1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Thực trạng và một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La

125 816 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La
Tác giả Trần Thị Ánh Tuyết
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2001
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở hạ tầng gắn liền với mọi hoạt động kinh tế xã hội, là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương

Trang 1

Lời mở đầu

1- Tính cấp thiết của đề tài:

Cơ sở hạ tầng gắn liền với mọi hoạt động kinh tế xã hội, là nhân tố thúcđẩy phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Cho nên, đểthúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của bất kỳ một vùng lãnh thổ nào thì điềukiện đầu tiên và trước hết phải bắt đầu từ phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng Hiện nay, phát triển kinh tế - xã hội của các vùng dân tộc miền núi của

6 tỉnh miền núi phía bắc nói chung, các vùng dân tộc miền núi của tỉnh Sơn

La nói riêng đang là vấn đề cấp bách đặt ra Là một tỉnh vùng cao biên giới,

với một địa bàn nông thôn rộng lớn, nghèo nàn lạc hậu, kinh tế phát triểnchậm, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của đồng bào còn hết sức khókhăn, nhất là các xã vùng III Điều đáng chú ý là một trong những điều kiện

để phát triển kinh tế xã hội là hệ thống cơ sở hạ tầng, cả phục vụ sản xuất vàdân sinh ở đây đều vô cùng yếu kém Đây có thể coi là một nguyên nhân cơbản gây cản trở rất nhiều đến phát triển kinh tế xã hội ở vùng nông thôn miềnnúi nghèo nàn này

Thời gian qua, với chủ trương phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộcmiền núi theo các cụm xã và trung tâm cụm xã, điều kiện cho phát triển hệthống cơ sở hạ tầng có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận Song mặt khác tình trạng

đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng còn rất nhiều yếu kém: mức đầu

tư thấp, cơ cấu đầu tư không hợp lý lại yếu kém về trình độ quản lý và khaithác Nên vấn đề đặt ra cho tỉnh trong thời gian tới là cần phải nhanh chóngkhắc phục những yếu kém còn tồn tại trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đểkhai thông các điều kiện cho thúc đầy phát triển kinh tế xã hội ở địa bàn này

Trước thực tế đó, em quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La”.

2 - Đối tượng và giới hạn nghiên cứu của đề tài:

Trang 2

Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về tình hình đầu tư cho phát triển

hệ thống cơ sở hạ tầng ở các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La

3 - Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

Mục đích chủ yếu được xác định là: Thông qua nghiên cứu đề tài gópphần đánh giá tình hình và tìm ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu

để đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng ở địa bàn cụm xã trọng điểm của tỉnhSơn La có hiệu quả hơn Với mục đích trên, đề tài cần phải giải quyết nhữngnhiệm vụ sau:

- Khái quát những nhận thức về cơ sở hạ tầng và vai trò của nó với pháttriển kinh tế xã hội ở địa bàn nông thôn miền núi

- Làm rõ thực trạng về đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng ở địa bàncụm xã trọng điểm nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung

- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảđầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn những cụm xã trọng điểmnày

4 Kết cấu của đề tài:

Với mục đích và nhiệm vụ đặt ra, ngoài lời mở đầu, kết luận và danhmục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm 3 chương:

Chương I: Một số vấn đề cơ bản về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tạicác cụm xã trọng điểm ở khu vực miền núi vùng cao

Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xãtrọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 1996-2001

Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đầu tưvào phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơnla

Trang 3

Chương I

Một số vấn đề cơ bản về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã

trọng điểm ở khu vực miền núi vùng cao

I- Lý luận chung về đầu tư :

1 Khái niệm và bản chất của đầu tư phát triển :

Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt độngnào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồnlực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó

Nguồn lực đó có thể là tiền , tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trítuệ

Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm tài sản tài chính ( tiền), tài sảnvật chất (nhà máy, ), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn) và nguồnnhân lực có đủ điều kiện để làm việc có năng suất trong nền kinh tế xã hội.Trong những kết quả này, những tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trítuệ và nguồn nhân lực tăng thêm đó có vai trò đặc biệt quan trọng nó đem lạilợi ích không chỉ cho cá nhân người đầu tư mà cho cả nền kinh tế

Trong nền kinh tế hoạt động đầu tư gồm 3 loại:

- Đầu tư tài chính: đây là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra chovay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi xuất định trước hoặc lãi xuấttuỳ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành

Đặc điểm của đầu tư tài chính là không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế

mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức cá nhân đầu tư Vốn bỏ rađầu tư được lưu chuyển dễ dàng khi cần có thể rút ra nhanh chóng điều nàykhuyến khích người có tiền bỏ ra đầu tư Người đầu tư có thể đầu tư vàonhiều nơi và mỗi nơi có thể một ít tiền để phân tán rủi ro

Trang 4

- Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để muahàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giákhi mua và khi bán.

Đặc điểm của loại đầu tư này làm tăng giá trị tài sản tài chính của ngườiđầu tư trong quá trình mua đi bán lại ở đây chỉ có sự chuyển giao quyền sởhữu hàng hóa giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với kháchhàng của họ mà không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế Thời gian thực hiệnđầu tư và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn Tínhchất bất định trong đầu tư không cao đễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chínhxác cao

- Đầu tư phát triển : là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiệnvật, là quá trình chi dùng vốn nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuấtkinh doanh, dịch vụ đời sống, tạo ra những tài sản mới và năng lực sản xuấtmới cũng như việc duy trì những tiềm lực sẵn có của nền kinh tế

Xem xét lại 3 loại đầu tư trên thì chỉ có đầu tư phát triển là quan trọngnhất vì nó tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế và có thể duy trì tiềm lực hoạtđộng của những tài sản sẵn có của nền kinh tế Do đó để phát triển và tăngtrưởng kinh tế thì chỉ có hoạt động đầu tư phát triển còn 2 loại hoạt động đầu

tư trên thì có tác dụng hỗ trợ cho đầu tư phát triển: hoạt động đầu tư thươngmại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư pháttriển tạo ra, còn hoạt động đầu tư tài chính là nguồn cung cấp vốn quan trọngcho đầu tư phát triển

Như vậy, ta có thể định nghĩa về đầu tư phát triển như sau:

Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn

lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng sửa chữa nhà cửa vàcấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồidưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với

sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ

sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội, tạo việc làm vànâng cao đời sống của mọi thành viên

Trang 5

Tóm lại, muốn một đất nước, một vùng, một địa phương tăng trưởng vàphát triển thì cần phải quan tâm đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển Trongphạm vi đề tài này do vấn đề quan tâm là đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hộicác vùng cụm xã thuộc miền núi vùng cao Cho nên ta chỉ xem xét đến phạmtrù đầu tư phát triển.

2 Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển:

Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm cơ bản sau:

- Trong đầu tư phát triển thì tiền vốn, vật tư lao động cần thiết cho cáccông trình đầu tư thường rất lớn và nằm khê đọng trong suốt quá trình thựchiện đầu tư

- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quảcủa nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biếnđộng xảy ra

- Thời gian cần hoạt động có thể thu hồi vốn đã bỏ ra đối với các cơ sở vậtchất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng và

do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu

tố không ổn định về về tự nhiên, xã hội chính trị kinh tế

- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dàinhiều năm, có khi hàng trăm năm, có khi tồn tại vĩnh viễn Điều này nói lêngiá trị lớn lao của các thành quả đầu tư phát triển

- Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình sẽ hoạt độngngay tại nơi nó được tạo dựng nên Do đó các điều kiện địa hình tại đó cóảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác dụng sau này củacác kết quả đầu tư

- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnhhưởng nhiều của yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý củakhông gian

Với những đặc điểm cơ bản như vậy đặt ra cho quá trình quản lý hoạtđộng đầu tư phát triển phải chú ý quản lý về vốn, vật tư, lao động và thời gian

Trang 6

như thế nào và cần phải làm gì để khắc phục một số rủi ro trong quá trình tiếnhành hoạt động đầu tư.

3 Vai trò của hoạt động đầu tư với phát triển kinh tế - xã hội:

Từ việc tìm hiểu bản chất của đầu tư phát triển ta thấy đầu tư phát triển

là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá cho sự tăng trưởng.Vai trò của nó tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế xã hội nhưng trongkhuôn khổ của đề tài này xin được đề cập đến vai trò của đầu tư phát triển đốivới sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung, của địa phương và vùnglãnh thổ nói riêng

Trước hết, đầu tư là yếu tố quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế Bởi

vì bản chất của đầu tư phát triển là tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế cho nênkhi nó tham gia vào quá trình sản xuất thì tạo ra các sản phẩm Nên đứngtrên toàn bộ nền kinh tế thì đầu tư phát triển tác động trực tiếp và gián tiếpđến sản lượng của nền kinh tế Mà sản lượng của nền kinh tế lại chính làthước đo của sự tăng trưởng Do đó có thể nói: đầu tư phát triển là “cái híchban đầu” tạo đà cho sự tăng trưởng và thúc đẩy phát triển kinh tế

Thứ hai, đầu tư có vai trò thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế (gồm cơcấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu kinh tế trung ương và địa phương, cơ cấuthành phần kinh tế ) Trong vấn đề này, cơ cấu đầu tư làm ảnh hưởng đến

cơ cấu kinh tế, nếu biết cách điều hoà các hoạt động đầu tư thì đây sẽ là mộtcông cụ hữu hiệu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luậtphát triển và chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ

+ Trong cơ cấu ngành đầu tư ảnh hưởng đến số lượng ngành và tỷ trọngphát triển của ngành, góp phần phát huy nội lực của mỗi ngành, nên trên conđường tất yếu để có tốc độ tăng trưởng nhanh là bằng cách tăng cường đầu tưtạo sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ

Thứ ba, đầu tư góp phần tạo ra sự cân đối trên phạm vi toàn nền kinh tếgiữa các ngành, các vùng lãnh thổ Điều này thể hiện rõ nhất trong việc tạolập sự phát triển cân đối giữa các vùng nông thôn và thành thị, những vùngkém phát triển và phát triển Đầu tư vào những vùng kém phát triển sẽ giúp

Trang 7

cho các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, giúp phát huy tối

đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, vị thế kinh tế , chính trị giúp vùng

có khả năng phát triển Tăng cường đầu tư cho những vùng khó khăn, nhữngvùng nông thôn kém phát triển sẽ giúp đẩy nhanh quá trình đô thị hoá nôngthôn, thu hút lao động tạo việc làm và nâng cao dần thu nhập cho nhân dân,giảm dần khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, thúc đẩy kinh

tế xã hội ở những vùng nghèo, ít lợi thế phát triển nhất

Ngoài ra, đầu tư phát triển còn góp phần ổn định kinh tế - văn hoá - xã hộicho nhân dân, đảm bảo cho kinh tế phát triển bền vững

Vậy đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định tốc độphát triển kinh tế của đất nước, của vùng, của địa phương Đầu tư phát triểnđúng hướng và có hiệu quả sẽ tạo ra năng lực mới làm chuyển dịch cơ cấucác thành phần kinh tế, các vùng, các lãnh thổ theo hướng CNH-HĐH đấtnước

4 Vốn và nguồn vốn đầu tư:

Đầu tư phát triển có vai trò vô cùng quan trọng nhưng để tiến hành cáchoạt động đầu tư thì cần thiết phải có vốn đầu tư Theo nguồn hình thành vàmục tiêu sử dụng thì: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sảnxuất, kinh doanh dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ nước ngoàicũng như từ các nguồn khác được đưa vào sử dụngtrong quá trình tái sản xuất

mở rộng của xã hội, nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nềnsản xuất xã hội

Nội dung của vốn đầu tư bao gồm:

- Chi phí để tạo ra các tài sản cố định mới hoặc bảo dưỡng sự hoạt độngcủa các tài sản cố định có sẵn

- Chí phí để tạo ra hoặc tăng thêm các tài sản lưu động

-Nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn huy động từ trong nước và vốn huyđộng từ nước ngoài Hai nguồn này có vai trò quan trọng đối với thúc đẩyphát triển kinh tế của một đất nước, vốn trong nước là chủ yếu, vốn nước

Trang 8

ngoài là quan trọng Với một nước đang phát triển như nước ta thì giải quyếttốt mối quan hệ giữa hai nguồn vốn này là cần thiết Nguồn vốn trong nướcbảo đảm cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách liên tục, bền vững

và không phụ thuộc Nguồn vốn nước ngoài là nguồn vốn quan trọng bù đắp

và bổ sung cùng vốn trong nước để tạo bước đà phát triển mạnh

* Nguồn vốn trong nước bao gồm:

+ Vốn ngân sách Nhà nước : hiện nay gồm có hai loại chính là vốn đầu

tư trực tiếp từ ngân sách và vốn đầu tư qua tín dụng đầu tư của Nhà nước Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ ngân sách Nhà nước chủ yếu được sử dụngcho xây dựng các công trình văn hoá xã hội, các công trình công cộng không

có khả năng hay chậm thu hồi vốn, được dùng để đầu tư cho những vùng lãnhthổ nghèo nàn khó khăn như vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới Nguồnnày đặc biệt có vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cả hạtầng kinh tế và hạ tầng xã hội Còn vốn đầu tư của Nhà nước qua tín dụngđược thực hiện cho các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng thu hồivốn

+ Vốn của các doanh nghiệp: vốn này được trích từ lợi nhuận để lại, vốnkhấu hao, vốn tự có của doanh nghiệp, vốn vay, vốn liên doanh liên kết vớicác tổ chức trong và ngoài nước, Vốn này phục vụu cho sản xuất kinhdoanh của chính doanh nghiệp đó

+ Vốn huy động của dân cư: vốn này có thể là tiền gửi tiết kiệm quangân hàng hay tiền, sức người, nguyên vật liệu được nhân dân đóng góp khitham gia các dự án có lợi ích thiết thực cho nhân dân Những khoản đóng gópnày có vai trò khá quan trọng và cần thiết đối với các dự án xây dựng côngtrình phúc lợi công cộng, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nhất là ở địa bànnông thôn, vốn này đặc biệt tỏ ra có hiệu quả khi mà người dân nhận thứcđược lợi ích kinh tế của họ gắn với các loại dự án đó

* Vốn huy động từ nước ngoài: gồm vốn đầu tư trực tiếp và đầu tư giántiếp

+ Vốn đầu tư gián tiếp: đây là nguồn vốn đầu tư dưới dạng viện trợ( hoàn lại và không hoàn lại) hoặc cho vay ( cho vay ưu đãi và cho vay thông

Trang 9

thường) của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ.Vốn đầu tư gián tiếp thường lớn nên có tác dụng mạnh và nhanh đối với việcgiải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của các nước nhậnđầu tư Tiếp nhận đầu tư gián tiếp thường gắn với sự trả giá về mặt chímh trị

và tình trạng nợ nần chồng chất nếu không thực hiện nghiêm ngặt chế độ trảnợ.Tuy nhiên, trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế ở cácvùng nông thôn thì vốn này nhất là vốn ODA (viện trợ phát triển không chínhthức của các nước công nghiệp phát triển) lại có vai trò khá quan trọng thôngqua việc hỗ trợ đầu tư qua các dự án phát triển nông - lâm - ngư nghiệp vàkinh tế nông thôn, các chương trình hỗ trợ cho các lĩnh vực xã hội Đặc biệt

là các khoản hỗ trợ hoàn lại trong ODA được sử dụng chủ yếu cho cácchương trình và dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như: giao thôngvận tải, thuỷ lợi, ytế, giáo dục đào tạo, cấp thoát nước

+ Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: là vốn của các doanh nghiệp và cánhân người nước ngoài đầu tư sang và họ trực tiếp tham gia quản lý quá trình

sử dụng và thu hồi vốn Với vốn đầu tư loại này nước nhận đầu tư có thể tiếpthu được kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanhcủa nước ngoài, giúp khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giúp sửdụng vốn có hiệu quả và nâng cao tốc độ phát triển kinh tế Nhưng vốn đầu tưnày thường không đủ lớn để giải quyết dứt điểm từng vấn đề kinh tế xã hộicủa đất nước lại tập trung mạnh ở các vùng đô thị, các vùng phát triển năngđộng còn các vùng nông thôn, vùng cao miền núi thì không đáng kể

5 Dự án và chu kỳ dự án:

Qua nghiên cứu khái niệm và đặc điểm của hoạt động đầu tư có thểkhẳng định lại rằng hoạt động đầu tư phát triển là việc bỏ một lượng vốn rấtlớn vào thực hiện một hoạt động nào đó trong một thời gian tương đối dài để

kỳ vọng có được lợi ích lớn hơn, trong quá trình thực hiện nó chịu sự tácđộng của nhiều yếu tố từ môi trường bên ngoài Mà hoạt động đầu tư lại làhoạt động cho tương lai, do đó bản thân hoạt động đầu tư này chứa đựng rấtnhiều yếu tố bất định, đó là những yếu tố làm cho hoạt động đầu tư thất bại,

Trang 10

làm xuất hiện rủi ro và không chắc chắn Vì vậy, để tiến hành một công cuộcđầu tư phải có sự chuẩn bị đầy đủ trên nhiều khía cạnh khác nhau, phải phântích một cách đầy đủ các thông tin về hoạt động sẽ được đầu tư, cả nhữngthông tin về quá khứ, hiện tại cũng như dự kiến tương lai Quá trình chuẩn bịnày chính là việc soạn thảo dự án đầu tư , sự thành công hay thất bại của mỗicông cuộc đầu tư sẽ được quyết định từ việc phân tích này chính xác haykhông Cho nên, để đảm bảo sự thành công cao nhất thì mọi công cuộc đầu tưđều phải được thực hiện theo dự án.

Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:

Xét về mặt hìmh thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bàymột cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch đểđạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tươnglai

Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụngvốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trongmột thời gian dài

Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu tư là công cụ thể hiện kế hoạchchi tiết của một công cuộc sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội,làm căn cứ cho việc ra các quyết định đầu tư và tài trợ Dự án là một hoạtđộng kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nóichung

Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động cụ thể cóliên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được những mục tiêu đãđịnh bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thôngqua việc sử dụng các nguồn lực xác định

Dự án đầu tư là một công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư, do đó nóphải chứa đựng bên trong nó các yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tư Nó phảiphản ánh các nhân tố cấu thành nên hoạt động đầu tư như: mục tiêu đầu tư là

gì, nguồn lực và cách thức để đạt được mục tiêu đó, các kết quả cụ thể phảiđạt được là gì Để thực hiện tốt các công cuộc đầu tư thì khi lập dự án phải trảlời tốt các câu hỏi này

Trang 11

Chu kỳ dự án đầu tư: là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án

phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án hoàn thànhchấm dứt hoạt động

Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư thường trải qua 3giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư.Nội dung các bước công việc ở mỗi giai đoạn của các dự án đầu tư khônggiống nhau tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư, vào tính chất tái sản xuất, đầu tưdài hạn hay ngắn hạn Nhưng một dự án đầu tư đầy đủ phải có các bước nhưtheo bảng 1

Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiếnhành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gôí đầu cho nhau, bổ sung chonhau nhằm nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiện cứu và tạođiều kiện tiến hành nghiên cứu ở các bước sau

Bảng 1: Các bước công việc của một dự án đầu tư

Chuẩn bị đầu tư Thực hiện đầu tư

Vận hành kếtquả đầu tư

Nghiêncứukhảthi(lậpdựán,LCKT

Đán

h giá

và quy

ết địn

h (thẩ

m địn

Hoàntất cácthủ tục

để triểnkhai

Thiết

kế vàlập dựtoán thicôngxây lắpcôngtrình

Thicôngxây lắpcôngtrình

Chạythử vànghiệmthu sửdụng

Sửdụngchưahếtcôngsuất

Sửdụngcôngsuất

ở mứccaonhấ

Côngsuấtgiảmdầnvàthanhlý

Trang 12

) dựán)

chiệnđầu

Trong 3 giai đoạn trên, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyếtđịnh sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giaiđoạn vận hành các kết quả đầu tư Cho nên công tác lập dự án là vô cùngquan trọng và phải thực hiện nghiêm túc Trong giai đoạn 2, thì vấn đề thờigian là quan trọng nhất, tình trạng ứ đọng và tổn thất vốn có nguy cơ diễn ramạnh trong giai đoạn này nên vấn đề quản lý quá trình thực hiện đầu tư này

có vai trò đặc biệt quan trọng, làm tốt giai đoạn này là điều kiện cần thiết đểgiai đoạn 3 hoạt động phát huy hiệu quả

Để quá trình soạn thảo các dự án đầu tư được tiến hành nghiêm túc và

có chất lượng, quá trình thực hiện dự án thuận lợi và có hiệu quả kinh tế xãhội cao Đòi hỏi phải làm tốt công tác tổ chức, phân công, giám sát các bộphận có liên quan trong quá trình thực hiện dự án, tức là phải làm tốt công tácquản lý dự án ở tất cả các mặt chất lượng, tiến độ, chi phí trong mỗi giai đoạn

dự án

II- Cơ sơ hạ tầng và vấn đề phát triển kinh tế - xã hội miền núi vùng cao:

1 Vài nét về việc xây dựng các trung tâm cụm xã :

1.1 Khái niệm và sự cần thiết phải hình thành các trung tâm cụm xã:

1.1.1 Khái niệm:

Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, việc đẩy mạnhphát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi vùng cao là một yêu cầu cấpbách Nhưng miền núi nhất là những vùng cao vùng sâu vùng xa thì điều kiệnphát triển lại vô cùng khó khăn Do đó, tìm một hướng đi đúng đắn cho pháttriển kinh tế miền núi không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội mà còn có

ý nghĩa về chính trị quốc phòng an ninh

Trang 13

* Miền núi: Đại bộ phận đất đai là núi cao dốc, có nơi rất dốcvà caonguyên, địa hình đa dạng phức tạpcó nhiều sông suối tạo thành độ chia cắtlớn, là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Tiêu thức xác định:

- Hai phần ba( 2/3 ) diện tích đất đai có độ dốc 250 trở lên (là rừng và đất)

- Kinh tế xã hội chậm phát triển so với đồng bằng

- Đất đai sản xuất vừa có ruộngnước vừa sản xuất trên đất dốc

- Đời sống có nhiều khó khăn , giao thông đi lại không thuận lợi nhưđồng bằng

- Cư dân là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số sống xen ghép hoặc chỉ cácdân tộc thiểu số sống xen ghép hay sống riêng từng dân tộc trên địa bànmiền núi

* Vùng cao: Đất đai đại bộ phận thuộc độ cao trên dưới 600m trở lên sovới mặt biển, cư dân sống trên đó chủ yếu là dân tộc thiểu số

Tiêu thức xác định:

- Hai phần ba( 2/3 ) diện tích đất đai thuộc độ cao trên dưới 600m trở lên

so với mặt biển

- Kinh tế xã hội chậm phát triển so với vùng thấp

- Sản xuất chủ yếu trên đất dốc, có nơi còn du canh du cư, phá rừng làmnương rẫy

- Đời sống có nhiều khó khăn , đường giao thông chưa phát triển, đi lại

có nhiều khó khăn so với vùng thấp, khí hậu khắc nghiệt, còn nhiều bệnhtật

- Cư dân chủ yếu là dân tộc thiểu số

Do yêu cầu khách quan về phát triển kinh tế xã hội tiểu vùng, khu vực vàgiao lưu văn hoá xã hội mà ở những khu vực miền núi, vùng cao này đã dầnhình thành các tụ điểm thu hút dân cư Sự xuất hiện các tụ điểm thu hút dân

cư này đã vạch ra cho quá trình thúc đẩy kinh tế - chính trị -xã hội một hướng

đi để phát triển bền vững và hiệu quả, đó là phát triển theo các cụm xã (gồmnhiều xã tập trung thành một cụm xã ) Nhưng do hình thành một cách tựnhiên nên các cụm xã này không hoàn chỉnh về mặt xây dựng kết cấu hạ

Trang 14

tầng, các xã phát triển phân tán vụn vặt, kinh tế của vùng cụm xã chỉ có thểphát triển một cách manh mún nhỏ bé và lạc hậu Nếu muốn thúc đẩy kinh tế

ở đây thì cần phải có kế hoạch quy hoạch lại, nhất là việc xây dựng hệ thống

cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh Mà để các cụm xã này phát triển toàn diện thì cầnphải có một khu động lực để thúc đẩy, tức là cần phải có một điểm kinh tếđóng vai trò là hạt nhân cho phát triển kinh tế vùng cụm - Khu động lực cầnthiết này chính là khu trung tâm cụm xã Đây sẽ là điểm khởi động kinh tếchính yếu của vùng cụm và có ảnh hưởng lan rộng đến các xã trong cụmcùng phát triển

Quyết định số 35/ TTg ngày 13 tháng 1 năm 1997của Thủ tướng Chínhphủ đã phê duyệt về việc xây dựng các trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao.Với mục tiêu:

- Huy động mọi nguồn lực tại chỗ, phối hợp lồng ghép các chương trìnhtrên địa bàn để xây dựng cơ sơ hạ tầng chủ yếu ở mỗi trung tâm cụm xã,nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miềnnúi, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng

- Thúc đẩy các hoạt động văn hoá xã hội trong tiểu vùng, tạo sự giao lưugiữa các bản làng và giữa các cụm xã với các đô thị để phát huy sức mạnhcộng đồng, quản lý mọi hoạt động kinh tế xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắcdân tộc, góp phần xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc và miền núi

( Trích : mục I - Quyết định 35/ TTg - ngày 13 tháng 1 năm 1997 )

Theo quyết định số 197/1999/QĐ- TTg ngày 13 táng 9 năm 1999 về quản

lý chương trình xây dựng trung tâm cụm xã miền núi vùng cao thì:

“ Trung tâm cụm xã miền núi vùng cao là điểm giao lưu kinh tế, sinh hoạt văn hoá của đồng bào các dân tộc trong vùng, là tiền đề phát triển thành các thị trấn, thị tứ khu vực miền núi,vùng đồng bào dân tộc.”

Như vậy, chủ trương của Đảng và Nhà nước là trong một cụm xã dân cưsinh sống thì tiến hành xây dựng một khu trung tâm, khu này là hạt nhân pháttriển chính của vùng cụm Sự ra đời của các trung tâm cụm xã sẽ tạo điềukiện thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở miền núi ; thu hút và phát triển các

Trang 15

thành phần kinh tế nhằm đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tiểuvùng Trung tâm cụm xã tạo tiền đề cho các đô thị (thị tứ) ra đời và phát triểnthực hiện đường lối xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc miền núi theohướng CNH-HĐH, từng bứơc giảm dần sự chênh lệch quá lớn giữa thành thị

và nông thôn

1.1.2 Những căn cứ pháp lý để xây dựng các trung tâm cụm xã miền núi:

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình xây dựng trung tâm cụm

xã miền núi vùng cao tại quyết định số 35/TTg ngày13/01/1997 Mục tiêucủa chương trình là xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu ở trung tâm cụm xã đểtạo động lực phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi nhằm gópphần đảm bảo an ninh quốc phòng, thúc đẩy các hoạt động văn hoá , xã hộitrong tiểu vùng

Để hỗ trợ cho chương trình, ngày 23 tháng 7 năm 1998 Thủ tướng chínhphủ ra Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg quy định về việc phê duyệt chươngtrình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghẻo trong giai đoạn 1998-2000.Ngày 31 tháng 7 năm 1998 ra Quyết định số 135/ 1998/QĐ- TTg về việc phêduyệt chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miềnnúi, vùng sâu, vùng xa

Ngày 30/09/1999 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số TTg về quản lý đầu tư và xây dựng trung tâm cụm xã theo cơ chế quản lý củachương trình 135 (Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khókhăn miền núi, vùng sâu, vùng xa) Đây thực chất là chương trình xây dựngtrung tâm cụm xã được vận hành theo cơ chế quản lý của dự án xây dựng cơ

197/1999/QĐ-sở hạ tầng Theo quyết định 197/1999/QĐ-TTg trong điều 2 đã quy định:

“Trước mắt ưu tiên xây dựng một số công trình như đường giao thông,trường học, phòng khám đa khoa, trạm khuyến nông, khuyến lâm, chợ, tạođiều kiện mặt bằng và tổ chức cho các thành phần dân cư đầu tư vốn xâydựng nhà ở, phát triển sản xuất, các ngành nghề dịch vụ ”

Từ năm 2001, các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở các xã vùng dântộc miền núi được thực hiện theo Quyết định số 138/ 2000/ QĐ- TTg ngày 29

Trang 16

tháng 11 năm 2000 của Thủ tướng chính phủ về việc hợp nhất dự án địnhcanh định cư, dự án hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn, chương trình xây dựngcác trung tâm cụm xã miền núi vùng cao vào chương trình phát triển kinh tế

xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa

Như vậy, trong giai đoạn này chủ trương xây dựng và phát triển các trungtâm cụm xã miền núi đã được tập trung đẩy mạnh, được hướng dẫn và quản

lý chặt chẽ

1.2 Chức năng, nhiệm vụ của các trung tâm cụm xã:

* Trung tâm cụm xã làm chức năng của một tụ điểm kinh tế, kỹ thuật,dịch vụ thương mại, văn hoá, y tế, giáo dục của tiểu vùng, là nơi dung nạp vàthu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài tiểu vùng đến với trung tâm

* Trung tâm cụm xã làm tiền đề cho việc đô thị hoá nông thôn, đưa khoahọc, kỹ thuật và văn hoá đến với nông thôn, từng bước hình thành thị tứ, thịtrấn ở các vùng nông thôn

* Trung tâm cụm xã không phải là đơn vị hành chính cấp trên của xãnhưng được vận hành dưới sự chỉ đạo của huyện, của các ngành về cácchương trình kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng

* Trung tâm cụm xã là nơi tổ chức hướng dẫn, tập huấn chuyển giao côngnghệ khoa học kỹ thuật, khuyến nông-lâm-ngư, cung ứng vật tư nông nghiệp,

tổ chức phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, chỉđạo nông dân phát triển sản xuất, bảo vệ rừng và môi trường

* Trung tâm cụm xã gắn liền với văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội, nâng caodân trí cho dân cư trong vùng, xây dựng các điểm dịch vụ y tế, khám chữabệnh, trung tâm kế hoach hoá gia đình, văn hoá, thể thao, đào tạo giáo dục,phát thanh truyền hình, tổ chức lễ hội văn hoá vui chơi

1.3 Cơ sở để hình thành các trung tâm cụm xã ở miền núi vùng cao :

Với chức năng và nhiệm vụ như đã đề cập để đảm bảo cho các trung tâmcụm xã có thể phát huy tốt chức năng và nhiệm vụ của mình, khi xây dựngcác trung tâm cụm xã phải lưu ý:

Trang 17

+ Tuỳ thuộc vào đặc điểm tự nhiên, dân sinh kinh tế , tập quán sản xuất,tâm lý xã hội ( chủ yếu là các dân tộc có mối quan hệ xã hội gần nhau) gầngiống nhau gồm một số xã tiếp giáp nhau để hình thành cụm xã( từ 3-5 xã)tuỳ theo diện tích tự nhiên, số dân, đường xá thuận lợi cho giao lưu kinh tế,văn hoá, xã hội.

+ Trung tâm cụm xã được lựa chọn là một địa điểm thuận lợi nhất như đầunút các điểm giao thông( ngã ba, ngã tư ) gần dân cư của một xã, khoảngcách từ trung tâm cụm xã này đến các xã trong tiểu vùng không quá xa, đảmbảo đi lại thuận lợi nhất

+ Căn cứ vào các điều kiện cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông thuận lợikhông bị khống chế bởi phạm vi hành chính trong huyện hay ngoài huyện,miễn là thuận lợi, là điểm phát triển nhất so với các vùng khác trong phạm vịcụm xã

Xây dựng trung tâm cụm xã đặc biệt chú ý đến các mối quan hệ giữa trungtâm cụm xã với các xã trong cụm, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội trêntoàn địa bàn Trung tâm cụm xã là hạt nhân, là động lực thúc đẩy kinh tế -văn hoá đời sống của bản làng ở trong cụm phát triển, còn các bản làng trongcụm xã phát triển thúc đẩy mọi hoạt động của trung tâm diễn ra sôi nổi, nhộnnhịp phong phú, sầm uất và hấp dẫn làm cho trung tâm nhanh chóng trởthành thị tứ, thị trấn giữ được vai trò trung tâm kinh tế- văn hoá- xã hội củatiểu vùng

1.4 Vai trò của việc xây dựng các trung tâm cụm xã :

Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở nước ta là mộtđòi hỏi cấp bách song là một sự nghiệp hết sức khó khăn Bởi lẽ, bên cạnhnhững đô thị sầm uất, phát triển nhanh mạnh nổi bật thì những vùng nôngthôn của nước ta, nhất là nông thôn miền núi còn quá nghèo nàn và lạc hậu Việc phát triển toàn diện nông thôn có ý nghĩa to lớn đối với phát triểnkinh tế của cả nước Kinh nghiệm thế giới cho thấy nếu không chú ý pháttriển nông thôn thì không một nước nào có thể phát triển bền vững với tốc độcao một cách lâu dài đựoc Việc tập trung xây dựng phát triển các trung tâm

Trang 18

cụm xã ở miền núi chính là một giải pháp cơ bản để phát triển toàn diệnnông thôn miền núi nhằm thực hiện thành công sự nghiệp CNH- HĐH đấtnước

Vậy tại sao có thể khẳng định như vậy? Đó là do trung tâm cụm xã có vaitrò vô cùng quan trọng trong việc đẩy mạnh CNH- HĐH nông thôn nhất là ởđịa bàn miền núi , tạo điều kiện cho sự nghiệp CNH-HĐH đi đến thành công

Cụ thể:

j Tạo điều kiện cho người dân tham gia vào đời sống kinh tế xã hội,

tăng cường năng lực vươn lên thoát đói nghèo.

Hãy thử tưởng tượng xem, các hộ gia đình ở các xã miền núi, vùng sâu,vùng xa ( chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số ) trình độ dân trí thấp,điều kiện kinh tế khó khăn, sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi vớíphương thức canh tác truyền thống lạc hậu, cái họ làm ra không đủ đáp ứngbữa ăn hàng ngày Tuy có trao đổi hàng hoá nhưng rất ít, rất hãn hữu, sự muabán chỉ nhằm cải thiện những nhu cầu cần thiết trong sinh hoạt đời sống chứkhông nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời Ví dụ: họ có thể bán con gà, đấuthóc , để mua lít dầu, mảnh vải, cân muối Việc mua bán diễn ra đơn thuầnngay tại chợ làng ốm đau bệnh tật thì cầu cứu thần linh không thì đành bấtlực, tiến bộ hơn họ đi chữa bệnh thì trạm xá ở xa, không có hoặc có nhưngthiếu thốn phương tiện Con cái họ sinh ra lại xa vào cái vòng luẩn quẩn củađói nghèo, dốt nát không có điều kiện về kinh tế và tài chính để đến trườnghoặc có điều kiện nhưng lại ở xa trường lớp

Họ muốn một cuộc sống khá hơn? trung tâm cụm xã với đầy đủ cơ sở hạtầng ( ít nhất là thiết yếu ) là điều kiện để họ tham gia vào đời sống kinh tế -

xã hội , con cái họ được đi học và mở mang kiến thức, có các cơ sở khuyếnnông - khuyến lâm giúp họ cải tạo điều kiện sản xuất, phương thức canh tác,tăng gia phát triển sản xuất vươn lên thoát đói nghèo

Trang 19

k Tạo ra cụm kinh tế - xã hội - văn hoá để đồng bào các dân tộc thuộc

tiểu vùng giao lưu trao đổi hàng hoá, từng bước xoá dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.

Tác dụng tích cực này được phản ánh rõ nét qua sự hình thành các trungtâm cụm xã Tức là, vì mục đích trao đổi hàng hoá mà trung tâm cụm xã rađời với: điện , đường, trường, trạm , được xây dựng tại các trung tâm cụm

xã và nhờ thế kinh tế hàng hoá có điều kiện phát triển hơn , người dân ở đây

có nhiều cơ hội để mở mang giao tiếp, trao đổi với thành thị và các vùng kinh

tế khác không chỉ về kinh tế , kinh nghiệm, công nghệ mới cho sản xuất mà

cả về văn hoá lối sống Bởi vậy người dân dễ dàng hơn khi dứt bỏ cuộc sống,phong tục lạc hậu để tiếp cận hoà nhập với cuộc sống văn minh hiện đại, họ ýthức được vấn đề đẩy mạnh sản xuất, làm kinh tế buôn bán và trao đổi hànghoá, kinh tế hàng hoá phát triển sẽ đưa kinh tế tiểu vùng phát triển và đờisống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện, tiểu vùng có cơ hội khắcphục phần nào tình trạng tụt hậu ngày càng xa so với các vùng đô thị khác

l Là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển

dịch cơ cấu kinh tế ở vùng dân tộc.

Như đã đề cập trung tâm cụm xã suy cho cùng là một hình thức đô thịđược xây dựng ở khu vực miền núi vùng cao, nên khi được xây dựng và pháttriển nó trở thành một trọng điểm kinh tế có tác dụng tạo động lực lan toả chophát triển kinh tế các xã lân cận Trung tâm cụm xã chính là phương tiện đểthực hiện đô thị hoá các vùng nông thôn miền núi, nhằm thúc đẩy kinh tế ởđây phát triển

Mà phát triển kinh tế có nghĩa là phải làm thay đổi được cơ cấu kinh tế

Cụ thể ở đây là thay đổi cơ cấu ngành sản xuất, cơ cấu vùng lãnh thổ ở nhữngnông thôn nghèo nàn Xây dựng một trung tâm cụm xã là xây dựng một đôthị mới có điều kiện đầy đủ nhất để phát triển sản xuất, xây dựng đời sốngdân cư Cho nên có thể nói trung tâm cụm xã làm thay đổi cơ cấu ngành từsản xuất nông nghiệp thuần tuý nghèo nàn chuyển dần sang cân đối pháttriển thêm ngành công nghiệp và dịch vụ, bước đầu là công nghiệp dịch vụ ở

Trang 20

nông thôn, đưa dần các ứng dụng của công nghiệp vào phát triển nôngnghiệp Cung ứng thêm các hoạt động dịch vụ phục vụ cho nhân dân, nhằmnâng cao dân trí để họ tiếp cận dần với lối sống công nghiệp.

Như vậy, dù với hình thức một đô thị sơ khai nhưng đó là cần thiết để bắtđầu một bước phát triển tiến bộ về kinh tế - văn hoá - xã hội ở những vùngnông thôn này

m Xây dựng các trung tâm cụm xã còn phát huy được tiềm lực kinh tế

tại chỗ, thu hút mọi tiềm lực sẵn có để mở mang phát triển các ngành nghề kinh tế Tận dụng mọi nguồn lực sẵn có tại cụm xã, trung tậm cụm xã

được xây dựng sẽ tạo điều kiện để các ngành nghề phát triển nhất là cácngành nghề truyền thống như : thêu thùa , dệt vải hay tận dụng được nguồnlao động Thực hiện ổn định phát triển sản xuất, hạn chế tình trạng du canh

du cư , phá rừng làm rẫy, huỷ hoại môi truờng sinh thái và tài nguyên Thuậnlợi cho việc phổ biến các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và phát triểnkinh tế (như kinh tế trang trai, kinh tế vườn rừng) kinh tế hàng hoá có điềukiện phát triển, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng nông thôn mới ởvùng miền núi dân tộc

n Đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước, giữ gìn và phát huy bản

sắc văn hoá dân tộc

- Phát triển trung tâm cụm xã góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng cácvùng biên giới của đất nước

Đa số địa bàn trung tâm cụm xã là vùng miền núi biên giới nhiều dân tộc,

có vị trí sung yếu về an ninh quốc phòng nên đây là vùng mà kẻ thù thườnghay lợi dụng để chống phá nhất Do đó xây dựng thành các trung tâm cụm xãgiúp đảm bảo đời sống vật chất văn hoá tinh thần cho đồng bào, giúp độngbào ổn định sản xuất, nâng cao trình độ nhận thứcvà sự hiểu biết và tin vàoĐảng vào chế độ, nhất là chú ý xây dựng trung tâm cụm xã ở các vùng tiếpgiáp biên giới vững mạnh toàn diện, là cị trí kinh tế, chính trị làm cơ sở nềntảng cho bảo đảm an ninh, toàn vẹn lãnh thổ khu vực giáp danh biên giới

Trang 21

- Phát triển trung tâm cụm xã góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc vănhoá dân tộc

Xây dựng trung tâm cụm xã sẽ làm cho đời sống vật chất, văn hoá, tinhthần của nhân dân vùng cụm xã có điều kiện tăng lên Khi đời sống văn hoátinh thần được cải thiện, mặt bằng dân trí và nguồn nhân lực được nâng lênmột bước thì bản sắc văn hoá của các dân tộc sẽ có điều kiện được phát huy,điều kiện sống của mỗi dân tộc được cải thiện, bình đẳng giữa các dân tộcđược thực hiện toàn diện hơn cả về chính trị kinh tế văn hoá; vị trí của từngdân tộc trong cộng đồng sẽ ngày được phát huy

o Ngoài ra, xây dựng trung tâm cụm xã còn tạo điều kiện thuận lợi

cho việc chỉ đạo, quản lý của tỉnh huyện và trung ương với các vùng cụm

xã sát sao kịp thời Thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ

tầng thiết yếu về kinh tế, xã hội do tập trung được nguồn vốn Đưa nhanh tiến

bộ khoa học kỹ thuật, các hoạt động thông tin về kinh tế - văn hoá - xã hội vàchính trị đến gần nơi các dân tộc đang cư trú Tạo điều kiện thực hiện đườnglối CNH-HĐH của Đảng, nhằm củng cố và nâng cao lòng tin của đồng bàocác dân tộc với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Tăng cườngđoàn kết các dân tộc anh em

2 Cơ sở hạ tầng với phát triển kinh tế xã hội :

2.1.Khái niệm về cơ sở hạ tầng:

Nền tảng kinh tế, bao gồm toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội phù hợpvới một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, trong quan hệvới kiến trúc thượng tầng chính trị, tư tưởng , xây dựng trên những nền tảng

đó Đây được gọi là hệ thống cơ sở hạ tầng Vậy:

Cơ sở hạ tầng là một hệ thống các công trình vật chất, kỹ thuật được tổ chức thành các đơn vị sản xuất và dịch vụ, các công trình sự nghiệp có chức năng đảm bảo các luồng thông tin, các luồng vật chất, nhằm phục vụ nhu cầu có tính xã hội của sản xuất và đời sống dân cư.

Trang 22

Theo cách hiểu này, ta thấy cơ sở hạ tầng chính là tổng thể các điều kiện

về cơ sở vật chất- kỹ thuật và kiến trúc được hình thành theomột kết cấu nhấtđịnh và đóng vai trò làm nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế, xã hộidiễn ra trên đó một cách bình thường

Toàn bộ cơ sở hạ tầng được chia theo lĩnh vực như :

- Cơ sở hạ tầng phục vụ kinh tế : giao thông , thông tin liên lạc

- Cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động xã hội: các cơ cở giáo dục, ytế, nghỉngơi

- Cơ sở hạ tầng phục vụ an ninh quốc phòng

Việc phân loại như trên chỉ mang tính tương đối, trên thực tế ít có loại kếtcấu hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục vụ hoạt động kinh tế mà không phục vụhoạt động xã hội và ngược lại Ngay hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ anninh quốc phòng cũng vậy, trừ những công trình chuyên dụng cho an ninhquốc phòng, nhiều cơ sở vẫn có thể phục vụ các hoạt động kinh tế xã hội.Hay có thể phân chia hệ thống cơ sở hạ tầng theo các ngành của nền kinh

tế như:

- Kết cấu hạ tầng nông nghiệp

- Kết cấu hạ tầng công nghiệp

- Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải

- Kết cấu hạ tầng trong hoạt động ytế, giáo dục, văn hóa,xã hội

- Kết cấu hạ tầng trong hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

Tuy vậy có thể chia cơ sở hạ tầng thành hai nhóm chủ yếu sau, gồm cơ sở

hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội

Trang 23

* Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: bao gồm các công trình và phương tiện là điều

kiện vật chất cho sản xuất và sinh hoạt của xã hội Đó là công trình vàphương tiện của hệ thống giao thông vậntải, bưu chính viễn thông, cung cấpđiện nước , chợ và các trung tâm buôn bán

* Cơ sở hạ tầng xã hội: bao gồm các công trình và phương tiện là điều

kiện để duy trì và phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện và đảm bảođời sống tinh thần cho các thành viên trong xã hội Đó là các công trình vàphương tiện của các cơ sở giáo dục đầo tạo, các cơ sở khám chữa bệnh, vănhoá văn nghệ, thể dục thể thao, các cơ sở đảm bảo an ninh xã hội

Các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật là hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếuphục vụ cho sản xuất và đời sống Đây là yếu tố mở đường, là động lực và làmột bộ phận cấu thành của phát triển kinh tế xã hội Còn các cơ sở hạ tầng xãhội là hệ thống cơ sở phục vụ dân sinh, phát triển văn hoá xã hội Đây là yếu

tố bổ sung cho phát triển kinh tế xã hội

2.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng trong phát triển kinh tế -xã hội :

Cơ sở hạ tầng gắn liền với mọi hoạt động của nền kinh tế - xã hội , đây làyếu tố cơ bản cho sự phát triển của mỗi quốc gia Nó vừa là nhân tố thúc đẩykinh tế xã hội phát triển vừa là nhân tố phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh

tế xã hội của quốc gia đó nên có thể nói rằng : cơ sở hạ tầng có vai trò vôcùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, nhất làcác nước đang phát triển

Một là: Cơ sở hạ tầng là yếu tố đảm bảo các điều kiện về vật chất cho hoạt động sản xuất dịch vụ.

Thực vậy bằng hệ thống các công trình vật chất kỹ thuật nó đảm bảo cho

cơ sở sản xuất và dịch vụ hoạt động được và hoạt động có hiệu quả

+ Giao thông : đây là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế nó không

những trực tiếp tham gia vào các quá trình kinh tế - xã hội mà còn có tácdụng mở đường, là khâu đột phá để thực hiện phân bố lại lực lượng sản xuất

xã hội Trong nền kinh tế thị trường, giao thông vừa tham gia tạo thị trường,

Trang 24

vừa là nhân tố quyết định mở mang giao lưu hàng hoá giữa các vùng, thiếugiao thông kinh tế hàng hoá không có cơ hội phát triển được.

+ Điện: Sự phát triển của hệ thống điện cũng có ý nghĩa rất quan trọng.

Bởi nó là cơ sở cho sự hình thành các xí nghiệp công nghiệp, nhất là trongquá trình CNH- HĐH nông thôn điều này càng khẳng định rõ: Điện vừa gópphần mở mang công nghiệp, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp, chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông thôn Điện còn thúc đẩy nhanh quá trình ứng dụngkhoa học công nghệ kỹ thuật trong sản xuất, còn là cơ sở cho sự ra đời vàphát triển nhanh chóng của nhiều ngành kinh tế xã hội khác như thông tinliên lạc, thương mại, du lịch văn hoá và góp phần cải thiện, nâng cao đờisống nhân dân

+ Hệ thống thủy lợi : Nước là một trong bốn điều kiện cơ bản để năng caonăng suất và chất lượng cây trồng , vật nuôi Phát triển hệ thống thủy lợi gắnliền với sản xuất nông nghiệp , nó luôn là biện pháp kỹ thuật hàng đầu và chiphối phần nhiều kết quả sản xuất nông nghiệp Đối với sản xuất nông nghiệphàng hoá, thủy lợi càng có vai trò quan trọng hơn Nên phát triển thủy lợi làquan trọng và không thể thiếu nhất là phục vụ cho CNH- HĐH nông nghiệp

và phát triển nông thôn

+ Cơ sở hạ tầng thương mại như chợ trung tâm giao dịch buôn bán, hệ

thống kho chứa, cửa hàng và thông tin, liên lạc ngày càng có vai trò quantrọng đối với kinh tế hàng hoá Nó là điều kiện cần để thực hiện trao đổi hànghoá

Như vậy, chỉ cần một trục trặc trong một khâu nhất định của một loại hoạtđộng do sự yếu kém của hệ thống kết cấu hạ tầng gây ra như cung cấp nănglượng, cấp thoát nước, giao thông thì lập tức sẽ gây sự cố cho hoạt độngcủa các cơ sở sản xuất và dịch vụ khác Ngược lại, một hệ thống cơ sở hạtầng đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất và lưu thông sảnphẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩmlàm cho các sản phẩm hàng hoá mang tính cạnh tranh hơn

Hai là: Cơ sở hạ tầng quyết định sự tăng trưởng và phát triển nhanh của các ngành các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ

Trang 25

Tăng trưởng kinh tế là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch

vụ mà nền kinh tế tạo ra, còn cơ sở hạ tầng lại là điều kiện vật chất cho sảnxuất tiến hành Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông,thông tin liên lạc là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế Lịch sử nhân loại

đã cho thấy, vận tải hàng hoá và đi lại bằng hệ thống giao thông đường sắtxuyên quốc gia, liên lạc thông tin bằng điện thoại và vô tuyến điện đã đánhdấu một bước nhảy vọt về trình độ kinh tế từ xã hội phong kiến sang xã hội

tư bản Rõ ràng điều kiện về cơ sở hạ tầng càng tốt, tính hữu ích trong việcthúc đẩy sản xuất càng cao, các ngành sẽ phát triển càng nhanh

Ba là: Cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho sử dụng tốt tiềm năng của đất nước

Đất đai, lao động, tài nguyên khó có thể phát huy hết lợi ích của mình khi

mà không có đầy đủ điều kiện để khai thác và sử dụng, cơ sở hạ tầng chính làchìa khoá để mở những tiềm năng đó Chẳng hạn như nước ta có nhiều tàinguyên khoáng sản nhưng nhiều nơi ta chưa có điều kiện khai thác được dokhó khăn về nguồn lực nhưng quan trọng đáng kể là vấn đề cơ sở hạ tầng của

ta ở những vùng này còn quá yếu kém, giao thông không thuận lợi Cơ sở hạtầng nói chung, giao thông vận tải nói riêng mà yếu kém là trở ngại lớn đếnviệc khai thác tài nguyên thiên nhiên

Bốn là: Tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội đồng đều giữa các vùng , sự phát triển rộng khắp theo vùng lãnh thổ làm giảm bớt sự khác biệt

về dân trí, mức sống giữa các vùng

Điều này được thể hiện rõ nhất giữa nông thôn và thành thị, giữa đồngbằng và miền núi, sự cách biệt về thu nhập, mức sống trình độ hiểu biết củadân cư các vùng này là do điều kiện cơ sơ hạ tầng Cơ sở hạ tầng được pháttriển và hiện đại sẽ tạo điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế, xã hội giữa nôngthôn và thành thị, giữa các vùng với nhau, kích thích kinh tế hàng hoá pháttriển đồng đều và phát triển ngay ở những vùng kém phát triển

Năm là : Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố để thu hút vốn đầu tư Các nhà đầu tư khi đầu tư vào một vùng nào đó thường quan tâm rất nhiều đến cơ sở hạ tầng

Trang 26

Đây là điều kiện cần thiết để hoạt động đầu tư của họ thực hiện có hiệuquả , nó chi phối phần lớn quá trình đầu tư và ảnh hưởng đến chi phí vốn đầu

tư Điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém không những gây khó khăn cho hoạtđộng đầu tư mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư

Sáu là: Tạo sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế

Cơ sở hạ tầng làm cho:

+ Cơ cấu ngành thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp vàdịch vụ, tỷ trọng phát triển nông nghiệp giảm dần Chỉ số về tỷ lệ giữa cácngành công nghiệp , nông nghiệp , dịch vụ phản ánh trình độ phát triển kinh

tế hàng hoá của một nước và cơ sở hạ tầng kỹ thuậtvà cơ sở hạ tầng xã hội làđiều kiện cho phát triển kinh tế hàng hoá

+ Cơ cấu vùng kinh tế: Do những đặc điểm kinh tế tự nhiên nên kinh tếgiữa các vùng phát triển không đồng đều, ở đô thị và các tỉnh đồng bằng cóphát triển kinh tế hàng hoá, nhưng ở các bản làng rẻo cao vẫn còn biểu hiệncủa kinh tế tự cấp, tự túc Điều kiện về cơ sở hạ tầng được trang bị nhất là vớivùng chậm phát triển sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá và đưa kinh tế hànghoá phát triển Làm thay đổi cơ cấu thành thị và nông thôn, tạo bước khởi đầudần biến các vùng nông thôn thành vùng đô thị sầm uất

Như vậy, cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệuquả hoạt động của từng đơn vị kinh tế cũng như của toàn bộ nền kinh tế quốcdân Sự phát triển của cơ sở hạ tầng sẽ là một trong những điều kiện vật chấtquan trọng cho sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội khác Chính vì thế sựphát triển của cơ sở hạ tầng là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình độphát triển của một quốc gia

Việc xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớncủa Nhà nước ,các nguồn khác có thể hỗ trợ thêm Nên vấn đề vốn cho pháttriển cơ sở hạ tầng rất nan giải, đây chính là trở ngại đáng kể ở các nước đang

phát triển Nhưng với nhận thức mới coi cơ sở hạ tầng không phải là nhân tố

đi sau, hệ quả của phát triển kinh tế - xã hội, mà là yếu tố mở đường, là bộ phận cấu thành của phát triển kinh tế - xã hội Cho nên, vấn đề đầu tư cho

phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ được quan tâm sát sao hơn, không chỉ có

Trang 27

sự quan tâm của Nhà nước mà có cả sự quan tâm của những người dân sinhsống trong cộng đồng, không chỉ quan tâm đến số lượng mà còn quan tâmđến cả chất lượng của các công trình Có thể nói, không có một hệ thống cơ

sở hạ tầng tốt sẽ không có phát triển kinh tế hàng hoá

2.3 Đặc điểm và nguyên tắc phát triển cơ sở hạ tầng :

Tính hệ thống và đồng bộ:

Là đặc trưng cơ bản của “nhánh” khác nhau trong quan hệ tổng thể Nếumột khâu nào đó trong hệ thống không được thiết kế, xây dựng sẽ ảnh hưởngđến vận hành toàn bộ, thậm chí gây ách tắc Nên khi phát triển hệ thống cơ sở

hạ tầng cần đảm bảo tính đồng bộ, hoàn chỉnh và thống nhất trong tất cả cáckhâu Ví dụ: hệ thống công trình thuỷ lợi không thể vận hành hiệu quả nếuthiếu hệ thống kênh mương, cống đập dẫn nước đến các khu vực cần tướinước hay hệ thống đường sắt không thể sử dụng tốt nếu thiếu đầu tư đồng bộ

từ đường, tàu, ga, hệ thống thông tin điều khiển

Tính hệ thống và đồng bộ không những chi phối toàn diện đến thiết kế,quy hoạch, đầu tư thiết bị các công trình cụ thể, mà còn liên quan đến cáchthức tổ chức quản lý, vận hành, kết hợp giữa quản lý theo ngành và theo lãnhthổ Yêu cầu này thể hiện rõ ở các loại kết cấu hạ tầng mang tính hệ thốngcao như hệ thống thuỷ lợi, bưu chính viễn thông

Tính đồng bộ còn được thể hiện trong từng khu vực để giải quyết toàn bộcác yêu cầu chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng

Có nghĩa là, xây dựng cơ sở hạ tầng phải đồng bộ mới phát huy hiệu quảtối đa, phải đi trước một bước và đón trước tương lai phát triển của vùng.Trong một khu vực các danh mục công trình của hệ thống cơ sở hạ tầng cũngnên được chú ý xây dựng đồng bộ để đảm bảo cho các công trình phát huyđược tối đa hiệu quả dây truyền của từng loại trong hệ thống Xây dựngđường giao thông có thể được tập trung trước nhưng sau đó trường học, trạmytế, điện, nước sinh hoạt cũng phải lần lượt được xây dựng để có thể phục

vụ mọi mặt cần thiết cho sinh sống và phát triển sản xuất của dân cư

Tính định hướng:

Trang 28

Đặc trưng này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau của vị trí hệ thốngkết cấu hạ tầng Đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, mở đường cho cáchoạt động kinh tế xã hội Đặc trưng này đòi hỏi, mỗi quốc gia phải có quyhoạch dài hạn, chiến lược phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng Cách làm chắp

vá, đến đâu hay đến đấy sẽ hạn chế hiệu quả của kết cấu hạ tầng, thậm chígây ách tắc, cản trở phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, làm đi làm lại nhiềulần, thường xuyên cải tạo nâng cấp làm cho vốn đầu tư phải bỏ ra nhiềunhưng hiệu quả sử dụng thấp Nên đòi hỏi phải gắn quy hoạch phát triển cơ

sở hạ tầng với quy hoạch phát triển lâu dài của từng vùng

Tuỳ vào mức độ phát triển và yêu cầu phát triển của từng vùng mà xâydựng những công trình hạ tầng phù hợp:

+ ở đô thị, cần ưu tiên xây dựng và phát triển các công trình đầu mối đểtạo ra khung sườn cho đô thị phát triển cân đối toàn diện Đối với các khu đôthị mới, trong các đô thị loại I và loại II, cần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầngtheo hướng hiện đại, đạt trình độ kỹ thuật tiên tiến Ngoài ra, với các đô thị,các khu trong đô thị còn lại tuỳ theo từng loại cơ sở hạ tầng có thể xây dựngđạt trình độ hiện đại hoặc trình độ thích hợp Trong xây dựng cơ sở hạ tầng

đô thị, thì cần chú trọng phát triển các mạng lưới các công trình cơ sở hạ tầngmôi trường, phối hợp chặt chẽ quy hoạch hệ thống cảng, giao thông vận tải

và mạng lưới điện giữa các tỉnh thành

+ ở khu vực nông thôn, do trình độ phát triển còn kém nên các hạ tầng cơ

sở được xây dựng chủ yếu là hạ tầng thiết yếu đáp ứng những nhu cầu cấpthiết nhất Các công trình hạ tầng không đòi hỏi trình độ hiện đại cao và quy

mô ở mức hợp lý

Tính chất dịch vụ và có tính cộng đồng cao:

Hầu hết các sản phẩm của ngành cơ sở hạ tầng là sản phẩm trung giancung cấp các dịch vụ để các ngành khác tạo ra sản phẩm cuối cùng Vì vậy,đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ sở hạ tầng rất phức tạp

Hơn nữa, nhiều loại cơ sở hạ tầng tiến hành sản xuất và dịch vụ là nhữnghàng hoá công cộng phục vụ chung cho nhiều ngành, nhiều người Cho nên,

Trang 29

cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa yêu cầu kinh doanh và phục vụmang tính phúc lợi

Đồng thời, xác định hệ thống cơ cấu các chủ thể tham gia sử dụng cơ sở

hạ tầng, hệ thống các chính sách và công cụ để xử lý quan hệ giữa hiệu quảkinh tế và hiệu quả xã hội Điều này đặc biệt quan trọng với những nước( tỉnh, huyện, vùng lãnh thổ) đang phát triển, thu nhập dân cư thấp và ngânsách hạn hẹp

III- Sự cần thiết phải đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã và trung tâm cụm xã ở các tỉnh miền núi vùng cao:

1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên, kinh tế , xã hội của các tỉnh miền núi, vùng cao:

Trong giai đoạn đổi mới vừa qua, được sự quan tâm giúp đỡ của Đảng vàNhà nước , cùng sự cố gắng vượt bậc của các dân tộc, bộ mặt kinh tế - xã hội

ở các tỉnh miền núi đã có những bước tiến bộ đáng kể Song do nhiều nguyênnhân, đây vẫn là vùng lãnh thổ chậm phát triển nhất so với cả nước

Miền núi nước ta chiếm khoảng 2/3 diện tích tự nhiên của cả nước, vớidân số gần 20 triệu người (chiếm 26 % dân số cả nước ) Trong đó, gần 10triệu người là dân tộc thiểu số, chủ yếu sống phân tán ở các vùng núi Trình

độ dân trí thấp, điều kiện sống khó khăn

Là vùng có địa hình, chia cắt phức tạp nên điều kiện đi lại của đồng bàogặp nhiều khó khăn, địa bàn phát triển dân cư phân tán, khó tập trung

Là vùng có nhiều tài nguyên thiên nhiên, trữ lượng khá nhưng đa số ởnhững địa bàn khó khai thác hoặc có thể khai thác nhưng chưa có điều kiện

về vốn, công nghệ, vật tư Hiện nay do tình trạng du canh du cư, chặt phárừng làm rẫy phổ biến làm cho đời sống không ổn định, tài nguyên thiênnhiên bị khai thác không có định hướng làm cạn kiệt, môi trường sinh thái bịphá vỡ có nơi bị huỷ hoại nghiêm trọng

Đa số các tỉnh đều có các huyện xã tiếp giáp biên giới nên đây là địa bàngiữ vị trí chiến lược cả về chính trị kinh tế và an ninh quốc phòng

Trang 30

Nền kinh tế ở đây phổ biến là sản xuất nhỏ, thiên về nông nghiệp, tự cung

tự cấp mang nặng dấu ấn tự nhiên, với kỹ thuật canh tác còn lạc hậu Trongnhững vùng thôn bản, vùng sâu, vùng xa phương thức sản xuất tự sản tự tiêuvẫn là chủ yếu ở những vùng thấp, ven các trục giao thông, ven thị xã, thịtrấn, kinh tế hàng hoá mới chỉ nhen nhúm ở bước khởi đầu

Tuy nhiên, trong những năm qua, kinh tế vùng đã được chú trọng pháttriển cho nên kinh tế - xã hội bình quân toàn khu vực có bước phát triển khá

và tăng trưởng bình quân giai đoạn 1991-1995 là 6-7 % (nông nghiệp 3-4%;công nghiệp 8-10%; dịch vụ 10-11% - Số liệu của Uỷ ban dân tộc và miềnnúi ) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm

Cơ sở hạ tầng tuy đã được chú ý đầu tư nhưng vẫn còn trong tình trạngthấp kém và phát triển chậm, phần lớn mới chỉ chú trọng đầu tư cho cơ sở hạtầng ở những vùng đã phát triển Theo số liệu của Uỷ ban dân tộc và miềnnúi, hiện nay cả nước có 1700 xã đặc biệt khó khăn, trong đó, 1160 xã (chiếm11% trong tổng số 10545 xã hiện có cả nước) thiếu cơ sở hạ tầng như đườnggiao thông đến xã, điện thắp sáng, nước sinh hoạt, 760 xã chưa có chợ hoặcchợ liên xã

Tình trạng cơ sở hạ tầng thấp kém cũng là nguyên nhân cơ bản kìm hãm

sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng

Tuy nhiên, trong nhiều năm qua nhờ tác động của các chủ trương chínhsách, vùng đồng bào dân tộc đã có những bước tiến bộ đáng kể và đã hìnhthành 3 loại hình khu vực có trình độ phát triển khác nhau ngay trên địa bàntừng tỉnh, huyện, trong đó khu vực II và III cần được quan tâm thúc đẩy để có

đủ khả năng phát triển kinh tế xã hội

Khu vực I- Khu vực bước đầu phát triển: Tại đây cơ sở hạ tầng như

đường giao thông, hệ thống điện, trường học, bệnh xá, chợ đã hình thành vàđáp ứng nhu cầu cơ bản của đồng bào, đã hình thành định canh, định cư, đờisống tương đối ổn định, kinh tế hàng hoá bước đầu phát triển, có mức thunhập bình quân đầu người bằng mức thu nhập bình quân cả nước

Khu vực II - Khu vực tạm ổn: Một bộ phận dân cư đã định canh định cư

nhưng chưa vững chắc, sản xuất tự túc tự cấp là chủ yếu, sản xuất hàng hoá

Trang 31

còn ít, các cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và chưa đồng bộ và chưa đáp ứngđược nhu cầu thiết yếu của dân Khu vực này cần nỗ lực thúc đẩy phát triểnnếu không sẽ có nguy cơ tụt xuống khu vực III.

Khu vực III- Khu vực khó khăn: nằm ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên

giới tập trung 90% đồng bào dân tộc thiểu số, có nhiều dân tộc ít người sinhsống Khu vực này tài nguyên cạn kiệt, giao thông đi lại khó khăn, đời sốngđói nghèo, dân trí thấp kém còn nhiều người mù chữ, sản xuất mang tính tựnhiên, đây là địa bàn du canh du cư chủ yếu và có số dân nghèo cao nhất cảnước

2 Sự cần thiết phải đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng tại các trung tâm cụm xã miền núi vùng cao :

Qua phân tích tổng quan về tình hình điều kiện phát triển kinh tế - xã hội

và nhất là nghiên cứu về vai trò của cơ sở hạ tầng Ta thấy:

* Vấn đề phải giải quyết khi phát triển kinh tế xã hội ở miền núi, vùng cao

là tình trạng chênh lệch lớn về các mặt trong đời sống giữa miền núi và miềnxuôi, giữa dân tộc thiểu số và đa số, giữa vùng cao và vùng đồng bằng

* Vấn đề đói nghèo cũng là vấn đề đáng chú ý ở miền núi, đây là cộinguồn của mọi vấn đề xã hội khác Vì thế, cần phải tập trung nhanh chónggiải quyết vấn đề này

* Vấn đề phát triển kinh tế hàng hoá ở miền núi mới chỉ bắt đầu ở khu vực

đô thị (thị tứ) còn các vùng sâu, vùng xa thì phương thức tự sản tự tiêu vẫnthống trị Do đó cần phải tạo ra các yếu tố sản xuất để cho nền kinh tế hànghoá phát triển

* Do chênh lệch về đời sống kinh tế, do nghèo đói, do lối sống du canh du

cư nên tình trạng tranh chấp đất đai, chặt phá rừng bừa bãi, những va chạm

về lợi ích sảy ra, gây mâu thuẫn và làm phức tạp thêm mối quan hệ giữa cácdân tộc Cho nên, giải quyết vấn đề dân tộc ở đây là cần thiết, cần phải nhanhchóng đưa các đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào sinh sống ở vùngcao thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, thiếu đói thường xuyên và thiếu việclàm

Trang 32

Tóm lại, để giải quyết tất cả các vấn đề trên thì cần thiết phải bắt đầu từphát triển cơ sở hạ tầng tại khu vực miền núi vùng cao mà cụ thể là tại cáccụm xã và trung tâm cụm xã là trọng điểm đầu tư.

Sự cần thiết phải đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng đã được các văn bản của Nhà nước chỉ rõ:

Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn và nông nghiệp ViệtNam, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn là giải pháp cơ bản và quan trọngnhất Nghị quyết hội nghị BCH trung ương Đảng (khoáVIII) đã ghi:

“Đẩy mạnh việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, ưu tiên cho công trình trọng điểm phục vụ chung cho nền kinh tế xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu ở nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa“ và “Tăng tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, xây dựng và nâng cao kết cấu hạ tầng”.

Văn kiện Đại hội Đảng VIII của Đảng cũng có thể hiện rõ:

“Phải phát triển đồng bộ và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, từng bước hình thành các trung tâm kinh tế ở các vùng lãnh thổ”.

Thiết thực nhất là Quyết định số 35/ TTG ngày 13 tháng 01 năm 1997 vớimục tiêu của Chương trình là xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu ở trung tâmcụm xã để tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc vàmiền núi nhằm góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng, thúc đẩy các hoạtđộng văn hoá - xã hội tiểu vùng

Theo Quyết định số 35/ TTg ngày 13 tháng 1 năm 1997 của Thủ tướngChính phủ thì nội dung để đầu tư vào trung tâm cụm xã gồm:

- Hệ thống giao thông trung tâm cụm xã

- Điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt

- Cấp thoát nước cho trung tâm cụm xã

- Phòng khám đa khoa, chữa bệnh và trường phổ thông cơ sở

- Khu du lịch, thương mại: cửa hàng thương nghiệp, chợ, ngân hàng,bưu điện, bến xe

- Khu thông tin văn hoá xã hội : trạm truyền thanh truyền hình

Như vậy, cần phải nhanh chóng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địabàn các tỉnh miền núi, vùng cao nhất là ở những xã, bản vùng sâu, vùng xa

Trang 33

thuộc khu vực II, III Mà trước hết là phải khắc phục tình trạng thấp kém về

cơ sở hạ tầng

3 Đặc điểm của hoạt động đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng:

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một loại hình của đầu tư phát triểnnếu phân chia theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của các kết quả đầu tưnên về cơ bản nó vẫn mang những đặc điểm của đầu tư phát triển nói chung.Nhưng để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động đầu tư vào phát triển hệthống cơ sở hạ tầng một cách sát sao và có hiệu quả hơn cần xuất phát từnhững đặc điểm cụ thể sau:

Trong đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng thì tiền, vốn, vật tư, laođộng cần thiết để xây dựng các công trình hạ tầng thường rất lớn nên khi tiếnhành xây dựng công trình, quá trình huy động vốn, vật tư, lao động gặp rấtnhiều khó khăn Các công trình hạ tầng đa số có quy mô đầu tư và xây dựnglớn lại có vị trí quan trọng đối với nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội Lợi ích mà các công trình hạ tầng đem lại chủ yếu là lợi ích xã hội như hệthống giao thông phục vụ cho đi lại và vận chuyển hàng hoá, hệ thống điệnphục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, hạ tầng giáo dục phục vụ cho phát triển vàđào tạo nguồn nhân lực Cho nên, đầu tư vào đây không thu hút sự quan tâmcủa các thành phần kinh tế, hiện nay chủ yếu vẫn là do Nhà nước đứng rađầu tư Có thể nói, đây là lĩnh vực đầu tư kém sôi động, nhiều bức xúc, thiên

về xây dựng cơ bản lại là vốn Nhà nước , thất thoát và lãng phí trong quátrình thực hiện khá phổ biến Nên trong khi tiến hành đầu tư vào phát triển hệthống cơ sở hạ tầng thì hiệu quả của hoạt động đầu tư phải được đặt lên hàngđầu, phải quan tâm chú ý tới cả quá trình huy động và sử dụng vốn Đầu tưcần tập trung trọng điểm, đúng mục đích, đúng tiến độ, cần tăng cườngkhuyến khích sự hỗ trợ vốn của các thành phần kinh tế khác, phương châmNhà nước và nhân dân cùng làm là mấu chốt quan trọng để xây dựng có hiệuquả các công trình hạ tầng

Đây là hoạt động đầu tư mang tính chất lâu dài thể hiện ở thời gian đầu tưdài, kết quả của hoạt động đầu tư có giá trị sử dụng lâu dài và có ý nghĩa lớn

Trang 34

đối với cộng đồng dân cư (đem lại lợi ích chung, lợi ích xã hội) Nên khi xemxét giai đoạn chuẩn bị đầu tư các dự án đầu tư xây dựng phải được chú ý,nghiêm túc và có chất lượng cao, đảm bảo cho công trình khi xây dựng xongphát huy hiệu quả cao và đảm bảo sử dụng lâu dài.

Việc tính toán hiệu quả của các hoạt động đầu tư rất khó khăn Do cáccông trình đầu tư hạ tầng chủ yếu không thu hồi vốn trực tiếp, chất lượnghoạt động của các công trình hạ tầng lại rất khó lượng hoá Lợi ích của các dự

án đầu tư được đặt trong tổng thể lợi ích kinh tế xã hội chung của cả vùng,của cả nền kinh tế, phục vụ cho nhiều ngành cùng hoạt động Với đặc điểmnày gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý xây dựng, nan giải cho vấn

đề tìm ra và thực thi các giải pháp hữu hiệu để có thể nâng cao lợi ích của dự

án đầu tư

4 Đánh giá hiệu quả đầu tư vào phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng:

Hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, nếu xét

về mặt định lượng thì nó là mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí

bỏ ra để thực hiện hoạt động đầu tư Kết quả thu được càng cao, chi phí bỏ racàng nhỏ, hiệu quả kinh tế thu được càng lớn Trong đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng , hiệu quả không thể tính toán cụ thể được, việc so sánh giữa kết quả

và chi phí rất phức tạp và khó thực hiện, các chi phí bỏ ra để thực hiện cáchoạt động đầu tư có thể định lượng và tính toán dễ dàng nhưng kết quả màhoạt động đầu tư đem lại thì khó định lượng và tính toán chính xác Bởi vì,kết quả của hoạt động đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng là các côngtrình không thu hồi vốn trực tiếp, các công trình này phục vụ cho hoạt độngđầu tư của các ngành khác để các ngành khác tạo ra kết quả như doanh thu,lợinhuận Dĩ nhiên, sự đóng góp của hệ thống cơ sở hạ tầng trong việc tạo rakết quả này là không nhỏ nhưng để xác định là bao nhiêu thì không thể táchbạch được

Rõ ràng, nếu đầu tư vào xây dựng một con đường, khi con đường này đivào hoạt động ta không thể tính toán chính xác con đường đã tạo ra bao

Trang 35

nhiêu tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ có thể nhận thấy nó tạo điều kiệncho sản xuất phát triển thông qua việc vận chuyển vật liệu, hàng hóa

Dù hiệu quả kinh tế của các công trình không thể tính toán được Songkhi lập dự án đầu tư, hiệu quả để xem xét có nên thực hiện hoạt động đầu tưhay không là dựa vào tính toán hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Đây làchênh lệch giữa lợi ích mà nền kinh tế xã hội thu được so với các đóng góp

mà nền kinh tế xã hội bỏ ra khi thực hiện đầu tư Những lợi ích mà xã hội thuđược là sự đáp ứng của các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế.Những sự đáp ứng này, có thể được xem xét mang tính định tính như nângcao mức sống của dân cư, tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy sản xuấtphát triển hoặc đo lường bằng các tính toán định lượng như mức tăng thucho ngân sách, số người có việc làm, tăng tổng sản phẩm xã hội

Như vậy, hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng được thểhiện qua lợi ích kinh tế xã hội mà công trình hạ tầng đem lại lợi ích này đượcthể hiện qua một số chỉ tiêu như:

+ ảnh hưởng của công trình đến sự phát triển của vùng có công trình, kếtquả này thể hiện rõ rệt nhất ở các địa phương nghèo dặc biệt là ở các vùngnông thôn, miền núi ( mức sống và trình độ dân trí thấp) Sự xuất hiện củacác công trình hạ tầng sẽ phản ánh rõ sự phát triển tiến bộ của vùng

+ Tác động dây truyền của dự án đến các ngành khác mà cụ thể là tạođiều kiện thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác

+ Tác động của dự án đến môi trường sinh thái như cải thiện điều kiệnsống sinh hoạt cho dân cư địa phương, làm đẹp cảnh quan môi trường

+ Các tác động cụ thể khác

Nhiệm vụ của công tác quản lý kinh tế là tính toán hiệu quả đầu tư củacác dự án hạ tầng để tìm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt độngđầu tư, việc nâng cao hiệu quả đầu tư này có ý nghĩa quan trọng, hiệu quảcàng cao càng tốt

Do hiệu quả là mối tương quan giữa kết quả và chi phí nên để nâng caohiệu quả đầu tư thì:

Trang 36

+ Thứ nhất, tối thiểu lượng chi phí bỏ ra: trong đầu tư phát triển hệ thống

cơ sở hạ tầng thì tối thiểu chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động đầu tư này thểhiện ở việc tiết kiệm chi phí trong các giai đoạn của quá trình đầu tư Nếuquản lý khắc phục được thất thoát và lãng phí vốn thì tức là hiệu quả đầu tư

đã tăng lên, nguồn lực của xã hội sử dụng có kết quả cao

+ Thứ hai, tối đa kết quả thu được: trong đầu tư phát triển hệ thống cơ sở

hạ tầng thì tối đa kết quả thu được thể hiện ở việc đưa công trình vào vậnhành sử dụng đạt kết quả tốt, phát huy tối đa công suất hoạt động theo thiết

kế Quản lý sử dụng tốt công trình nghĩa là đã làm tăng hiệu quả đầu tư

Về mặt chất lượng, việc đạt được kết quả cao phản ánh năng lực và trình

độ quản lý, đồng thời cũng đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được mục tiêukinh tế với việc đạt được mục tiêu xã hội

Như vậy, ngay trong từng khâu, từng bước của hoạt động đầu tư đều phảichú ý xem xét và tính toán để nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý tốt việc thựchiện các giai đạon của hoạt động đầu tư chính là nhằm nâng cao hiệu quả đầutư

IV- Xây dựng cụm xã - trung tâm cụm xã và tính tất yếu của việc đầu tư xây

dựng hệ thống cơ sở hạ tầng ở tỉnh sơn la:

1 Một số đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội tỉnh Sơn La:

1.1.Đặc điểm tự nhiên:

Sơn La là một tỉnh miền núi cao phía Tây Bắc, có diện tích tự nhiên là14.005 km2 ( chiếm 4,27% diện tích cả nước ), trong đó 80% diện tích là đấtdốc, diện tích rừng chiếm 20,5% Sơn La nằm ở 20,390 - 22.050 vĩ bắc và103,150 -105,150 kinh đông Có chung đường biên giới Việt Lào dài 250 km,nằm trên trục quốc lộ 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên, cách Hà Nội 320 km

Độ cao phổ biến từ 600 m đến 1000 m so với mặt biển, địa hình bị chia cắtnhiều khoảnh bởi núi cao và suối sâu, phần lớn là núi đá vôi, 97% diện tích là

tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã Có 2 cao nguyên là Mộc Châu vàSơn La - Nà Sản, địa hình tương đối bằng phẳng

Trang 37

Sơn La vừa là một tỉnh nằm sâu trong nội địa, vừa là tỉnh có biên giới vớinước bạn Lào, nằm án ngữ ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, vì vậy có ýnghĩa về kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng Việc thông thương ra nướcngoài và đến các tỉnh khác phải nhờ hệ thống đường bộ (chất lượng đườngcòn xấu ) và đường sông (còn nhiều khó khăn), có đường không nhưng mớichỉ để vận chuyển hành khách.

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.405.500 ha, trong đó đất đang sử dụng là455.385 ha (chiếm 32,4% diện tích đất tự nhiêncủa tỉnh) Là tỉnh vùng cao,quỹ đất nông nghiệp hạn chế, hiện sử dụng bình quân đầu người là 0.18 ha.Địa hình bị chia cắt sâu và mạnh, hình thành nhiều tiểu vùng

Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, có mùa đông lạnh khô,mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Khí hậu cho phép phát triển một nền nông-lâmnghiệp phong phú Thời tiết khí hậu của Sơn La cũng có những bất thuận nhưkhô hạn kéo dài trong mùa khô nên khó tăng vụ trên diện tích đất canh tác;cộng với gió Tây khô nóng vào những tháng cuối mùa khô, đầu mùa mưa(tháng 3,4) đã gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của một sốvùng trong tỉnh Sương muối, mưa đá, lũ quét cũng là những nhân tố gây bấtlợi cho sản xuất và đời sống

Sơn La có hệ thống sông suối khá dầy nhưng phân bố không đều, mặtnứơc thấp hơn mặt nước canh tác Vì vậy, biện pháp giải quyết nước là phảilàm hồ chứa, đập dâng cắt lũ mùa mưa, chứa nước mùa khô, ống dẫn bơmđiện khai thác nước ngầm và tăng tỷ lệ che phủ của rừng để ổn định nguồnsinh thủy song với địa hình khó khăn hiểm trở, phức tạp đòi hỏi vốn đầu tưxây dựng cao

Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn chiếm tới73%diện tích tự nhiên, đất đai phù hợp với nhiều loại cây, thuận lợi cho pháttriển cây công nghiệp dài ngày

Sơn La có nhiều loại khoáng sản khác nhau, nhưng phần lớn có quy mônhỏ, trữ lượng không lớn lại phân tán và điều kiện khai thác không thuận lợigồm: than (đủ loại) ; đá vôi và sắt (trữ lượng khá lớn); niken đồng( có 25

Trang 38

điểm quặng và mỏ); vàng ( có 4 sa khoáng và 3 điểm vàng gốc nhưng thuộc

mỏ nhỏ)

1.2 Kinh tế xã hội :

* Dân số toàn tỉnh có 881.383 người ( vào thời điểm 1/4/1999) dân sốnông thôn 768.842 người chiếm 87,24% tổng số dântoàn tỉnh Sơn La có 12dân tộc cùng sinh sống, trong đó 54%là dân tộc Thái; 18% dân tộc Kinh;12% dân tộc H’Mông; 8,5% dân tộc Mường; còn lại 7,5% thuộc 8 dân tộcanh em khác

Đại bộ phận nhân dân các dân tộc Sơn La sống ở nông thôn và sống bằngnghề nông là chủ yếu, vốn là người lao động cần mẫn song trình độ dân tríthấp, số người không biết đọc, biết viết là 217.748 người chiếm tỷ lệ 28,9%dân số từ 6 tuổi trở lên, trong đó có tới 84.058 người trong độ tuổi từ 16- 35tuổi không biết đọc biết viết Tốc độ tăng dân số vẫn ở mức cao: 2,5%/năm(giai đoạn 1991- 2000) so cả nước là 1.95% Tuy nhiên, số lao động có trithức của tỉnh cũng ngày càng phát triển đã và đang tiếp cận với điều kiện mớicủa nền kinh tế thị trường, có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh

* Về kinh tế, Sơn La có tốc độ tăng trưởng tương đối khá và ổn định: tốc

độ tăng trưởng bình quân 8,5%/ năm ( thời kỳ 1996-2000) Trong đó côngnghiệp và xây dựng tăng 11,5%; nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,25% ;khối dịch vụ :19,45%

Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch bước đầu từ kinh tế thuần nông tựcấp tự túc sang sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, nhưng chậm Chủ yếuvẫn là sản xuất nông-lâm-nghiệp, tỷ trọng của công nghiệp còn rất nhỏ bé,khối dịch vụ tăng chậm Nhưng dù thế, những điều kiện cho phát triển nông-lâm nghiệp cũng rất thiếu, hệ thống thủy lợi, khuyến nông không đồng bộ vàthấp kém

Bảng 2:

Cơ cấu kinh tế tỉnh Sơn La thời kỳ 1996- 2000 theo giá thực tế

Trang 39

Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000

I-Giátrị sản xuất

(tr.đồng)

1.294.99 1

1.386.5 60

1.553.13 7

1.616.0 22

1.747.7 20

Nông-Lâm-Thủysản

940.874 968.53

5

1.022.320

1.023.806

1.031.080Công nghiệp-Xây dựng

117.610 132.62

162.341

176.890Dịch vụ

236.507 285.40

427.825

515.690

Nông-Lâm-Thủysản 72.66 69.85 65.82 63.48 60.37Công nghiệp-Xây dựng 9.08 9.57 9.73 10.04 10.12

Nguồn: Cục thống kê Sơn La

Tổng kim nghạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Sơn La hầu như trong tìnhtrạng nhập siêu, mức độ kinh tế mở của tỉnh ra thị trường thế giới còn rất yếu.Mặt hàng xuất khẩu còn nghèo, chủ yếu là thu gom, chưa thực sự bền vững,với cái gốc là đi từ sản xuất để xuất khẩu Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lựccủa tỉnh là chè đen, tơ tằm, cà phê nhân, chè xanh Đài loan Đa số các mặthàng trên là sơ chế

Bảng 3: Giá trị xuất nhập khẩu của tỉnh Sơn La qua các năm

Đơn vị: 1000 USD

Nguồn : Cục thống kê Sơn La

Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh qua các năm đều tăng khá kể cả phần thu

từ kinh tế địa phương và kinh tế trung ương trên địa bàn tỉnh

Chi ngân sách cũng tăng: năm 1999 tổng chi tăng lên 0,6 lần trong đó chicho sự nghiệp giáo dục đào tạo, năm 1999 tăng gấp 1,2 lần, chiếm 27,3%

Trang 40

tổng chi ngân sách Qua số liệu thu chi cho thấy, Sơn La còn là một tỉnhnghèo, số lượng thu chi không lớn, chi thường vượt thu Từ năm 2000 thu đã

đủ chi, không có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, hàng năm Trung ương vẫnphải trợ cấp nhiều

Bảng 4: Thu chi ngân sách trên địa bàn tỉnh qua các năm

Đơn vị : triệu đồng

Tổng chi 345.037 355.301 401.632 520.548 541.439 732.784Tổng thu 302.472 347.567 381.490 501.974 544.439 738.260

Nguồn: Cục thống kê Sơn La

* Về lao động: Toàn tỉnh có 456.495 người trong độ tuổi lao động, tỷ lệlao động không có việc làm là 4,7% (theo cách tính của tỉnh) Với chất lượnglao động được đào tạo như sau:

+ số lao động có trình độ đại học trở lên: 4.336 người

+ số lao động có trình độ cao đẳng: 2.426 người

+ số công nhân kỹ thuật nhân viên nghiệp vụ:10.405 người

+số có trình độ trung học chuyên nghiệp:18.127 người

* Về điều kiện cơ sở hạ tầng:

Mạng lưới giao thông không ngừng phát triển, nhiều tuyến đường giaothông, đường quốc lộ, đường ô tô đến các huyện, thị xã đã được xây dựng,bước đầu phá thế cô lập về vị trí địa lý ở nhiều vùng Nhưng nhìn chung, giaothông phát triển chậm và chắp vá Đa số đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ cònnằm trong tình trạng thấp kém, chiều rộng và độ phẳng mặt dưới mức tiêuchuẩn, nhiều xã đường ô tô chưa tới nơi, nếu có thì không đảm bảo thôngsuốt, lưu thông một mùa

Toàn tỉnh có 5.276km đường bộ Trong đó: đường nhựa và đường bê tông

296 km ( chiếm 5,6 % ), đường đá và đường cấp phối 723 km ( chiếm13,7%); đường đất 4257 km ( chiếm 80,7%) Mở mới được 113 km đường ô

Ngày đăng: 03/04/2013, 10:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các bước công việc của một dự án đầu tư - Thực trạng và một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La
Bảng 1 Các bước công việc của một dự án đầu tư (Trang 11)
Bảng 3:     Giá trị xuất nhập khẩu của tỉnh Sơn La qua các năm - Thực trạng và một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La
Bảng 3 Giá trị xuất nhập khẩu của tỉnh Sơn La qua các năm (Trang 39)
Hình  thức - Thực trạng và một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La
nh thức (Trang 61)
Bảng 14:   Các công trình giao thông đã và đang triển khai thuộc cụm xã  trọng điểm - Thực trạng và một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La
Bảng 14 Các công trình giao thông đã và đang triển khai thuộc cụm xã trọng điểm (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w