Trong quátrình thực tập tại công ty, thông qua việc điều tra, phỏng vấn, thu thập nguồn dữliệu, phân tích những đặc điểm về tình hình hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế củacông ty và thấy
Trang 1PHẦN I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Kinh tế thế giới đã trải qua một năm 2009 đầy khó khăn và đang có dấu hiệuphục hồi Tuy nhiên, những thiệt hại mà suy thoái gây ra cho kinh tế thế giới làkhông hề nhỏ Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ năm 2008 đã nhanhchóng lan rộng ra toàn cầu, kéo theo đó là tình trạng suy thoái diễn ra trên toàn thếgiới Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định, kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng chậmlại từ mức 5% năm 2007 xuống 3,7% năm 2008 và chỉ còn 2,2% vào năm 2009.Tốc độ tăng trưởng ở khu vục các nước kinh tế phát triển dự báo giảm 0.3% năm
2009 Tốc độ suy thoái mạnh nhất rơi vào quý 4/2008 và quý 1/2009 Một số nềnkinh tế lớn của thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và các quốc gia ở châu Âu cũngđang đứng trước tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng nhất kể từ sau chiến tranhthế giới thứ hai trở lại đây Dự đoán năm 2009, mức suy thoái tại Mỹ là 0,9%, NhậtBản là 0,1% và các nước thuộc EU là 0,5% Cũng theo nhận định này, tỷ lệ thấtnghiệp bình quân của các nền kinh tế trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế(OECD) là gần 9% Tại Mỹ, nơi suy thoái bắt đầu sớm hơn các nơi khác, đội ngũthất nghiệp năm 2009 đã tăng lên gấp đôi so với năm 2008 Tỷ lệ thất nghiệp ngàycàng tăng cao cũng đang là nỗi lo cho các quốc gia
Suy thoái kinh tế tác động trực tiếp đến mọi mặt cũng như mọi lĩnh vực của đờisống xã hội, không ngoại trừ một quốc gia nào Nền kinh tế Việt Nam đang ngàycàng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập
tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên khó có thể tránh khỏi những tác động củasuy thoái kinh tế toàn cầu Một trong những tác động tiêu cực lớn nhất, trực tiếpnhất, sớm nhất của cuộc suy thoái kinh tế thế giới đối với Việt Nam là lĩnh vựcnhập khẩu ở tất cả các mặt: thị trường, giá cả, thanh toán và nguồn hàng, trong đónổi bật là thị trường và giá cả Minh chứng cho điều này là sự sụt giảm của kimngạch nhập khẩu Nếu như kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của nước ta năm 2008đạt 80,4 tỷ USD thì đến năm 2009 giảm xuống chỉ còn 68,8 tỷ USD, giảm 14,7%
so với năm 2008, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 43,9 tỷ USD, giảm
Trang 216,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24,9 tỷ USD, giảm 10,8% Một trongnhững nguyên nhân của sự sụt giảm này là do giá của hàng hoá nhập khẩu giảmmạnh Thêm vào đó là tình trạng tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng cao cùng vớinhững lo ngại về sự xấu đi của nền kinh tế trong tương lai gần buộc người dân phảicắt giảm chi tiêu và ưu tiên hơn đối với những mặt hàng thiết yếu, dẫn đến nhu cầutiêu dùng bị co lại Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho kim ngạch nhập khẩuhàng hoá bị sụt giảm.
Những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế đến Việt Nam đã khiến cho cácdoanh nghiệp trong nước đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, công tyTNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu cũng không phải là một ngoại lệ Trong quátrình thực tập tại công ty, thông qua việc điều tra, phỏng vấn, thu thập nguồn dữliệu, phân tích những đặc điểm về tình hình hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế củacông ty và thấy được những khó khăn mà công ty gặp phải trong giai đoạn suythoái kinh tế là: Nhu cầu về hàng hoá trong nước giảm, dẫn đến doanh thu và lợinhuận từ hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty cũng giảm sút
Từ những khó khăn trên, vấn đề cấp thiết nhất đặt ra đối với công ty hiện nay làsuy thoái kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tếcủa công ty ? Có những giải pháp nào để khắc phục những ảnh hưởng đó và thúcđẩy hoạt động nhập khẩu trong thời gian tới ? Suy thoái kinh tế là vấn đề hiện đangđược nhiều người quan tâm nhưng vấn đề được đặt ra đối với công ty Toàn Cầu làhoàn toàn mới và việc giải quyết nó là hết sức cần thiết
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Cả thế giới đang phải đối mặt với suy thoái kinh tế, Việt Nam cũng không nằmngoài vấn đề này, cụ thể là ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của Việt Nam nóichung và ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu từ hoạt động nhập khẩu của công tyToàn Cầu nói riêng Từ vấn đề cấp thiết đặt ra đối với công ty, cần phải giải quyếtmột số vấn đề như sau:
- Tìm hiểu sự tác động của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị
y tế của công ty TNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu
Trang 3- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực của suythoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty.
Nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề này trong việc giúp doanhnghiệp có định hướng kinh doanh hiệu quả trong tình hình kinh tế hiện nay, kết hợpvới những lý luận tiếp thu được trong quá trình học và tìm hiểu thực tế trong thời
gian qua, em đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty TNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu”.
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Để có thể giải quyết tốt những vấn đề trên, mục tiêu nghiên cứu của luận vănđược đặt ra là:
- Khái quát các vấn đề lý thuyết liên quan tới hoạt động nhập khẩu cùng vớinhững lý luận cơ bản về suy thoái kinh tế, nguyên nhân và ảnh hưởng của nó đếnhoạt động nhập khẩu nói chung
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty TNHH tưvấn thương mại Toàn Cầu trước và sau suy thoái kinh tế, phân tích và so sánh đểthấy được những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu củacông ty
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục những ảnh hưởng củasuy thoái kinh tế và thúc đẩy hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty trongthời gian tới
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm
2009 Đây là giai đoạn mà hoạt động nhập khẩu của công ty chịu ảnh hưởng từcuộc suy thoái kinh tế thế giới
- Giới hạn về hoạt động kinh doanh: Hoạt động nhập khẩu
Trang 4- Giới hạn mặt hàng nghiên cứu: Mặt hàng được nghiên cứu là trang thiết bị y
tế nhập khẩu
- Giới hạn thị trường nghiên cứu: Thị trường trang thiết bị y tế Việt Nam
1.5 Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Ngoài lời mở đầu, mục lục, các danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, từ viết tắt,tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 4 nội dung chính sau:
- Phần I: “Tổng quan nghiên cứu đề tài”.
Nêu tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài, xác lập và tuyên bố vấn đề, đưa ra cácmục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Phần II: “Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về suy thoái kinh tế và ảnh hưởng của nó đến hoạt động nhập khẩu”.
Khái quát các vấn đề liên quan đến hoạt động nhập khẩu, những lý luận cơ bản
về suy thoái kinh tế và ảnh hưởng của nó đến hoạt động nhập khẩu
- Phần III: “Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty TNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu”.
Nêu phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề, đánh giá tổng quan tình hình vàảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế củacông ty TNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu, tổng hợp các kết quả thông qua phỏngvấn chuyên gia, điều tra trắc nghiệm tại công ty và kết quả phân tích các dữ liệu thứcấp
- Phần IV: “Các kết luận và đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty TNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu”.
Đưa ra các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu về ảnh hưởng của suy thoáikinh tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty, dự báo triển vọng vàquan điểm giải quyết vấn đề, đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phụcnhững khó khăn đó và thúc đẩy hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp trong thờigian tới
Trang 5PHẦN II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU 2.1 Tổng quan về hoạt động nhập khẩu
2.1.1 Khái niệm hoạt động nhập khẩu
Trong lý luận thương mại quốc tế,“Nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác”(1) Hay nói cách khác, đây chính là việc nhà sảnxuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước
Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học cho rằng,“Hoạt động nhập khẩu là hoạt động mua hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài nhằm phục vụ các nhu cầu trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu”(2).
Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của quỹ tiền tệquốc tế (IMF), chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu
và đưa vào mục cán cân thương mại Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cáncân phi thương mại
Như vậy, cũng như xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu được diễn ra trong mọi lĩnhvực, mọi điều kiện kinh tế, từ nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng đến nhập khẩu tư liệusản xuất, máy móc thiết bị công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hànghoá vô hình (dịch vụ)
2.1.2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu
Vai trò của nhập khẩu được thể hiện ở những điểm sau:
Đối với nền kinh tế
- Thứ nhất, nhập khẩu có tác động bổ sung các hàng hoá chưa sản xuất được ởtrong nước, hoặc sản xuất không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu trong nước, bổ sungkịp thời sự mất cân đối của nền kinh tế và đảm bảo phát triển kinh tế ổn định và cânđối, trong đó cân đối trực tiếp ba yếu tố của sản xuất là công cụ lao động, đối tượnglao động và sức lao động
(1) Trích dẫn từ địa chỉ: “http://vi.wikipedia.org”.
(2) “Kinh tế đối ngoại Việt Nam”-PGS.TS Nguyễn Văn Trình/NXB ĐHQG TP HCM/2006.
Trang 6- Thứ hai, nhập khẩu còn có vai trò thay thế những hàng hoá mà việc sản xuất
nó ở trong nước không có lợi bằng nhập khẩu chúng
- Thứ ba, nhập khẩu góp phần cải thiện, nâng cao mức sống của nhân dân.Nhập khẩu đã giúp cho người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn, hàng hoá và dịch vụ
có chất lượng, giá cả phù hợp hơn
- Thứ tư, khi nhập khẩu thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêudùng cũng sẽ có tác động gián tiếp đến sản xuất kinh doanh, làm cho nền sản xuấtphát triển
- Thứ năm, nhập khẩu có tác động tích cực thúc đẩy xuất khẩu, khi nhập khẩunhững yếu tố đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu như: Máy móc, thiết bị, côngnghệ, nguyên vật liệu, nhiên phụ liệu,…
- Thứ sáu, để lựa chọn nhập khẩu được hàng hoá có chất lượng cao, giá cả hợp
lý, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân, các quốc gia và doanhnghiệp phải mở rộng giao dịch với nhiều đối tác ở nhiều nước khác nhau Cùng vớixuất khẩu, hoạt động nhập khẩu chính là cơ sở vật chất quan trọng để mở rộng quan
hệ hợp tác quốc tế
Đối với doanh nghiệp
- Thứ nhất, hoạt động nhập khẩu là một hướng kinh doanh tạo ra doanh thu vàlợi nhuận cho các doanh nghiệp
- Thứ hai, hoạt động nhập khẩu cung cấp máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp
- Thứ ba, hoạt động nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội liêndoanh, liên kết kinh tế với nước ngoài nhằm thu hút đầu tư vốn, công nghệ và trình
độ quản lý cho các doanh nghiệp
2.1.3 Các hình thức và nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu
Các loại hình nhập khẩu
Hoạt động nhập khẩu bao gồm các hình thức sau:
- Nhập khẩu trực tiếp (hay còn gọi là nhập khẩu thông thường): Là hình thứcnhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu trực tiếp hàng hoá và
Trang 7dịch vụ không qua một tổ chức trung gian nào Doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí,rủi ro và trách nhiệm pháp lý về hoạt động nhập khẩu đó.
- Nhập khẩu ủy thác: Là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp có vốn
và có nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hoá nhưng lại không có quyền tham gianhập khẩu trực tiếp, nên phải ủy thác cho một doanh nghiệp có chức năng trực tiếpgiao dịch tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình Bên ủy thác sẽ tiến hành đàmphán với đối tác nước ngoài để nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên đi ủy thác
và nhận được nhận một khoản thù lao gọi là phí ủy thác (Nói cách khác nhập khẩu
uỷ thác là doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai trò trung gian nhập khẩu)
- Nhập khẩu liên doanh: Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kếtkinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp kỹ năng để giaodịch và đề ra chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩyhoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho hai bên theo nguyên tắc lãicùng chia lỗ cùng chịu
- Nhập khẩu đổi hàng: Là một phương pháp trao đổi hàng hoá, trong đó nhậpkhẩu kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu, người bán cũng đồng thời là người mua,lượng hàng trao đi và lượng hàng nhận về có giá trị tương đương nhau Mục đíchcủa hoạt động nhập khẩu đổi hàng là không chỉ có lợi nhuận từ hoạt động nhậpkhẩu mà còn để xuất khẩu hàng có lãi
- Nhập khẩu tái xuất: Là hoạt động nhập khẩu vào trong nước nhưng khôngphải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước khác nhằm thu được lợinhuận cao hơn, những hàng nhập khẩu này không qua chế biến ở nước tái xuất.Như vậy nhập khẩu tái xuất luôn thu hút ba nước tham gia đó là nước xuất khẩu,nước nhập khẩu và nước tái xuất
- Nhập khẩu theo đơn đặt hàng: Là hình thức đơn vị ngoại thương chịu mọichi phí và rủi ro để nhập khẩu hàng hóa cho đơn vị đặt hàng trên cơ sở đơn đặthàng của đơn vị đặt hàng có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền Đơn vị ngoại thươngphải kí kết hợp đồng với đối tác nước ngoài theo đúng đơn đặt hàng về tên hàng, sốlượng, quy cách, chất lượng và điều kiện, thời gian giao hàng
Trang 8 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu
Hoạt động nhập khẩu luôn luôn hàm chứa các yếu tố quốc tế như: Giá cả,phương thức và phương tiện thanh toán, chủ thể tham gia,…Dưới đây là một số yếu
- Nhân tố về chính trị - luật pháp, văn hoá - xã hội của quốc gia nhập khẩu
- Nhân tố kỹ thuật, công nghệ, cơ sở hạ tầng và các yếu tố tự nhiên
- Khả năng tài chính, tiềm lực về con người, cơ sở vật chất, kỹ thuật củadoanh nghiệp
- Phụ thuộc vào các nhà xuất khẩu, nguồn cung cấp hàng hoá
- Các yếu tố khác…
2.2 Những lý luận cơ bản về suy thoái kinh tế và ảnh hưởng của nó đến hoạt động nhập khẩu
2.2.1 Khái niệm suy thoái kinh tế
Suy thoái kinh tế được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau:
Trong kinh tế học vĩ mô, suy thoái kinh tế được định nghĩa: “Suy thoái kinh tế
là sự suy giảm lượng GDP của một quốc gia, hoặc tăng trưởng âm trong vòng hai quý liên tiếp trở lên trong một năm”(1).
Theo quan điểm của cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER)(2) Hoa Kỳ
cho rằng: “Suy thoái kinh tế là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”(3)
(1),(3) Trích dẫn từ địa chỉ: “http://vi.wikipedia.org”.
(2) NBER: Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Hoa Kỳ.
Trang 9Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tếcủa toàn bộ hoạt động kinh tế như: việc làm, đầu tư và lợi nhuận của doanh nghiệp.Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại, tăngnhanh giá cả (lạm phát) trong thời kỳ đình lạm.
Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế Sự tan vỡtàn phá kinh tế là gọi sự suy sụp/đổ vỡ kinh tế Việc suy giảm kinh tế của nhiềuquốc gia trong cùng một thời điểm dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới
Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hoá lâu bền trong cácdoanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sảnlượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng cắt giảm và kết quả làGDP thực tế giảm sút
- Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảmxuống do hoạt động sản xuất bị đình trệ, đầu tư bị hạn chế, tiếp theo là hiện tượngcắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao
- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuấtgiảm bởi nguyên nhân cầu sút kém Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăngkhông nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh, do nhu cầu giảm làm cho hànghoá sản xuất ra không tiêu thụ được Nhu cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suấtgiảm xuống trong thời kỳ suy thoái
2.2.2 Lý thuyết về chu kỳ phát triển kinh tế
Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kinh kinh doanh, là sự biến động của GDP thực
tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh Cũng có nhữngpha phục hồi thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái vàhưng thịnh
Trước đây, một chu kỳ kinh doanh thường được cho là có bốn pha lần lượt làsuy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiệnđại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, sản lượng giảm sút, hoạt động sảnxuất bị ngưng trệ, các nhà máy đóng cửa hàng loạt, tỷ lệ thất ngiệp ngày càng tăng
Trang 10cao, v.v…không xảy ra nữa Vì thế, toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giaiđoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái.
Ở Việt Nam, cho đến đầu thập niên 1990, trong một số sách về kinh tế cácnước tư bản chủ nghĩa, khi nói về chu kỳ kinh tế thường gọi tên bốn pha này làkhủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh Hiện nay, không còn thấy cách gọinày nữa
Hình 2.1 Chu kỳ kinh tế
Nguồn: http://vi.wikipedia.org.
Các pha của chu kỳ kinh tế:
- Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi Ở Mỹ và Nhật Bản, người taquy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm trong hai quýliên tiếp thì mới gọi là suy thoái
- Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suythoái Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ
- Hưng thịnh: là khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngaytrước lúc suy thoái Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới Điểmngoạt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế
Trang 112.2.3 Lược sử về một số cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 1929 đến năm 2010
Khủng hoảng kinh tế thế giới có mức độ ảnh hưởng sâu rộng và mang tính chấttoàn cầu, nó tác động đến hầu hết các mặt của đời sống như kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội,…với các mức độ khác nhau Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng kiếnnhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, điển hình là ba cuộc khủng hoảng sau:
- Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, Suy thoái bắt đầu diễn ra ở Mỹ vàotháng 10/ 1929, sau đó nhanh chóng lan rộng sang các nước châu Âu và hầu khắpcác nước trên thế giới Đây là cuộc khủng hoảng được đánh giá là lớn nhất tronglịch sử kinh tế hiện đại, những thiệt hại mà nó gây ra vô cùng nặng nề, mọi khíacạnh của nền kinh tế từ hoạt động sản xuất, đầu tư, tiêu dùng, thương mại, đến thịtrường lao động,…đều chịu những tác động xấu từ cuộc khủng hoảng Cuộc khủnghoảng đã kéo dài trong 4 năm và đến năm 1933 thì chấm dứt
- Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, đây là hậu quả của việc các nướcthành viên OPEC bao gồm tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC và hai nước Ai Cập vàSyria đã thực hiện cấm vận dầu mỏ với Mỹ và các quốc gia ủng hộ Isarel trongcuộc chiến với Ai Cập và Syria Trong cuộc khủng hoảng lần này, vấn đề chính làkhủng hoảng về năng lượng và lương thực, thực phẩm Cuộc khủng hoảng đã đẩygiá dầu mỏ lên cao và làm ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư, sản xuất, tiêu dùng,kéo theo đó là những tác động tiêu cực gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
- Cuộc khủng hoảng năm 2008 được đánh giá là là cuộc khủng hoảng nặng nềnhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây Khi hàng loạt các ngân hàng,
tổ chức tín dụng lớn ở Mỹ tuyên bố phá sản đã làm chao đảo nền kinh tế đứng đầuthế giới này Kinh tế Mỹ suy sụp nhanh chóng đã khiến kinh tế thế giới cũng sụtgiảm theo Cùng với đó là tình trạng khủng hoảng về năng lượng, lương thực vàthực phẩm đã đẩy nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng suy thoái trầm trọng nhất
kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây Nhiều quốc gia và các tổ chứcquốc tế đã cùng nhau phối hợp để hạn chế những tác động xấu của cuộc khủnghoảng Cho đến nay, nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên vẫncòn nhiều những khó khăn trước mắt mà các quốc gia sẽ phải đối mặt
Trang 122.2.4 Nguyên nhân của các cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu
Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôinổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhấtrằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nộisinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh) Ví dụ, những nhà kinh tếhọc chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyết chu kỳ kinh tế thực sẽbất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ thống nhất cao rằng các yếu
tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoáikinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn
Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây
ra suy thoái kinh tế ngày nay và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theonghĩa chúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sửdụng không hiệu quả trong giai đoạn “tăng trưởng” hoặc lạm phát Phần lớn học giảtheo thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải lànguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản lýtiền tệ yếu kém
Nhìn lại ba cuộc suy thoái kinh tế lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ haitrở lại đây cho thấy rằng:
- Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933, nguyên nhân nội sinh của nó làcuộc khủng hoảng sản xuất “thừa”, bởi vì sự sản xuất ồ ạt, chạy theo lợi nhuậntrong những năm ổn định của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến tình trạng hàng hoá sảnxuất ra quá nhiều mà không được tiêu thụ vì sức mua của quần chúng giảm sútnhiều do sự bóc lột tàn bạo của giai cấp tư sản Nguồn gốc sâu xa của sự sản xuất
dư thừa đó là sự buông lỏng quản lý của chính phủ (yếu tố nội sinh) đã làm mất cânđối trong sản xuất và tiêu dùng, dẫn đến khủng hoảng về kinh tế
- Minh chứng cho yếu tố ngoại sinh là nguyên nhân gây ra suy thoái đó làcuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 Cuộc chiến tranh giữa một bên là Ai Cập-Syria cùng các đồng minh thuộc thế giới Ả Rập và một bên là Isarel cùng các đồngminh chính là Mỹ, Nhật và một số nước EU hiện nay Trong cuộc chiến tranh này,
Ai Cập- Syria đã ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang các nước ủng hộ Isarel từ tháng
Trang 1310/1973 tới 4/1974 để hỗ trợ chiến tranh quân sự Kết quả là với việc dầu mỏ khanhiếm ở các quốc gia phương Tây mà nhu cầu thì quá lớn đã dẫn đến giá dầu tại thịtrường thế giới tăng vọt trong một thời gian ngắn lên gấp 5 lần Chính cuộc khủnghoảng năng lượng này đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1973-1975.
- Nguyên nhân của cuộc suy thoái kinh tế thế giới năm 2008 là sự kết hợp của
cả hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh:
+ Nguyên nhân ngoại sinh: đó là sự khủng hoảng về năng lượng và lương thực,thực phẩm Việc bùng nổ giá cả diễn ra do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầutăng cao, dự trữ thấp và đặc biệt là sự gia tăng hoạt động của giới đầu cơ quốc tế.Khủng hoảng hàng hoá đã khiến tình trạng bất ổn xã hội xảy ra ở nhiều quốc gia,
đe doạ nghiêm trọng tới an ninh chính trị, hàng loạt các cuộc biểu tình diễn ra ở AiCập, Bờ Biển Ngà, Ca-ma-run, Hai-ti, E-thi-ô-pi-a, Philippin, Inđônêxia,…,để phảnđối việc giá lương thực tăng quá nhanh
+ Nguyên nhân nội sinh là cuộc khủng hoảng cơ cấu, đây là hệ quả của việcđầu tư quá nhiều vào lĩnh vực bất động sản và thị trường chứng khoán, trong khilĩnh vực nghiên cứu khoa học, phát triển sản xuất không được đầu tư đúng mức.Chính phủ không kiểm soát được các hoạt động đầu cơ quốc tế, việc theo đuổichính sách phát triển kinh tế thị trường với quan điểm tự do tuyệt đối, buông lỏngvai trò quản lý, điều tiết của nhà nước đối với thị trường là nguyên nhân cơ bản dẫnđến tình trạng khủng hoảng Do đó, khi thị trường tăng trưởng quá nóng và khôngcòn tuân theo quy luật cung cầu tất sẽ dẫn đến sự rối loạn trong hoạt động của hệthống tài chính - ngân hàng kéo theo đó là sự suy thoái về kinh tế
Tóm lại, nguyên nhân của ba cuộc khủng hoảng này đều mang những điểmtương đồng là những lỗ hổng trong hệ thống quản lý của chính phủ các quốc gia vàhậu quả đã dẫn đến những tác động xấu đối với nền kinh tế
2.2.5 Tác động của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu
Hoạt động nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi mộtquốc gia Vì vậy, khi nền kinh tế bị suy thoái thì hoạt động nhập khẩu cũng sẽ bịảnh hưởng
Trang 14 Tác động trực tiếp
Tác động trực tiếp của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu là ở cả bốnmặt: Thị trường, giá cả, thanh toán và nguồn hàng
- Trước hết, đó là sự sụt giảm của nhu cầu hàng hoá nhập khẩu ở các quốc gia
Do tác động của suy thoái kinh tế, người tiêu dùng sẽ thắt chặt chi tiêu của họ và
ưu tiên hơn trong tiêu dùng những mặt hàng thiết yếu Xu hướng này đã khiến cầutiêu dùng giảm mạnh Điều đó đã dẫn đến nhu cầu hàng hoá nhập khẩu cũng giảm
- Về mặt giá cả: Giá của hàng hóa nhập khẩu trong thời kỳ suy thoái thường
có xu hướng giảm Nguyên nhân là do nhu cầu nhập khẩu ở các quốc gia giảm, sức
ép do hàng hoá tồn đọng nhiều đã buộc các nhà xuất khẩu phải hạ giá xuống mứcthấp nhất có thể để bán được hàng
- Khả năng thanh toán trong hoạt động nhập khẩu sẽ bị hạn chế Dưới phạm viảnh hưởng rộng của suy thoái kinh tế, các lĩnh vực như : Đầu tư, tài chính - Ngânhàng cũng sẽ bị ảnh hưởng Việc huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp để hỗtrợ thanh toán cho hoạt động nhập khẩu cũng trở nên khó khăn hơn
- Về mặt nguồn cung hàng hoá của hoạt động nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng.Các nhà sản xuất, xuất khẩu có thể cũng sẽ gặp phải nhiều khó khăn trong hoạtđộng sản xuất, kinh doanh Điều này có thể dẫn đến sự hạn chế về nguồn cung chohoạt động nhập khẩu
Tác động gián tiếp
Ngoài những tác động trực tiếp nêu trên, hoạt động nhập khẩu còn bị tác độngbởi suy thoái kinh tế qua những yếu tố gián tiếp như: Thu nhập, tỷ lệ thất nghiệp,hoạt động đầu tư, tỷ giá hối đoái, chính sách chính trị - pháp luật của chính phủ,…
- Trước hết, do tác động của suy thoái kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanhgặp khó khăn do hàng hoá sản xuất ra không tiêu thụ được, nhiều nhà máy, côngxưởng phải đóng cửa làm cho tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng khiến nhucầu tiêu dùng của người dân giảm Vì vậy, nhu cầu nhập khẩu cũng sẽ giảm
- Thứ hai, thu nhập bị giảm xuống mức thấp cũng là nguyên nhân làm cho nhucầu tiêu dùng của người dân bị hạn chế Điều này cũng sẽ tác động đến hoạt độngnhập khẩu
Trang 15- Thứ ba, nhu cầu tiêu dùng trong nước giảm khiến cho các nhà sản xuất nộiđịa gặp khó khăn, nhu cầu nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu (các yếu tố đầuvào) để phục vụ cho sản xuất cũng bị giảm.
- Thứ bốn, tác động của suy thoái kinh tế đến lĩnh vực tài chính đã khiến cho
hệ thông ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn Mặt khác, do lo sợ các doanh nghiệpvay vốn làm ăn thua lỗ, không có khả năng trả nợ, các ngân hàng sẽ thắt chặt nguồnvốn tín dụng khiến cho việc huy động vốn của các doanh nghiệp nói chung cũngnhư các doanh nghiệp nhập khẩu nói riêng bị hạn chế
- Thứ năm, một tác động gián tiếp nữa của suy thoái kinh tế đến hoạt độngnhập khẩu đó là đối với hoạt động đầu tư Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầunhư hiện nay thì việc đầu tư là rất mạo hiểm Vì vậy, việc thu hút nguồn vốn từ cácnhà đầu tư đối với doanh nghiệp nhập khẩu càng trở nên khó khăn hơn
- Thứ sáu, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới làm tỷ giá hối đoái biếnđộng, lên xuống thất thường Khi tỷ giá hối đoái giảm sẽ có lợi cho nhập khẩunhưng khi tỷ giá tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên cao hơn, do
đó nhu cầu nhập khẩu giảm đi
- Thứ bảy, suy thoái kinh tế làm cho xuất khẩu giảm sút mạnh hơn so với nhậpkhẩu dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại Khi đó, chính phủ các quốc gia có thể
sẽ sử dụng một số các công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế như: Thuế nhậpkhẩu, hạn ngạch, các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật,…Để giảm lượng hàng hoá vàdịch vụ nhập khẩu vào trong nước nhằm mục đích cân bằng cán cân thương mại.Như vậy, các chính sách này đã tác động đến hoạt động nhập khẩu
- Tác động cuối cùng là chính sách thương mại của các quốc gia Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, các quốc gia thường có xu hướng bảo hộ nền sản xuất trong nước và thúc đẩy xuất khẩu Vì vậy, các quốc gia này có thể sẽ đưa ra
các biện pháp để hạn chế lượng hàng hoá nhập khẩu vào trong nước Các chínhsách này đã gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu
Như vậy, dù trực tiếp hay gián tiếp thì những tác động của suy thoái kinh tế đếnhoạt động nhập khẩu là không hề nhỏ
Trang 162.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
Vấn đề về suy thoái kinh tế hiện đang được rất nhiều người quan tâm Trongkhuôn khổ trường Đại học Thương Mại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề này, dưới đây là một số công trình nghiên cứu điển hình:
Luận văn tốt nghiệp:
- “Tác động của suy thoái kinh tế tới hoạt động xuất khẩu hàng TCMN củacông ty TCMN Artexport Việt Nam sang thị trường Nhật Bản và các giải phápkhắc phục” - Nguyễn Hoàng Lương - 2009
Nội dung: Luận văn đi sâu vào nghiên cứu những tác động của suy thoái kinh
tế tới hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty TCMN ArtexportViệt Nam sang thị trường Nhật Bản để từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục tìnhtrạng đó
- “Tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động xuất khẩu hàng dệt may
sang thị trường Hoa Kỳ tại công ty CP may Sông Hồng và các giải pháp”- Trần ThịMinh Nguyệt - 2009
Nội dung: Tìm hiểu, phân tích và đánh giá những ảnh hưởng của suy thoái kinh
tế thế giới đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ, quanhững kết quả thu được đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩucủa công ty CP may Sông Hồng
- “Một số giải pháp kích cầu nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tếđến hoạt động kinh doanh nhập khẩu thiết bị văn phòng trên địa bàn
Hà Nội”-Trịnh Thị Huyền - 2009
Nội dung: Suy thoái kinh tế đã có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làmgiảm nhu cầu của thị trường đối với mặt hàng thiết bị văn phòng trong cả nước nóichung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng Mục đích của luận văn là nghiên cứunhững tác động này và qua đó đề xuất một số giải pháp kích cầu
đối với mặt hàng thiết bị văn phòng nhập khẩu trên địa bàn Hà Nội
Luận văn kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu năm trước do có một
số điểm chung Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ nghiên cứu những tác động
Trang 17của cuộc suy thoái kinh tế đến hoạt động xuất khẩu, chưa có công trình nào nghiêncứu về ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu Vì thế, đây làđiểm hết sức mới mẻ và khác biệt so với những công trình trước.
2.4 Phân định nội dung nghiên cứu của đề tài
Ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế thế giới đến hoạt động nhập khẩu làkhông hề nhỏ Tuy nhiên trong khuôn khổ, giới hạn cho phép và gắn với tình hìnhthực tiễn hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty Toàn Cầu, luận văn chỉ đisâu vào nghiên cứu những tác động sau đây:
- Suy thoái kinh tế có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu của thị trường trang thiết bị
y tế ở Việt Nam Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, sản xuất gặp khó khăn, nhiềunhà máy, công xưởng phải đóng cửa khiến tình trạng thất nghiệp ngày càng giatăng Bên cạnh đó, thu nhập của người dân ở mức thấp dẫn đến việc họ cắt giảm chitiêu và ưu tiên hơn trong tiêu dùng đối với những mặt hàng thiết yếu Thiết bị y tếkhông nằm trong nhóm những mặt hàng tiêu dùng hàng ngày của người dân, nhưnglại rất quan trọng trong việc bảo vệ sức khoẻ của con người Tuy nhiên, tình trạngthất nghiệp gia tăng cùng với sự hạn chế về thu nhập khiến người dân vẫn còn ngầnngại, ít quan tâm đến việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của họ, dẫn đến nhu cầumua sắm trang thiết bị y tế tại các cơ sở, trung tâm y tế cũng như tại các hộ gia đìnhgiảm Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận từ hoạt độngnhập khẩu thiết bị y tế của công ty Toàn Cầu
- Hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty còn bị tác động ở mặt nguồncung Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, các nhà cung cấp của công ty cũngđang phải đối mặt với nhiều khó khăn, đó có thể là những khó khăn về tài chính,khó khăn về nguồn nguyên vật liệu đầu vào,…làm cho hoạt động sản xuất bị giánđoạn, dẫn đến nguồn cung của công ty có thể sẽ bị hạn chế Công ty sẽ gặp khókhăn hơn trong việc lựa chọn nhà cung cấp
- Công ty gặp khó khăn trong việc huy động vốn để tài trợ cho hoạt động nhậpkhẩu Tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã khiến cho hàng loạt các tổchức tín dụng, ngân hàng lớn trên thế giới tuyên bố phá sản, khiến cho thị trườngtài chính thế giới lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, nó cũng sẽ tác
Trang 18động đến thị trường tài chính Việt Nam Các ngân hàng sẽ hoạt động “co lại” vì longại suy thoái có thể kéo dài, các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, ngân hàng sẽmất vốn Do đó, các ngân hàng đã siết chặt điều kiện và thủ tục cho vay, thời gianthẩm định cũng kéo dài hơn để xác định chính xác khả năng trả nợ của doanhnghiệp Điều này đã khiến cho việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của công ty cũngnhư các doanh nghiệp khác gặp khó khăn hơn bao giờ hết.
Trang 19PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ Y
TẾ CỦA CÔNG TY TOÀN CẦU 3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn
Luận văn đã xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn bao gồm 6 câu hỏi và tiến hànhphỏng vấn 3 người, bao gồm trưởng, phó phòng kinh doanh và trưởng phòng nhậpkhẩu Sở dĩ, phỏng vấn 3 người này bởi vì họ là những người nắm bắt được tìnhhình hoạt cũng như những khó khăn trong hoạt động kinh doanh của công ty Cáccâu hỏi phỏng vấn xoay quanh, tập trung vào việc tìm hiểu tình hình hoạt độngnhập khẩu thiết bị y tế của công ty trong bối cảnh suy thoái cũng như quan điểm vàgiải pháp mà công ty đã đưa ra để khắc phục những khó khăn do suy thoái kinh tếgây ra
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua phiếu điều tra, trắc nghiệm
Để có được đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu và đánh giá mộtcách khách quan về thực trạng và những tác động của suy thoái kinh tế đến hoạtđộng kinh doanh của công ty, bên cạnh việc thu thập thông tin qua phỏng vấn, luậnvăn còn tiến hành xây dựng phiếu điều tra, trắc nghiệm bao gồm 10 câu hỏi đóng
và mở để thu thập thông tin từ 10 người trong công ty Những người được điều trabao gồm trưởng, phó và chuyên viên các phòng nhập khẩu, phòng kinh doanh, họ
là những người trực tiếp điều hành cũng như tham mưu cho giám đốc những vấn đềliên quan đến hoạt động của công ty trong phạm vi chức năng của họ
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Cùng với việc thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra phỏng vấn, luận văncòn thu thập dữ liệu thứ cấp qua số liệu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh củacông ty trong giai đoạn 2006-2009 Từ những số liệu này cho những kết quả đánhgiá chính xác tình hình hoạt động của công ty
Trang 203.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sau khi đã thu thập được các dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp, luận văn tiếnhành phân tích, xử lý các dữ liệu đó bằng các phương pháp: thống kê, phân tích vàtổng hợp các kết quả để đưa ra kết luận về tình hình hoạt động nhập khẩu của công
ty trong giai đoạn suy thoái kinh tế
3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty Toàn Cầu
3.2.1 Các nhân tố thuộc môi trường quốc tế
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ năm 2008 đã nhanh chóng lanrộng ra toàn cầu, cùng với đó là sự khủng hoảng về năng lượng và lương thực, thựcphẩm đã đẩy nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng suy thoái trầm trọng Theo cácchuyên gia của WB, thương mại toàn cầu sụt giảm mạnh, dòng vốn đổ vào cácnước đang phát triển sụt giảm 50%, kinh tế thế giới năm 2009 chỉ tăng trưởng 0,9%giảm mạnh so với năm 2008, đây là mức tăng trưởng chậm nhất kể từ năm 1982 tớinay Một số quốc gia phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức âm, sản lượngkinh tế giảm sút, đầu tư và tiêu dùng ngày càng giảm, tỷ lệ thất ngiệp ngày càngtăng cao
Nhật Bản là một trong những thị trường cung cấp máy móc, thiết bị lớn choViệt Nam Trong tình hình hiện nay, quốc gia này cũng đang đứng trước tình trạngsuy thoái nặng nề nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai tới nay Chính phủNhật Bản công bố, quý III/2008, mức tăng trưởng giảm 0,9% Sản lượng côngnghiệp cũng giảm ở mức kỷ lục, tháng 1/2009 giảm 10% so với tháng 12/2008.Xuất khẩu quý IV/2008 đã sụt giảm 13,9% so với quý III/2008 và đến tháng 1/2009giảm 45,7% so với cùng kỳ năm 2008, đây là mức giảm lớn nhất trong vòng 40năm qua, trong đó xuất khẩu sang châu Á giảm 46,7% Đầu tư kinh doanh vào nhàmáy và thiết bị giảm 5,3% Do tác động dây chuyền không xuất khẩu được, hànghoá sản xuất ra bị tồn đọng, giới chủ nhân xí nghiệp sa thải nhân viên và cắt giảmcông ăn việc làm Trong một báo cáo khác đã được công bố ngày 27/2/2009,khoảng 158 nghìn công nhân nước này bị mất việc làm trong khoảng thời gian từ
Trang 21tháng 10/2008 đến tháng 3/2009 Đây là một con số rất lớn, nó đã tác động đến cácmặt khác của đời sống xã hội Nhật Bản.
Tại Đức, ngày 22/12/2008, Viện Kinh tế thế giới (IFW) hàng đầu của Đức, chobiết nền kinh tế lớn nhất châu Âu này sẽ giảm 2,7% trong năm 2009, mức giảm lớnnhất trong lịch sử thời hậu chiến ở Đức và cao gấp 3 lần so với mức của năm 1975 -năm suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử nước Đức khi Tổng sản phẩm quốcnội (GDP) giảm 0,9% Xuất khẩu của Đức trong năm 2009 cũng sẽ giảm mạnh,khoảng 9% Kinh tế suy giảm bao giờ cũng đi kèm với gia tăng thất nghiệp Tháng1/2009, tỷ lệ thất nghiệp ở Đức đã ở mức 8,3%, hoặc 3,49 triệu người ở độ tuổi laođộng không có việc làm Trong khi đó, Liên minh các doanh nghiệp cỡ vừa (UMU)của Đức ngày 22/12/2008 cũng cho biết, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế ở nước này đã khiến khoảng 1/3 số doanh nghiệp cỡ vừa của Đức muốn cắtgiảm việc làm, tăng gấp đôi so với mức của năm 2007
Singapore cũng rơi vào tình trạng suy giảm kinh tế Trong quý III/2008, kinh tếnước này suy giảm 6,8%, so với cùng kỳ năm 2007, kinh tế nước này suy giảm0,6% Quý II/2008, Tổng sản phẩm quốc nội của nước này đã giảm 5,3% Nguyênnhân của sự suy giảm là do nhu cầu trên toàn thế giới đối với thiết bị công nghệ cao(sản phẩm chiếm đến 1/4 GDP của Singapore) đã sụt giảm một cách bất thường.Singapore dựa nhiều vào xuất khẩu (xuất khẩu hơn 2/3 sản lượng công nghiệp) vàkinh tế toàn cầu trì trệ có nghĩa nhu cầu nhập hàng của các nước có thể giảm đáng
kể Sản xuất hàng hoá trong quý III cũng trượt 10% so với quý đầu năm 2008.Nhật Bản, Đức, Singapore là những thị trường cung ứng chủ yếu của công tyToàn Cầu Tuy nhiên, tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng diễn ra tại các quốcgia này và trên toàn thế giới đã ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung cho hoạt độngnhập khẩu của công ty
3.2.2 Nhân tố môi trường trong nước
3.2.2.1 Môi trường vĩ mô
Kinh tế việt Nam trong bối cảnh suy thoái
Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập sâu và rộng với nền kinh tế thế giới, việcgia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một cơ hội lớn cho sự phát triển
Trang 22kinh tế đất nước Tuy nhiên, cuộc suy thoái kinh tế thế giới vừa qua đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến Việt Nam Năm 2007, tốc độ tăng GDP của nước ta đạt 8,48% thìđến năm 2008 giảm còn 6,18% và năm 2009 chỉ còn 5,32%, đặc biệt là vào quýI/2009 chỉ là 3,14%, đây là tốc độ tăng GDP thấp nhất trong nhiều năm gần đây.Luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các khoản tài trợ khác là rấtquan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Tuy nhiên, dưới tác độngcủa cuộc suy thoái kinh tế, lượng vốn đổ vào Việt Nam đã giảm mạnh Năm 2009,chỉ đạt 181,2 nghìn tỷ đồng, giảm 5,8% so với năm 2008.
Hoạt động đầu tư giảm, sản xuất bị ngưng trệ dẫn đến sự dư thừa đáng kể nănglực sản xuất, đặc biệt là dư thừa lao động Năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng5,4% so với năm 2008, trong đó, ở khu vực nông thôn lên tới 6,4% Hơn nữa, ViệtNam là một trong những quốc gia có thu nhập bình quân đầu người thấp (Năm
2008 chỉ đạt khoảng 1000 USD/người/năm) khiến cho cuộc sống của người dângặp nhiều khó khăn
Tiêu dùng trong nước có dấu hiệu chậm lại Tình trạng thất nghiệp đang ngàycàng gia tăng cùng với mức thu nhập thấp đã khiến người dân cắt giảm chi tiêu củamình, ưu tiên hơn trong tiêu dùng những sản phẩm thiết yếu Sự chuyển dịch trong
xu hướng tiêu dùng đã khiến cho nhu cầu của thị trường trong nước sụt giảm mạnh.Nhập khẩu hàng hoá vào nước ta cũng sụt giảm, năm 2009 chỉ đạt 68,8 tỷ USD,giảm 14,7% so với năm 2008 Hầu hết kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nguyên,nhiên liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất của năm 2009 đều giảm so với năm
2008
Về thị trường hàng hoá nhập khẩu, 8 đối tác chủ yếu chiếm hơn 85% tổng kimngạch nhập khẩu năm 2009 hầu như đều giảm so với năm 2008, trong đó: ASEANchỉ đạt 13,4 tỷ USD, giảm 31,3%; Nhật Bản 7,3 tỷ USD, giảm 11,3%, Hàn Quốc 6,7
tỷ USD, giảm 5,3%, Đài Loan 6,2 tỷ USD, giảm 25,9%; Ôx-trây-li-a 1 tỷ USD, giảm24%,
Tác động của cuộc suy thoái kinh tế thế giới đến Việt Nam khiến cho các doanhnghiệp trong nước đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, công ty Toàn Cầu cũngkhông nằm ngoài những khó khăn đó
Trang 23 Chính sách, giải pháp ngăn chặn suy thoái kinh tế của Chính phủ
Ngày 11/12/2008, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 30/2008/NQ-CP vềnhững giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảmbảo an sinh xã hội, với mục tiêu này, Chính phủ đã đề ra một số giải pháp hỗ trợ chocác doanh nghiệp trong nước
Thứ nhất là hỗ trợ lãi suất Chính sách này nhằm tạo điều kiện tăng cường khả
năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệpvừa và nhỏ Trước mắt, Chính phủ đã có kế hoạch sử dụng gói kích cầu 1 tỷ USDthông qua việc bù lãi suất khoảng 4% cho các doanh nghiệp và bảo lãnh tín dụng chocác doanh nghiệp vừa và nhỏ (theo Quyết định số 14/QD-TTG ngày 21/01/2009) Tiếp
đó, với Quyết định số 131/QD-TTG ngày 23/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Ngânhàng nhà nước hạ lãi suất căn bản từ mức 8,5% xuống còn 7%/ năm, đây như là mộtđộng thái để hỗ trợ thực hiện gói kích cầu của Chính phủ chống suy thoái kinh tế Cóthể nói, đây là bước đi cần thiết và tích cực để đối phó với tình hình kinh tế trong vàngoài nước thời kỳ suy thoái
Thứ hai là chính sách giảm, giãn thuế Chính phủ đã ban hành Nghị định số
124/2008/ND-CP ngày 11/12/2008 quy định chi tiết và hương dẫn thi hành một sốđiều của luật thuế thu nhập doanh nghệp Chính phủ sẽ tiến hành giảm 30% số thuếthu nhập doanh nghiệp phải nộp của quý IV năm 2008 và số thuế thu nhập doanhnghiệp phải nộp của năm 2009 đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanhcủa các doanh nghiệp nhỏ và vừa Giãn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệptrong thời gian 9 tháng đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2009của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ ba, về chính sách xuất nhập khẩu và thủ tục hải quan Bộ tài chính đã ban
hành Thông tư số 05/2009/TT-BTC hướng dẫn một số nội dung về thủ tục hảiquan, thuế xuất nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, thựchiện giảm số mặt hàng phải có giấy phép xuất, nhập khẩu, xác nhận đơn hàng xuất,nhập khẩu, các Bộ chuyên ngành công bố tiêu chuẩn kỹ thuật để các doanh nghiệptrực tiếp làm thủ tục xuất, nhập khẩu tại Hải quan cửa khẩu
Trang 24Những chính sách hỗ trợ của Chính phủ đã góp phần giúp cho các doanhnghiệp Việt Nam nói chung và công ty Toàn Cầu nói riêng vượt qua những khókhăn do tác động của cuộc suy thoái kinh tế.
3.2.2.2 Môi trường ngành
Theo thống kê của Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế, hiện cả nước cókhoảng gần 1.000 bệnh viện lớn nhỏ, nhu cầu về thiết bị y tế rất lớn, đa dạng vềchủng loại, đòi hỏi cao về độ an toàn, chính xác Đây có thể nói là một thị trườngđầy tiềm năng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này
Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, thị trường trang thiết bị y tế ViệtNam cũng chịu những tác động, rõ nhất là ở mặt nhu cầu thị trường Khi nền kinh
tế gặp khó khăn, người dân cắt giảm chi tiêu và ưu tiên hơn trong tiêu dùng đối vớinhững mặt hàng thiết yếu Thiết bị y tế không nằm trong nhóm những mặt hàngtiêu dùng hàng ngày của người dân, nhưng lại rất quan trọng trong việc bảo vệ sứckhoẻ của con người Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp gia tăng cùng với sự hạn chế
về thu nhập khiến người dân ít quan tâm đến việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của
họ, dẫn đến nhu cầu mua sắm trang thiết bị y tế tại các cơ sở, trung tâm y tế cũngnhư tại các hộ gia đình giảm đã làm cho kim ngạch nhập khẩu thiết bị y tế giảm Cụthể, kim ngạch nhập khẩu của tháng 1/2009 chỉ đạt khoảng 8 triệu USD, giảm 11%
so với tháng 1/2008
Hình 3.1 Kim ngạch nhập khẩu thiết bị y tế tháng 1/2009
so với tháng 1/2008, (Đơn vị: Triệu USD)
Nguồn: infotv.vn.