhận được kịp thời các thông tin về hàng trong kho và cáckhoản phải thu không, con số có chính xác không

- Có sự chậm trễ quá mức nào trong việc nhận các báo cáo tài chính

- Những giải thích về sự chậm trễ của khách hàng thường là những dấu hiệubáo trước về bản thân khách hàng

 Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin cá nhân / công tác quản lý:

- Lối sống phung phí của các vị giám đốc

- Việc né tránh của các nhà quản lý công ty

- Những yêu cầu xin miễn các khoản đảm bảo

- Những yêu cầu xin miễn bảo lãnh cá nhân

- Những yêu cầu tăng đáng kể các khoản tín dụng

- Sức ép thanh toán của các nhà cung cấp

- Tinh thần làm việc của nhân viên kém

- Những thay đổi bất thưởng trong bộ máy quản lý công ty (doanh nghiệp)

- Thông tin quản lý chậm và thiển cận

- Phân tích thiếu nhạy bén, không nêu lên được vấn đề cần nghi vấn

- Các chỉ tiêu không đạt được mà không có sự phản hồi của ban quản lý

 Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin bên ngoài:

- Thông tin về thị trường và ngành nghề kinh doanh không đủ

- Ngành nghề kinh doanh đang gặp khó khăn

- Thông tin từ các ngân hàng khác cho thấy tình hình kinh doanh không ổnđịnh

Trang 19

- Chú ý đến dư luận.

2.6.3.2 Nhận diện rủi ro qua các dấu hiệu cảnh báo và xác định các vấn đề:

Sau khi khoản vay phát sinh và được phân loại, nhân viên tín dụng luôn phải theodõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:

 Nhóm dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng:

- Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại cho ngân hàng trong quá trình kiểm tratheo định kỳ (hoặc đột xuất) tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạtđộng sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích thuyết phục

- Có dấu hiệu thực hiện không đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trongquá trình quan hệ tín dụng

- Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà không có

sự giải thích thuyết phục

- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếucác căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạnnợ

- Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, xuất hiệnnhững thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được

- Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn

- Thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn

- Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc kháchhàng không muốn trả nợ

- Mức vay thường xuyên tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dựkiến

- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo giảm sút so vớiđịnh giá khi cho vay Có dấu hiệu tài sản đảm bảo đã cho người khác thuê, bán haytrao đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại

- Có dấu hiệu khách hàng trông chờ vào các khoản thu nhập bất thường kháckhông phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc từ hoạt động được đề xuấttrong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán

- Có dấu hiệu tìm kiến các nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc biệt

là từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng

- Có dấu hiệu sử dụng nhiều tài khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu

tư dài hạn

- Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn với giá cao với mọi điều kiện

- Có sự chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dựkiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng

- Những khoản thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độhoạt động của khách hàng

Trang 20

- Sự xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý.

- Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trongquá trình quản lý

- Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai dẫn đến việcđầu tư dự án không hiệu quả

- Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ mới

- Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh xảy ra

- Đối với khách hàng là tư nhân cá thể, có dấu hiệu người vay bị bệnh kéo dàihoặc chết

 Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của ngân hàng:

- Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng

- Cấp tín dụng dựa trên cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo củakhách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do khách hàngđem lại từ khoản tín dụng được cấp

- Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực kiểmsoát cũng như nguồn vốn của ngân hàng

- Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không

rõ ràng, không xác định rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay, cố ý thỏa hiệp cácnguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có rủi ro tiềm ẩn

- Chính sách tín dụng quá lỏng lẻo hay quá cứng nhắc để kẻ hở cho kháchhàng lợi dụng

- Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không thuộc phânđoạn thị trường tối ưu của ngân hàng

- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủcác quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng

- Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá, giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụhay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họkhông quan hệ với các tổ chức tín dụng khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng mớicấp sẽ ẩn chứa nguy cơ rủi ro cao

2.6.4 Các chỉ tiêu để đánh giá hoạt động tín dụng:

2.6.4.1 Tỷ số Nợ quá hạn trên Tổng dư nợ:

Chỉ tiêu này đánh giá chất lượng công tác tín dụng Quy định hiện nay của Ngânhàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại không đượcvượt quá 5%

Trang 21

Hệ số thu nợ thể hiện khả năng thu hồi nợ từ việc cho khách hàng vay Hệ số thu

nợ cao cho thấy khả năng thu nợ của ngân hàng tốt, rủi ro tín dụng thấp

2.6.4.3 Tỷ số giữa các khoản xóa nợ ròng so với tổng cho vay và cho thuê tài

chính.

2.6.4.4 Tỷ số dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng cho vay và cho

thuê tài chính.

2.7 Phân nhóm nợ:

Căn cứ theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2006 của Thống

đốc Ngân hàng Nhà nước ban hàng quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sửdụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tíndụng, Quyết định số 18/2007/ QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sungmột số điều của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì có các nhóm nợ sau:

- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

+ Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồiđầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn

+ Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khảnăng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn cònlại

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định:

Đối với khoản nợ quá hạn, tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ có rủi

ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

 Khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn (cả cả lãi áp dụng đốivới nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời giantối thiểu 06 tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối với các khoản nợngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn

 Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đãđược xử lý, khắc phục

 Tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là kháchhàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại

+ Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng phân loại lạivào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sauđây:

 Khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lạitrong thời gian tối thiểu 06 tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đốivới các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạnđược cơ cấu lại

Hệ số thu nợ =

Doanh số thu nợDoanh số cho vay

Trang 22

 Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cấu lạithời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục.

 Tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tín dụng, tài liệu kèm theo) để đánh giá

là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lạicòn lại

- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày

+ Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanhnghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năngtrả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định:

Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong cáctrường hợp:

 Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phânloại vào cùng một nhóm nợ

 Đối với khoản nợ cho vay hợp vốn tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thựchiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định và phải thôngbáo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn Trườnghợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tíndụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ củakhoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụngtham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợpvốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phânloại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợnào có rủi ro cao hơn

 Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vàocác nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tíndụng khi xảy ra các trường hợp:

Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinhdoanh của khách hàng

Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vàonhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin)

Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanhtoán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suygiảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm

Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tàichính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng

- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày

Trang 23

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh

kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định

+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trảlãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định:

Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong cáctrường hợp:

 Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phânloại vào cùng một nhóm nợ

 Đối với khoản nợ cho vay hợp vốn tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thựchiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định và phải thôngbáo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn Trườnghợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tíndụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ củakhoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụngtham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợpvốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phânloại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợnào có rủi ro cao hơn

 Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vàocác nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tíndụng khi xảy ra các trường hợp:

Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinhdoanh của khách hàng

Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vàonhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin)

Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanhtoán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suygiảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm

Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tàichính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng

- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

+ Các khoảnnợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theothời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định:

Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong cáctrường hợp:

 Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phânloại vào cùng một nhóm nợ

Trang 24

 Đối với khoản nợ cho vay hợp vốn tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thựchiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định và phải thôngbáo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn Trườnghợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tíndụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ củakhoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụngtham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợpvốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phânloại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợnào có rủi ro cao hơn.

 Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vàocác nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tíndụng khi xảy ra các trường hợp:

Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinhdoanh của khách hàng

Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vàonhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin)

Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanhtoán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suygiảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm

Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tàichính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng

- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

+ Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lêntheo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả

nợ được cơ cấu lại lần thứ hai

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quáhạn hoặc đã quá hạn

+ Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định:

Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong cáctrường hợp:

 Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phânloại vào cùng một nhóm nợ

 Đối với khoản nợ cho vay hợp vốn tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thựchiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định và phải thôngbáo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn Trườnghợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tín

Trang 25

dụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ củakhoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụngtham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợpvốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phânloại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợnào có rủi ro cao hơn.

 Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vàocác nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tíndụng khi xảy ra các trường hợp:

Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinhdoanh của khách hàng

Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vàonhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin)

Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanhtoán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suygiảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm

Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tàichính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng

2.8 Quản lý rủi ro tín dụng:

Theo Chuẩn mực an toàn và quản lý rủi ro tín dụng của Basel I:

- Chuẩn mực 7: Tiêu chuẩn cấp tín dụng và quy trình giám sát tín dụng

Một phần công việc thiết yếu của hệ thống thanh tra là đánh giá chính sách, thông

lệ và quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng, thực hiện đầu tư cũng như công tácquản lý tín dụng và danh mục đầu tư hiện tại

Chức năng tín dụng và đầu tư ở các ngân hàng là khách quan và dựa trên cácnguyên tắc lành mạnh Duy trì chính sách cho vay, mục đích vay và thủ tục cho vaythận trọng với các văn bản cho vay hợp lý là cần thiết đối với quản lý chức năng chovay của ngân hàng Ngân hàng cần phải có một quá trình giám sát quan hệ tín dụnghiện tại của khách hàng Cơ sở dữ liệu là nhân tố quan trọng của hệ thống thông tinquản lý, cần phải được chi tiết danh mục cho vay

- Chuẩn mực 8: Đánh giá chất lượng tài sản và dự phòng rủi ro mất vốn tíndụng

Ngân hàng phải thiết lập và duy trì các chính sách, thói quen và thủ tục phù hợpvới việc đánh giá chất lượng tài sản, dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng

Ngân hàng phải xây dựng một quy trình giám sát các khoản nợ có vấn đề và chọnlọc các món nợ quá hạn

Khi thực hiện bảo lãnh hoặc nhận vật thế chấp, ngân hàng phải có phương phápđánh giá uy tín của người bảo lãnh và định giá vật thế chấp

Khi có các khoản nợ có vấn đề thì ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay trên

cơ sở đảm bảo cấp tín dụng và sức mạnh tài chính tổng thể

Trang 26

- Chuẩn mực 9: Sự tập trung rủi ro và các rủi ro lớn.

Ngân hàng phải có hệ thống thông tin quản lý cho phép xác định những điểmđáng lưu ý trong danh mục đầu tư và phải thiết lập giới hạn an toàn để hạn chế xuhướng ngân hàng tập trung vào các khách hàng đơn lẻ hoặc các nhóm khách hàng cóquan hệ

- Chuẩn mực 10: Cho vay khách hàng có mối quan hệ

Để ngăn ngừa sự lạm dụng phát sinh từ việc cho vay khách hàng có mối quan hệ,quan hệ vay vốn phải dựa trên nguyên tắc “trong tầm kiểm soát”, như vậy, việc mởrộng tín dụng được giám sát một cách có hiệu quả, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro.Giao dịch cho vay khách hàng có mối quan hệ thường gây ra những rủi ro đặcbiệt cho ngân hàng , vì thế nên có sự chấp thuận của Hội đồng quản trị

Tóm tắt chương 2: Trong chương này đề cập đến cơ sở lý luận của đề tài, các vấn

đề mang tính lý thuyết về ngân hàng thương mại, chức năng của ngân hàng thươngmại; tín dụng, chức năng, vai trò của tín dụng; rủi ro tín dụng, ảng hưởng của rủi rotín dụng, dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng, các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụngcủa ngân hàng, phân nhóm nợ… Đây là chương cơ sở để đi vào thực trạng tín dụngtại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang

CHƯƠNG 3:

THỰC TRẠNG TÍN DỤNG – RỦI RO TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN –CHI NHÁNH AN GIANG

Trang 27

3.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang:

3.1.1 Điều kiện tự nhiên – tình hình kinh tế xã hội An Giang:

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên:

An Giang là tỉnh lớn thuộc miền Tây Nam Bộ, gồm 09 huyện, thị xã Châu Đốc

và thành phố Long Xuyên

An Giang có diện tích tự nhiên là 3.424 km2 Phía Tây Bắc giáp Campuchia, TâyNam giáp Kiên Giang, phía Nam giáp Cần Thơ, phía Đông giáp Đồng Tháp, nằmbên cạnh sông Tiền và sông Hậu với hệ thống kênh rạch chằng chịt

Dân số An Giang hiện có trên 2 triệu dân, mật độ khoảng 600 người/ km2 Thunhập bình quân trên 6 triệu đồng/ người/ năm

3.1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội:

Tình hình kinh tế xã hội An Giang các năm vừa qua có nhiều thuận lợi, mức tăngtrưởng cao hầu hết ở các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt hoặc vượt chỉ tiêu đề ra, đờisống người dân được nâng cao Tốc độ tăng trưởng GDP không ngừng gia tăng quacác năm, xuất khẩu đạt được nhiều thành tựu nhất là trong xuất khẩu thủy sản Nămqua, giá trị xuất khẩu thủy sản của An Giang đạt 333 triệu USD Các mặt văn hóa, xãhội, giáo dục, y tế, … có nhiều tiến bộ; an ninh, chính trị, trật tự xã hội được giữvững

An Giang là một tỉnh có thế mạnh về nông nghiệp Thời gian gần đây tỉnh đãkhông ngừng đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế khác như thủy sản, xây dựng,

mở các khu công nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài

Trong năm vừa qua, cùng với tình hình chung của cả nước, tỉnh cũng gặp một sốkhó khăn về dịch bệnh như dịch cúm gia cầm H5N1, rầy nâu… đây cũng là một yếu

tố làm hạn chế khả năng sản xuất nông nghiệp của tỉnh

Tóm lại, tình hình kinh tế xã hội trong tỉnh đang có chiều hướng phát triểnmạnh, với nhiều ngành kinh tế khác nhau cần được mở rộng và phát triển thì nhu cầu

về vốn không phải là nhỏ Cho nên các hệ thống ngân hàng trên địa bàn cũng nhưNgân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang cần có tầm nhìn đúng hướng, đápứng kịp thời nguồn vốn cho các ngành nghề khác nhau, góp phần thúc đẩy sự pháttriển của tỉnh nhà

3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang:

Đi cùng với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng TMCP Sài Gòn trên phạm vi

cả nuớc, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang chính thức đi vào hoạtđộng giữa tháng 06 năm 2006 theo quyết định số 07/QĐ-SCB-HĐQT ngày28/04/2006

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang có trụ sở chính đặt tại:

Số 4-5, đường Hà Hoàng Hổ, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Điện thoại: 076.945235 Fax: 076.945236

Trang 28

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang thực hiện một số nghiệp vụchủ yếu như:

- Huy động vốn từ các thành phần kinh tế

- Cho vay đối với:

+ Các tổ chức kinh tế, chủ yếu là cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động, đầu

ra, ngân hàng còn thực hiện cung cấp dịch vụ khác như chuyển tiền, chi trả kiều hối

Từ khi ngân hàng chính thức đi vào hoạt động tại An Giang đến nay ngân hàngkhông ngừng mở rộng mạng lưới hoạt động của mình: ngày 22/12/2006, mở phònggiao dịch tại thị xã Châu Đốc; ngày 11/03/2008, mở chi nhánh tại Đồng Tháp và tiếntới mở thêm các chi nhánh, phòng giao dịch ở các huyện, thị trong toàn tỉnh

Đội ngũ cán bộ công nhân viên cũng tăng đáng kể cả về mặt số lượng lẫn chấtlượng Ngân hàng thường xuyên tổ chức cho cán bộ công nhân viên tham gia cáckhóa tập huấn, đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với sựphát triển chung của ngành ngân hàng

Định hướng chung của ngân hàng là phát triển đi kèm với bền vững, xây dựngNgân hàng TMCP Sài Gòn thành ngân hàng thương mại đa năng, tiện ích dịch vụ đạttiêu chuẩn hiện đại, đa năng và chất lượng dịch vụ được khách hàng đánh giá tốt, mởrộng các loại hình hoạt động kinh doanh, với mục tiêu đến năm 2012, Ngân hàngTMCP Sài Gòn trở thành tập đoàn tài chính vững mạnh trên thị trường trong nước,từng bước vươn ra khu vực và thế giới

3.1.3 Sơ lược về tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Sàin Gòn – Chi

nhánh An Giang:

 Kết quả đạt được của công tác tín dụng:

- Do có chuẩn bị tốt trong công tác tiếp thị và tư vấn khách hàng, đến nayNgân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang đã được nhiều khách hàng quantâm và đến đặt quan hệ vay vốn, từ đó dư nợ trong thời gian gần đây có chiều hướngtăng nhanh

- Ngân hàng TMCP Sài Gòn đang thực hiện một số chính sách ưu đãi tín dụngriêng so với các tổ chức tín dụng khác, đây là một lợi thế tốt làm tăng sức cạnh tranhtrong hoạt động tín dụng, như tài trợ phí bảo hiểm, chính sách ưu đãi đến với kháchhàng chuyển doanh thu, cho vay dựa trên tài sản đảm bảo cao hơn tỷ lệ quy định,…

 Những khó khăn, vướng mắc:

Trang 29

- An Giang là tỉnh có nhiều ngân hàng và quỹ tín dụng hoạt động, do đó sức épcạnh tranh về lãi suất cho vay cũng như lãi suất tiền gửi diễn ra gây gắt Do đó, chinhánh gặp nhiều khó khăn trong công tác huy động tiền gửi cũng như cho vay, việclôi kéo khách hàng về Ngân hàng TMCP Sài Gòn cũng là vấn đề đáng quan tâm.

- Khách hàng ở An Giang phần lớn là hộ kinh doanh nhỏ lẻ, phương thức thanhtoán tiền hàng trao tay dựa trên uy tín là chính, vì vậy các hồ sơ chứng minh cho hoạtđộng kinh doanh của khách hàng thường không đầy đủ Những khách hàng lớn cótiềm năng thường có quan hệ vay vốn với các ngân hàng trước đây nên được nhiều

ưu đãi như thủ tục cho vay, hạn mức tín dụng, …

- Ngân hàng TMCP Sài Gònlà ngân hàng đầu tiên thực hiện quyền phải thu từcác hợp đồng, việc làm này khá mới mẻ đối với các cơ quan, ban ngành cũng nhưchính người đi vay, vì vậy chi nhánh cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác hoànthiện hồ sơ

- Về nhân sự: Do mới đi vào hoạt động thời gian chưa lâu nên lực lượng nhân

sự còn mỏng

 Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn –Chi nhánh An Giang:

Qua quá trình kiểm tra, sử dụng vốn vay hầu hết khách hàng sử dụng vốn đúngmục đích, trả lãi và vốn đúng hạn

 Tình hình thực hiện cơ chế cho vay:

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang đã thực hiện nghiêm túc và có

phần linh động cơ chế cho vay theo quy định của Hội sở và Ngân hàng Nhà nước

 Nhân tố ảnh hưởng:

Do mới khai trương hoạt động trong thời gian ngắn nên có một số khó khăn vềnhân sự, thông tin đến khách hàng Tuy nhiên, lãnh đạo ngân hàng và nhân viên chinhánh đã nổ lực hết mình trong công tác nên dư nợ ngày càng phát triển, chất lượngtín dụng luôn được bảo đảm

 Các quy định về đảm bảo tiền vay:

Ngoài việc cho vay cán bộ nhân viên ngân hàng không có tài sản đảm bảo, cònlại các món vay khác đều có thế chấp tài sản theo quy định của Ngân hàng TMCPSài Gòn

 Về vấn đề phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro:

Hiện Ngân hàng TMCP Sài Gòn – An Giang tiến hành việc trích lập dự phòngtheo quy định của Hội sở phù hợp với quy định của Ngân hàng NHà nước

 Hoạt động cung cấp và trao đổi thông tin tín dụng với Ngân hàng Nhà nước:

Hàng tuần, tháng , quý chi nhánh đều lập đầy đủ báo cáo gửi Ngân hàng Nhànước - Chi nhánh An Giang theo đúng quy định

 Đối với khách hàng tiền gửi, có rất nhiều khách hàng tiềm năng đang gửi tiềncùng lúc ở nhiều ngân hàng, nhưng để lôi kéo được các khách hàng này tập trung vềNgân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang thì phải chờ thời gian vì đối với

Trang 30

khách hàng bên cạnh lãi suất và các chính sách ưu đãi, điều họ quan tâm nhất là tính

an toàn của ngân hàng nơi họ gửi tiền vào

3.1.4 Vai trò, chức năng:

3.1.4.1 Vai trò:

Sự ra đời của ngân hàng nhằm đáp ứng kịp thời nguồn vốn kinh doanh cho cácthành phần kinh tế trong tỉnh, đáp ứng kịp thời nguồn vốn kinh doanh cho các tổchức kinh tế đang trong tình trạng thiếu hụt vốn Do đó, giải ngân cho các thành phầnkinh tế này là mục tiêu quan trọng của ngân hàng góp phần đẩy mạnh lưu thông hànghóa của tỉnh

Sự có mặt của ngân hàng không chỉ đơn thuần đáp ứng kịp thời nguồn vốn chonền kinh tế của tỉnh, phục vụ nền kinh tế phát triển cao hơn mà còn góp phần làmcho đời sống người dân tốt hơn, qua đó xóa dần nạn cho vay nặng lãi vẫn còn tồn tạitại một số nơi

Với phương châm “ SCB luôn hướng đến sự hoàn thiện vì khách hàng ”, Ngân

hàng TMCP Sài Gòn luôn là nguồn tài chính, là người bạn đồng hành của mọi thànhphần kinh tế và mọi tầng lớp dân cư tại tỉnh nhà

- Các dịch vụ khác: Dịch vụ tài khoản thanh toán, thu chi hộ, chi hộ lương,thanh toán quốc tế, chuyển tiền trong và ngoài nước, kinh doanh ngoại hối và vàng,kiều hối, thẻ, SMS Banking, Internet Banking, đầu tư trực tiếp, Repo chứng khoán,ngân quỹ,…

3.1.5 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý:

Phòng

Tổ chức hành chính

Phòng Ngân quỹ

Trang 31

 Ban Giám Đốc:

Là người trực tiếp lãnh đạo, điều hành mọi hoạt động tại chi nhánh theo quy địnhcủa Hội sở chính, và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của chi nhánh mình với cấptrên

 Phòng Tín Dụng và Bảo Lãnh:

- Thực hiện các nghiệp vụ về tín dụng và bảo lãnh: Cho vay doanh nghiệp, cánhân, bảo lãnh trong nước, cho vay xuất nhập khẩu, chiết khấu, cầm cố giấy tờ cógiá, thẩm định, tư vấn khách hàng, … theo các quy định của pháp luật và quy địnhcủa Ngân hàng TMCP Sài Gòn

- Tổ chức thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các quy trình nghiệp vụ liên quan.Thu hồi các khoản nợ đến hạn, nợ quá hạn, các khoản bảo lãnh trả thay, đề xuất cácbiện pháp ngăn ngừa và xử lý nợ quá hạn

- Thực hiện các báo cáo thống kê về nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh trong phạm vihoạt động của chi nhánh theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và theo chế độthông tin do Tổng giám đốc ban hành

- Tổ chức theo dõi các tài sản đảm bảo của khách hàng

- Lưu trữ, bảo quản hồ sơ tín dụng và các nghiệp vụ trong phạm vi hoạt độngcủa chi nhánh theo chế độ quy định

- Thực hiện các nghiệp vụ khác theo quy định của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

 Phòng Kế Toán:

- Hướng dẫn khách hàng mở tài khoản Ngân hàng TMCP Sài Gòn, thực hiệncác thủ tục nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cánhân, …

- Tổ chức thực hiện công tác kế toán giao dịch hàng ngày với khách hàng mởtài khoản tại ngân hàng

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong nước và nước ngoài thôngqua hệ thống Ngân hàng TMCP Sài Gòn, Ngân hàng Nhà nước và các hệ thống kháctheo yêu cầu của khách hàng

- Thực hiện các nghiệp vụ về thanh toán thẻ, chi trả kiều hối, kinh doanh vàng

và ngoại tệ theo đúng quy định của Nhà nuớc, Ngân hành Nhà nước và của Ngânhàng TMCP Sài Gòn

- Thực hiện chế độ báo cáo kế toán, thống kê phản ánh hoạt động, tình hình tàichính, quản lý các loại vốn, tài sản tại chi nhánh theo đúng quy định

- Đảm nhận công tác điện toán tại đơn vị

- Chấp hành chế độ quyết toán tài chính chi tiêu nội bộ hàng năm với Hội sởchính

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

 Phòng Tổ Chức Hành Chính:

Trang 32

- Lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, công cụ laođộng và tổ chức thực hiện theo quy định.

- Thực hiện công tác văn thư, hành chính và quản trị

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

 Phòng Ngân Quỹ:

- Tổ chức thực hiện nghiệp vụ thu chi tiền mặt (VND, vàng và ngoại tệ) cácloại chứng từ có giá liên quan đến giao dịch hàng ngày

- Thực hiện thu đổi ngoại tệ, thanh toán các loại thẻ

- Tham mưu cho giám đốc thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ kho quỹ,nhằm bảo quản, cất giữ tài sản chứng từ có giá và giấy tờ quan trọng của khách hàng

- Tổ chức thực hiện chế độ ghi chép sổ sách kho quỹ theo quy định, chịu tráchnhiệm kiểm tra, kiểm soát chứng từ thu chi ngân quỹ theo chế độ hạch toán kế toánquy định, đảm bảo dữ liệu hạch toán được cập nhật và chính xác

- Đảm bảo an toàn kho quỹ theo quy định

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

 Phòng Giao Dịch:

Thực hiện các nghiệp vụ tương tự với chi nhánh nhưng phải thông qua sự chỉ đạocủa chi nhánh

 Kiểm Tra, Kiểm Soát Nội Bộ:

- Thực hiện việc kiểm tra, kiểm toán nội bộ các hoạt động của chi nhánh và cácđơn vị trực thuộc chi nhánh theo đúng pháp luật, theo điều lệ của Ngân hàng TMCPSài Gòn, theo quy chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội

bộ trong Ngân hàng TMCP Sài Gòn

- Theo dõi, phúc tra chi nhánh và các đơn vị trực thuộc chi nhánh trong việcsửa chữa những vi phạm, kiến nghị các đoàn thanh tra, kiểm tra nội bộ

- Báo cáo kết quả công tác kiểm tra nội bộ định kỳ hoặc đột xuất theo đúng quyđịnh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

- Phối hợp với các đoàn thanh tra, kiểm tra của Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước

và của Hội sở chính trong việc thanh tra, kiểm tra tại chi nhánh và các đơn vị trựcthuộc chi nhánh

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

3.1.6 Một số vấn đề về tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn:

Ngày đăng: 19/09/2012, 15:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Chức năng trung gian tín dụng - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Sơ đồ 2.1 Chức năng trung gian tín dụng (Trang 3)
Sơ đồ 2.2: Chức năng trung gian thanh toán - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Sơ đồ 2.2 Chức năng trung gian thanh toán (Trang 4)
Sơ đồ 2.3: Khái niệm tín dụng - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Sơ đồ 2.3 Khái niệm tín dụng (Trang 4)
Sơ đồ 2.4: Các loại rủi ro - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Sơ đồ 2.4 Các loại rủi ro (Trang 11)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức (Trang 30)
Bảng 3.1:  Biểu phí gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Bảng 3.1 Biểu phí gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ (Trang 38)
Sơ đồ 3.2: Quy trình tín dụng ngắn hạn - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Sơ đồ 3.2 Quy trình tín dụng ngắn hạn (Trang 39)
Bảng 3.2: Doanh số cho vay - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Bảng 3.2 Doanh số cho vay (Trang 43)
Bảng 3.3: Doanh số thu nợ - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Bảng 3.3 Doanh số thu nợ (Trang 45)
Bảng 3.4: Dư nợ - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Bảng 3.4 Dư nợ (Trang 46)
Bảng 3.5: Nợ quá hạn - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Bảng 3.5 Nợ quá hạn (Trang 48)
Bảng 3.6: Phân nhóm nợ ngày 31/12/2007 - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Bảng 3.6 Phân nhóm nợ ngày 31/12/2007 (Trang 49)
Bảng 3.7: Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Bảng 3.7 Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ (Trang 49)
Bảng 3.8: Hệ số thu nợ - Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang.doc
Bảng 3.8 Hệ số thu nợ (Trang 50)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w